Thứ Ba, 28 tháng 6, 2022

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU “THỰC CHẤT HỒ CHÍ MINH LÀ NGƯỜI DÂN TỘC CHỦ NGHĨA”

 

Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đang ngày càng ăn sâu, bám rễ vào đời sống tinh thần, tư tưởng của nhân dân Việt Nam, trở thành “kim chỉ nam” cho sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước. Trong khi đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước lại dùng chiêu bài “hạ bệ thần tượng” để xuyên tạc, phủ nhận giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh. Luận điệu xuyên tạc được họ đưa ra trong thời gian gần đây là “thực chất Hồ Chí Minh là người dân tộc chủ nghĩa”.

NHẬN DIỆN “CHỦ NGHĨA DÂN TỘC” VÀ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Theo Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học, “Chủ nghĩa dân tộc là tâm lý, hệ tư tưởng, thế giới quan và chính sách thích những dân tộc này hơn những dân tộc khác, tán dương dân tộc mình, gây căm thù dân tộc và thù hằn chủng tộc”. Theo đó, chủ nghĩa dân tộc được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như chủ nghĩa sô-vanh nước lớn có tâm lý coi thường các dân tộc khác, tự cho mình quyền “khai hóa văn minh” cho các dân tộc nhỏ hơn hay chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, có khuynh hướng khép kín, không muốn mở rộng quan hệ với các dân tộc khác. Cả hai khung hướng này của chủ nghĩa dân tộc đều xa lạ với bản chất của giai cấp vô sản - giai cấp đại diện cho chủ nghĩa quốc tế vô sản. Do đó, về bản chất, chủ nghĩa dân tộc là thù địch với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, với thế giới quan mácxít và mâu thuẫn với quá trình khách quan của sự phát triển. Đó là sự xích lại gần nhau của các dân tộc đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Là lãnh tụ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, V.I.Lênin luôn phê phán những người cộng sản có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa. V.I.Lênin chỉ rõ: “Cuộc đấu tranh chống những thành kiến dân tộc chủ nghĩa càng có ý nghĩa trọng đại khi vấn đề chuyển nền chuyên chính vô sản từ phạm vi quốc gia (tức là mới tồn tại ở trong một nước và không có khả năng quyết định được chính trị thế giới) thành chuyên chính vô sản trên quy mô quốc tế (tức là chuyên chính vô sản ít nhất cũng ở một số nước tiên tiến và có khả năng tác động quyết định đến toàn bộ chính trị thế giới), ngày càng trở nên bức thiết”. Quan điểm của V.I.Lênin đã cho thấy, những người theo chủ nghĩa cộng sản chân chính không thể có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa.

Thế nhưng gần đây, các thế lực thù địch lại rêu rao rằng “thực chất Hồ Chí Minh chỉ là người dân tộc chủ nghĩa”. Họ cho rằng “chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi”; từ đó, quy chụp Hồ Chí Minh “là một người theo chủ nghĩa cộng hòa và chủ nghĩa hòa bình hơn là một người theo chủ nghĩa cộng sản”. Thậm chí, có những kẻ cơ hội chính trị còn cố tình quy chụp rằng trong bộ 15 tập Hồ Chí Minh có 17 lần nhắc đến cụm từ “chủ nghĩa dân tộc” nên cáo buộc rằng “Hồ Chí Minh đích thị là người theo chủ nghĩa dân tộc”.

Từ sự cáo buộc đó, một số phần tử phản động, cơ hội chính trị còn lên tiếng đối lập chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ cho rằng “bây giờ chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển của lịch sử, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, là phù hợp với dân tộc Việt Nam hay “Chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan, thiên về đấu tranh giai cấp, đối lập với tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng đề cao đoàn kết và thống nhất; Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không theo chủ nghĩa cộng sản, chỉ nhấn mạnh đến đoàn kết chứ không nhấn mạnh đến đấu tranh”. Vì vậy, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và đề cao thành “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin!”. Thực chất của luận điệu này là nhằm chia rẽ chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, phá vỡ phá vỡ từng bộ phận cấu thành trong nền tảng tư tưởng của Đảng, gây ra sự xáo trộn trong ý thức hệ của nhân dân.

CHỦ NGHĨA DÂN TỘC CHÂN CHÍNH TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc chân chính, mang bản chất của giai cấp vô sản. Từ năm 1924 , trong Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, tại mục D “Chủ nghĩa dân tộc”, Nguyễn Ái Quốc lần đầu tiên đề cập và khẳng định vai trò của chủ nghĩa dân tộc chân chính: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế năm 1908, nó dạy cho những người cu li biết phản đối; nó làm cho những người “nhà quê” phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối. Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc; nó đã thúc giục thanh niên bãi khóa, làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa năm 1917…”. Đây là chủ nghĩa dân tộc chân chính vì nó khơi dậy lòng yêu nước, trách nhiệm trước vận mệnh dân tộc và trở thành động lực để các tầng lớp nhân nhân đứng lên đấu tranh chống lại những áp bức, bất công. Đây cũng chính là động lực to lớn để chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc lên tiếng đấu tranh ở nhiều diễn đàn quốc tế khác nhau nhằm đòi quyền lợi chính đáng cho dân tộc Việt Nam.

Trong bài viết “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin” đăng trên Báo Nhân dân (ngày 22/4/1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định một sự thật không thể xuyên tạc được, đó là: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Ở nước ta và ở Trung Quốc cũng vậy, có câu chuyện đời xưa về cái “cẩm nang” đầy phép lạ thần tình. Khi người ta gặp những khó khăn lớn, người ta mở cẩm nang ra, thì thấy ngay cách giải quyết. Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”. Lập luận trên của Hồ Chí Minh vừa cho thấy hành trình Người đến với chủ nghĩa Lênin, vừa khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin. Do đó, luận điệu cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin là hoàn toàn sai lầm, quy chụp.

Không chỉ vậy, bản thân Hồ Chí Minh cũng là người luôn đấu tranh chống lại những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc. Tại Hội nghị đại biểu các Đảng cộng sản và công nhân các nước xã hội chủ nghĩa họp ở Mát-xcơ-va họp từ ngày 14 đến 16/11/957, không ai khác và hơn ai hết, Hồ Chí Minh là người kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc tư sản. Vì vậy, Người đã tán thành bản Tuyên bố chung của Hội nghị và nhấn mạnh thêm: “Bản Tuyên bố nhắc nhở chúng ta cần phải tăng cường giáo dục theo tinh thần chủ nghĩa Mác - Lênin và đấu tranh chống những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa như chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa sôvanh, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại, đặc biệt là chủ nghĩa xét lại”. Do đó, những kẻ cơ hội cố tình bóp méo, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin là nhằm “hạ bệ thần tượng”, chia rẽ phá vỡ từng bộ phận cấu thành trong nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Khi cho rằng “Hồ Chí Minh thực chất là người dân tộc chủ nghĩa” là một cách diễn đạt thiếu chính xác, không đầy đủ. Cách diễn đạt này dù vô tình hay hữu ý đã bỏ qua tính giai cấp, làm mờ đi lập trường, quan điểm giai cấp của Hồ Chí Minh trong nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam. Với cách diễn đạt ấy đã tước bỏ tính đảng và lập trường cách mạng chân chính trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thực chất là để phủ nhận tư tưởng của Người. Đúng như V.I.Lênin đã từng cảnh báo: “Chừng nào người ta chưa phân biệt được lợi ích của các giai cấp này hay giai cấp khác, ẩn đằng sau bất kỳ những câu nói, những lời tuyên bố và những lời hứa hẹn nào có tính chất đạo đức, tôn giáo, chính trị và xã hội, thì trước sau bao giờ người ta cũng vẫn là kẻ ngốc nghếch bị người khác lừa bịp và tự lừa bịp mình về chính trị”. Do đó, chúng ta cần phải tỉnh táo trước những luận điệu cố tình bóp méo, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh hay tinh vi hơn là lấy danh nghĩa đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, hạ thấp chủ nghĩa Mác - Lênin để đối lập, tách dời từng mảng trong nền tảng tư tưởng của Đảng.

Hồ Chí Minh không phải là người theo chủ nghĩa dân tộc - thứ chủ nghĩa dân tộc sô-vanh nước lớn, bành trướng hay chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, vị kỷ như các thế lực thù địch thường rêu rao, quy chụp. Có chăng, Hồ Chí Minh chính là người theo chủ nghĩa dân tộc vô sản, không chỉ suốt đời đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc mình mà còn vì sự nghiệp cách mạng chung của các dân tộc bị áp bức, lệ thuộc trên thế giới.

BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC

Trên hành trình tìm đường giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã kế thừa triệt để tinh thần biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là vận dụng sáng tạo, bổ sung và làm phong phú thêm học thuyết Mác - Lênin “bằng dân tộc học phương Đông”. Từ trong bản chất của sự phát triển, tất cả các học thuyết chính trị nói chung mà học thuyết Mác - Lênin nói riêng đều rất cần đến sự bổ sung, phát triển cho phù hợp với thực tiễn ở từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Chính bản thân Hồ Chí Minh là người đã chứng kiến sự vận động không ngừng của cách mạng thế giới những năm đầu thế kỷ XX nên Người đã bổ sung vấn đề dân tộc thuộc địa - điều mà V.I.Lênin, đặc biệt là C.Mác và Ph.Ăngghen chưa thể hoặc chưa có điều kiện đề cập một cách sâu sắc.

Khi nghiên cứu chủ nghĩa Mác, Hồ Chí Minh nhận thấy: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”. Và “Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”, “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”. Việc bổ sung vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác bằng dân tộc học phương Đông - nơi mà có nhiều nước bị lệ thuộc và trở thành thuộc địa của các nước tư bản phương Tây đã làm cho vấn đề dân tộc trở nên phong phú hơn, đầy đủ hơn, toàn diện hơn. Đó là biểu hiện rõ ràng của tinh thần dân tộc vô sản, đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa và lệ thuộc.

Tháng 7/1920, sau gần 10 năm bôn ba tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã bắt gặp bản “Sơ thảo Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin. Những tư tưởng về dân tộc, thuộc địa của V.I.Lênin như một ngọn đuốc soi đường cho Nguyễn Ái Quốc trên hành trình tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc Việt Nam. Từ đây, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và hướng sự nghiệp giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Điều đó giúp cho Nguyễn Ái Quốc ngày càng mạnh dạn nói lên tiếng nói của mình tại các diễn đàn quan trọng để lên tiếng ủng hộ phong trào cách mạng ở các dân tộc thuộc địa.

Khi vận dụng nội dung Luận cương của V.I.Lênin vào thực tiễn cách mạng ở thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy: “Cuộc đấu tranh cách mạng của công nhân các nước tư bản trực tiếp giúp cho các dân tộc bị áp bức tự giải phóng mình, vì cuộc đấu tranh đó đánh thẳng vào trái tim của bọn áp bức;... Trong khi đó, cuộc đấu tranh cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa lại trực tiếp giúp đỡ giai cấp vô sản các nước tư bản trong cuộc đấu tranh chống các giai cấp thống trị để tự giải phóng khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa tư bản. Sự nhất trí của cuộc đấu tranh chống đế quốc bảo đảm thắng lợi cho các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa và cho giai cấp vô sản ở các nước tư bản”. Đó là cơ sở để cách mạng vô sản ở các dân tộc thuộc địa có tính độc lập, chủ động không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc, nó có thể nổ ra và thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc, góp phần thúc đẩy cách mạng chính quốc tiến lên. Đánh giá về sự bổ sung, vận dụng sáng tạo của Hồ Chí Minh đối với quan điểm của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc, đồng chí Phạm Văn Đồng đã khẳng định: “Luận điểm của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh mới mẻ đến kỳ lạ,... Nó nằm trong dòng sáng tạo cách mạng của những con người mà cống hiến lý luận và sự nghiệp đấu tranh vạch đường cho thời đại”.

Hơn ai hết và trước hết, Hồ Chí Minh chính là người cộng sản chân chính. Chính Người cũng đã góp phần bổ sung, phát triển, làm phong phú hơn quan điểm về dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin bằng những nội hàm mới. Do đó, cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Ngoài ra, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy rằng, cách mạng vô sản và độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển của dân tộc Việt Nam. Bởi lẽ, con đường này chẳng những giải phóng hoàn toàn dân tộc Việt Nam khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa đế quốc, mà còn giải phóng nhân dân Việt Nam khỏi mọi sự áp bức bóc lột, đi đến ấm no, hạnh phúc thực sự. Sự lựa chọn này vừa đáp ứng yêu cầu phát triển của dân tộc Việt Nam, vừa phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của nhân loại và thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội đã được mở ra, bắt đầu từ Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Với quan điểm độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, “Hồ Chí Minh là người tiên phong trong việc củng cố và bổ sung chủ nghĩa Mác - Lênin”./.

CHÚNG CÓ LƯƠNG TÂM ĐÂU MÀ GỌI LÀ “TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM” Vừa qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tiếp tục sử dụng chiêu bài đòi Việt Nam thả “Tù nhân lương tâm” để chống phá cách mạng nước ta. Mới đây, đầu tháng 4-2022, cái gọi là tổ chức Người bảo vệ nhân quyền ra tuyên bố cáo buộc Việt Nam mở rộng chiến dịch đàn áp và nhằm vào các tổ chức xã hội dân sự thông qua việc bắt giữ một loạt người đứng đầu của các tổ chức này. Còn nhớ, năm 2021, chính tổ chức Người bảo vệ nhân quyền này đã xúi giục, kêu gọi thân nhân của một số “tù nhân lương tâm” ký vào bức thư với những nội dung bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo như: “Nhà tù không cung cấp chữa trị y tế khi người tù mắc bệnh nan y. Nhiều tù nhân lương tâm đã chết trong

NGẠI PHÊ BÌNH, GÓP Ý - KHÔNG CHỈ LÀ SUY THOÁI...

           

 Thời gian qua, khá nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật và pháp luật, phải xử lý nghiêm khắc. Điều rất đáng báo động là, đa số những người này có vi phạm kéo dài, thậm chí suốt vài năm và với nhiều hành vi, thế nhưng cấp ủy, chi bộ, đồng nghiệp cùng công tác lại “không biết”, hoặc biết rõ nhưng...“mũ ni che tai”!

1. “Ông ấy bây giờ mới bị xử lý là quá muộn”; “Vi phạm lâu rồi, bây giờ cấp trên mới biết thôi”; “Nhiều người trong cơ quan biết sếp vi phạm nhưng sợ “đấu tranh, tránh đâu”...

Không ít lần tôi được nghe như thế khi hỏi chuyện những người quen ở cơ quan, đơn vị, địa phương có cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, pháp luật.

Ví dụ thì rất nhiều và có lẽ cũng chẳng cần nêu ra. Chỉ riêng những kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay đã cho thấy, nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm nghiêm trọng từ lâu, chủ yếu là: Thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát dẫn đến gây thất thoát lớn tài sản của Nhà nước; suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; mất đoàn kết nội bộ, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc; vi phạm các quy định trong công tác cán bộ, quản lý đầu tư, xây dựng, sử dụng đất đai, tài chính, tài sản; tham nhũng... Những vi phạm này, không thể nói là các đồng chí trong cấp ủy, ban lãnh đạo và chi bộ, đồng nghiệp cùng công tác với cán bộ, đảng viên đó đều... không biết!

Bên cạnh những vi phạm nghiêm trọng, khá nhiều cán bộ, đảng viên có những khuyết điểm, như: Độc đoán, gia trưởng, tham gia tệ nạn xã hội, vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương đối với cán bộ, đảng viên, người đứng đầu... Đồng chí, đồng đội, nhân viên là những người trực tiếp chịu tác động hoặc được chứng kiến, nhưng vẫn không mạnh dạn góp ý, phê bình!

Chính vì không được thẳng thắn góp ý, phê phán nên những cán bộ, đảng viên đó càng “tự tung tự tác”, “cái sảy nảy cái ung”, vi phạm tăng thêm dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.

Ngoài những nguyên nhân dẫn đến tình trạng không phê bình, ngại góp ý với đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp, nhất là với cấp trên, như: Sợ mất lòng, sợ bị trù dập, quy chụp là gây mất đoàn kết; vì cùng có chung lợi ích; hoặc đơn giản là tâm lý “an phận thủ thường”, sợ bị hiểu sai... thì lâu nay, không ít cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có quan điểm “việc ai nấy làm”, không tham gia vào công việc và cuộc sống của người khác. Sự thờ ơ, vô cảm trước những việc sai trái, biết rõ những sai phạm, khuyết điểm của đồng nghiệp, đồng chí, đồng đội mà không thẳng thắn góp ý, phê bình đã dẫn đến nhiều hệ lụy: Cán bộ, đảng viên tiếp tục vi phạm, làm suy yếu tổ chức, ảnh hưởng sự trong sạch vững mạnh và uy tín của Đảng.

2. “Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau...” và “đoàn kết xuôi chiều” là một trong những biểu hiện của sự suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ rõ.

Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) của Đảng thẳng thắn đánh giá: Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tự phê bình và phê bình, công tác kiểm tra, giám sát của nhiều tổ chức đảng còn hạn chế. Một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thậm chí còn cục bộ, lợi ích nhóm...

Để thực hiện mục tiêu kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"... Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) đã xác định nhiệm vụ và giải pháp đầu tiên là: Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng, tự phê bình và phê bình; trong đó nhấn mạnh: “Nâng cao chất lượng sinh hoạt của tổ chức đảng, các tổ chức chính trị-xã hội, nhất là cấp ủy, thường vụ cấp ủy, đề cao và thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, "dĩ hòa vi quý". Kịp thời phát hiện và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"... Bên cạnh đó, chú trọng công tác tự kiểm tra, tự giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị, kịp thời phát hiện từ nội bộ để chấn chỉnh ngay những vi phạm từ khi mới phát sinh, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành khuyết điểm, sai phạm lớn.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng với rất nhiều giải pháp, nhưng quan trọng nhất, theo Người, trước hết là phải “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (bài báo Người viết nhân dịp kỷ niệm 39 năm Ngày thành lập Đảng). Muốn thực hiện được điều này, Người chỉ rõ: “Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Ðảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc”...

Bác Hồ nhấn mạnh “Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc” vì tất cả hoạt động của chi bộ chủ yếu được thông qua sinh hoạt với 3 hình thức: Sinh hoạt lãnh đạo; sinh hoạt học tập; sinh hoạt tự phê bình và phê bình. Mỗi hình thức sinh hoạt có yêu cầu riêng, nhưng đều phải có tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu, trên cơ sở thực hiện nghiêm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, đó là: Tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; tự phê bình và phê bình.

Thế nhưng, tình trạng ngại phê bình, “ngại nói thật” trong sinh hoạt chi bộ và cả sinh hoạt cấp ủy, đảng bộ vẫn khá phổ biến. Đây là nguyên nhân cơ bản làm mất tính chiến đấu trong sinh hoạt đảng, dẫn đến không kịp thời ngăn ngừa những vi phạm của cán bộ, đảng viên, để xảy ra sai phạm kéo dài và nghiêm trọng. Thậm chí, không ít cán bộ, đảng viên có sai phạm mà vẫn được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ và đề nghị khen thưởng, bổ nhiệm.

Thật đáng buồn khi hầu hết các vụ việc cán bộ, đảng viên vi phạm về đạo đức, lối sống, kỷ luật, pháp luật, nhất là tham nhũng... đều do quần chúng nhân dân, báo chí hoặc cơ quan chức năng cấp trên phát hiện. Trong khi đó, chi bộ, cấp ủy là nơi trực tiếp quản lý, giáo dục, rèn luyện và tiến hành kiểm tra, giám sát, đánh giá cán bộ, đảng viên; người cùng chi bộ, cùng cơ quan thường xuyên gần gũi, công tác, hiểu hết tính cách cũng như những việc làm của nhau-như “cùng nằm trong chăn mà lại... không biết chăn có rận”!?

Rõ ràng, việc cần làm ngay là phải quy trách nhiệm, xử lý kỷ luật nghiêm đối với những cán bộ, đảng viên cùng sinh hoạt trong cấp ủy, chi bộ mà không phê bình, góp ý, để đồng chí, đồng đội vi phạm pháp luật, kỷ luật, nhất là với những vi phạm nghiêm trọng, kéo dài (như Bộ luật Hình sự đã quy định tội danh “không tố giác tội phạm” và “che giấu tội phạm”). Bên cạnh đó, cần ban hành quy định bình xét cán bộ, đảng viên theo thang điểm 10 trên từng nội dung, trong đó có tinh thần tự phê bình và phê bình...; đồng thời xếp loại cán bộ, đảng viên trong từng chi bộ theo số thứ tự (từ tốt nhất đến yếu nhất) để tăng tính đấu tranh phê bình trong sinh hoạt đảng, bảo đảm kết quả bình xét thực chất hơn, tránh tình trạng "tạo điều kiện cho nhau cùng ở mức hoàn thành tốt nhiệm vụ”. Có như vậy mới khắc phục được tình trạng “dĩ hòa vi quý”, nể nang, né tránh, thấy sai không đấu tranh.

3. “Tôi vô cùng cảm ơn anh đã rất kiên trì, dũng cảm, chân thành góp ý, giúp tôi sửa được tính nóng nảy, gia trưởng, đồng thời biết tôn trọng, lắng nghe cấp dưới. Nếu không, sai lầm của tôi không chỉ dẫn tới hậu quả nghiêm trọng mà tôi còn mất hết tình cảm đồng đội, bạn bè”.

Hầu như lần nào làm nhiệm vụ lái xe “tháp tùng” bố đi dự gặp mặt hội truyền thống của đơn vị cũ, tôi cũng được nghe một bác nguyên là trung đoàn trưởng nói với bố tôi như vậy.

Chuyện là, thời kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, bố tôi là trợ lý tác chiến trung đoàn. Thấy đồng chí trung đoàn trưởng nóng tính, “quân phiệt miệng”, thường xuyên quát mắng cấp dưới khiến anh em vừa sợ vừa không hài lòng nên trong các cuộc họp chẳng ai ý kiến gì, nhưng khi ra ngoài thì xì xào với nhau; sau hai lần chân thành góp ý nhưng bị trung đoàn trưởng gạt phăng, bố tôi đã định “mặc kệ”. Nhưng một hôm, nghe các tiểu đoàn trưởng và sĩ quan tham mưu bàn tán rằng phương án tác chiến do trung đoàn trưởng quyết định không hợp lý, dễ bị thất bại, bố tôi cũng thấy như vậy nên quyết định phải ý kiến với thủ trưởng.

“Được nhận” những lời khó nghe, bố tôi ức chảy nước mắt, chạy về hầm. Không thể để một quyết định nặng tính chủ quan, sai lầm có thể dẫn đến “nướng quân”, bố tôi quyết tâm viết thư gửi trung đoàn trưởng. Lá thư đó rất dài, ngoài nêu những bất hợp lý của phương án tác chiến còn góp ý riêng với thủ trưởng cần bỏ tính gia trưởng, “quân phiệt miệng” khiến cấp dưới ức chế và không thể phát huy dân chủ trong đơn vị, thậm chí cán bộ, chiến sĩ chán nản... Cuối thư, bố tôi mạnh dạn viết: Nếu trung đoàn trưởng không tiếp thu phê bình và chỉnh sửa thì tôi sẽ viết thư gửi chỉ huy sư đoàn. Còn nếu tôi sai thì tôi xin hoàn toàn chịu kỷ luật!

Thật may, lá thư này đã khiến đồng chí trung đoàn trưởng thay đổi. Ông gọi bố tôi lên nói lời cảm ơn...

“Phê bình cho đúng để trị bệnh cứu người” là tư tưởng có tính nhân văn rất sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người chỉ rõ: Khuyết điểm cũng như chứng bệnh. Phê bình giống như uống thuốc. Nếu sợ phê bình thì cũng khác nào có bệnh mà giấu bệnh, không dám uống thuốc. Như vậy thì bệnh tình lại càng nặng thêm. Do vậy, đối với đảng viên, cán bộ mà nể nang không phê bình, để cho đồng chí mình cứ sa vào lầm lỗi, đến nỗi hỏng việc thì khác nào thấy đồng chí mình ốm mà không chữa cho họ... Biết người ta sai mà không nói cho người ta sửa tức là hại người. Tự phê bình và phê bình phải xuất phát từ tình đồng chí, thương yêu lẫn nhau. Càng yêu thương thì càng phải thẳng thắn phê bình, có như vậy mới thực sự giúp nhau tiến bộ.

Cổ nhân cũng đã đúc rút: Những người chân thành, mạnh dạn phê bình bạn chính là người bạn tốt và điều gì xuất phát từ trái tim sẽ đi tới được trái tim. Ngược lại, những ai biết rõ bạn đang làm sai mà không khuyên can thì đó chính là người xấu.

Có thể khẳng định, việc chân thành, thẳng thắn phê bình, góp ý không chỉ là yêu cầu có tính nguyên tắc trong sinh hoạt đảng và các tổ chức thuộc hệ thống chính trị mà còn thể hiện tình người sâu sắc, nhân văn. Việc biết đồng chí, đồng đội đang mắc khuyết điểm, lầm đường lạc lối mà vẫn “mũ ni che tai” chính là làm hại tổ chức và đồng chí, đồng đội. “Tội” này cần phải kiên quyết đấu tranh, phê phán, cả trong công tác và trong cuộc sống đời thường.

ĐẨY MẠNH THỰC HÀNH TIẾT KIỆM, CHỐNG LÃNG PHÍ

 

Trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thực hành tiết kiệm và chống lãng phí là một nội dung quan trọng được các ngành, các địa phương đặc biệt coi trọng trong quá trình thực hiện.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiết kiệm là sử dụng hợp lý, có hiệu quả tiền của, thời gian, công sức lao động nhằm tích lũy thêm vốn cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, nâng cao mức sống của người dân. Tiết kiệm phải từ cái nhỏ đến cái to, không xa xỉ, hoang phí, phô trương, hình thức. Để thực hành tiết kiệm có hiệu quả thì phải ra sức chống lãng phí, coi đây là việc làm thường xuyên của mỗi cơ quan, đơn vị, mỗi cá nhân.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ lãng phí là một căn bệnh phải được khắc phục triệt để. Những năm qua, hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở luôn xác định thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là nhiệm vụ cấp bách. Nhiều quy định cụ thể về vấn đề này đã được thể hiện rõ trong Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Hầu hết các cơ quan, đơn vị đã xây dựng chương trình thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của mình và có nhiều giải pháp thiết thực để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ này. Nhờ vậy, hàng năm, các địa phương, các ngành đã cắt giảm đáng kể kinh phí thực hiện các nhiệm vụ chưa cần thiết, tiết kiệm nguồn kinh phí không nhỏ, thêm nguồn lực cho đầu tư phát triển, đảm bảo an sinh xã hội.

Tuy nhiên, trên thực tế việc lãng phí vẫn còn xảy ra ở nhiều cơ quan, địa phương, đơn vị. Nhiều nguyên nhân đã được chỉ ra, từ nhận thức đến thực hiện, đến việc xử lý sai phạm chưa nghiêm. Trong bối cảnh hiện nay, đại dịch COVID-19 vẫn có diễn biến khó lường, việc thích ứng linh hoạt đòi hỏi phải có nguồn lực cần thiết để phát triển. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí chính là một giải pháp thiết thực góp phần giải bài toán về nguồn vốn cho phát triển.

Để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí thực chất và đạt hiệu quả rất cần chú trọng nâng cao nhận thức cho toàn xã hội để việc này trở thành việc làm thường xuyên của mỗi tập thể, mỗi cá nhân. Đẩy nhanh quá trình xây dựng chính quyền điện tử, hướng tới chính quyền không giấy tờ, tạo giải pháp hữu hiệu để chống lãng phí. Đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp cố tình để xảy ra tình trạng lãng phí, không có ý thức thực hành tiết kiệm.

ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỀ CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG

 

Thời gian qua, công cuộc đấu tranh chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta diễn ra quyết liệt, mạnh mẽ, được đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ. Nhưng lợi dụng việc xử lý kỷ luật những cán bộ, đảng viên vi phạm, gây hậu quả nghiêm trọng. Các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá, nhằm chia rẽ Đảng với Nhân dân, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, hòng thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng.

Các thế lực thù địch tập trung xuyên tạc, chúng cho rằng công tác phòng chống tham nhũng của Đảng chỉ là sự “thanh lọc” trong nội bộ chứ không phải vì mục đích phục vụ sự phát triển của đất nước. Chúng còn xuyên tạc rằng: tham nhũng là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, thể chế một đảng không thể chống được tham nhũng... Chúng lợi dụng một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng và những yếu kém, khuyết điểm, hạn chế của ta để tìm đủ mọi cách làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, chia rẽ trong nội bộ Đảng.

Chúng ta đều biết, tham nhũng là khuyết tật bẩm sinh của quyền lực, là sản phẩm của sự tha hóa quyền lực, là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ. Từ những tác hại tiêu cực của tham nhũng, cùng với sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải có lập trường vững vàng để đấu tranh với những quan điểm sai trái, đồng thời thực hiện nghiêm công tác phòng, chống tham nhũng.

Phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, vừa khó khăn, phức tạp, vừa cấp bách, lâu dài. Chính vì vậy, công tác phòng, chống tham nhũng đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội; sự đồng lòng nhất trí của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện tránh xa những cám dỗ vật chất, không có những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, để củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân với Đảng, thực hiện thành công hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

SỰ XUYÊN TẠC PHẢN ĐỘNG CỦA NHÓM TẬP HỢP DÂN CHỦ ĐA NGUYÊN

 

Bài viết “Nhìn Lại Chiến Thắng Cộng Sản Ngày 30/4/1975” của Nguyễn Gia Kiểng đăng trên Thông Luận, số 180 (4/2004) và 18 năm sau tiếp tục được đăng lại trên trang của Tập hợp dân chủ đa nguyên ngày 19/4/2022 là minh chứng cho thấy sự mượn danh dân chủ, nhân danh đấu tranh cho dân chủ của nhóm Tập hợp này. Thời gian đã lùi xa gần nửa thế kỷ kể từ sau thắng lợi của Đại thắng mùa Xuân năm 1975, song nhóm người này vẫn tiếp tục xuyên tạc sự thật lịch sử về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; về Đảng Cộng sản Việt Nam và kêu gào, tập hợp “lực lượng” nhằm chống phá Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trước những luận điệu phản động này, cần khẳng định rằng:

Một là, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc; và cuộc chiến đấu chính nghĩa đó không phải/vĩnh viễn không bao giờ “là cuộc nội chiến” như Nguyễn Gia Kiểng xuyên tạc. Lịch sử thế giới cho thấy, mỗi dân tộc trên hành trình phát triển của mình có quyền lựa chọn con đường đi đến tương lai phù hợp điều kiện lịch sử của đất nước, đáp ứng nguyện vọng của người dân. Vì thế, khi việc lựa chọn con đường đi của dân tộc và nguyện vọng của người dân hòa quyện, thống nhất, phù hợp xu thế phát triển tất yếu khách quan của lịch sử thì đương nhiên sẽ được các tầng lớp nhân dân đồng lòng ủng hộ.

Nói thế để Nguyễn Gia Kiểng hiểu rằng, đấu tranh cho một nước Việt Nam độc lập, hòa bình, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội không phải chỉ là sự lựa chọn của riêng Đảng Cộng sản Việt Nam mà đó chính là sự lựa chọn, kiên định của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam từ mùa Xuân năm 1930 đến nay. Suốt hành trình hơn 92 năm Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện mục tiêu, con đường đó, những thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) và trong các cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, phía Bắc sau này… chính là nhằm để thực hiện chân lý của thời đại “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”/nhằm thực hiện khát vọng “Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định.

Chiến thắng của nhân dân Việt Nam ngày 30/4/1975 không chỉ khẳng định giá trị lý luận, thực tiễn của chân lý thời đại và khát vọng của nhân dân Việt Nam/dân tộc Việt Nam, mà còn cho thấy sự lựa chọn đúng đắn, chính xác, phù hợp của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã được hiện thực hóa tại đất nước Việt Nam. Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng đã làm nên thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Đó là chiến thắng của một cuộc chiến tranh nhân dân, của cuộc chiến đấu vì chính nghĩa (độc lập, hòa bình, thống nhất đất nước), chứ không phải chiến thắng 30/4/1975 của nhân dân Việt Nam giành được là vì “chế độ Việt Nam Cộng Hoà đã phải đương đầu với một lực lượng khủng bố đông đảo hơn và có kinh nghiệm hơn mình”. Cuộc chiến đấu đầy gian khó và hy sinh vì một nước Việt Nam thống nhất, trong đó có vai trò không thể phủ nhận của hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa (chi viện cả tinh thần và lực lượng: sức người, lương thực, vũ khí, đạn dược…) chắc chắn không phải/không bao giờ là chiến thắng của “lực lượng khủng bố” như Nguyễn Gia Kiểng bịa đặt.

Đây là sự thật và sự thật này là một dấu son trong lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam, bất chấp những luận điệu phản động cho rằng, đó là “người Việt tàn sát lẫn nhau và tàn phá đất nước một cách mê muội, một bên nhân danh những khái niệm tự do dân chủ mà họ không hiểu và cũng không muốn, một bên nhân danh một chủ nghĩa mà họ coi là đỉnh cao trí tuệ nhưng thực ra chỉ là sự bịp bợm trí thức lớn nhất và đẫm máu nhất trong lịch sử thế giới” như Nguyễn Gia Kiểng vu khống nhân dân Việt Nam và xuyên tạc lịch sử dân tộc Việt Nam.

Hai là, vị trí, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hành trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã được minh định; đồng thời cho thấy sự quy chụp “về bản chất thì mọi đảng cộng sản đều là những lực lượng khủng bố” của Nguyễn Gia Kiểng thật hồ đồ, thiếu tri thức khoa học và chính trị cơ bản. Thực tế, sự ra đời của Đảng; việc Đảng luôn thực hiện nghiêm cẩn các nguyên tắc của một Đảng Mácxít Lêninnít; luôn là một khối thống nhất về tư tưởng và hành động; thường xuyên tiến hành công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng cho thấy Đảng thực sự là đội tiền phong của giai cấp và dân tộc Việt Nam. Với Đảng Cộng sản Việt Nam, phụng sự Tổ quốc và nhân dân với tinh thần cách mạng, liêm chính của người lãnh đạo – người công bộc trung thành của nhân dân luôn được thực hiện theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Việc Đảng ngày càng khẳng định được vị trí cầm quyền, độc quyền lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam suốt 9 thập niên cho thấy Đảng đã nỗ lực hoàn thành trọng trách của mình trước Tổ quốc, trước nhân dân trên tinh thần: “Đảng ta đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động, chứ không mưu cầu lợi ích riêng của một nhóm người nào, của cá nhân nào” và “nhiệm vụ của Đảng ta là một lòng, một dạ phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”. Việc Đảng luôn phấn đấu vì lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân cho thấy nhận định “sức mạnh của các đảng cộng sản không phải là quần chúng. Bí quyết thành công của mọi đảng cộng sản là dùng một thiểu số có quyết tâm để khống chế và điều khiển quần chúng” của Nguyễn Gia Kiểng không chỉ là sự xuyên tạc vô sỉ mà còn thể hiện rõ thủ đoạn thâm độc để chống phá Đảng.

Nhân dân là cội nguồn sức mạnh của Đảng. Đảng dựa vào nhân dân để xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Đảng lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng, giải phóng dân tộc, đưa nhân dân từ vị trí nô lệ thành chủ nhân một nước độc lập, tự do, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, chứ Đảng tuyệt nhiên không phải là một tổ chức “khủng bố toàn diện và trắng trợn khi giành chính quyền, khủng bố có phương pháp và có hệ thống khi đã nắm được chính quyền” như vu khống. Đồng thời, những luận điệu bịa đặt, xuyên tạc sự thật lịch sử của Nguyễn Gia Kiểng về Chủ tịch Hồ Chí Minh và vai trò của Người trong những năm 1945-1960; về đồng chí Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và vai trò của các đồng chí lãnh đạo Đảng trong những năm 1960-1975 cũng thêm một lần để cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhận diện rõ hơn âm mưu, chiêu trò của các phần tử phản động, cơ hội theo đuôi thế lực thù địch, tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” mỗi dịp tháng Tư về, mỗi khi nhân dân Việt Nam kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Bác bỏ mọi sự xuyên tạc thô thiển của Nguyễn Gia Kiểng; đồng thời khẳng định rằng, ở Việt Nam không có cái gọi là “chúng ta đang theo đuổi cuộc đấu tranh cho tự do và dân chủ” mà nhóm Tập hợp dân chủ đa nguyên nêu ra chính là để mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân Việt Nam yêu nước chân chính hiểu rõ hơn âm mưu, thủ đoạn của nhóm người nhân danh dân chủ này. Đó là sự bịa đặt, xuyên tạc, vu khống và kêu gọi để kích động lòng nhân, gây mất ổn định trật tự, an toàn xã hội, an ninh quốc gia. Đồng thời, qua đó cũng là thêm một lần chúng ta khẳng định ý nghĩa sâu sắc giá trị của những thành tựu mà nhân dân Việt Nam giành được kể từ khi có Đảng lãnh đạo.

Cuối cùng, khẳng định với Nguyễn Gia Kiểng là: Chẳng có một cuộc chiến đấu nào “thực sự xứng đáng để chiến đấu”, nếu đó không phải là sự phấn đấu, hy sinh vì một nước Việt Nam độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất để nhân dân ngày càng được thụ hưởng một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được làm chủ đời mình; hằng ngày hằng giờ đóng góp sức mình để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước đến hùng cường, phồn vinh. Vì thế, mọi ngụy biện, bịa đặt về lịch sử dân tộc: “Từ trước đến nay Việt Nam đã chỉ có các cuộc nội chiến tranh giành quyền lực giữa các thế lực thống trị, hay những cuộc chiến chống ngoại xâm mà mục đích, xét cho cùng, cũng chỉ là để đổi một ách nô lệ của ngoại bang lấy một ách nô lệ của người bản xứ” hay vu khống Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Đảng của nhóm Tập hợp dân chủ đa nguyên, của Nguyễn Gia Kiểng đều là những chiêu trò phản động nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và đòi xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa đang xây dựng ở Việt Nam!

Phát huy hiệu quả tổ tư vấn pháp luật

 

Trong những năm qua, LLVT tỉnh Long An đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho bộ đội. Trong đó, “Tổ tư vấn pháp luật” là mô hình hiệu quả giúp các đơn vị giữ nghiêm kỷ luật quân đội, chấp hành pháp luật nhà nước.

Nghiêm túc "soi" và "sửa"

 

Trong không khí dân chủ, cởi mở, hội nghị sinh hoạt chuyên đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, gắn với sinh hoạt chính trị “tự soi, tự sửa” ở Chi bộ Phòng Chính trị, Lữ đoàn 280 (Quân khu 5) dần “nóng” lên sau khi đồng chí chủ trì quán triệt mục đích, yêu cầu, gợi mở một số vấn đề cần tập thể thảo luận.

Cái quý nhất là sự gương mẫu

 

Tuần trước tôi về quê. Vừa về đến nhà, bố tôi kể luôn chuyện về một đại tá-cựu chiến binh trong xã nhiều lần vận động ông đứng ra thành lập “Hội cán bộ cao cấp”.

 

Tổng kết lý luận gắn với thực tiễn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

“Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một đề tài lý luận và thực tiễn rất cơ bản, quan trọng, nội dung rất rộng lớn, phong phú và phức tạp, có nhiều cách tiếp cận khác nhau, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu rất công phu, nghiêm túc, tổng kết thực tiễn một cách sâu sắc, khoa học”(1). Trên cơ sở quán triệt “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” từ cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, bài viết làm rõ những nội dung cơ bản: lý tưởng, khát vọng vì độc lập, tự do, phồn vinh, hạnh phúc Việt Nam; con người là chủ thể, là động lực trung tâm và phát triển toàn diện; dân sinh - dân chủ - dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh; thể chế phát triển nhanh - bền vững gắn với phát triển bao trùm.

1. Lý tưởng, khát vọng vì độc lập, tự do, phồn vinh, hạnh phúc Việt Nam

Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) khẳng định: “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(2) với những định hướng mục tiêu đến năm 2030 và năm 2045(3) nhằm hiện thực hóa xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Các tiêu chí này thể hiện “đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta”(4).

Theo Tổng Bí thư, xây dựng xã hội XHCN là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất mà chỉ có thực tiễn mới cho câu trả lời xác đáng. Tiền đề cho lý tưởng XHCN là thành công, hạn chế lịch sử của chủ nghĩa tư bản hiện đại, của phong trào công nhân và của các lực lượng tiến bộ trên thế giới đang đấu tranh cho “các thành tựu, giá trị văn minh”(5) của nhân loại; trong đó, trước tiên, cơ bản là của công cuộc đổi mới - phát triển theo định hướng XHCN ở nước ta. Tại Việt Nam, một tiền đề không thể thiếu trên con đường đi lên CNXH là lý tưởng, khát vọng đổi mới sáng tạo vì độc lập, tự do, phồn vinh, hạnh phúc của đất nước và của mỗi người dân.

Lý tưởng, khát vọng không phải là những huyễn tưởng xuất phát từ ngẫu hứng nhất thời, chủ quan, duy ý chí, mà được khơi dậy, gây dựng từ thực tiễn, niềm tin vững chắc vào thể chế phát triển đất nước vì độc lập, tự do, phồn vinh, hạnh phúc, vào bản lĩnh, kinh nghiệm mà Đảng, nhân dân Việt Nam đã tổng kết được, nhất là từ thực tiễn công cuộc đổi mới với vị thế, uy tín của đất nước đã đạt được trong hơn 35 năm qua. Lý tưởng, khát vọng nuôi dưỡng, thúc đẩy nhu cầu, năng lực đổi mới sáng tạo vì mục tiêu tốt đẹp. Cả hai đều là ước mơ, giá trị tốt đẹp, dù cao cả hay bình dị; trong đó, lý tưởng thiên về nguyên tắc, giá trị có tính lý luận hơn. Cả hai đều là kết quả của nhận thức sâu sắc và dựa vào một niềm tin nhất định; được thể hiện bằng tình cảm nồng cháy, trong sáng và ý chí kiên cường.

Do vậy, phải tổng kết cả về lý luận và thực tiễn về lý tưởng, khát vọng đổi mới sáng tạo vì độc lập, tự do, phồn vinh, hạnh phúc của đất nước và mỗi người Việt Nam trên con đường đi lên CNXH đang được thể hiện cụ thể trong công cuộc đổi mới - phát triển theo định hướng XHCN. Nhờ đó có thể làm rõ và cổ vũ cho “động lực và nguồn lực quan trọng” này của đất nước nhằm đổi mới sáng tạo bằng thể chế phát triển nhanh - bền vững gắn với phát triển bao trùm theo lý tưởng, khát vọng XHCN. Lý tưởng hay khát vọng đó xuất phát từ tâm khảm của mỗi người và của toàn dân tộc Việt Nam. Đây là một trạng thái tinh thần của “gió ngày mai thổi lại” để mang “hồn thời đại bay cao” (Tố Hữu) với sự thôi thúc mạnh mẽ từ niềm tin vào thể chế phát triển của Việt Nam. Đây thực chất là chất men của chủ nghĩa yêu nước khi vận nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc đã đến. Lý tưởng, khát vọng đó có giá trị như lực lượng vật chất tạo nên “sĩ khí quốc dân” khi mỗi người và toàn dân Việt Nam có niềm tin vào thể chế phát triển của đất nước, từ đó, chủ động, tích cực đổi mới sáng tạo, đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm hiện thực hóa lý tưởng, khát vọng XHCN được thể hiện ở mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.   

Việc tổng kết lý luận gắn với thực tiễn đổi mới sáng tạo nhằm thực hiện lý tưởng, khát vọng vì mục tiêu đó sẽ làm sáng tỏ và cổ vũ cho phương thức phát triển hợp quy luật trên con đường đi lên CNXH dưới tác động của kinh tế thị trường, toàn cầu hóa, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, “xã hội thông minh 5.0”...). Từ đó, làm rõ được các cuộc vận động, phong trào đổi mới sáng tạo một cách đồng bộ, toàn diện về cách nghĩ, cách làm theo phương châm: đổi mới sáng tạo trong tư duy, trước hết trong tư duy kinh tế, trong thực hiện ba đột phá chiến lược (thể chế, nguồn nhân lực, hạ tầng),  trong công tác tổ chức và cán bộ, trong phong cách làm việc, sinh hoạt... trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo kiểu  “Make in Vietnam”. Bởi chỉ đổi mới sáng tạo theo kiểu “Make in Vietnam” nước ta mới trở thành một nước phát triển phù hợp với lý tưởng XHCN và công cuộc đổi mới - phát triển theo định hướng XHCN thay vì kiểu “Made in Vietnam” vốn chỉ bằng lòng với tiêu chí một nước đang phát triển, do đó có nguy cơ chệch hướng XHCN.

Về mặt lý luận, có thể ngay từ đầu và trong suốt các giai đoạn phát triển, từng bước định hình được lý tưởng, khát vọng XHCN ngày càng thiết thực hơn, sáng rõ hơn trong cách thức phân kỳ của con đường đi lên CNXH thông qua công cuộc đổi mới - phát triển theo định hướng XHCN ở nước ta, nhằm trả lời câu hỏi: “chủ nghĩa xã hội là gì và đi lên chủ nghĩa xã hội bằng cách nào?(6). Về mặt lý luận - thực tiễn, có thể nuôi dưỡng và thúc đẩy tầm nhìn để kiên định lý tưởng, khát vọng XHCN một cách thực tế bằng cách gắn với xây dựng, thực hiện Cương lĩnh của Đảng, chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước phù hợp với mỗi giai đoạn phát triển mới trong nước và quốc tế trên con đường đi lên CNXH. Từ đó, cùng với việc “nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; từng bước khắc phục những quan niệm giản đơn trước đây”(7) về CNXH, sẽ đưa tinh thần phụng sự đổi mới - phát triển theo định hướng XHCN - phụng sự Tổ quốc vào đời sống xã hội, đặc biệt vào thực tiễn hoạt động của giới trẻ và doanh nghiệp. Tinh thần này trở thành triết lý phát triển nhanh - bền vững gắn với phát triển bao trùm sẽ tạo nên kiểu  “tư duy toàn cầu - hành động dân tộc” nhằm góp phần xây dựng nước Việt Nam độc lập, tự do, phồn vinh, hạnh phúc sánh vai cùng các cường quốc năm châu và phục vụ nhân loại tiến bộ.

2. Con người là chủ thể, là động lực trung tâm và là mục tiêu phát triển

Hiện nay, việc đề cao “vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân”(8) đòi hỏi thực hành, phát huy dân chủ XHCN, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân phải kết nối với phát huy vai trò chủ thể, vị trí động lực trung tâm của con người và phát triển toàn diện con người.

Thực tế cho thấy, chỉ con người với lý tưởng, khát vọng XHCN mới là chủ thể của tất cả các nguồn lực, đồng thời là động lực trung tâm của tất cả các nguồn lực trên con đường đi lên CNXH. Cho nên, việc xuất phát từ con người và “lấy con người làm trung tâm” là tất yếu, nhưng nếu con người không được trao quyền và được bảo đảm quyền của mình với tư cách là người chủ - làm chủ trong thể chế dân chủ XHCN thì không thể phát huy được vị trí chủ thể, vai trò động lực trung tâm của con người.

Vì thế việc tổng kết lý luận - thực tiễn về vấn đề này là để làm rõ việc “không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”(9) nhằm bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Thể chế Nhà nước pháp quyền XHCN không chỉ nhằm thực hành, phát huy dân chủ tập thể, quyền làm chủ tập thể, mà trước tiên và cơ bản phải là làm chủ bản thân. Cho nên phương hướng tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN không chỉ chú trọng vào xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp quyền của bộ máy nhà nước, mà đồng thời cũng phải chú ý đúng mức đến việc xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp quyền của con người, của công dân với tính cách là các quan hệ nền tảng, có tính bình đẳng với thể chế pháp quyền của bộ máy nhà nước trong chỉnh thể chung của thể chế nhà nước pháp quyền XHCN.

Từ đó, kịp thời nắm bắt, điều tiết, tổng kết những quyền mới phát sinh trong vai trò chủ thể, vị trí động lực trung tâm của người dân nhằm phát triển toàn diện, như: quyền an ninh và an toàn thông tin mạng, quyền kinh doanh và thanh toán trên nền tảng internet, quyền giáo dục và sinh hoạt tôn giáo, văn hóa trực tuyến, quyền bí mật đời tư trên mạng xã hội, quyền an toàn thân thể, danh dự, nhân phẩm của trẻ em, quyền của nhóm LGBT... nhằm làm sáng tỏ: để xây dựng xã hội do nhân dân làm chủ, con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện thì con người luôn giữ vai trò chủ thể, vị trí vừa là động lực trung tâm, vừa là mục tiêu của công cuộc đổi mới - phát triển theo định hướng XHCN. Bởi xã hội XHCN là một xã hội “phát triển thực sự vì con người, chứ không vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người”(10).

Thể chế pháp quyền của Nhà nước XHCN không chỉ thể hiện ở mục tiêu và bản chất bảo đảm quyền lực của dân, do dân, vì dân, mà còn được thể chế hóa thành công cụ, phương tiện để đạt được mục tiêu đó một cách hiệu lực, hiệu quả trong thực tế. Bởi lẽ, trong điều kiện tồn tại nhiều thành phần kinh tế và phân hóa giàu nghèo, phân hóa xã hội như hiện nay, mỗi chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội chỉ có thể được lựa chọn, xác định chính xác và triển khai, thực hiện một cách hiệu lực, hiệu quả trên thực tế khi: (1) Xuất phát và nhắm đến đúng thành phần kinh tế, giai tầng xã hội cần được thụ hưởng quyền lợi chính đáng khi xây dựng, ban hành chủ trương, chính sách; (2) Phân rõ chủ thể được bảo đảm quyền lợi và chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm thực hiện quyền lợi đó; (3) Lôi cuốn và huy động được sự tham gia chủ động, tích cực, đông đảo của người dân vào việc thực hiện các chủ trương, chính sách;  (4) Bảo đảm sự công khai, minh bạch trong triển khai, thực hiện.

Đây chính là các tiêu chí của cách tiếp cận dựa trên quyền con người và cũng là công cụ, phương tiện cần phải có trong thực hành, phát huy dân chủ XHCN, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, kể cả trong “Nghiên cứu, ban hành Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”(11).

3. Dân sinh - dân chủ - dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh  

Hồ Chí Minh chỉ rõ:  “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(12). Việc vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo đảm quyền dân tộc (chủ quyền quốc gia, quyền tự quyết và quyền phát triển) phải luôn gắn với bảo đảm quyền con người, quyền bình đẳng của các dân tộc thiểu số và của tất cả các cộng đồng khác, đặc biệt là quyền sinh kế (dân sinh) và dân chủ. Bởi lẽ, “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(13). “Quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của dân tộc là một... Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”(14).

Trong công cuộc đổi mới, Đảng, Nhà nước ta sử dụng cả hai thuật ngữ nhân quyền (quyền con người) và quyền công dân, đồng thời luôn gắn với dân sinh, dân chủ. Bởi lẽ, dân chủ là dân quyền, trước hết là quyền sinh kế và quyền chính trị, cho nên giành lấy và bảo đảm hai loại quyền này sẽ thúc đẩy bảo đảm các quyền con người khác (dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa); bảo đảm quyền dân tộc - quốc gia phải trên cơ sở bảo đảm dân sinh, dân chủ (và ngược lại).

Việc tổng kết lý luận - thực tiễn về mối quan hệ này sẽ góp phần làm sáng tỏ: trên con đường đi lên CNXH, bên cạnh việc bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Trong “Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”(15). Cho nên, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích. Dân sinh là cội nguồn sâu sa, là bản lề và với tính cách là bản chất của chế độ XHCN, dân chủ bảo đảm cho con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực trung tâm trên con đường đi lên CNXH. Đồng thời “Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam; không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo”(16).

Từ đó, chỉ ra sự cần thiết phải tăng cường xây dựng mối quan hệ giữa thực hành dân chủ, thể chế pháp quyền và đại đoàn kết toàn dân tộc trong Nhà nước pháp quyền XHCN. Hiện nay, do khung khổ pháp lý lớn hơn, toàn diện hơn của cơ chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”(17) được xác định tại Đại hội XIII của Đảng, cho nên: (1) Kiến nghị Quốc hội nâng Pháp lệnh về thực hiện dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn (năm 2007) thành luật cũng như hoàn thiện các nghị định về thực hiện dân chủ ở cơ quan, doanh nghiệp nhằm kịp thời ghi nhận, bảo đảm việc thực hiện “dân giám sát, dân thụ hưởng” cũng như tổng thể cơ chế đó; (2) Tạo động cơ khuyến khích tham gia thực hành dân chủ trực tiếp ở cơ sở, ví dụ bổ sung tiêu chí về tham gia vào các công việc cộng đồng trong các tiêu chí về xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa; (3) Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp quyền trong hoạt động tư pháp theo phương châm: “Phải có trọng trách bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân”(18); (4) Đấu tranh có hiệu quả với mọi loại tội phạm, vi phạm và những quan điểm sai trái, thù địch nhằm bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh con người, an ninh xã hội và an ninh quốc gia.  

4. Thể chế phát triển nhanh - bền vững gắn với phát triển bao trùm

Lý tưởng, khát vọng vì Việt Nam độc lập, tự do, phồn vinh, hạnh phúc phải diễn ra trên cơ sở một thể chế chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa nhất định. Trong điều kiện lực lượng sản xuất phát triển ngày càng cao như hiện nay, để tiến lên CNXH ở một nước đang phát triển như Việt Nam, trước tiên và cơ bản phải xây dựng, thực hiện được thể chế phát triển nhanh - bền vững gắn với phát triển bao trùm nhằm kiến tạo niềm tin, khơi dậy lý tưởng, khát vọng đổi mới sáng tạo của người dân.

Việc tổng kết lý luận - thực tiễn về thể chế phát triển nhanh - bền vững gắn với phát triển bao trùm nhằm làm rõ “Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển”(19). Đồng thời, “phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội”(20), để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

Qua tổng kết lý luận - thực tiễn về vấn đề này sẽ góp phần làm rõ các khía cạnh sau: 

- Phát triển bao trùm để “không để ai bị bỏ lại phía sau” thực chất là kiểu phát triển luôn bảo đảm các kết nối theo chuỗi sản xuất, dịch vụ, tiêu dùng; giữa hoạt động kinh tế - xã hội của các thành phần, khu vực kinh tế khác nhau; giữa kinh tế thị trường, Nhà nước pháp quyền và xã hội; giữa trong và ngoài nước; giữa con người với kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường... nhằm góp phần “nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn”(21) như Tổng Bí thư đã xác định.

 -  Việc thực hiện phát triển nhanh - bền vững gắn với phát triển bao trùm là nhằm đáp ứng yêu cầu, nhu cầu chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để giảm nguy cơ tụt hậu, đồng thời tăng cường năng lực đi tắt, đón đầu, thích ứng với nền kinh tế thị trường, các cuộc cách mạng trong lực lượng sản xuất hiện đại cũng như các phong trào nhân văn, dân chủ, tiến bộ trên thế giới. Bởi lẽ, bản chất của toàn cầu hóa là liên kết các hoạt động, giao lưu quốc tế về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, môi trường. Vì thế, các quan hệ toàn cầu mang tính khách quan nhiều hơn do tác động của các cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại, các công ty xuyên quốc gia, các mạng lưới thiết chế và thể chế quốc tế... so với giai đoạn quốc tế hóa. Do đó, hội nhập quốc tế là tất yếu và thực chất là một sự liên kết có tính cạnh tranh để chủ động sinh tồn, phát triển, đồng thời giảm đến mức thấp nhất các tác động tiêu cực đến lợi ích quốc gia - dân tộc. Việc tổng kết lý luận - thực tiễn về vấn đề này sẽ gợi mở cho việc xác định lý tưởng, khát vọng đổi mới sáng tạo để mạnh dạn “đi tắt, đón đầu”, tận dụng những cơ hội mà các cuộc cách mạng trong lực lượng sản xuất quốc tế... mang lại nhằm xây dựng thành công Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” với các tiêu chí phát triển vào năm 2030 và năm 2045 như Đại hội XIII của Đảng đã xác định.

- Làm rõ việc kết nối phát triển về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, môi trường với sinh kế và đời sống xã hội của người dân để thực hiện mục tiêu cuối cùng và cao nhất là bảo đảm mỗi người và cộng đồng phát triển toàn diện. Cần nhấn mạnh là, phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, môi trường dù đạt thành tựu đến đâu mà con người không được tái tạo bền vững về thể chất, tinh thần, giới tính người và các thế hệ người thì hầu như không có ý nghĩa thực tế. Chẳng hạn hiện nay, sự giảm sút dân số là một dấu hiệu tiêu cực về tính chất chưa bền vững, chưa bao trùm trong phát triển tại một số nước phát triển. Qua đó sẽ hướng quá trình phát triển nhanh - bền vững gắn với bao trùm một cách hài hòa giữa hoạt động sinh kế của người dân theo thể chế kinh tế thị trường, với sự điều tiết của Nhà nước pháp quyền XHCN và quan hệ con người - quan hệ công dân trong đời sống xã hội nhằm tạo nên sự bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các giai tầng trong xã hội, giữa nam và nữ với mức độ chênh lệch giàu nghèo, chênh lệch đời sống vùng miền không lớn. Nhờ đó bảo đảm công bằng xã hội và phát triển con người toàn diện theo chỉ số phát triển con người (HDI) và bình đẳng giới (GDI), nhằm phát triển bền vững đời sống xã hội của con người, đặc biệt tái sản sinh bền vững con người, giới tính và các thế hệ người. Đây là tiêu chí cốt lõi quán xuyến quá trình phát triển nhanh - bền vững gắn với bao trùm trên con đường đi lên CNXH ở nước ta.

- Kịp thời phát hiện những nội hàm mới của phát triển nhanh - bền vững gắn với phát triển theo chuỗi hay bao trùm. Đây là yêu cầu đang rất cần thiết, bởi ngày nay, sự phát triển của bất cứ lĩnh vực đời sống xã hội nào cũng không thể diễn ra một cách biệt lập mà nó có sự kết nối bao trùm với sự phát triển của các lĩnh vực khác. Nếu không có sự kết nối bao trùm giữa chúng thì rất khó thực hiện sự phát triển của bản thân lĩnh vực kinh tế cũng như của bản thân lĩnh vực xã hội...

Tính chất phát triển bao trùm hay phát triển theo chuỗi “hai trong một” hoặc “nhiều trong một” không làm nội hàm của phát triển trở nên thiếu trọng tâm, trọng điểm hay làm lu mờ mũi nhọn đột phá có tính đặc thù của riêng kinh tế hay xã hội, văn hóa, môi trường. Công nghiệp 4.0, tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, xã hội thông minh 5.0... sẽ giúp con người xử lý thông minh, hiệu quả  những vấn đề phát sinh trong quá trình kết nối theo chuỗi. Kinh nghiệm của Liên hợp quốc trong triển khai, thực hiện Chương trình phát triển thiên niên kỷ giai đoạn 2001-2015 với 8 mục tiêu và Chương trình nghị sự phát triển bền vững giai đoạn 2016-2030 với 17 mục tiêu cho thấy, càng mở rộng nội dung, mục tiêu phát triển bền vững thì càng mở rộng nội hàm phát triển bao trùm.

- Cuối cùng, sẽ nâng cao năng lực phát triển trên con đường đi lên CNXH, chủ động thích ứng với trạng thái “bình thường mới” hiện nay nhằm thúc đẩy lý tưởng, khát vọng đổi mới sáng tạo như: đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cải cách thể chế, đáp ứng được yêu cầu chuyển mạnh sang nền kinh tế số, chính quyền số và xã hội số; tìm kiếm hướng phát triển mới, thị trường mới (như nâng cao năng lực của các đầu tàu kinh tế Bắc, Trung, Nam, chú ý phát hiện, bồi dưỡng một số đầu tàu kinh tế mới ở cả ba miền...); đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao trong lãnh đạo, quản trị và khoa học, công nghệ; đẩy mạnh phân cấp, trao quyền, ủy quyền, phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn giữa Trung ương và địa phương, cơ sở theo hướng bảo đảm tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, nhằm khuyến khích, thúc đẩy đổi mới sáng tạo của địa phương, cơ sở...; xây dựng chế độ khuyến khích và bảo vệ cán bộ, đảng viên dám đột phá, đổi mới sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp quyền của bộ máy nhà nước và của cả người dân nhằm thực hiện công khai, minh bạch nghĩa vụ bảo đảm công lý, quyền con người, quyền công dân.

___Nguồn: LLCT___ 

(1), (4), (5), (6), (7), (9), (10), (15), (16), (19), (20), (21) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.17, 23, 25, 23, 23, 28, 21, 28, 29, 26-27, 27, 55.

(2), (3), (8), (11) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.34, 34 - 36, 51, 177.

(12), (13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.175, 64.

(14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Sđd, tr.41.

 

NHÂN DANH TỰ DO ĐỂ BÓP MÉO SỰ THẬT

 

Từ lâu, một số cơ quan truyền thông phương Tây, nhất là các trang tiếng Việt của những “ông lớn” như VOA, RFA, RFI, BBC... luôn nhân danh tự do, bảo vệ tự do báo chí, tự do ngôn luận để vi phạm một cách trắng trợn hoặc tinh vi, bóp méo sự thật khiến thông tin bị sai lệch, gây phương hại đến sự phát triển của quốc gia khác, ảnh hưởng không tốt đến quan hệ quốc tế...

Sự sai lệch và chủ đích không xây dựng

Thử điểm qua một số tiêu đề trong thời gian gần đây của Đài châu Á Tự do (RFA), một đài phát thanh tư nhân của Hoa Kỳ, xem họ thông tin gì về tình hình Việt Nam. Ví như: “Nước cộng sản Lào khủng hoảng, báo chí Việt tránh đưa tin”, “Thuốc đặc trị chữa tham nhũng: Thay đổi thể chế!”...

Đây nữa, cũng là một số tiêu đề bài báo trên một cơ quan báo chí khác của Mỹ là Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA), ví như: “Đảng CS nhắm kỷ luật cựu Chủ tịch TP HCM Nguyễn Thành Phong”, “Xây dựng chủ nghĩa xã hội, xã hội hóa và ơn... đảng”, “Báo chí cách mạng Việt Nam cần cởi mở hơn”, “Dân mong nhà nước mau giảm giá xăng, chớ “so sánh” nữa”...

Không riêng gì hai cơ quan báo chí kể trên, một số cơ quan báo chí ở châu Âu cũng xuất bản trang tiếng Việt với những chủ đích không hề dựa trên nguyên tắc cơ bản nhất của báo chí là sự thật, nhất là việc tôn trọng sự thật khách quan. Có thể kể đến BBC tiếng Việt (Anh), RFI tiếng Việt (Pháp). Có lẽ, cũng không cần phải dẫn thêm những ví dụ về các tiêu đề lệch lạc, không đúng bản chất kiểu này nữa. Bởi chưa cần đọc những bài báo đó viết về vấn đề gì, tính chính xác đến đâu, nhưng chỉ nhìn riêng các tiêu đề đã thấy sự quy kết, chụp mũ những vấn đề chính trị quan trọng, cũng như sự dễ dãi, tùy tiện, “chợ búa” trong cách dùng từ ngữ...

Có một điểm chung nữa hết sức nguy hiểm của các cơ quan báo chí phương Tây kể trên, đó là sự phiến diện, mất cân bằng, mất công bằng trong thông tin. Điều này thể hiện thông qua việc họ chỉ nhăm nhăm vào những thông tin tiêu cực, những hạn chế, khiếm khuyết trong các lĩnh vực mà đào bới, xoáy sâu vào phản ánh. Họ coi những hiện tượng cá biệt ấy là bản chất, là sự phổ biến. Họ cố tình quên những thành quả to lớn mà Việt Nam đạt được trong suốt chiều dài lịch sử hình thành và phát triển, nhất là từ khi đổi mới năm 1986 đến nay. Là một nhà báo, một cơ quan báo chí, lẽ nào họ không biết các tổ chức quốc tế đánh giá khách quan, chân xác về sự phát triển vượt bậc của Việt Nam, là mức sống của người dân được nâng lên đáng kể, là các quyền tự do về ngôn luận, báo chí, tôn giáo, tín ngưỡng, nhân quyền... đều được đề cao, bảo đảm.

Những thông tin quan trọng về thành tựu của Việt Nam thì họ không bao giờ đưa. Ví dụ, ngày 7-6-2022, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã đồng thuận bầu Việt Nam làm Phó chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77 đại diện châu Á-Thái Bình Dương. Trước đó, Việt Nam đã hai lần được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (các nhiệm kỳ: 2008-2009, 2020-2021), 5 lần được bầu làm thành viên Hội đồng Chấp hành Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (các nhiệm kỳ: 1978-1983, 2001-2005, 2009-2013, 2015-2019 và 2021-2025), thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014-2016), thành viên Hội đồng Kinh tế-Xã hội Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2016-2018)...

Trong hơn hai năm qua, khi đại dịch Covid-19 hoành hành khiến cả thế giới chao đảo, Việt Nam đã rất thành công trong phòng, chống đại dịch, sớm kiểm soát được dịch bệnh, đưa mọi hoạt động trở lại trạng thái bình thường mới. Việt Nam đã “mở cửa bầu trời” quốc nội và quốc tế, hoạt động kinh tế nói chung, du lịch nói riêng đã tấp nập trở lại với những mức tăng trưởng đầy khích lệ, hết sức lạc quan. Cuối tháng 6-2022, Ngân hàng UOB (Singapore) đã công bố Báo cáo tăng trưởng kinh tế và dự báo quý kế tiếp cho các thị trường, trong đó có Việt Nam. Báo cáo của UOB vẫn giữ nguyên dự báo tăng trưởng GDP năm 2022 của Việt Nam ở mức 6,5%, bởi đà tăng trưởng cơ bản của Việt Nam vẫn giữ nguyên trong quý II-2022...

Trước đó, vào đầu tháng 6-2022, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi ở mức 6,5% năm 2022 và đạt 6,7% năm 2023. Trong khi đó, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2022 xuống mức 3,6%, nhưng tin rằng tiến trình phục hồi kinh tế tại Việt Nam sẽ mạnh lên từ việc thực thi Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội. Ông Francois Painchaud-Trưởng đại diện IMF tại Việt Nam-cho rằng, GDP Việt Nam sẽ tăng trưởng ở mức 6% trong năm 2022 và 7,2% trong năm 2023...

Có lẽ, chỉ cần đưa những dẫn chứng hết sức cụ thể, khách quan kể trên, theo sự nhìn nhận, đánh giá của thế giới cũng đủ sức thuyết phục về sự tăng trưởng kinh tế, cũng như uy tín, vị thế của Việt Nam hiện nay! Xin được nhắc lại lời khẳng định nhiều lần của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, rằng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”.

Sự thật cần phải được tôn trọng!

Xưa nay, ai làm báo chí-truyền thông, thậm chí bất kể người dân bình thường nào cũng có thể dễ dàng hiểu rằng, tiêu đề là phần quan trọng nhất của bài báo, đó chính là phần nội dung đáng chú ý nhất, nêu bật bản chất sự kiện, vấn đề, hiện tượng mà tác phẩm báo chí đề cập đến. Thế nên, chỉ cần nhìn vào các tiêu đề với nội dung gì được nêu ra, ngôn ngữ được sử dụng như thế nào, đã đủ để hình dung được dụng ý sâu xa, bản chất của nhà báo, cũng như cơ quan báo chí. Vậy thử một lần nữa quay lại nhìn một số tiêu đề mà các cơ quan báo chí có phiên bản tiếng Việt đặt, chúng ta sẽ thấy ngay đâu là sự thật ẩn giấu đằng sau những nội dung, ngôn từ giật gân, câu khách, gây sự chú ý bằng những thủ pháp ẩn chứa thông điệp kích động, chống phá, hằn học, gièm pha, giễu nhại... hết sức phi lý.

Thiết nghĩ, cũng như con người vậy, các cụ đã đúc kết “trông mặt mà bắt hình dong”, với hàm ý rằng, chỉ cần chú ý đến hình dáng khuôn mặt của người khác, bạn cũng có thể biết được phần nào, thậm chí rất rõ đặc trưng tính cách, bản chất của con người đó, đặc biệt là những người “lộ tướng”. Và với việc chỉ cần nhìn các tiêu đề bài báo, cũng có thể nhận ra ngay mục đích thực sự của các nhà báo, cơ quan báo chí kể trên đã nhắm đến sự lệch lạc, thiếu tôn trọng sự thật khách quan, quy chụp về đất nước, con người, quốc gia khác. Điều này càng rõ ràng hơn khi sự tiếp cận, những góc nhìn, cùng hệ thống luận điểm, luận cứ đưa ra đã trường diễn suốt bao năm qua.

Chúng ta đều biết rằng, trong "Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền" được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua và công bố theo Nghị quyết 217A (III) ngày 10-12-1948, có Điều 19 khẳng định rằng: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; bao gồm tự do giữ ý kiến mà không bị can thiệp, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận và truyền bá thông tin và tư tưởng bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào và không giới hạn về biên giới”. Rõ ràng, những gì mà các cơ quan báo chí phương Tây nói về Việt Nam, dù bằng bất cứ loại hình báo chí-truyền thông nào, từ báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử đến truyền thông xã hội (ví như YouTube, Facebook...) là không hề bị cấm, không hề bị can thiệp.

Nhưng tuyên ngôn có ý nghĩa nhân văn cao cả ấy đâu chỉ dừng lại ở Điều 19 mà các cơ quan báo chí phương Tây có thể hoàn toàn tự do phóng tác, thêu dệt, mượn một phần sự thật để hướng lái nhằm làm sai lệch bản chất thông tin. Họ quên mất rằng, chính Điều 29 và Điều 30 của "Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền" khẳng định một điểm chung bắt buộc, đó là các quyền tự do ấy phải trong khuôn khổ pháp luật! Mà pháp luật ấy, là của từng quốc gia độc lập, trên cơ sở thượng tôn luật pháp quốc tế, chứ không thể có một thứ gọi là tự do tùy tiện, bất chấp mà chà đạp lên tất cả chỉ để thỏa ý thích nói về cái gọi là “sự thật” theo quan niệm của họ mà thiếu đi sự thật.

Người phương Tây có câu ngạn ngữ rằng, “một nửa cái bánh mì vẫn là bánh mì, nhưng một nửa sự thật thì chưa hẳn là sự thật”. Điều này không có gì phải bàn cãi. Đặc biệt, đối với báo chí-truyền thông, một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong hoạt động của mình là phản ánh sự thật khách quan, tôn trọng sự thật một cách tuyệt đối, toàn vẹn. Chính vì thế, những kiểu nhân danh tự do để vi phạm tự do ngôn luận, tự do báo chí một cách trắng trợn, tinh vi, có hệ thống, cần phải bị phê phán thích đáng, bất kể chúng ở đâu, nói về vấn đề gì đi chăng nữa. Chỉ một lẽ đơn giản, sự thật cần phải được đề cao, bảo đảm và tôn trọng một cách trọn vẹn!./.

Theo qdnd.vn