Thứ Ba, 28 tháng 6, 2022

Mối quan hệ giữa phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở bên trong với đấu tranh chống “tác động chuyển hóa” từ bên ngoài

 Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bên trong góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Nỗ lực đó sẽ đem lại hiệu quả cao hơn và bền vững hơn nếu gắn kết chặt chẽ, thường xuyên với việc đấu tranh chống “tác động chuyển hóa” từ bên ngoài; qua đó, góp phần vào thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

1- Liên tiếp 3 nhiệm kỳ đại hội vừa qua, Đảng ta đã kiên quyết, kiên trì thực hiện nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, mà trong đó, phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn luôn là nhiệm vụ cấp bách nhất. Ngay từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””, thể hiện quyết tâm của Đảng trong thực hiện nhiệm vụ quan trọng liên quan tới sự tồn vong của chế độ, tới thành công của sự nghiệp cách mạng nước ta.

Tại Đại hội XIII của Đảng, bên cạnh việc ghi nhận, làm rõ những ưu điểm nổi bật về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đảng ta cũng chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”(1); đặc biệt là “Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, một số suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng; quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa, cơ hội, thực dụng, bè phái, gây mất đoàn kết nội bộ; chưa nêu cao ý thức trách nhiệm trước tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương và nhân dân. Thực hiện quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên chưa trở thành nền nếp, hiệu quả chưa cao. Một số cán bộ vi phạm đến mức phải kỷ luật, xử lý hình sự”(2).

Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế, khuyết điểm nói trên cũng được Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “1- Một số cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới; việc quán triệt các nghị quyết của Đảng ở một số nơi chưa kịp thời, sâu sắc.

2- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa chủ động, sâu sát, thiếu quyết liệt; chưa coi trọng việc tự kiểm tra, xử lý vi phạm. Một số nơi, người đứng đầu chưa phát huy hết trách nhiệm, thiếu bản lĩnh, chưa gương mẫu, còn thụ động, né tránh, trông chờ vào chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên.

3- Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi còn biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm. Kiểm soát quyền lực còn lúng túng, hiệu quả thấp”(3).

Như vậy, một trong bốn nguy cơ của Đảng cầm quyền được cảnh báo từ Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ Đại hội VII của Đảng đến nay vẫn hiện hữu và thậm chí còn gay gắt hơn, đó là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Vì vậy, cuộc đấu tranh chống lại tình trạng suy thoái này vẫn là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta. Điểm mới nổi bật trong quan điểm chỉ đạo của Đại hội XIII của Đảng là gắn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong điều kiện Đảng ta là đảng duy nhất cầm quyền.

Trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cần phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa “xây” và “chống”; trong đó, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, thường xuyên. Theo đó, yêu cầu xử lý mối quan hệ giữa phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở bên trong và đấu tranh chống “tác động chuyển hóa” từ bên ngoài là một nhiệm vụ cần được nhận thức đầy đủ và tổ chức thực hiện có hiệu quả.

Suy thoái về tư tưởng chính trị là sự suy giảm đến mức báo động về niềm tin của một bộ phận cán bộ, đảng viên về mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chế độ chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, về vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng.

Sự suy thoái về đạo đức, lối sống là sự suy giảm đến mức báo động về đạo đức, lối sống theo chiều hướng tiêu cực, ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và ngày càng xa lạ với truyền thống đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

“Tự diễn biến” là khi mỗi đảng viên không nhận thức được trách nhiệm, bổn phận của mình, nhất là những người được giao trọng trách trong các cơ quan của hệ thống chính trị; thiếu hiểu biết hoặc cố tình làm sai những quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước vì động cơ vụ lợi.

“Tự chuyển hóa” là kết quả tất yếu, là hệ lụy của cả một quá trình “tự diễn biến”, là sự thay đổi về bản chất cách mạng của cán bộ, đảng viên do thiếu rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng; là quá trình tích tụ từ những khuyết điểm nhỏ thành khuyết điểm lớn hơn, thậm chí đến mức vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bên trong là hậu quả của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, là quá trình tự biến đổi về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực, vi phạm các quy định của Đảng ở các mức độ khác nhau, thậm chí có hành vi chống lại Đảng, Nhà nước... và là thách thức đối với sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng nếu không được ngăn chặn, đẩy lùi triệt để.

“Tác động chuyển hóa” từ bên ngoài là hoạt động của các lực lượng ngoài Đảng (trong nước và nước ngoài) nhằm thúc đẩy nhanh hơn quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên trong các tổ chức của hệ thống chính trị. Tác động từ bên ngoài hướng tới mục tiêu là gieo rắc những luận điệu xuyên tạc sự thật với dụng ý xấu của những phần tử bất mãn với chế độ, của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị, mưu toan phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, hòng xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta. Tác động chuyển hóa từ bên ngoài chủ yếu thông qua các phương tiện truyền thông, cả truyền thống và hiện đại, với những luận điệu xuyên tạc sự thật, bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng cả trong nước và trên trường quốc tế, nhằm kích động, cổ xúy, lôi kéo những cán bộ, đảng viên đang mơ hồ, dao động về lập trường tư tưởng, thiếu niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng. Các thế lực thù địch thực hiện “diễn biến hòa bình” bằng cách thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng và nhân dân, với phương châm “không đánh mà thắng” nhằm lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam hiện nay.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bên trong có mối quan hệ mật thiết với “tác động chuyển hóa” từ bên ngoài

 Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống có mối quan hệ chặt chẽ với “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Đảng ta đã khẳng định: “sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”(4). “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ còn diễn ra nhanh hơn khi đời sống gặp nhiều khó khăn, phân cực giàu - nghèo quá lớn; tình trạng mất dân chủ, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tràn lan... dẫn đến nảy sinh những vấn đề và tâm lý bức xúc trong xã hội. Đối tượng bị rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là cán bộ, đảng viên, bất kể ở cương vị nào. Chức vụ của người cán bộ, đảng viên càng cao thì hậu quả tiêu cực của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” do người đó gây ra càng lớn.

“Tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” có quan hệ chặt chẽ với nhau: “Tự diễn biến” là quá trình thẩm thấu từng ngày, qua từng hoạt động, còn “tự chuyển hóa” là kết quả, là hậu quả và hệ lụy của “tự diễn biến” của mỗi cán bộ, đảng viên. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bên trong còn là nguyên nhân của mất đoàn kết nội bộ, là cái cớ để các thế lực thù địch khoét sâu thêm những khuyết điểm, thúc đẩy và làm gia tăng thêm mâu thuẫn nội bộ; có thể dẫn tới sự tiếp tay hoặc cấu kết của một số cá nhân với các thế lực xấu, thù địch, dẫn tới sự phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Đó là hậu quả của quá trình suy thoái về tư tưởng chính trị từ bên trong đội ngũ đảng viên - lực lượng tiên phong của phong trào cách mạng. Do vậy, nếu quá trình này không được phát hiện và ngăn chặn kịp thời, thì có thể dẫn đến sự suy thoái của Đảng và kết thúc sinh mệnh chính trị của Đảng, sự tồn tại của chế độ XHCN ở Việt Nam hiện nay.

Hậu quả lớn nhất của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thực chất là sự chuyển hóa chính trị. Chuyển hóa chính trị có thể xuất hiện từ hai hướng: 1- Từ hoạt động của các thế lực thù địch nhằm tác động dẫn tới chuyển hóa chính trị; 2- Sự “tự chuyển hóa” chính trị của nội bộ. Tuy nhiên, hai hướng này có quan hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau: Yếu tố bên ngoài thúc đẩy, tạo điều kiện cho yếu tố bên trong; yếu tố bên trong tạo sự chú ý và điều kiện thuận lợi cho yếu tố bên ngoài. Trong đó, “tự chuyển hóa” bên trong sẽ quyết định sự thay đổi về chính trị nên hết sức nguy hiểm. Do vậy, phương châm, nguyên tắc bảo đảm an ninh nội bộ, bảo vệ chính trị nội bộ và phòng, chống chuyển hóa chính trị là phải chủ động phòng ngừa các nguy cơ, giữ vững sự đoàn kết chính trị bên trong. Đây là yếu tố mang tính căn bản, quyết định. Tác động chuyển hóa từ bên ngoài của những phần tử cơ hội chính trị, bất mãn với chế độ và của những thế lực thù địch sẽ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, nếu kết hợp với “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bên trong; có thể làm sụp đổ chế độ chính trị nếu không có biện pháp hóa giải kịp thời, hiệu quả. Vì thế, việc phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống một cách có hiệu quả sẽ góp phần phòng ngừa, ngăn chặn và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của những tác động từ bên ngoài. Điều này đúng như V.I. Lê-nin đã cảnh báo: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta. Toàn bộ vấn đề là ở chữ “nếu” này. Nếu chúng ta do sai lầm mà gây ra sự chia rẽ thì tất cả sẽ sụp đổ”(5).

Như vậy, việc phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở bên trong là cách tốt nhất để hạn chế những tác động từ bên ngoài, và làm vô hiệu hóa “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Đồng thời, tăng cường đổi mới, xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh chính là cách tốt nhất, bền vững nhất để phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Những kết quả thiết thực về đổi mới, xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh trong những năm qua là minh chứng rõ nét, thể hiện quyết tâm củng cố, nâng cao niềm tin của đảng viên và nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, góp phần vô hiệu hóa âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

2- “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là một quá trình đi từ không đến có, từ ít đến nhiều, từ thấp đến cao, từ tiêu cực đến bất mãn, phản động, nên nỗ lực, quyết tâm của tổ chức đảng, của mỗi đảng viên để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ có vai trò quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến việc ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái đó. Điều này thể hiện trước hết ở nhận thức, trách nhiệm và hành động cụ thể của mỗi cán bộ, đảng viên trong tự phê bình và phê bình. Muốn vậy, phải nâng cao chất lượng sinh hoạt của tổ chức đảng, nhất là nêu cao trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy, đề cao và thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, “dĩ hòa vi quý”. V.I. Lê-nin khẳng định: “Đối với đảng đang đấu tranh của giai cấp tiền phong thì phạm sai lầm là không đáng sợ. Điều đáng sợ là: cứ giữ mãi sai lầm, cứ xấu hổ hão không chịu nhận sai lầm và sửa chữa sai lầm”(6). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(7).

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có nguyên nhân từ thái độ và trách nhiệm chưa cao trong học tập lý luận của một bộ phận đảng viên; hiệu quả của công tác giáo dục lý luận chính trị, giáo dục đạo đức có lúc, có nơi còn thấp, khiến cho kết quả nhiều khi không đạt yêu cầu đề ra. Vì thế, các cấp ủy, người đứng đầu phải thực sự chú trọng đến giáo dục nâng cao nhận thức chính trị cho đội ngũ đảng viên một cách thường xuyên, có hiệu quả, thực chất và thiết thực. Toàn Đảng phải quán triệt, thực hiện tốt quan điểm chỉ đạo trong quá trình đổi mới là: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên định đường lối đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng”(8).

Để bảo đảm tính thuyết phục trong công tác tư tưởng, cần chú trọng hơn nữa đến công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận; nghiên cứu học tập có chọn lọc những kinh nghiệm trên thế giới, vận dụng sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam; từ đó, tạo cơ sở khoa học vững chắc cho việc hoạch định và thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Bảo đảm tính khoa học, tính thuyết phục trong công tác tư tưởng sẽ tạo điều kiện vững chắc cho việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh có hiệu quả chống các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, phát huy mạnh mẽ vai trò của các cơ quan thông tin đại chúng trong phản ánh dư luận xã hội, tâm trạng của các tầng lớp nhân dân, để các cơ quan, các cấp có thẩm quyền xử lý kịp thời những vấn đề phát sinh.

Chỉ khi cán bộ, đảng viên tự mình nhận thức đầy đủ, đúng đắn về tầm quan trọng của việc nghiên cứu, học tập lý luận chính trị, thì khi đó mới xác định được trách nhiệm thực hiện chế độ học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị, cũng như nâng cao tính tự giác, chủ động trong tự học, tự nghiên cứu của cá nhân. Cấp ủy các cấp cần tiếp tục chỉ đạo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên của mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh phải bằng những hành động cụ thể, thiết thực, thông qua sự nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.

Tác động từ bên ngoài sẽ được kiểm soát khi mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các cấp giữ vững niềm tin, luôn đề cao trách nhiệm nêu gương, ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng. Để “miễn dịch” được với những tác động xấu từ bên ngoài, mỗi cán bộ, đảng viên cần thực hiện nghiêm các quy định nêu gương của Đảng, quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm. Cán bộ giữ cương vị càng cao thì càng phải tiên phong, gương mẫu. Nâng cao hiệu quả thực hiện những chuẩn mực đạo đức cách mạng của đảng viên, đạo đức công vụ, các chuẩn mực, giá trị đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc và những chuẩn mực đạo đức của con người trong thời đại mới. Mỗi đảng viên cần tự giác rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, có ý thức sâu sắc hơn về trách nhiệm của mình trước Đảng và nhân dân. Kiên quyết chống các biểu hiện bè phái, cục bộ địa phương, “lợi ích nhóm”. 

Cấp ủy các cấp cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về vai trò của cán bộ và vị trí của công tác cán bộ: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững”(9). Theo đó, cần tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có khát vọng cống hiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng; thực sự mẫu mực, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; “thực sự tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân”, được nhân dân tín nhiệm. Tiếp tục thực hiện tốt các quy định về công tác cán bộ, nhất là Quy định số 205-QĐ/TW, ngày 23-9-2019, của Bộ Chính trị, “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền” một cách thực chất và hiệu quả; không để lọt người không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, những người có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống sẽ được ngăn chặn từ sớm nếu kịp thời phát hiện và kiên quyết đấu tranh. Có thể ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên nếu kết hợp một cách chặt chẽ giữa giáo dục với rèn luyện và giữa giáo dục, rèn luyện với xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm. Việc giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên chỉ đạt hiệu quả cao khi kết hợp với việc giữ gìn kỷ luật của Đảng, xử lý kịp thời, nghiêm minh những vi phạm. Vì vậy, cần chú trọng công tác kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên, nhất là người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tham nhũng, tiêu cực, trong việc chấp hành các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; và xử lý nghiêm nếu có sai phạm, không có “vùng cấm”, không có “ngoại lệ”. Đồng thời, quan tâm giải quyết dứt điểm những vụ việc phức tạp, gây bức xúc kéo dài trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Phát huy vai trò giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra cấp ủy, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân, kịp thời phát hiện từ nội bộ những vi phạm từ khi mới phát sinh để chấn chỉnh ngay; không để những khuyết điểm nhỏ tích tụ thành khuyết điểm lớn, đến mức phải thi hành kỷ luật đảng, thậm chí phải xử lý hình sự.

Đảng trong sạch, vững mạnh, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, luôn nỗ lực vì lợi ích của nhân dân, của đất nước thì sẽ vượt qua mọi khó khăn, trở ngại. Muốn vậy, Đảng phải thực sự phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Đấu tranh có hiệu quả trong phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là sự gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, giữa phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bên trong và đấu tranh chống “tác động chuyển hóa” từ bên ngoài. Đây là quá trình được tiến hành đồng thời, hỗ trợ lẫn nhau theo phương châm “xây” là cơ bản, phải kiên trì; “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. “Xây” tốt là nâng cao khả năng tự phòng, chống của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn và hoạt động của các thế lực thù địch, đối tượng phản động, cơ hội chính trị. “Chống” có hiệu quả là nâng cao khả năng ứng phó, ngăn chặn các thông tin sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng; kịp thời định hướng dư luận, vô hiệu hóa hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc ngày càng tinh vi, nguy hiểm của các thế lực thù địch, phản động. Các cơ quan thông tin đại chúng phải kịp thời cung cấp những thông tin chính thống, có trách nhiệm, nhằm đi trước một bước trong định hướng dư luận xã hội, để giữ vững niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng và chế độ./.

Báo chí và nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới

 Theo tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, một trong những nhiệm vụ quan trọng của báo chí nước ta hiện nay là chủ động tiến công, kiên quyết và thường xuyên “đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị”, làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, góp phần tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

1. Ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết nêu rõ: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” (1).

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội ra sức xuyên tạc, chống phá nhằm loại bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng ta - chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh - ra khỏi đời sống tinh thần xã hội. Chúng công kích những bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác - Lê-nin; tập trung vào những nguyên lý cơ bản và những luận điểm lý luận then chốt; lợi dụng cả những người hiểu và vận dụng chưa đầy đủ chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong thực tiễn để xuyên tạc, chống phá. Chúng tấn công chủ nghĩa Mác - Lê-nin cả về lý luận và thực tiễn; đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; xuyên tạc, bóp méo tư tưởng Hồ Chí Minh. Các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội chính trị thường xuyên xuyên tạc, chống phá đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quá trình tổ chức thực hiện; triệt để lợi dụng những thiếu sót, khuyết điểm của ta trong thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật để chống phá; xuyên tạc sự thật, bôi nhọ một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên...

Để “hà hơi tiếp sức” cho sự chống phá trên, chúng trực tiếp tấn công vào nền báo chí cách mạng nước ta, với chiêu bài “tự do báo chí”, vu cáo Đảng và Nhà nước “vi phạm quyền tự do ngôn luận”, âm mưu phi chính trị báo chí nước ta, tách rời báo chí khỏi sự lãnh đạo của Đảng, khiến báo chí mất phương hướng chính trị, mất tính chiến đấu. Sự chống phá của các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội chính trị là hết sức thâm độc, nguy hiểm. Do đó, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng và đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị có vai trò quan trọng đặc biệt, là trách nhiệm của toàn Đảng, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó có vai trò chủ công, tiên phong của các cơ quan báo chí.

2. Trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, báo chí cách mạng có vai trò đặc biệt quan trọng. Đảng ta nhiều lần chỉ rõ, báo chí cách mạng phải làm tốt chức năng tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phát hiện, khẳng định và nhân rộng ra toàn xã hội cái hay, cái đẹp, những điển hình, những nhân tố mới; đồng thời, phải tích cực đấu tranh phê phán cái xấu, tiêu cực, uốn nắn những nhận thức lệch lạc, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Việt Nam hiện có hệ thống báo chí phát triển với đội ngũ những người làm báo hùng hậu “khoảng 50.000 người đang làm việc trong lĩnh vực báo chí; gần 1.000 cơ quan báo chí thuộc bốn loại hình báo in, phát thanh, truyền hình và báo điện tử, trong đó có 165 cơ quan báo, 663 tạp chí, 23 cơ quan báo điện tử độc lập, 2 đài phát thanh - truyền hình quốc gia, 64 đài địa phương, 5 kênh truyền hình. Đa số các cơ quan báo chí đều đang nỗ lực để sử dụng được sức mạnh công nghệ làm báo mới” (2). Với lực lượng hùng hậu và sự đa dạng, phong phú về loại hình, báo chí cách mạng đi tiên phong trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, đã và đang đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thời gian qua, báo chí nước ta đã thể hiện rõ vai trò xung kích trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Nhiều tờ báo đấu tranh kịp thời, sắc bén, vạch rõ và làm thất bại nhiều âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; củng cố lòng tin của nhân dân đối với chế độ và sự lãnh đạo của Đảng.

Báo chí đã phổ biến, tuyên truyền kịp thời, rộng rãi chủ trương, quan điểm chỉ đạo bảo vệ nền tảng tư tưởng và công tác xây dựng Đảng, gắn với nhận diện và đấu tranh phòng, chống sự suy thoái, tham nhũng, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đồng thời, tuyên truyền, truyền bá các giá trị đạo đức, văn hóa, lối sống tốt đẹp của con người Việt Nam, những tấm gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến trong các lĩnh vực của đời sống xã hội với tinh thần “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”.

Nhiều tờ báo mở chuyên trang, chuyên mục đăng tải các bài viết trực tiếp, trực diện đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Điển hình như chuyên mục: “Đấu tranh phản bác luận điệu sai trái, thù địch” của Tạp chí Cộng sản; “Làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”” của Báo Quân đội nhân dân; “Bình luận - phê phán” của Tạp chí Quốc phòng toàn dân; “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng” của Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam…liên tiếp có những bài đấu tranh chất lượng, có hiệu ứng xã hội tốt.

Các cơ quan báo chí đã thường xuyên trao đổi và phối hợp hiệu quả trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, chú ý đến định hướng giáo dục, định hướng đấu tranh và tổ chức lực lượng mang tính chuyên trách; truyền tải thông tin qua nhiều báo để tuyên truyền, tương tác với công chúng, qua đó nâng cao hiệu quả đấu tranh.

Nhiều tờ báo đã tập hợp được các nhà khoa học, nhà lý luận, hoạt động thực tiễn có uy tín tham gia tọa đàm, hội thảo, viết bài phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Một số báo tổ chức tốt các diễn đàn trực tuyến, thông qua đó định hướng chính trị tư tưởng và nâng cao nhận thức cho các tầng lớp nhân dân về các vấn đề “nóng”, các quan điểm sai trái, thù địch, các thông tin xấu, độc và những vấn đề mà dư luận quan tâm. Nhiều cơ quan báo chí đã phát huy hiệu quả hoạt động của các trang, nhóm, blog, kênh Youtube, tài khoản mạng xã hội… chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, các thông tin xấu, độc. Việc ngăn chặn, giám sát, triệt phá các thông tin xấu, độc từ các báo, đài, các kênh báo mạng trong và ngoài nước được các cơ quan chức năng và cơ quan báo chí nước ta quan tâm đẩy mạnh, xử phạt nghiêm các vi phạm trong hoạt động báo chí.

Thực hiện nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, báo chí cách mạng đã đóng vai trò rất quan trọng, thực sự là “vũ khí sắc bén” trong lĩnh vực này, là diễn đàn tin cậy của nhân dân, góp phần nâng cao tinh thần cảnh giác, tình yêu quê hương, đất nước, củng cố lòng tin vào chế độ, vào sự lãnh đạo của Đảng của các tầng lớp nhân dân, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo động lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong bối cảnh mới của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kỹ thuật số và không gian mạng, vấn đề bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng càng trở nên cấp bách và gặp nhiều khó khăn.

3. Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, hệ thống báo chí nước ta cũng như đội ngũ nhà báo cần tiếp tục nỗ lực, quyết tâm cao, phát huy vai trò là “vũ khí sắc bén” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, theo đó, cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau:

Một là, nâng cao chất lượng thông tin, tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, những thông tin tốt và tích cực, làm cho những nội dung thông tin này thực sự là chủ đạo, chi phối đời sống tinh thần - thông tin xã hội, “làm loãng” và đẩy lùi các thông tin xấu, độc, tiêu cực, các quan điểm sai trái, thù địch. Cần mở rộng và nâng cao chất lượng các chuyên trang, chuyên mục định kỳ, các tuyến bài đấu tranh tư tưởng; liên kết thông tin với các nền tảng mạng xã hội và các phương tiện truyền thông mới một cách phù hợp.

Các cơ quan báo chí, đặc biệt là các tờ báo, tạp chí lớn của Đảng và Nhà nước cần “chủ động thích ứng với các phương tiện truyền thông mới, đa dạng hóa phương thức và nội dung thông tin, tuyên truyền, bảo đảm phục vụ hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước; kết hợp chặt chẽ giữa thông tin đối nội và thông tin đối ngoại trên báo chí và các phương tiện truyền thông phù hợp với lợi ích của đất nước và nhân dân; bảo đảm lượng thông tin tốt, tích cực về đời sống xã hội là dòng chảy chính” (3).  Muốn làm được như vậy, các cơ quan báo chí cần “nắm chắc, dự báo đúng, định hướng chính xác, xử lý đúng đắn, kịp thời các vấn đề tư tưởng trong Đảng, trong xã hội” (4).

Hai là, các cơ quan báo chí cần tổ chức lực lượng trực tiếp đấu tranh phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, các thông tin xấu, độc bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng trên báo chí, trên các phương tiện thông tin đại chúng khác (internet, mạng xã hội,…) góp phần giữ vững trận địa tư tưởng. Tổ chức, củng cố và phát huy tốt vai trò của các lực lượng trực tiếp viết bài đấu tranh, đội ngũ cộng tác viên... đủ mạnh, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ lý luận và năng lực đấu tranh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đồng thời, có cơ chế, chính sách phù hợp để động viên, khuyến khích và bảo vệ lực lượng này trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Các tờ báo lớn của đất nước phát huy tốt hơn nữa vai trò “chủ lực” trong việc xây dựng nội dung chuyên sâu và các hình thức tuyên truyền, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Báo Nhân dân, Tạp chí Cộng sản, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Báo Quân đội nhân dân, Báo Công an nhân dân,… là cơ quan chủ lực, có nhiệm vụ xây dựng các chuyên trang, chuyên mục, tuyến bài đấu tranh trọng điểm (5) nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cùng với đó, chủ động đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng để xuyên tạc sự thật, kích động, gây rối, chia rẽ làm mất đoàn kết nội bộ” (6). Các cơ quan lãnh đạo, quản lý báo chí đẩy mạnh ứng dụng kỹ thuật, công nghệ để phát hiện, xử lý vi phạm trong hoạt động báo chí, truyền thông.

Ba là, chủ động phối kết hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các “binh chủng” thông tin từ Trung ương đến địa phương, các ngành, các cấp trong hệ thống chính trị. Sự phối hợp này cần bám sát thực tiễn, tích cực, chủ động, phát huy thế mạnh và vai trò của từng tờ báo, từng lực lượng, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh. Trên cơ sở đó, tạo nên “thế trận đấu tranh” rộng khắp, thống nhất, chặt chẽ trong phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Chỉ đạo 35 Trung ương phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, Hội Nhà báo Việt Nam sớm tạo hành lang chính trị - pháp lý, xây dựng cơ chế cụ thể, phù hợp cho việc phối hợp giữa các lực lượng đấu tranh tốt hơn; khắc phục tình trạng sự phối hợp có lúc, có nơi còn thiếu hiệu quả.

Bốn là, thực hiện tốt định hướng dư luận xã hội, đẩy lùi các thông tin xấu, độc, nâng cao ý thức cảnh giác cho các tầng lớp nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội. Quán triệt và thực hiện tốt Chỉ thị số 12/CT-TTg, ngày 12-5-2021, của Thủ tướng Chính phủ, “Về chủ động cung cấp thông tin, định hướng dư luận, đẩy lùi thông tin xấu độc” (7), coi trọng “lan tỏa thông tin tích cực, nâng cao nhận thức của nhân dân trước các thông tin sai sự thật”. 

Thực hiện tốt việc công khai, minh bạch thông tin về những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là những vấn đề, sự kiện “nóng”, nhạy cảm; khắc phục tình trạng các thông tin xấu, độc, thông tin giả, thất thiệt lan truyền trong xã hội trước, sau đó báo chí mới “chạy theo” khắc phục mang tính sự vụ. Kiên quyết chấn chỉnh và xử lý nghiêm sai phạm của các trang thông tin điện tử, phương tiện truyền thông xã hội.

4. Để thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cần xây dựng, rèn luyện đội ngũ nhà báo và các cơ quan báo chí thực sự vững mạnh:

Thứ nhất, nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ nhà báo đáp ứng yêu cầu đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Các cơ quan báo chí cần “tập trung đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý báo chí, phóng viên, biên tập viên có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức trong sáng và tinh thông nghiệp vụ để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền” (8). Họ phải thực sự chuyên tâm “rèn bút, luyện nghề” với tâm thế “bút sắc, lòng trong, tâm sáng”, “phò chính, trừ tà”, đấu tranh không khoan nhượng với những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch

Theo đó, niềm tin vào lẽ phải, vào chính nghĩa, vào tiền đồ, tương lai tốt đẹp của dân tộc, vào sức mạnh của đất nước, vào đường lối, quan điểm của Đảng; kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và sự nghiệp đổi mới đất nước; tinh thần phấn đấu vì nước, vì dân với trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân cao; đạo đức cách mạng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng... phải là những phẩm chất cần có của đội ngũ nhà báo. Nắm vững yêu cầu, nhiệm vụ đấu tranh chống lại những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội chính trị; giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ báo chí; có kiến thức về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, quản lý nhà nước và pháp luật cần thiết; có đủ trình độ đấu tranh… là những yêu cầu cơ bản về năng lực, cần được quan tâm bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ nhà báo. Chú trọng giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng lập trường kiên định, vững vàng cho đội ngũ nhà báo, nâng cao “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” trước các quan điểm sai trái, thù địch và trước mọi sự công kích, lôi kéo, mua chuộc.

Thứ hai, xây dựng các cơ quan báo chí thực sự vững mạnh, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị, trong đó có nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. Quán triệt và thực hiện có hiệu quả quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng nền báo chí, truyền thông “chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại”. Quan tâm xây dựng các cơ quan báo chí đủ mạnh, nhất là đối với các cơ quan báo chí chủ lực, chuyên sâu về lý luận chính trị.

Thực hiện có hiệu quả công tác quy hoạch, phát triển hệ thống báo chí, truyền thông theo Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025. Thực hiện tốt việc sắp xếp tổ chức, bộ máy của các cơ quan báo chí phù hợp, bảo đảm “tinh, gọn, mạnh”, hoạt động hiệu lực và hiệu quả. Trong đó, chú trọng xây dựng một số cơ quan báo chí đa phương tiện làm nòng cốt, có vai trò định hướng dư luận xã hội và đối ngoại.

Thứ ba, tăng cường sự lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước đối với hoạt động của các nhà báo và các cơ quan báo chí. Quan tâm xây dựng các tổ chức đảng trong cơ quan báo chí thật sự trong sạch, vững mạnh; khắc phục những biểu hiện “buông lỏng”, “xem nhẹ” công tác lãnh đạo đối với các cơ quan báo chí. Cùng với đó, cần “tăng cường trách nhiệm của cơ quan chủ quản báo chí, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan báo chí trong việc thực hiện định hướng thông tin, quản lý phóng viên, cộng tác viên của cơ quan báo chí (9). Kiên quyết “xử lý nghiêm theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với các cơ quan báo chí, phóng viên đăng tải thông tin chưa được xác minh, kiểm chứng, không có cơ sở, căn cứ, gây ảnh hưởng không tốt đến dư luận xã hội” (10).

Thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 12/CT-TTg, ngày 12-5-2021, của Thủ tướng Chính phủ, “Về tăng cường công tác tuyên truyền, định hướng hoạt động truyền thông, báo chí phục vụ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc”; kịp thời chấn chỉnh và xử lý các vi phạm trong hoạt động báo chí, truyền thông; bảo đảm báo chí phục vụ hiệu quả nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước. Có cơ chế, chính sách cụ thể, thiết thực, thỏa đáng về vật chất, tinh thần để động viên, khuyến khích, nâng cao đời sống cho đội ngũ nhà báo yên tâm gắn bó với nghề và luôn giữ vững phẩm chất, đạo đức của người làm báo cách mạng./.

Một số biện pháp chủ yếu nâng cao vai trò của "lực lượng 47" Học viện trong thời gian tới

 

Trong thời đại của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, khoa học công nghệ có sự phát triển nhanh chóng, đã làm thay đổi nhiều phương thức tác chiến của quân đội, hình thành một không gian chiến trường mới đó là không gian mạng. Với sự ra đời và bùng nổ của mạng Internet, các thế lực thù địch đã lợi dụng không gian mạng để đẩy mạnh các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội ta. Nhận thức được tính chất nghiêm trọng, nham hiểm và thâm độc của các thế lực thù địch, ngày 08/01/2016 Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam đã ra Chỉ thị số 47-CT/TCCT "Về tổ chức lực lượng đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong Quân đội" (gọi tắt là lực lượng 47). Trên cơ sở đó, Học viện Lục quân đã ban hành văn bản số 396/BC-BCD ngày 14/12/2017 về Danh sách kiện toàn “Lực lượng 47 của Học viện” và Quyết định số 563/QĐ-ĐU ngày 18/3/2019 về việc kiện toàn Ban Chỉ đạo phòng chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.


    Thời gian qua, lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong Học viện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ nhiều biện pháp đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Các hoạt động của lực lượng 47 Học viện như: Thành lập blog các cơ quan, đơn vị; viết các tin, bài đăng trên các báo, tạp chí trung ương và địa phương; tổ chức trang mạng xã hội Facebook “Đàn bên súng” tập hợp được hơn 3000 thành viên… những hoạt động đó bước đầu đã mang lại hiệu quả thiết thực. Có hàng nghìn tin, bài viết có chọn lọc kịp thời đấu tranh phản bác những thông tin xấu độc trên các trang mạng xã hội, góp phần bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, chống "tự diễn biến" "tự chuyển hóa" và "phi chính trị hóa" Quân đội. Tuy nhiên, đây là một "mặt trận" mới, bên cạnh những kết quả đạt được còn tồn tại những hạn chế nhất định. Nội dung, hình thức đấu tranh chưa phong phú, hiệu quả chưa cao, chủ yếu là chia sẻ bài viết, bình luận… chưa có nhiều bài đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái, phản động. Do vậy, để tiếp tục phát huy tốt hơn nữa vai trò của "lực lượng 47" Học viện trong thời gian tới, chúng tôi đề xuất thực hiện tốt một số biện pháp chủ yếu sau:

    Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Học viện đối với "lực lượng 47". Thường xuyên củng cố, kiện toàn lực lượng 47 đủ về số lượng, chất lượng, nắm chắc những điểm mạnh - yếu, thuận lợi - khó khăn để kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng hoạt động đấu tranh của "lực luợng 47" phù họp. Quan tâm đầu tư trang thiết bị kỹ thuật, bồi dưỡng kỹ năng, kinh nghiệm phát hiện, thu thập thông tin, viết bài đấu tranh với những quan điểm, tư tưởng sai trái, phản động trên không gian mạng.

    Hai là, cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ, có định hướng cho "lực lượng 47" Học viện. Ban Chỉ đạo 94, cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 94, lực lượng 47 Học viện chủ động nắm và dự báo chính xác âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá mới của các thế lực thù địch, kịp thời phổ biến đến "lực lượng 47" những nội dung trọng tâm cần tập trung đấu tranh. Cung cấp các trang mạng xã hội, các bài viết phản động để "lực lượng 47" trực tiếp vào các trang mạng đó nghiên cứu viết bài đấu tranh với những luận điệu sai trái, kịp thời định hướng dư luận không để bị động, bất ngờ về tư tưởng.

    Ba là, "lực lượng 47" Học viện thường xuyên rèn luyện, giữ vững và nâng cao bản lĩnh chính trị. Kịp thời quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; các Nghị định của Chính phủ; Quy chế quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet trong Quân đội; nghị quyết của Đảng ủy Học viện; kế hoạch, chương trình hành động phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong Học viện… Thông qua đó, xây dựng cho mình bản lĩnh chính trị vững vàng, nhãn quan chính trị sắc sảo, lập luận sắc bén. Đặc biệt, coi trọng rèn luyện kỹ năng tiếp nhận xử lý thông tin, biết sàng lọc, xác định nguồn gốc, phân tích rõ đúng, sai, có thái độ chính trị rõ ràng để kịp thời viết bài phản bác lại các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng.

    Bốn là, lấy lực lượng 47 làm nòng cốt, lan tỏa hoạt động đấu tranh trên không gian mạng rộng rãi đến toàn thể cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ. Lực lượng 47 Học viện tổ chức hướng dẫn các cá nhân, tổ chức trong đơn vị cùng tham gia đấu tranh chống các thế lực thù địch và tuyên truyền rộng rãi các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Quân đội để tạo được sự lan tỏa đấu tranh mạnh mẽ, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh của lực lượng 47 toàn Học viện nói chung. 

    Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, kịp thời sơ kết, tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm hoạt động của "lực lượng 47". Đấu tranh trên không gian mạng là một quá trình lâu dài, khó khăn, phức tạp. Do vậy, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị phải thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, sơ kết, tống kết, đánh giá rút kinh nghiệm, trên cơ sở đó đề ra các chủ trương, biện pháp tổ chức thực hiện hiệu quả; đồng thời khắc phục những hạn chế, yếu kém. Kịp thời động viên, khen thưởng các cá nhân và tập thể hoạt động có hiệu quả.

    Phát huy những kết quả đã đạt được, tích cực chủ động trong tổ chức thực hiện, tin tưởng rằng lực lượng 47 Học viện Lục quân sẽ cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên không gian mạng, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và phát triển của đất nước.

 

Định hướng vận dụng phương pháp của V.I. Lê-nin trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay

 Một là, nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân, mỗi cán bộ, đảng viên về bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là định hướng cơ bản trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Bởi vì, nếu đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng không kiên định, thiếu nhận thức hoặc nhận thức không đúng đắn về bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ là cơ hội cho sự gia tăng hệ tư tưởng tư sản trong Đảng và xã hội. Đối với vấn đề này, V.I. Lê-nin từng nhấn mạnh: “vấn đề đặt ra chỉ là như thế này: hệ tư tưởng tư sản hoặc hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Không có hệ tư tưởng trung gian. Vì vậy, mọi sự coi nhẹ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, mọi sự xa rời hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa đều có nghĩa là tăng cường hệ tư tưởng tư sản”(14). Sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (trước đây) và các nước Đông Âu là bài học minh chứng cho sự thiếu kiên định vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin;  các đảng cộng sản ở các nước Đông Âu và Liên Xô bị khủng hoảng sâu sắc về tư tưởng và tổ chức, chuyển hướng sang đảng xã hội dân chủ.

Hơn nữa, đây còn là vấn đề nguyên tắc trong xây dựng Đảng. Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Văn kiện Đại hội VII của Đảng đã khẳng định: “Kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin là vấn đề có tính nguyên tắc số một đối với Đảng ta”(15). Chỉ có như vậy Đảng mới thống nhất, đoàn kết về chính trị, tư tưởng, tổ chức, mới làm tròn vai trò lãnh đạo cách mạng để đi đến thắng lợi cuối cùng. Vì rằng, bản chất chính trị của một đảng bao giờ cũng phụ thuộc vào tính chất và nội dung hệ tư tưởng, lý luận mà đảng đó lựa chọn làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Nếu không có hệ tư tưởng, lý luận dẫn đường, đảng chính trị chỉ là một tập hợp ngẫu nhiên, rời rạc, thiếu thống nhất và không có sức mạnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”(16). Nếu không kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thì chính là sự thay đổi bản chất chính trị, giai cấp của Đảng; không còn giữ được tính chất cộng sản, không còn là đội tiên phong của giai cấp công nhân.

Để bảo đảm sự kiên định đó, đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ nhiều nội dung, biện pháp phù hợp, khoa học, trong đó tập trung vào các nội dung, biện pháp chủ yếu là: nâng cao chất lượng học tập, nghiên cứu, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo về chính trị, tư tưởng trong Đảng và toàn xã hội. Kiên định các nguyên lý nền tảng, nguyên tắc, quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Đây là biện pháp đặc biệt quan trọng, giúp Đảng ta luôn giữ vững bản chất chính trị, không dao động trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, nhất là trước các luận điệu xuyên tạc, chống phá của các phần tử cơ hội chủ nghĩa và các thế lực thù địch, phản động.

Hai là, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải tuân thủ nghiêm ngặt những vấn đề có tính nguyên tắc đó là: Giữ vững nguyên tắc tính Đảng Cộng sản Việt Nam trong đấu tranh tư tưởng, lý luận; vận dụng nhuần nhuyễn nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn; tính chính trị và tính khoa học trong đấu tranh tư tưởng, lý luận; kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ động, sáng tạo, thường xuyên, liên tục, kiên trì, bền bỉ, chiến đấu không khoan nhượng trong đấu tranh tư tưởng, lý luận. Thực hiện định hướng này sẽ bảo đảm hoạt động đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng của mọi tổ chức, lực lượng luôn giữ vững định hướng chính trị, hướng tới hoàn thành mục tiêu của cuộc đấu tranh, làm cho chất lượng, hiệu quả của cuộc đấu tranh đó không ngừng được nâng cao. Đồng thời, khắc phục được tư tưởng, hành động tùy tiện, vô nguyên tắc, kém thuyết phục, kém hiệu quả; không vô tình hoặc cố ý cổ súy, phát tán những quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện thông tin.

Quán triệt và thực hiện nghiêm túc yêu cầu này trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đòi hỏi mọi tổ chức, mọi lực lượng phải đặt dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của các cấp ủy; phải trung thành tuyệt đối và nắm vững đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, giữ vững bản chất giai cấp công nhân, không mơ hồ về bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta. Cùng với đó, đòi hỏi khi tham gia đấu tranh chống các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch, cho dù ở hình thức, phương pháp nào cũng phải chủ động bám sát tình hình thực tiễn, nghiên cứu lý luận phải xuất phát từ thực tiễn. Khi đấu tranh, không được xa rời mục tiêu, nguyên tắc chính trị, vững vàng về bản lĩnh chính trị, đồng thời gia tăng hàm lượng khoa học trong từng hình thức, phương pháp đấu tranh. Kiên định những nguyên tắc lý luận, phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải khẳng định bản chất khoa học, cách mạng của học thuyết, tư tưởng đó;  đồng thời, phải vạch trần tính chất phản khoa học, phản động của những quan điểm, tư tưởng sai trái đã, đang và sẽ xuất hiện ngày càng nhiều trên các phương tiện thông tin hiện nay.

Các tổ chức, lực lượng tham gia đấu tranh phải luôn quán triệt tư tưởng cách mạng không ngừng, chủ động tiến công, đồng thời luôn luôn sáng tạo, linh hoạt về phương pháp, kiên quyết giành thắng lợi và không khoan nhượng, thỏa hiệp với các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch; phải nâng cao tính dự báo, tính kế hoạch, chủ động tổ chức các lực lượng đấu tranh; đấu tranh thường xuyên, liên tục, bền bỉ, gia tăng về phạm vi, chiều sâu, tầm cao; thường xuyên nêu cao cảnh giác, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ba là, phát huy sức mạnh các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Sức mạnh của cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là sức mạnh tổng hợp của cả đất nước, dân tộc, của mọi cấp, mọi ngành, mọi lực lượng, mọi nguồn lực của quốc gia. Không thể có bất kỳ một lực lượng riêng lẻ nào có thể tiến hành thành công cuộc đấu tranh này nếu không có sự phối kết hợp chặt chẽ với các lực lượng, nguồn lực khác của cả hệ thống chính trị. Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ hết sức khó khăn, phức tạp đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng của cả hệ thống chính trị. Nắm vững yêu cầu này, triển khai linh hoạt và sáng tạo trong thực tiễn cuộc đấu tranh sẽ tạo thêm những xung lực mới, giúp các tổ chức, các lực lượng đấu tranh ngày càng thiết thực và hiệu quả hơn.

Thực tế đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở nước ta cho thấy, “Một số cấp ủy chưa thật sự quan tâm và coi trọng công tác tư tưởng; có biểu hiện hữu khuynh, nể nang, né tránh đối với những quan điểm sai trái có tính nguyên tắc”(17). Do đó, để thực hiện tốt định hướng này cần nâng cao trách nhiệm, phát huy vai trò của các cấp ủy trong tổ chức, chỉ đạo, lãnh đạo cuộc đấu tranh; vai trò của các ban chỉ đạo từ Trung ương đến các địa phương trong tham mưu, hướng dẫn, điều hành; vai trò của các chủ thể và lực lượng đấu tranh gián tiếp và đấu tranh trực tiếp, nhất là lực lượng nòng cốt, như đội ngũ cán bộ lý luận, cán bộ nghiên cứu của Đảng, các nhà khoa học, các chuyên gia đầu ngành, các cơ quan, viện nghiên cứu, thông tấn, báo chí, đài truyền thanh, truyền hình; vai trò của các công cụ và phương tiện, thiết chế giáo dục và tuyên truyền... Các cấp, các ngành, các lực lượng trong hệ thống chính trị phải có sự phối hợp và tổ chức chặt chẽ với nhau, tạo thành thế trận liên hoàn đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đạt hiệu quả cao.

Bốn là, sử dụng đa dạng các hình thức, phương pháp đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây là định hướng rất quan trọng, nhất là trong bối cảnh cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận chịu sự chi phối và tác động sâu sắc từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Quán triệt và thực hiện hiệu quả định hướng này sẽ khơi dậy và phát huy cao độ khả năng, thế mạnh, sở trường của các tổ chức, các lực lượng trong tham gia cuộc đấu tranh phức tạp này; trực tiếp nâng cao hiệu quả đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch. Hiện nay, hoạt động chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận vô cùng phong phú, đa dạng, phức tạp, triển khai trên diện rộng và chiều sâu, diễn biến rất nhanh chóng, khó lường. Đây là cuộc chiến không tiếng súng, đánh vào trái tim, khối óc con người, rất nguy hiểm, phức tạp, khó nhận biết và ngày càng tinh vi, hiểm  độc. Chúng chống phá trên mọi lĩnh vực, bằng mọi thủ đoạn, nội dung, hình thức, phương pháp. Nếu các lực lượng tham gia đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chỉ theo một chiều khuôn sáo, theo công thức định sẵn, không chú ý đến các vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn, không sử dụng đa dạng các hình thức, phương pháp đấu tranh phù hợp, sẽ khó có thể đủ sức thuyết phục, đồng thời không khơi dậy và phát huy được tính độc lập, sáng tạo của các lực lượng tham gia đấu tranh, làm cho cuộc đấu tranh khó đạt được mục tiêu đã xác định.

Thực hiện định hướng này, đòi hỏi các tổ chức, các lực lượng tham gia đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải thường xuyên trau dồi, nâng cao tri thức khoa học, bản lĩnh chính trị, kỹ năng nhận diện và đấu tranh trên các mặt trận tư tưởng, lý luận; thường xuyên bám sát thực tiễn của cuộc đấu tranh, nhất là hoạt động chống phá của các thế lực thù địch để lựa chọn hình thức, phương pháp đấu tranh phù hợp, hiệu quả; tổ chức tốt việc sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, trao đổi, truyền thụ kinh nghiệm giúp cho các chủ thể tìm ra hình thức, phương pháp tổ chức đấu tranh có hiệu quả hơn./.

Vận dụng phương pháp của V.I. Lê-nin trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở Việt Nam

 Trong quá trình hoạt động cách mạng, V.I. Lê-nin luôn kiên quyết đấu tranh chống những trào lưu tư tưởng phi mác-xít chống phá phong trào cách mạng. Đây là vấn đề mang ý nghĩa sống còn đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, góp phần bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác, bảo vệ phong trào cách mạng và đã để lại những bài học có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc về phương pháp đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cho hiện nay.

V.I. Lê-nin chỉ rõ, phong trào công nhân cần có một đảng cách mạng lãnh đạo, đó phải là một đảng kiểu mới, thật sự có năng lực xây dựng cương lĩnh chính trị đúng đắn để lãnh đạo cách mạng. V.I. Lê-nin nhấn mạnh, đảng kiểu mới là đảng lấy chủ nghĩa Mác - lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học - làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của mình. Bởi “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”(1) và “chỉ đảng nào được một lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”(2). Quá trình hình thành, phát triển của chủ nghĩa Mác cho thấy, chủ nghĩa Mác không phải ngay từ đầu đã khẳng định được địa vị của mình, mà quá trình đó luôn gắn chặt với cuộc đấu tranh không khoan nhượng chống các trào lưu tư tưởng đối lập cùng thâm nhập vào phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đây là tính quy luật trong phát sinh, hình thành, phát triển và hoàn thiện của bất cứ một học thuyết cách mạng nào.

Theo Lê-nin, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chính là cuộc đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác, làm thất bại các trào lưu tư tưởng sai trái, phản động, phản khoa học, khẳng định bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác trong Đảng, trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. “Nếu không có cuộc đấu tranh quyết định và thẳng tay về mọi mặt để chống lại các đảng ấy - hoặc các nhóm ấy, các phái ấy, v.v., cũng vậy thôi - thì không thể nói đến đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, nói đến chủ nghĩa Mác, nói đến phong trào công nhân xã hội chủ nghĩa”(3). Thực tiễn cách mạng đã chứng minh từ năm 1840 đến nửa cuối những năm 70 của thế kỷ XIX, C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã phải đấu tranh không khoan nhượng với các trào lưu tư tưởng đối lập, phản động, phản khoa học. Từ phái Hê-ghen trẻ cấp tiến - phái tuyên truyền quan điểm của chủ nghĩa duy tâm triết học, đến lý luận kinh tế, chống chủ nghĩa xã hội không tưởng tiểu tư sản của Pru-đông. Từ các quan điểm vô chính phủ của phái Ba-cu-nin và loại bỏ phái này ra khỏi Quốc tế I, đến tư tưởng Muyn-béc-giơ thuộc phái kinh tế của Lát-xan nổi lên ở Đức... Từ đó, chủ nghĩa Mác đã chiến thắng tất cả những tư tưởng đối lập và chiếm vị trí độc tôn trong phong trào công nhân quốc tế. 

Kế tục sự nghiệp của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, V.I. Lê-nin luôn đấu tranh chống các trào lưu tư tưởng phi mác-xít, phần tử cơ hội chủ nghĩa biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của phong trào cách mạng nói chung, của Đảng Cộng sản Nga nói riêng. Đây là một phần không thể thiếu trong quá trình phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Cuộc đấu tranh nhằm bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác của V.I. Lê-nin không những trực tiếp đánh bại mọi trào lưu tư tưởng đối lập, thù địch với chủ nghĩa Mác, nhằm làm cho chủ nghĩa Mác không ngừng phát triển và hoàn thiện, trở thành ngọn cờ tư tưởng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới vì chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, mà còn để lại những bài học có giá trị to lớn về phương pháp đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cho các đảng cộng sản, công nhân quốc tế trên thế giới. 

Đấu tranh phản bác các quan điểm công kích Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, cần chú trọng các định hướng, giải pháp

 Một là, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về hình tượng cao đẹp của lãnh tụ Hồ Chí Minh và tư tưởng Hồ Chí Minh. Bởi lẽ, theo quan điểm chỉ đạo của Đảng trong Nghị quyết 35-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 22/10/2019 về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình hiện nay”, nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của cuộc đấu tranh này là “xây dựng, củng cố niềm tin khoa học” vào CNXH và con đường lên CNXH ở Việt Nam. Trong đó, “xây” là xây dựng nền tảng tri thức, niềm tin, lòng tự hào, ngưỡng mộ, bản lĩnh kiên định vào hình tượng trong sáng, đạo đức cao đẹp của lãnh tụ Hồ Chí Minh và giá trị “mãi mãi soi đường” của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam. “Chống” là chống mọi biểu hiện nhận thức và hành động xa rời, phai nhạt, phê phán, phủ định tư tưởng và hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Hai là, trong hình thành, phát triển, truyền bá các bài viết phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về Hồ Chí Minh, cần chú trọng xuất phát, vận dụng khoa học, hiệu quả các phương pháp luận và tri thức của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương pháp luận của chính Hồ Chí Minh. Trước hết, cần vạch ra sự mâu thuẫn, phi logic, vi phạm phương pháp luận biện chứng và các quan điểm phương pháp luận của triết học Mác - Lênin trong nội dung, cách thức lập luận của các quan điểm sai trái, thù địch. Từ đó, trình bày bản chất khoa học, cách mạng, giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh, bản chất trong sáng, cao đẹp của cuộc đời và sự nghiệp của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Lấy dẫn chứng cho cuộc đời, tấm gương đạo đức và tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ từ hệ thống bài nói, bài viết của Người mà còn từ chính thực tiễn hoạt động cách mạng phong phú, sôi nổi của Người, còn được lưu giữ bằng nhiều hình ảnh, phim tài liệu, hiện vật, nhân chứng khách quan, thuyết phục; và đặc biệt, bằng chính thành quả cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng mà Hồ Chí Minh là người sáng lập, rèn luyện và dẫn dắt.

Ba là, nghiên cứu, phân tích, khái quát hóa, hệ thống hóa những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang được Đảng ta “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo” trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đặc biệt là trong sự nghiệp đổi mới; giá trị, ý nghĩa của những quan điểm, luận điểm đó nói riêng, của toàn bộ tư tưởng và tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nói chung với sự định hướng chiến lược cũng như những thành tựu của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. 

Bốn là, các cơ sở nghiên cứu về Hồ Chí Minh, các học viện, trường đại học; hạt nhân là các cơ sở của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, phối hợp tổ chức tốt cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, thực hiện phương châm tư tưởng phải đi trước một bước, không để bị động, đối phó. 

Năm là, chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng - văn hóa, trong đó có đội ngũ giảng viên Lý luận chính trị. Từ khâu tuyển sinh, tuyển chọn đến quá trình đào tạo, các cơ sở đào tạo chuyên ngành Lý luận chính trị cần có các đề xuất, giải pháp nâng cao chất lượng nguồn thí sinh dự tuyển đầu vào, lựa chọn ưu tiên các học sinh có năng lực tư duy, lập luận logic tốt (bao gồm cả học sinh thi tuyển các khối khoa học tự nhiên lẫn khối khoa học xã hội). Bởi, đây là các “cỗ máy cái” đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chủ chốt trong nghiên cứu, tuyên truyền Lý luận chính trị, thực hiện công tác tư tưởng của Đảng.

Nhận diện và định hướng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về Hồ Chí Minh hiện nay

 Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta không chỉ bổ sung, hoàn thiện khái niệm “tư tưởng Hồ Chí Minh” mà còn khẳng định: Tư tưởng của Người “là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”1. Như vậy, giá trị, ý nghĩa và sức sống lâu bền của tư tưởng Hồ Chí Minh từ chỗ được minh chứng trong thực tiễn đã được Đảng đúc rút thành quy luật, thành “nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam” cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam. 

    Vì lẽ đó, các quan điểm sai trái, thù địch với mục tiêu làm suy yếu nền tảng tư tưởng của Đảng và chế độ, làm phai nhạt niềm tin, lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH) trong nhân dân, đặc biệt là thanh thiếu niên, đã và đang chĩa mũi nhọn vào công kích, xuyên tạc, bôi nhọ, hạ bệ, đi đến xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng và hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh. Hiện có hơn 400 trang web, blog, hàng chục tạp chí, báo, nhà xuất bản, hơn 60 đài phát thanh có chương trình tiếng Việt, như VPR, VOA, RFA… lập ra các diễn đàn để tuyên truyền, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh 2. Vì vậy, việc nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch công kích Hồ Chí Minh; trên cơ sở đó đề ra các định hướng, giải pháp phòng chống hiệu quả trở nên quan trọng, cấp thiết hơn bao giờ hết.

Có thể khái quát các quan điểm sai trái, thù địch về Hồ Chí Minh thành hai nhóm cơ bản như sau:

Thứ nhất, nhóm các quan điểm xuyên tạc, bôi nhọ, hạ bệ, đi đến xóa bỏ hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh, bao gồm các quan điểm xuyên tạc, bôi nhọ, hạ bệ đạo đức cá nhân, đời riêng của Người và các quan điểm xuyên tạc, bôi nhọ, hạ bệ quá trình hoạt động, sự nghiệp cách mạng của Người.

Thứ hai, nhóm các quan điểm xuyên tạc, bôi nhọ, hạ bệ, đi đến xóa bỏ tư cách “nhà tư tưởng” của Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm, quan niệm, luận điểm về cách mạng Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh (tức là “tư tưởng Hồ Chí Minh”).

Nhìn chung, các dạng quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, công kích Hồ Chí Minh đều có cùng bản chất là vi phạm phương pháp luận biện chứng và các quan điểm khách quan, toàn diện kết hợp với có trọng tâm, trọng điểm; lịch sử - cụ thể; kế thừa, đổi mới, phát triển…, không xuất phát từ lập trường, quan điểm, lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân, phủ nhận tính tư tưởng, tính Đảng của các tư tưởng, học thuyết nảy sinh từ tồn tại xã hội Việt Nam.

Những định hướng cơ bản trong đấu tranh phản bác quan điểm sai trái của các thế lực thù địch trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng

 Trong quá trình chuẩn bị, tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư xác định và nhấn mạnh, công tác nhân sự cần thực hiện phương châm bảo đảm tính kế thừa, ổn định, đổi mới, sáng tạo và phát triển; phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững nguyên tắc, siết chặt kỷ luật, kỷ cương; coi trọng chất lượng, hiệu quả, đề cao trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, trước hết là người đứng đầu. Cấp ủy nhiệm kỳ 2020-2025 phải đặc biệt coi trọng chất lượng, có số lượng và cơ cấu hợp lý; tiêu biểu về trí tuệ, phẩm chất, uy tín, thật sự trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo trong tình hình mới, thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp và Nghị quyết Đại hội đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Báo cáo chính trị cần đánh giá đúng, trung thực, khách quan, toàn diện tình hình và kết quả thực hiện nghị quyết đại hội nhiệm kỳ 2015 - 2020, nhất là các nhiệm vụ trọng tâm, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; chỉ rõ ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan và rút ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện; đồng thời, xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cho nhiệm kỳ tới sát tình hình thực tế, có tính khả thi cao, làm cơ sở để tổ chức thực hiện hiệu quả. Thông qua đại hội đảng bộ các cấp, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên; củng cố, tăng cường hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân tộc và niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng. 

Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, các cấp ủy đảng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, thường xuyên nâng cao nhận thức, trách nhiệm về cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận trong tình hình mới. 

Đây là giải pháp, đồng thời là yêu cầu đối với các cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị, địa phương và cả hệ thống chính trị cùng toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nhận thức rõ cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay là một trong những nhiệm vụ chính trị mang tính cấp bách, thường xuyên và lâu dài. Đây là cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa tư tưởng vô sản với tư tưởng tư sản, giữa chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản với các thế lực thù địch, phản động. Đây đồng thời là cuộc đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận, quan điểm của Đảng, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ những giá trị tư tưởng, lý luận đúng đắn, bảo vệ những thành quả cách mạng mà nhân dân ta đã dày công xây dựng. 

Hai là, chủ động bám sát các vấn đề, sự kiện, cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng, tạo thế chủ động trong mặt trận đấu tranh trên internet, mạng xã hội.

Với phương châm chỉ đạo công tác tư tưởng phải đi trước, đón đầu; không để “khoảng trống” thông tin để các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc chống phá, các cơ quan chức năng cần quan tâm nghiên cứu biên soạn các tài liệu chuyên khảo, tham khảo để phục vụ công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, kỹ năng đấu tranh cho các lực lượng.

Thực hiện tốt việc cung cấp thông tin cho cán bộ theo định kỳ, gặp mặt các đồng chí cán bộ nghỉ hưu, nghỉ công tác hàng năm; chủ động trao đổi với các cán bộ có quan điểm chưa thống nhất để cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng, tạo sự đồng thuận về nhận thức và hành động.

Ba là, thường xuyên đổi mới phương thức, huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, chủ động đấu tranh phản bác luận điệu sai trái của các thế lực thù địch.

Đây là giải pháp cơ bản nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong đấu tranh phản bác quan điểm, luận điệu thù địch, sai trái của các đối tượng, phần tử xấu trên internet, mạng xã hội. Đa dạng hóa hoạt động đấu tranh theo hướng: thiết lập và sử dụng các trang web, blog, diễn đàn để đăng tải các bài viết với nội dung tuyên truyền các quan điểm chính thống, định hướng dư luận, phản bác hoặc tiến hành đấu tranh phản bác ngay tại các trang mạng “độc hại”, phản động được đối tượng sử dụng. Xây dựng và mở rộng đội ngũ cộng tác viên đưa tin, viết bài, bình luận; nâng cao chất lượng các bài viết đấu tranh phản bác với luận cứ khoa học, tính thuyết phục cao. Kết hợp chặt chẽ các biện pháp đấu tranh trực tiếp và gián tiếp; giữa xây và chống, trong đó lấy xây là chính; chủ động cung cấp thông tin và phối hợp với các cơ quan báo chí để đấu tranh, ngăn chặn kịp thời và có hiệu quả.

Bốn là, tăng cường quản lý, chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật, ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng “độc hại” một cách hiệu quả.

Các cơ quan chức năng cần chủ động phối hợp với các đơn vị cung cấp dịch vụ, nghiên cứu sử dụng các giải pháp về công nghệ thông tin để ngăn chặn một cách triệt để các tin tức xấu, độc trên các trang mạng. Đặc biệt, cần chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ để xâm nhập, chiếm quyền quản trị, điều hành các trang web, blog, diễn đàn mạng xã hội để vô hiệu hóa hoặc ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng có nội dung “độc hại” trong một thời gian nhất định. Kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng. Siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Đảng. Các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ, lọt bí mật của Đảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc phát tán những đơn thư nặc danh, mạo danh, hoặc thư có danh nhưng có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động.

Chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng đối với cấp ủy, tổ chức đảng, của cả hệ thống chính trị và mọi cán bộ, đảng viên; các chủ trương, giải pháp cơ bản cần được triển khai đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm và có hệ thống.

Thực hiện tốt những nội dung, định hướng cơ bản trên sẽ góp phần ngăn chặn hiệu quả, giảm tác hại từ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động trên internet, mạng xã hội và các phương tiện truyền thông, góp phần cho đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng thành công tốt đẹp./.