Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2022

“Việc nước và việc nhà bao giờ cũng đi đôi với nhau”

“Việc nước và việc nhà bao giờ cũng đi đôi với nhau” - Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Thư gửi các giới công thương Việt Nam”, ký tên Hồ Chí Minh, đăng trên báo Cứu quốc, số 66, ngày 13-10-1945.

Ngay sau cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền cách mạng còn non trẻ vừa mới ra đời, giữa những bộn bề công việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành thời gian để gặp gỡ giới công thương Việt Nam nhằm tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của họ đối với việc khôi phục, phát triển kinh tế đất nước.

Trong thư Người đã phân tích, luận giải thấu đáo mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích của tập thể với lợi ích của cá nhân. Tính nguyên tắc trong giải quyết mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể mà Hồ Chí Minh đã chỉ ra vẫn còn giữ nguyên giá trị. Tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, hết lòng hết sức vì nhiệm vụ cách mạng, vững vàng trước khó khăn, thử thách, tỉnh táo, sáng suốt trong công danh, tiền tài, địa vị là những chuẩn mực cơ bản đòi hỏi người cán bộ, đảng viên phải hiểu và làm cho đúng.

Thấu triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc giải quyết hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, Đảng, Nhà nước ta luôn coi đây là vấn đề có tính nguyên tắc; đó là tất cả vì con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Kết hợp hài hoà, giải quyết đúng đắn các mối quan hệ lợi ích là nhằm phát huy nhân tố con người, nguồn lực con người, tiềm năng con người cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sức mạnh và nguồn lực quốc gia của sự phát triển bao gồm cả nhân lực, vật lực, cả nội lực và ngoại lực, cả nguồn lực vật chất và nguồn lực tinh thần, truyền thống và hiện đại, trong đó nguồn lực con người là trung tâm và quan trọng nhất.

Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện, luôn đặt lên hàng đầu chức năng, nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam, thể hiện ở ý thức, trách nhiệm chính trị và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ theo cương vị, chức trách của từng cá nhân. Chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Đảng, của quân đội và quy định của đơn vị, thường xuyên nêu cao tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình, sống trong sạch, giản dị, khiêm tốn, chính trực, vượt qua mọi cám dỗ tầm thường về vật chất, danh vị… luôn đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên, lên trước, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”, với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

“Sao cho được lòng dân”

“Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”- Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Sao cho được lòng dân”, với bút danh Chiến Thắng, đăng trên Báo Cứu quốc, số 65, ra ngày 12-10-1945.

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời đã mở ra một trang sử mới cho dân tộc ta; song Chính phủ mới gặp rất nhiều khó khăn, thách thức. Thù trong, giặc ngoài, điên cuồng quấy phá, tìm mọi cách lật đổ chính quyền non trẻ của chúng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Sao cho được lòng dân” để căn dặn các cán bộ, đảng viên, bộ đội, công an của chính quyền mới phải luôn đặt quyền lợi của nhân dân lên trên, lên trước, việc gì có lợi cho dân phải kiên quyết làm, làm cho bằng tốt. Theo quan điểm của Bác, một nhà nước thật sự là nhà nước của dân, do dân, vì dân phải coi việc phục vụ nhân dân, đem lại lợi ích chính đáng cho nhân dân là mục tiêu, phương hướng hoạt động của mình. Người chỉ rõ: Chế độ ta là chế độ dân chủ. Nhân dân là chủ. Chính phủ là đầy tớ của nhân dân.

Thấu triệt quan điểm của Người, Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán và triển khai quyết liệt, đồng bộ chủ trương xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân. Quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực được mở rộng và phát huy, một số chính sách và quy chế bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân, trước hết ở cơ sở, bước đầu được mở rộng, thực hiện. Đáng chú ý là hệ thống pháp luật được đổi mới, bổ sung và tăng cường, chất lượng các kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp được nâng cao; phương thức quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước sâu sát, thực tế hơn, tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong xã hội, các hoạt động của ngành tư pháp, toà án, viện kiểm sát có nhiều tiến bộ… Việc đổi mới nhà nước đúng định hướng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, lành mạnh hoá các mặt văn hoá, xã hội, giữ vững sự ổn định lâu dài của đất nước.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam - một đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, đã không tiếc máu xương, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để giải phóng đất nước, giải phóng nhân dân khỏi ách đô hộ của đế quốc, thực dân trong các cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, hết lòng, hết sức giúp đỡ dân, bảo vệ dân, giúp dân xoá đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng chống thiên tai, thảm hoạ, cứu hộ, cứu nạn, đồng hành cùng ngư dân nơi đầu sóng ngọn gió, nơi phên dậu của Tổ quốc… đã góp phần cùng với cả hệ thống chính trị xây dựng “Thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc, giữ vững và không ngừng phát huy phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới.

"Khuyết điểm nặng nhất của cán bộ và nhân dân là chủ quan"

“Khuyết điểm nặng nhất của cán bộ và nhân dân là chủ quan”- Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Phải thi đua chống hạn, diệt sâu, để nắm chắc vụ mùa thắng lợi”, bút danh Trần Lực, đăng trên Báo Nhân dân, số 1672, ngày 11-10-1958.

Trong hoàn cảnh ngành nông nghiệp đứng trước nhiều thách thức, hạn hán, sâu bệnh, ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất tại nhiều địa phương trên cả nước. Qua nghe báo cáo và thực tế kiểm tra, Bác nhận thấy nhân dân và các cán bộ thấy lúa tốt thì ít săn sóc, thấy sâu nhiều thì ngại khó, đấy là một sự chủ quan hết sức nguy hiểm, Người đã viết bài để kịp thời nhắc nhở, phê bình và chấn chỉnh cán bộ và nhân dân không được chủ quan coi thường sâu bệnh, hạn hán để có được vụ mùa thắng lợi.

Nếu cán bộ, đảng viên mắc căn bệnh chủ quan, duy ý chí sẽ dẫn đến đề ra các chủ trương, quyết sách lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý điều hành xã hội xa rời thực tiễn; đường lối, chủ trương, quyết sách không phản ánh lợi ích của tập thể, không thể hiện được ý chí của quần chúng nhân dân. Mặt khác căn bệnh chủ quan, duy ý chí sẽ khiến con người ta tuyệt đối hóa vai trò cá nhân, biện pháp mệnh lệnh hành chính, hành động bất chấp quy luật khách quan. Đặc biệt đối với những người có chức, có quyền mắc bệnh chủ quan, duy ý chí sẽ dẫn tới tình trạng lạm dụng chức quyền, mất dân chủ, thờ ơ với tâm tư, nguyện vọng của quần chúng… Những hệ lụy tiêu cực từ căn bệnh chủ quan, duy ý chí đối với đời sống kinh tế-xã hội là hết sức khó lường.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải thường xuyên rèn luyện cho mình phương pháp, tác phong công tác khoa học, thiết thực và hiệu quả, để từ đó không mắc vào căn bệnh chủ quan, duy ý chí. Mặt khác, phải đề cao ý thức tự chủ, phát huy tốt dân chủ, thực hiện tốt quyền dân chủ của quần chúng nhân dân. Đề cao dân chủ sẽ giúp cho cán bộ, đảng viên chống được căn bệnh gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, phát huy tốt tính tích cực, năng động, sáng tạo của quần chúng nhân dân và trí tuệ của tập thể trong thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ.

Thấu triệt lời Bác Hồ dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta phải luôn rèn luyện và thực hành tốt tính sâu sát, tỉ mỉ, cụ thể, phải mắt thấy, tay sờ, tai nghe… nhất là trong chiến đấu. Có như vậy mới biết địch, biết ta, mới đưa ra được cách đánh phù hợp nhằm tiêu diệt, tiêu hao nhiều nhất vũ khí, sinh lực địch, hạn chế thấp nhất thương vong cho bộ đội và nhân dân để giành thắng lợi trong chiến đấu cũng như trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn sắc son lời thề danh dự “… thắng không kiêu, bại không nạn, gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí, “nhiệm vụ vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” mãi mãi xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”.

Quan điểm “thêm bạn, bớt thù” trong đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh

“Chúng ta phải hết sức khôn khéo, đứng trước bất kỳ kẻ thù nào, người cách mạng cũng phải hiểu rõ chúng là ai; mạnh yếu chỗ nào, tranh thủ và cô lập ai?…”- Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi trả lời các vấn đề đối ngoại của chính phủ mới với Đoàn đại biểu công nhân Thành Hoàng Diệu ngày 9-10-1945 tại Bắc Bộ phủ, do ông Trần Danh Tuyên dẫn đầu.

Lịch sử dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta và trí tuệ, tư duy sắc bén của Hồ Chí Minh đã nhắn nhủ Người phải kiên trì thực hiện quan điểm “thêm bạn, bớt thù” trong mọi suy nghĩ và hành động. Bài học ấy một lần nữa được phát huy, góp phần cô lập kẻ thù, đồng thời tận dụng sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ trên thế giới trong cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.

Thấu triệt lời Bác dạy, vận dụng, phát triển quan điểm, tư tưởng của Người về bạn, thù, Đảng, Nhà nước ta đã khởi sướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đồng bộ đất nước đạt được những thành quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Hơn ba mươi năm đổi mới trên đất nước ta đã có vô số cái mới không ngừng nảy nở, vun trồng, phát triển trực tiếp góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: Mới trong tư duy lý luận; mới trong chủ trương, đường lối của Đảng; mới trong lao động sản xuất; mới trong sáng tạo văn hóa, nghệ thuật của quần chúng nhân dân…

Những cái mới được hòa quyện giữa truyền thống văn hóa dân tộc với giá trị thời đại để trở thành căn cứ chủ yếu của chính sách đối nội, đối ngoại cùng với kế sách xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan điểm về “đối tác, đối tượng” là một trong những cái mới làm nên bước đột phá mở đầu cho sự nghiệp đổi mới thắng lợi, góp phần khẳng định trí tuệ, bản lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam - một đảng cộng sản chân chính, xứng đáng là lực lượng duy nhất lãnh đạo toàn dân, toàn quân tiến hành sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn xác định rõ kẻ thù, đánh giá đúng ưu điểm, thế mạnh của địch để kìm chế, phát hiện khuyết điểm, sơ hở của địch để khoét sâu, đánh hiểm; phát huy sức mạnh của ta, kết hợp giữa đánh với đàm, nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, hạn chế thấp nhất thương vong cho bộ đội và nhân dân. Tăng cường đối ngoại quân sự song phương và đa phương; đẩy mạnh các hoạt động giao lưu, kết nghĩa đúng với tinh thần “thêm bạn, bớt thù” để góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hoà bình vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Phải chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, cân nhắc cán bộ miền núi

“Phải chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, cân nhắc cán bộ miền núi” - là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong buổi nói chuyện tại Hội nghị tổng kết cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp, phát triển sản xuất, kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ ở miền núi ngày 8-10-1961, được báo Nhân dân, đăng số 2757, ngày 9-10-1961.

095417-bac-ho
Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào các dân tộc Việt Nam. Ảnh: Tư liệu

Thực hiện Chỉ thị số 156-CT/TW ngày 25 tháng 8 năm 1959 của Trung ương Đảng về việc tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ ở miền núi miền Bắc nước ta, sau hai năm triển khai thực hiện quyết liệt, Cuộc vận động đã đạt được kết quả bước đầu rất quan trọng, đánh thức tiềm năng, thế mạnh của một vùng miền núi rộng lớn có vị trí, ý nghĩa chiến lược quan trọng của đất nước. Tuy nhiên, phong trào hợp tác hoá nông nghiệp ở miền núi phát triển chưa đều, một số chính sách cụ thể thích hợp với miền núi chưa được quy định, công tác tư tưởng trong hợp tác xã chưa được chú ý, công tác quản lý hợp tác xã còn rất lúng túng. Nhiều nơi chi bộ, ủy ban hành chính và các đoàn thể nhân dân chưa được vững mạnh. Có những xã chưa có chi bộ đảng. Lực lượng cán bộ các dân tộc nói chung thiếu và yếu. Do vậy, Bác đã có những chỉ đạo rất sát đúng, kịp thời về mọi mặt; trong đó, cần phải hết sức chú trọng đến công tác cán bộ - cái gốc của mọi công việc.

Thực hiện huấn thị của Bác, trong suốt quá trình xây dựng và phát triển, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số. Nghị quyết số 24 khóa IX của Đảng về công tác dân tộc đề ra mục tiêu: “Xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số có phẩm chất chính trị, năng lực công tác và uy tín, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới; có cơ cấu, số lượng cán bộ phù hợp trong hệ thống chính trị”. Thực hiện chính sách về công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước, đội ngũ cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số đã thực sự được nâng cao cả về chất lượng và số lượng, góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số miền núi. Đặc biệt, công tác đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số đã từng bước hoàn thiện, chuẩn hóa, nâng cao về chất lượng, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, góp phần tích cực vào sự phát triển của các địa phương miền núi, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa miền núi với miền xuôi.

Thấu triệt lời Bác dạy, Quân đội đã chủ động làm tốt việc tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số từ sớm, thông qua việc mở các lớp thiếu sinh quân để đào tạo con em đồng bào dân tộc thiểu số từ các bậc học phổ thông, đào tạo tại các trường sĩ quan, cao đẳng, trung cấp. Đã có hàng vạn lượt con em đồng bào dân tộc thiểu số trên khắp cả nước được nuôi dưỡng, đào tạo trong môi trường quân đội; nhiều đồng chí trở thành cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước, các ban, bộ, ngành trung ương và địa phương, trở thành tướng lĩnh trong quân đội và có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đúng như tâm nguyện của Bác kính yêu.

“Không phải đã hòa bình thì thỏa mãn mà còn phải đấu tranh phức tạp, gian khổ, lâu dài..."

“Không phải đã hòa bình thì thỏa mãn mà còn phải đấu tranh phức tạp, gian khổ, lâu dài. Cách đấu tranh có thay đổi là đấu tranh trong hòa bình, mà đấu tranh trong hòa bình còn gian khổ phức tạp hơn thời kỳ chiến tranh...” Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu tại Hội nghị cán bộ ngày 7 tháng 10 năm 1954.

77d5063829t7603l23
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Nhà máy diêm Thống Nhất những năm đầu khôi phục kinh tế sau Chiến thắng Điện Biên Phủ. Ảnh: Tư liệu

Sau Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7-5-1954), Hiệp định Geneve được ký kết, cuộc chiến tranh kết thúc. Quân Pháp rút về nước, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng. Theo Hiệp định Geneve, sau hai năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử thống nhất nước Việt Nam. Nhưng đế quốc Mỹ với ý đồ xâm lược Việt Nam từ lâu, đã lợi dụng cơ hội, gạt Pháp ra, nhảy vào tổ chức, chỉ huy nguỵ quyền, nguỵ quân tay sai, viện trợ kinh tế quân sự, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, chia cắt lâu dài nước ta.

Cả dân tộc ta lại bước vào chiến đấu chống xâm lược mới. Miền Bắc ra sức củng cố, xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm căn cứ địa vững chắc cho cách mạng cả nước; miền Nam từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và khởi nghĩa từng phần, đánh bại cuộc chiến tranh một phía của Mỹ.

Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là khát vọng lớn lao của nhân dân ta, là yêu cầu của lịch sử giao phó, đó cũng đồng thời là nhiệm vụ của toàn quân, toàn dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng ta.

Bởi thế, để Đảng trong sạch, vững mạnh, giữ vững vai trò tiền phong, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân giao phó, tất yếu đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải nghiêm túc tự chỉnh đốn, nâng cao tinh thần đạo đức cách mạng, phòng và chống chủ nghĩa cá nhân, chống tư tưởng thoả mãn, công thần…

Thấu triệt lời Bác dạy, Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc sự nghiệp cách mạng là lâu dài, khó khăn và phức tạp; do vậy đã nghiêm túc đề cao tự phê bình và phê bình, chấn chỉnh những hạn chế, khuyết điểm, xác định đường lối, chủ trương đấu tranh cho phù hợp với sự phát triển của thực tiễn giành được những thắng lợi vẻ vang có ý nghĩa lịch sử to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và thành công trong sự nghiệp đổi mới hơn 30 năm qua, vị thế, uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Bác Hồ sáng lập, lãnh đạo, rèn luyện đã không ngừng lớn mạnh và trưởng thành, là lực lượng nòng cốt cùng với toàn Đảng, toàn dân chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giành độc lập dân tộc.

Nhớ lời Bác dạy năm xưa, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn đề cao cảnh giác cách mạng, thi đua huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao, rèn luyện nghiêm, dân vận tốt, xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diên, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, quyết không để bị động, bất ngờ trước mọi tình huống, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước, nhân dân tin tưởng, giao phó, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới.

“Muốn cho danh chính, lợi chính, thì làm sao cho dân tộc mình có danh với thế giới và làm thế nào cho tranh được lợi với thế giới..."

“Muốn cho danh chính, lợi chính, thì làm sao cho dân tộc mình có danh với thế giới và làm thế nào cho tranh được lợi với thế giới..." Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài “Nói chuyện với đại biểu các báo chí về nội trị, ngoại giao nước nhà trong những ngày vừa qua”, Người nói ngày 6 tháng 10 năm 1945; đăng trên Báo Cứu quốc, số 61, ngày 8 tháng 10 năm 1945.

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời - một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Tuy nhiên, những năm tháng đầu sau ngày độc lập, chúng ta gặp phải muôn vàn khó khăn, thách thức, cùng lúc phải đối phó với giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm; chính quyền mới được thành lập chưa được củng cố, lực lượng vũ trang còn non yếu và những tàn dư của xã hội cũ còn sót lại trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; trong đó, có hiện tượng một số ít cán bộ ham muốn danh, lợi nên chưa thật sự tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều bài viết, bài nói giải thích về danh và lợi cho cán bộ, đảng viên các cấp, các ngành để họ nắm rõ, hiểu đúng và hành động đúng. Theo Bác, danh - nghĩa là phải làm tròn bất kỳ nhiệm vụ nào nhân dân giao phó thì đều là danh dự, là vẻ vang, là anh hùng, nếu phải hy sinh tính mạng thì tiếng thơm lưu truyền mãi mãi.

Về lợi, Hồ Chí Minh thường nhắc nhở cán bộ, đảng viên đối với công việc hằng ngày “Việc gì có lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được. Việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh” và việc gì dù lợi cho mình, phải xem xét có lợi cho nước hay không?

Nếu không có lợi mà có hại cho nước thì quyết không làm. Khi phải cân nhắc, chọn lấy một, giữa lợi ích riêng và lợi ích chung, thì phải chọn lợi ích chung, phải hy sinh lợi ích riêng cho lợi ích chung, vì lợi ích cho nước tức là lợi ích cho mình, lợi ích chung của đất nước của dân tộc có thắng lợi thì lợi ích riêng của gia đình thắng lợi. Hồ Chí Minh từng chỉ rõ chủ nghĩa cá nhân – căn bệnh luôn đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc, chính là cha đẻ của tư tưởng danh lợi chỉ muốn làm ông này, ông khác, bà này, bà khác. Tư tưởng danh lợi lại đẻ ra trăm thứ bệnh.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, các thế hệ cán bộ, đảng viên của Đảng đã luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc và nhân dân lên trên, lên trước, sẵn sàng chiến đấu, hi sinh vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, luôn đồng cam, cộng khổ với quần chúng nhân dân, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” thực sự là hạt nhân lãnh đạo, đoàn kết đã cùng với toàn dân, toàn quân làm nên những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam.

Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, sa đà vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi…. làm giảm sút lòng tin đối của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ, cần phải kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội là hạt nhân lãnh đạo, đoàn kết ở đơn vị, say mê, gắn bó hết mình với công việc, chức trách, nhiệm vụ được giao; có ý thức tiết kiệm của công, không tham nhũng, lãng phí; công minh, chính trực, thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực; không quản hy sinh, gian khổ; luôn chấp hành và gương mẫu đi đầu trong mọi công việc; sẵn sàng đến những nơi khó khăn vất vả, từ biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa; có lối sống trung thực, giản dị, gần gũi, thương yêu đồng chí, đồng đội; có tinh thần đoàn kết, bao dung, độ lượng, vị tha. Gương mẫu trong mọi lúc, mọi nơi, luôn đi đầu gương mẫu trong thực hiện thắng lợi mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của quân đội, là chỗ dựa tin cậy của bộ đội.

“…Không biết tự quyết, tự định cái gì, như vậy làm sao công tác phát triển được..."

“…Không biết tự quyết, tự định cái gì, như vậy làm sao công tác phát triển được. Có mắt ta phải trông, có óc ta phải nghĩ, có tay ta phải làm chứ. Nhưng tự động không phải tự tiện”. Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Tinh thần chủ động trong Ủy ban nhân dân”, bút danh Chiến Thắng, đăng trên Báo Cứu quốc, số 59, ngày 5 tháng 10 năm 1945.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh  bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; từ đây chính quyền cách mạng được thiết lập từ Trung ương đến cơ sở, song chính quyền mới phải đối diện với muôn vàn khó khăn, gian khổ, đặc biệt về công tác cán bộ vừa thiếu, vừa yếu, kinh nghiệm trong quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện còn nhiều hạn chế. Để khắc phục, chấn chỉnh những bất cập, khó khăn trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài để huấn thị đội ngũ cán bộ các cấp.

Cán bộ và công tác cán bộ luôn là vấn đề quan trọng, có ý nghĩa quyết định tới sự thành bại của cách mạng. Xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng trong từng thời kỳ được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm, với việc ban hành nhiều quyết sách quan trọng về cán bộ và công tác cán bộ; kiên trì, kiên quyết lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện và đã đạt được những kết quả quan trọng.

Phần lớn đội ngũ cán bộ có lập trường tư tưởng vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức, lối sống giản dị, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, hoàn thành nhiệm vụ được giao; nhiều cán bộ năng động, sáng tạo, thích ứng với xu thế hội nhập, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế…

Tuy nhiên, bên cạnh đó, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ đến nay vẫn còn một số hạn chế, bất cập, nhất là việc điều động, bổ nhiệm vi phạm nguyên tắc, lợi ích nhóm, tệ nạn chạy chức, chạy quyền diễn ra ở một số cơ quan, địa phương… gây bức xúc trong dư luận.

Công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội là một bộ phận quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng; một nội dung cơ bản của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Trước yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì nhiệm vụ xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Quân đội càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Cấp uỷ, chỉ huy các cấp trong toàn quân đã tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch; có tinh thần trách nhiệm cao, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có ý thức tổ chức kỷ luật cao, tận tâm, tận lực với công việc, gương mẫu trong cả lời nói và việc làm, khả năng tư duy sáng tạo, năng lực lãnh đạo, chỉ huy giỏi; trình độ, kiến thức chuyên môn ngày càng cao; có uy tín trong tập thể; sức khỏe và độ tuổi phù hợp, luôn gần gũi, sâu sát với bộ đội, làm nòng cốt trong xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, đảm bảo cho Quân đội không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

“Cán bộ chăm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm việc cho có phương pháp...”

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Thiếu óc tổ chức - một khuyết điểm lớn trong các Ủy ban nhân dân”, bút danh Chiến Thắng, đăng trên Báo Cứu quốc, số 58, ngày 4 tháng 10 năm 1945.

Đây là thời điểm đất nước mới giành được độc lập, chính quyền cách mạng mới được thiết lập, phải đối diện với một khối lượng lớn công việc cần được giải quyết, đòi hỏi đội ngũ cán bộ các cấp phải dốc hết tâm huyết, nhiệt tình, trách nhiệm, song cần phải có sự tổ chức khoa học, hiệu quả. Do vậy, Bác đã viết bài để căn dặn đội ngũ cán bộ các cấp chỉ làm việc chăm chỉ là chưa đủ, mà phải làm việc khoa học, mới mang lại hiệu quả cao trong tổ chức, sắp xếp công việc của chính quyền mới.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém” và “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Thấu suốt quan điểm của Người, trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta luôn coi cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của dân tộc, chế độ; là khâu then chốt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nên đã dày công tổ chức, đào tạo, rèn luyện, xây dựng được đội ngũ cán bộ tận tụy, kiên cường, chất lượng ngày càng cao, là nhân tố quan trọng đóng góp vào những thành quả vĩ đại của cách mạng Việt Nam.

Đội ngũ cán bộ quân đội được giao trọng trách lãnh đạo, chỉ huy, quản lý từ cấp cơ sở đến toàn quân; là lực lượng nòng cốt trong thực hiện đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, nhân tố có vai trò quyết định trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của Quân đội ta. Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã có nhiều chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Quân đội làm nòng cốt để toàn quân hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Chất lượng toàn diện cả về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, tác phong, phong cách lãnh đạo, chỉ huy của đội ngũ cán bộ ngày càng được nâng lên, có phương pháp, tác phong công tác khoa học, luôn nêu cao tính đảng, tính chiến đấu, nói và làm theo chỉ thị, nghị quyết. Luôn chủ động, sáng tạo, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có ý thức kỷ luật cao, tận tâm, tận lực với công việc, gương mẫu cả trong lời nói và việc làm, có khả năng xử lý những vấn đề phức tạp do thực tiễn đặt ra, có uy tín cao trước bộ đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

“Về mặt văn hóa, thì dù ai mù quáng đến mấy cũng phải thấy rằng chế độ xã hội chủ nghĩa của ta thắng lợi vẻ vang..."

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Một thắng lợi vẻ vang”, bút danh T.L, đăng trên Báo Nhân dân, số 2389, ngày 3 tháng 10 năm 1960.

Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập (2-9-1945), Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng và đặt lên hàng đầu sự nghiệp giáo dục, đào tạo và xây dựng nền văn hoá mới tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nền văn hoá do nhân dân lao động sáng tạo, giữ gìn và hưởng thụ - đó là nền văn hoá xã hội chủ nghĩa tiến bộ, hiện đại, nhân văn và không ngừng phát triển.

Thấu triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về giá trị, sức mạnh và sự cần thiết của việc coi trọng xây dựng và phát triển văn hoá, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, nghị quyết nhằm xây dựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; phát triển văn hoá đi đôi với phát triển kinh tế, xã hội để hướng tới sự phát triển bền vững của đất nước.

Quan tâm xây dựng nền văn hóa VIệt Nam tiên tiến, đậm bản sắc dân tộc; không ngừng phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, nếp sống văn hóa, văn minh; cải thiện nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, huy động, khơi dậy tinh thần giữ gìn, sáng tạo văn hóa của cộng đồng xã hội.

Qua đó, đã không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống và làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân; các nền tảng giá trị đạo đức được quan tâm gìn giữ, các qui tắc ứng xử văn hóa được hình thành, từng bước đẩy lùi các tệ nạn xã hội, xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh trên địa bàn dân cư.

Khắc ghi lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta luôn nêu cao ý thức, trách nhiệm trong xây dựng, phát triển nền văn hoá Việt Nam phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, truyền thống tốt đẹp của quân đội, trở thành một giá trị văn hoá quân sự với những nét đặc trưng tiêu biểu được thể hiện tập trung trong 10 lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng, 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân.

Thực hiện chất lượng, hiệu quả phong trào“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, gắn với phong trào thi đua Quyết thắng, các chương trình hành động và được cụ thể hóa thành cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong quân đội”, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó.

“Địch công thành, ta công tâm, phải lấy được lòng dân”

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu tại cuộc họp Bộ Chính trị bàn về cách mạng miền Nam, Báo Nhân dân, đăng số 2750, ngày 2 tháng 10 năm 1961.

Đây là sự thể hiện nhất quán quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc phải luôn luôn lấy dân làm gốc, phải thấy được sức mạnh vô địch từ nhân dân: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng qua”. Đây cũng là đặc trưng tiêu biểu về bản chất của Quân đội ta – quân đội cách mạng, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.

Thấu triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về việc luôn coi trọng và đặt lên hằng đầu sức mạnh của quần chúng nhân dân, Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng xây dựng “thế trận lòng dân” là một bộ phận của tiềm lực chính trị tinh thần; dựa vào nhân dân, được nhân dân ủng hộ, che chở giúp đỡ; đồng thời, huy động và khai thác tiềm lực to lớn từ nhân dân, sức mạnh vô địch của nhân dân, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nhờ xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, biết khơi dậy và phát huy lòng yêu nước, căm thù giặc và sức mạnh của lòng dân, các lực lượng cách mạng đã tổ chức đấu tranh bằng nhiều hình thức, thực hiện Đảng bám dân, dân bám đất, lực lượng vũ trang bám địch, liên tục vây ép, tiến công địch cả về chính trị, quân sự, tiêu hao từng bộ phận sinh lực và phương tiện chiến tranh, “căng, kéo, kìm, giữ địch“, buộc chúng phải phân tán đối phó, góp phần làm cho địch sa lầy bị động, tạo thế cho cấp trên và cùng bộ đội chủ lực ta tiêu diệt địch, giành thắng lợi.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, “thế trận lòng dân” tiếp tục được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta chăm lo xây dựng và củng cố vững chắc; kết hợp chặt chẽ với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, đấu tranh ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; đẩy mạnh công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, được dân tin, dân mến, dân yêu, dân giúp đỡ là nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của đế quốc, thực dân và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc…

Cán bộ, chiến sĩ các cơ quan, đơn vị trong toàn quân luôn nêu cao tinh thần, trách nhiệm, vượt mọi khó khăn, gian khổ, sẵn sàng chấp nhận hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” và niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước, nhân dân.

“Cái gì không có lợi cho địch là có lợi cho ta”

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong bài “Mười khó khăn của Pháp” bút danh C.B, đăng trên Báo Nhân dân, số 27, ngày 1 tháng 10 năm 1951.

Chiến dịch Biên Giới năm 1950 kết thúc, ta giành thắng lợi lớn, diệt trên 8.000 quân địch thu nhiều vũ khí, trang bị, giải phóng vùng biên giới rộng lớn từ Cao Bằng đến Đình Lập (Lạng Sơn) mở rộng giao lưu quốc tế, làm thay đổi cục diện chiến tranh, giành quyền chủ động chiến lược đẩy mạnh tiến công và phản công. Thực dân Pháp gặp nhiều khó khăn ở chính quốc và trên chiến trường Đông Dương; nhưng vẫn tập trung tăng quân, thay tướng, xin thêm viện trợ của Mỹ, xây dựng hệ thống cứ điểm vững chắc hòng duy trì sự đô hộ lâu dài trên đất nước ta.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích, đánh giá đúng tình hình quốc tế, nội tình nước Pháp và cục diện chiến trường Việt Nam một cách khách quan, toàn diện, biện chứng, khoa học và chỉ ra mười khó khăn mà Pháp phải đối diện; từ đó Bác có những chỉ đạo chiến lược xác đáng nhằm giành thế chủ động tiến công liên tục trên chiến trường, quyết đánh đuổi quân xâm lược, giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ.

Thực hiện chỉ đạo của Người, quân và dân ta đã đoàn kết, hợp đồng, phát huy thế mạnh của ta, khoét sâu điểm yếu của địch với ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã anh dũng chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của đế quốc, thực dân, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Thấu triệt tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh trong phân tích, đánh giá tình hình địch, ta để lựa chọn hình thức tác chiến phù hợp luôn được cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, quyết liệt nhằm phát huy mọi ưu thế, sức mạnh tổng hợp, tranh thủ thời cơ để quyết chiến, quyết thắng với kẻ thù, hạn chế thấp nhất thương vong cho bộ đội, cùng toàn Đảng, toàn dân giành được những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử, thống nhất đất nước.

Trong giai đoạn hiện nay, cấp ủy, chỉ huy các cấp luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, tổ chức tốt diễn tập với tinh thần thi đua “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội, duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, không để Tổ quốc bị động bất ngờ trong mọi tình huống, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc… xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

 

Không thừa nhận Việt Nam là quốc gia độc lập là thiếu hiểu biết

Không công nhận Việt Nam là quốc gia độc lập, có chủ quyền là cách nhìn phiến diện, không có cơ sở khoa học của các thế lực thù địch, phản động hòng âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam.

Với những luận điệu xuyên tạc, chiêu trò chống phá, họ cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam thì do nước ngoài tạo ra, CNXH cũng do nước ngoài thiết kế. Vậy hiện nay, chúng ta đang đi theo con đường của người nước ngoài vẽ ra cho chúng ta đi, thì sao gọi là đất nước độc lập”.

Vì vậy, cần nhận thức đầy đủ về độc lập dân tộc. Đó là quyền tự chủ, tự quyết của một dân tộc, quốc gia trong việc tổ chức các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… trong phạm vi lãnh thổ của mình, không chịu sự tác động, ép buộc, chi phối, thao túng của nước ngoài. Độc lập dân tộc phải trên cơ sở bảo đảm chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng trong quan hệ quốc tế, được luật pháp quốc tế thừa nhận và được khẳng định trên thực tế.

Nói cách khác, quốc gia độc lập là quốc gia phải hội tụ đầy đủ các yếu tố: Quốc gia đó có chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; hệ thống hành chính do người của quốc gia đó điều hành; nhà nước đó phải có thẩm quyền hành xử chủ quyền lãnh thổ; nhà nước đó sở hữu quyền tài phán, thuế quan... trên lãnh thổ và sở hữu quyền ngoại giao;nhà nước đó phải được cộng đồng quốc tế công nhận. Nếu thiếu một trong các yếu tố đó thì không phải quốc gia độc lập, có chủ quyền.

Thật vậy! Đối chiếu với yếu tố thứ nhất, cho thấy, Việt Nam hiện đang là quốc gia độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ trên đất liền, trên biển, trên không và trên không gian mạng. Với yếu tố thứ hai, đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị Việt Nam được pháp luật quy định là chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam. Cụ thể là hệ thống hành chính của Việt Nam do người Việt Nam điều hành.

Với yếu tố thứ ba, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam luôn khẳng định về chủ quyền của quốc gia mình, lên tiếng phản đối nước nào đó vi phạm chủ quyền của Việt Nam, bất kể đó là quốc gia lớn hay nhỏ. Mọi hoạt động của nước khác trên lãnh thổ Việt Nam phải được sự đồng ý của Nhà nước Việt Nam thì họ mới được hành động và phải chấp hành pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam có liên quan. Điều đó cho thấy, Nhà nước Việt Nam có đầy đủ thẩm quyền hành xử chủ quyền lãnh thổ của mình.

Với yếu tố thứ tư, mọi hoạt động của các tổ chức, cá nhân nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam đều phải chấp hành pháp luật Việt Nam. Các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam đều phải đóng thuế cho Nhà nước Việt Nam. Các cá nhân là người Việt Nam hay người nước ngoài sinh sống ở Việt Nam đều có nghĩa vụ đóng các loại thuế theo quy định của pháp luật Việt Nam. Cộng hòa XHCN Việt Nam là tổ chức hợp pháp duy nhất có đầy đủ thẩm quyền ký kết các văn bản ngoại giao với các tổ chức, quốc gia trên thế giới.

Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các quốc gia trên thế giới (189/200 quốc gia); thiết lập khuôn khổ quan hệ ổn định, lâu dài với 30 đối tác chiến lược và toàn diện, tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam cùng các nước nâng tầm hợp tác vì lợi ích của mỗi nước và vì hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới. Như vậy, Cộng hòa XHCN Việt Nam đã sở hữu quyền tài phán, thuế quan... trên lãnh thổ và sở hữu quyền ngoại giao.

Với yếu tố thứ năm, nhà nước đó phải được cộng đồng quốc tế công nhận thì Việt Nam đã được các nước trên thế giới công nhận; trong đó, 189/200 nước (gồm đủ cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc) trên thế giới thiết lập quan hệ ngoại giao. Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc ngày 20/9/1977, là Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 2 nhiệm kỳ và tham gia một số ủy ban của Liên hợp quốc: Nhân quyền, Pháp luật… Như vậy, các nước trên thế giới đều công nhận Cộng hòa XHCN Việt Nam là quốc gia độc lập, có chủ quyền. Đó là thực tế không thể chối cãi.

Thế còn, “Đảng Cộng sản Việt Nam thì do nước ngoài tạo ra, CNXH cũng do nước ngoài thiết kế. Vậy hiện nay, chúng ta đang đi theo con đường của người nước ngoài vẽ ra cho chúng ta đi” như luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động rêu rao thì sao?

Đảng Cộng sản Việt Nam không phải “do nước ngoài tạo ra” mà chỉ thành lập tại Hương Cảng (Trung Quốc) trên cơ sở thống nhất 3 tổ chức đảng, dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Nói “Đảng Cộng sản Việt Nam thì do nước ngoài tạo ra” là chưa nghiên cứu lịch sử Đảng. CNXH có phải do nước ngoài thiết kế không? Mục đích của CNXH, chủ nghĩa cộng sản là giống nhau, nhưng cách thức xây dựng là khác nhau ở mỗi nước tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh để lựa chọn cách thức phù hợp.

Thế nên, Trung Quốc mới xây dựng CNXH mang đặc sắc Trung Quốc. Việt Nam xây dựng CNXH phù hợp với thực tiễn nước mình, chắc chắn sẽ không giống nước khác. Bởi các nước khác nhau thì có thực tiễn khác nhau. Thế nên, các luận điệu nói trên đã cho thấy cách nhìn phiến diện và thiếu hiểu biết của những kẻ phản động, đi ngược lại với lợi ích quốc gia, dân tộc.

Nhận diện thủ đoạn chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân

“Nước Việt Nam là một khối thống nhất về mặt dân tộc, lịch sử và kinh tế, và không một lực lượng nào trên thế giới có thể chia cắt được Việt Nam”. Đây là khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Diễn từ tiệc chiêu đãi ở Bêôgrát (Nam Tư)”, Báo Nhân dân đăng trên số 1248, ngày 8/8/1957. Tinh thần đoàn kết toàn dân tộc đã giúp chúng ta vượt qua những thách thức, cam go của lịch sử, đánh thắng các kẻ thù xâm lược, bảo vệ và xây dựng đất nước đi lên CNXH. Thế nhưng, các thế lực thù địch chống phá Việt Nam lại không mong muốn điều đó, họ luôn ra sức tung hô, cổ xúy cho các hành vi kích động bạo lực, gây hận thù dân tộc, chia rẽ đồng bào lương giáo, ngăn cách đồng bào các dân tộc thiểu số, phá vỡ sự kết nối giữa lòng dân với ý Đảng.

Giáo sư, Tiến sĩ Mạch Quang Thắng, giảng viên cao cấp Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, trong mọi thời điểm, mọi hoàn cảnh phải luôn giữ vững được niềm tin của nhân dân, đó là cơ sở cho sự đoàn kết, thống nhất trong toàn dân. “Tài sản lớn nhất của Đảng là niềm tin của dân. Mất niềm tin là mất tất cả”.

Ở nước ta, nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, các thế lực thù địch, phản động xoáy sâu vào những điểm nóng, tập trung mũi nhọn chống phá vào các vấn đề dân tộc, tôn giáo. Thời gian gần đây, các đối tượng nước ngoài liên tục tung tiền, chi phối, giật dây điều khiển các đối tượng cơ hội chính trị trong nước, kích động, lôi kéo nhân dân, tập hợp lực lượng để thành lập các Nhà nước tự xưng như Nhà nước của người Mông, Nhà nước Đề Ga tự trị, Nhà nước của đồng bào Khmer…

Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Xuân Thủy, Chủ nhiệm Khoa Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị phân tích: “Chúng kích động mâu thuẫn giữa các dân tộc, lôi kéo quần chúng, chống đối chính quyền, kích động đồng bào dân tộc thiểu số di cư trái phép, gây mất ổn định về chính trị xã hội, từ đó, tạo cớ để các lực lượng chính trị bên ngoài can thiệp. Chúng lợi dụng những vấn đề có tính lịch sử để lại để đòi li khai tự trị, tìm cách luật pháp hóa, quốc tế hóa những vấn đề dân tộc, tôn giáo để từ đó tiếp cận chỉ đạo bọn phản động trong nước và ngoài nước kết hợp với nhau hỗ trợ bọn phản động cực đoan trong nước để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta”.

Thực tế cho thấy, đồng bào các dân tộc, tôn giáo trên lãnh thổ Việt Nam đều được chung sống hòa bình, bình đẳng và tích cực đóng góp cho công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước. Các đồng bào tôn giáo đều một lòng hướng thiện, sống tốt đời đẹp đạo, kính chúa yêu nước, chỉ những người nhẹ dạ, cả tin hoặc những chức sắc tôn giáo bị tác động, chi phối bởi các thế lực thù địch mới luôn có tư tưởng và âm mưu chia rẽ đồng bào lương giáo. Đại đức Thạch Dương Trung, Trụ trì chùa Cót Đôn, tỉnh Bạc Liêu và Linh mục Vũ Thanh Lịch, thuộc Giáo phận Buôn Mê Thuột, tỉnh Đắk Lắk khẳng định như vậy.

“Đảng, Nhà nước chúng ta luôn hỗ trợ, ủng hộ các tôn giáo đều sinh hoạt tín ngưỡng bình đẳng với nhau. Các dân tộc đều có quyền sinh sống bình đẳng, không có sự đàn áp một dân tộc nào. Không chỉ dân tộc Khmer, các dân tộc khác cũng đều như vậy, đều sống bình đẳng” - Đại đức Thạch Dương Trung nói.

Linh mục Vũ Thanh Lịch nhấn mạnh: “Đạo công giáo với tinh thần bác ái, yêu thương, phục vụ và ai cũng có trách nhiệm đối với quê hương, đất nước. Và đặc biệt là người Việt Nam chúng ta, bất kể tôn giáo nào đều có lòng yêu nước thiết tha và sẵn sàng đóng góp mọi mặt cho quê hương mình”.

Theo phân tích của nhà báo Hồng Thanh Quang, nguyên Tổng Biên tập Báo Đại đoàn kết, một số quốc gia hiện nay đang rơi vào chiến tranh, ly khai, loạn lạc đều có bàn tay can thiệp, đạo diễn từ các thế lực bên ngoài. Thông qua đồng tiền, các thế lực bên ngoài khống chế, hà hơi tiếp sức cho các thế lực đối lập, phản động trong nước, thổi bùng lên thành những mâu thuẫn và sau đó dẫn đến sự can thiệp của nước ngoài, dưới hình thức bảo vệ nhân quyền, bảo vệ dân chủ, nhưng kết cục thì hoàn toàn ngược lại.

Cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam là một thực thể thống nhất, đồng bào các dân tộc, tôn giáo đều là người dân nước Việt Nam, được quan tâm, chăm lo và bình đẳng trước pháp luật. Mỗi người dân đều có trong mình lòng yêu nước và tinh thần tự tôn dân tộc. Giáo sư Hoàng Chí Bảo cho rằng, lòng yêu nước và truyền thống yêu nước của dân tộc từ bao lâu nay trong lịch sử đã trở thành tài sản, giá trị thiêng liêng, cao quý của dân tộc Việt Nam. Mỗi người dân Việt Nam, không chỉ ôm giữ niềm tự hào, mà cần phải đánh thức, làm sống dậy niềm tự hào đó. Trước hết đó là, bảo vệ tinh thần đoàn kết dân tộc, không nghe theo những xúi giục, kích động của các phần tử bất mãn và các thành phần chống phá chế độ.

“Người dân thì có thể do thiếu hiểu biết, thiếu thông tin, thiếu cân nhắc, tỉnh táo khi quyết định hành vi ứng xử của mình, nhưng kẻ xấu thì làm việc này có tính toán. Chúng chống phá sự phát triển tốt đẹp, bình yên của đất nước chúng ta, chống phá chế độ và muốn chúng ta đi chệch con đường mà Đảng ta, nhân dân ta đã lựa chọn, đó là con đường CNXH” - Giáo sư Hoàng Chí Bảo khẳng định.

Cách đây 6 thế kỷ, sau khi đập tan ách thống trị, đô hộ 20 năm của giặc Minh, Nguyễn Trãi đã viết trong Bình Ngô đại cáo: “Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới/ Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”. Tinh thần và tư tưởng đoàn kết toàn dân, đoàn kết quân dân và binh sĩ đã trở thành mạch nguồn làm nên sức mạnh để chúng ta đương đầu vượt qua mọi khó khăn, thách thức.

Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp như hiện nay, cùng với việc nâng cao tinh thần chủ động phát hiện, đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch, cũng cần huy động sự vào cuộc tích cực của nhân dân. Đây sẽ là “bức tường” vững chắc để ngăn chặn mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam không bao giờ từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội

Mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là chủ trương nhất quán, đúng đắn của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá đất nước, không ít đối tượng xấu đang cố tình rêu rao đòi từ bỏ việc xây dựng CNXH, chỉ giữ lại nhiệm vụ độc lập dân tộc.

Trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch, phản động, chống đối, cơ hội chính trị liên tục tấn công mục tiêu xây dựng CNXH tại Việt Nam. Chúng cho rằng: “Xã hội XHCN là một xã hội không tưởng, được Đảng Cộng sản vẽ ra để mị hoặc, ru ngủ quần chúng”; “Việc lựa chọn con đường xây dựng CNXH là đi theo vết xe đổ của Liên Xô và Đông Âu”; “Việt Nam đang chuyển hướng theo mô hình tư bản, CNXH chỉ còn là danh nghĩa”…

Cùng với đó, lợi dụng những mặt trái của xã hội, những hạn chế, khuyết điểm trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt là vấn nạn tiêu cực, tham nhũng trong bộ máy công quyền, các đối tượng xấu đã “tát nước theo mưa”, ra sức bôi đen, vấy bẩn chế độ. Từ đây, những kẻ này đòi Việt Nam phải thay đổi mục tiêu phát triển, từ bỏ việc xây dựng CNXH, chỉ giữ lại nhiệm vụ bảo vệ độc lập dân tộc. Đây là những luận điệu vô cùng độc hại, ẩn chứa ý thức chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động.

Phải khẳng định rõ, việc giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là điều kiện tiên quyết để bảo đảm thắng lợi của cách mạng nước ta. Đây là bài học xương máu được Đảng, Nhà nước ta rút ra từ cuộc đấu tranh vệ quốc vĩ đại và công cuộc xây dựng, bảo vệ, phát triển Tổ quốc.

Độc lập dân tộc và CNXH có mối quan hệ biện chứng, gắn bó với nhau. Độc lập dân tộc là sự không lệ thuộc, không phụ thuộc, không chịu sự chi phối, hướng lái từ bên ngoài; là việc bất khả xâm phạm của quốc gia trên tất cả các lĩnh vực; là quyền tự quyết định tương lai, vận mệnh của chính dân tộc mình. Trong khi đó, CNXH mà chúng ta đang xây dựng là xã hội do nhân dân lao động làm chủ; con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển… Độc lập dân tộc là điều kiện tiền đề để xây dựng CNXH. Ngược lại, CNXH là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc.

Vậy vì sao các đối tượng xấu lại ra sức tấn công mục tiêu xây dựng CNXH của Việt Nam? Suy cho cùng, câu trả lời vẫn là vấn đề lợi ích. Trong thời đại ngày nay, mâu thuẫn giữa CNXH và chủ nghĩa tư bản (CNTB) vẫn tồn tại và có mặt ngày càng gay gắt, quyết liệt hơn. Điều này bắt nguồn từ bản chất của hai xã hội. Trong xã hội XHCN, quần chúng lao động là người nắm giữ quyền lực Nhà nước, lợi ích được chia sẻ một cách hài hòa, công bằng và bình đẳng. Trong khi đó, ở xã hội tư bản, mặc dù chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhưng quyền lực phần lớn vẫn thuộc về gia cấp tư sản; những mâu thuẫn, bất đồng, bất công trong xã hội vẫn tồn tại dai dẳng và trở thành nguồn gốc của xung đột.

Theo quy luật vận động và phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội, xã hội XHCN sẽ là hình thái phủ định xã hội tư bản. Thực tế cũng chứng minh, từ khi chủ nghĩa Mác ra đời, dưới sự lãnh đạo của các Đảng Cộng sản, giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới đã đứng lên đấu tranh, khiến cho CNTB chịu những thiệt hại hết sức nặng nề, làm cho lợi ích của giai cấp tư bản bị lung lay, đảo lộn. Chính vì vậy, để bảo vệ lợi ích của mình, để duy trì “trật tự vĩnh hằng của CNTB”, các thế lực thù địch đã ra sức tấn công vào mục tiêu xây dựng CNXH của Việt Nam.

Con đường đi lên CNXH là không dễ dàng. Đã có lúc phong trào cộng sản trên thế giới lâm vào khủng hoảng, thoái trào với sự sụp đổ của hệ thống XHCN ở Liên Xô và Đông Âu. Vậy nhưng phải thẳng thắn nhìn nhận, đây là sự sụp đổ của một mô hình cụ thể của CNXH đã lạc hậu. Việc chúng ta kiên định đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin, tiến hành xây dựng CNXH là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển. Xây dựng CNXH là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp. Tuy nhiên, những kết quả mà Việt Nam đã đạt được trong thời gian qua là minh chứng rõ ràng nhất khẳng định CNXH không phải là “mộng tưởng” như những gì các đối tượng chống phá đưa ra.

Trong đó, một số nét chính có thể phác họa như: Tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016-2020 đạt khoảng 6%/năm; quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng lên (năm 2020, GDP đạt 271,2 tỉ USD và thu nhập bình quân đầu người đạt 2.779 USD/người); năng suất lao động tăng từ 4,3%/năm giai đoạn 2011-2015 lên khoảng 6%/năm giai đoạn 2016-2020; mạng lưới cơ sở giáo dục và đào tạo tiếp tục được mở rộng về quy mô, giáo dục và đào tạo ở những vùng khó khăn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số được chú trọng, chất lượng giáo dục ngày càng tăng; đời sống nhân dân được cải thiện, tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm còn dưới 3%; quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố; quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu…

Dĩ nhiên, trong quá trình phát triển, nước ta cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Trong đó, tham nhũng được Đảng ta xác định vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Tuy nhiên, cũng cần nói rõ, tham nhũng là vấn nạn chung của toàn thế giới, không phải là “sản phẩm riêng” của chế độ XHCN. Thời gian qua, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã nhìn thẳng vào sự thật và kiên quyết xử lý nghiêm đối với các trường hợp sai phạm. Công tác phòng, chống tham nhũng được lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện quyết liệt, toàn diện, với quyết tâm chính trị rất cao. Đặc biệt, với việc thống nhất thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng cấp tỉnh, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng sẽ được triển khai ngày càng bài bản hơn, ngày càng đi vào chiều sâu, qua đó, bịt kín sơ hở có thể nảy sinh tham nhũng.

Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là mong muốn, nguyện vọng của quần chúng nhân dân, là sự lựa chọn của lịch sử. Biết bao thế hệ cha ông đã anh dũng hi sinh để có được độc lập, tự do, hòa bình, ổn định, làm cơ sở tiến lên CNXH. Vì vậy, việc tấn công, đòi từ bỏ mục tiêu xây dựng CNXH là hành động vô ơn với các thế hệ đi trước, là sự thụt lùi trong tiến trình phát triển, là sự thất hứa với quần chúng nhân dân lao động. Vì vậy, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam sẽ không bao giờ từ bỏ mục tiêu xây dựng CNXH.

Việt Nam luôn là thành viên đóng góp tích cực vào các hoạt động nhân quyền của Liên hợp quốc

Trước ngày Đại hội đồng Liên hợp quốc bầu thành viên Hội đồng Nhân quyền (HĐNQ) Liên hợp quốc, một số nhà dân chủ, nhân quyền tự xưng lại càng ra sức cản trở Việt Nam ứng cử thành viên HĐNQ Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023-2025. Hành động vu khống, phá hoại của những kẻ chống phá mù quáng không chỉ đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, mà còn khiến dư luận trong nước và quốc tế phẫn nộ, phản đối. Bởi những đóng góp và thành tựu của Việt Nam về quyền con người luôn được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Vài nét về Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc

HĐNQ Liên hợp quốc trực thuộc Đại hội đồng Liên hợp quốc, được thành lập năm 2006, là cơ chế quan trọng nhất về quyền con người trong hệ thống Liên hợp quốc; là diễn đàn đối thoại, hợp tác và thúc đẩy cân bằng tất cả các quyền con người; hoạt động trên cơ sở khách quan, hợp tác và đối thoại, trên tinh thần xây dựng, không thiên vị, chọn lọc, chính trị hóa và tiêu chuẩn kép.

HĐNQ Liên hợp quốc có các nhiệm vụ: Thảo luận tình hình, đề cập các vi phạm quyền con người và đưa ra các nghị quyết, khuyến nghị về các vấn đề quyền con người, hàng năm có báo cáo trình Đại hội đồng Liên hợp quốc; ngăn chặn các vi phạm quyền con người thông qua hợp tác và đối thoại; hợp tác chặt chẽ với các chính phủ, tổ chức khu vực, cơ quan nhân quyền quốc gia, các tổ chức phi chính phủ…; thúc đẩy giáo dục, đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật, nâng cao năng lực cho các nước; thúc đẩy các nước thực hiện nghĩa vụ và cam kết về quyền con người; kiểm định định kỳ việc thực hiện các nghĩa vụ, cam kết của tất cả các nước về quyền con người dựa trên các thông tin khách quan, tin cậy, thông qua một cơ chế kiểm điểm định kỳ 4-5 năm một lần, trên cơ sở hợp tác và đối thoại.

HĐNQ Liên hợp quốc có 47 nước thành viên, phân bổ cân bằng theo khu vực địa lý (châu Á 13 thành viên, châu Phi 13, Đông Âu 6, Mỹ La tinh và Caribe 8, Tây Bắc Âu và các nước khác 7). Tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc đều có quyền ứng cử vào HĐNQ Liên hợp quốc. Đại hội đồng Liên hợp quốc sẽ bầu các thành viên HĐNQ Liên hợp quốc bằng bỏ phiếu kín.

Với vị trí và tầm quan trọng của mình, HĐNQ cùng với Hội đồng Bảo an trở thành những cơ quan trong hệ thống Liên hợp quốc được các nước quan tâm ứng cử nhiều nhất. Mục đích chính của các nước tham gia HĐNQ là đề cao đường lối, chính sách, thành tựu về quyền con người, thúc đẩy các ưu tiên, sáng kiến phù hợp với lợi ích của mình; tranh thủ thông tin, giải thích, vận động, đấu tranh, phản bác các quan điểm chỉ trích của các cơ chế nhân quyền Liên hợp quốc hoặc của các nước khác về tình hình nhân quyền ở nước mình.

Việt Nam tham gia tích cực và có trách nhiệm vào các hoạt động nhân quyền

Việt Nam đã đảm nhiệm thành công vai trò thành viên HĐNQ Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016, góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước. Việt Nam tham gia tích cực các hoạt động của HĐNQ, thúc đẩy các sáng kiến thể hiện dấu ấn, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao như tham gia Nhóm nòng cốt tại HĐNQ về “Biến đổi khí hậu và quyền con người”, trực tiếp là tác giả một số nghị quyết được HĐNQ thông qua bằng đồng thuận về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với các nhóm dễ bị tổn thương (phụ nữ, trẻ em…).

Việt Nam cũng là đồng tác giả, đồng bảo trợ hàng chục nghị quyết của HĐNQ Liên hợp quốc trong giai đoạn này. Đồng thời, làm cầu nối thúc đẩy hợp tác và đối thoại giữa các nước, các nhóm nước nhằm thúc đẩy cách tiếp cận cân bằng, tiến bộ, hướng tới con người của HĐNQ trên những vấn đề còn khác biệt như về quyền sức khỏe sinh sản, chống bạo hành với phụ nữ, xóa bỏ phân biệt đối xử và bạo lực… Việt Nam cũng đã thúc đẩy đối thoại trong khuôn khổ HĐNQ giữa các nước liên quan, các tổ chức khu vực và các cơ chế của Liên hợp quốc về quyền con người nhằm giải quyết những quan tâm cụ thể về các vấn đề liên quan đến nhân quyền, nhân đạo; phối hợp với các nước đang phát triển đấu tranh để bảo đảm HĐNQ hoạt động đúng nguyên tắc, thủ tục, không chính trị hóa, không can thiệp công việc nội bộ các nước.

Từ năm 2014 đến 2016, Việt Nam được tín nhiệm bầu làm Điều phối viên ASEAN tại HĐNQ Liên hợp quốc đã góp phần thúc đẩy quan hệ song phương giữa Việt Nam với các nước và nâng cao vị thế quốc tế của đất nước. Việc Việt Nam tiếp tục ứng cử vào HĐNQ Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023-2025 sẽ góp phần khẳng định nỗ lực, cam kết và thành tựu cũng như khả năng đóng góp của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người; chủ động phòng ngừa, phát hiện đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để chống phá. Đồng thời, tranh thủ sự ủng hộ của các nước để tăng cường công tác tuyên truyền về thành tựu, thực tế tình hình bảo đảm quyền con người tại Việt Nam.

Cùng với đó, nâng cao vị thế, hình ảnh một nước Việt Nam chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; góp phần tăng cường quan hệ hợp tác song phương với các nước bạn bè, các nước đối tác, kể cả những nước có quan điểm khác biệt về quyền con người. Thúc đẩy các sáng kiến cụ thể, trong đó tiếp tục đẩy mạnh sáng kiến về “Biến đổi khí hậu và quyền con người”; thúc đẩy hợp tác, đối thoại trên các vấn đề mà quốc tế quan tâm, phù hợp với lợi ích của ta. Tiếp tục nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, hoàn thiện cơ chế phối hợp, nâng cao hiệu quả sự tham gia của Việt Nam vào các cơ chế đa phương, tạo tiền đề để đưa cán bộ của ta vào làm việc tại các cơ quan của Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác.

Như vậy, khi Việt Nam tham gia HĐNQ Liên hợp quốc sẽ giúp các nước, các tổ chức quốc tế có nhận thức đúng hơn về nhân quyền ở nước ta; đồng thời, Việt Nam cũng có điều kiện thuận lợi góp phần vào việc bảo đảm thực thi nhân quyền trên thế giới. Qua đó, góp phần nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Nhận diện hoạt động lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước

Tôn giáo là lĩnh vực nhạy cảm, luôn thu hút sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế. Do đó, cùng với vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng vấn đề tôn giáo để kích động chống phá Đảng và chế độ ta.

Các thế lực thù địch âm mưu biến tôn giáo thành “ngòi nổ” gây mất ổn định chính trị - xã hội hoặc thông qua vỏ bọc tôn giáo để tuyên truyền luận điệu xuyên tạc kích động, phá hoại tư tưởng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Chiêu bài tôn giáo là một phần của chiến lược “diễn biến hoà bình” mà các tổ chức, cá nhân thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam thường sử dụng nhằm kích động xu hướng chia rẽ, ly khai, từ đó phát triển thành các cuộc tuần hành, biểu tình, gây rối an ninh, trật tự, tạo sự bất ổn định về chính trị - xã hội, ảnh hưởng không nhỏ sự phát triển toàn diện của xã hội. Đây cũng là cái cớ để họ công khai can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn hiện nay, ngoài những hoạt động chống phá mang tính quy luật thì một trong những thủ đoạn mà số đối tượng chống đối cực đoan ở trong và ngoài nước thường tiến hành là tìm mọi cách lợi dụng vấn đề tôn giáo ở vùng dân tộc thiểu số nhằm kích động tư tưởng ly khai, tự trị tại các địa bàn chiến lược về an ninh, quốc phòng. 

Thực tế cho thấy, tại các khu vực trọng yếu của đất nước như miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, các thế lực chống phá cực đoan ở trong và ngoài nước đã lợi dụng vấn đề dân tộc gắn với vấn đề tôn giáo để kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, xúi giục người dân di cư tự do, biểu tình, bạo loạn gây mất ổn định chính trị nhằm tạo cớ can thiệp, phá hoại độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.

Nổi lên thời gian qua là các vụ việc trọng điểm xảy ra trên địa bàn Tây Bắc, trong đó tập trung ở các tỉnh như Điện Biên, Lai Châu… Dưới sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch, các đối tượng chống đối trong nước ráo riết thực hiện mưu đồ lập ra tôn giáo riêng ở đồng bào dân tộc như lập ra “đạo Vàng Chứ” để qua đó lôi kéo, tập hợp lực lượng thành lập cái gọi là “Vương quốc Mông tự trị”. Ở một số địa phương, tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc, các phần tử xấu còn lợi dụng các hiện tượng tôn giáo mới, tà đạo như Giê Sùa, Bà Cô Dợ, Hội thánh Đức Chúa trời, Sề Chu Hà Ly Cha và một số hiện tượng tôn giáo liên quan đến tục lễ thờ cúng các anh hùng liệt sĩ, người có công với cách mạng để tiến hành các hoạt động gây rối an ninh, trật tự. Thực tế, Giê Sùa, Bà Cô Dợ đều là tà đạo lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tập hợp phát triển lực lượng lập “Nhà nước Mông”. Thời gian qua, các đối tượng triệt để sử dụng phương thức, thủ đoạn thông qua điện thoại, mạng xã hội, các phần mềm trực tuyến để chỉ đạo số đối tượng cốt cán ở trong nước tích cực tuyên truyền, lôi kéo người Mông tại Việt Nam tham gia tà đạo nhằm kích động lập “Nhà nước Mông” với các luận điệu như: Đức Chúa trời Giê Hô Va đã chia đất cho người Mông nhưng người Mông không đoàn kết, nên đất đai đã bị các nước khác xâm chiếm; người Mông không có lãnh thổ, nhà nước riêng, suốt đời đi làm thuê cho các dân tộc khác…

Những vấn đề nêu trên đã và đang tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong khu vực, tạo thành những điểm nóng tôn giáo.

Hay như ở vùng Tây Nguyên trước đây, các đối tượng chống đối, cực đoan trong dân tộc cũng từng đòi thành lập đạo Tin lành Đề ga của đồng bào dân tộc bản địa để mưu đồ lập ra cái gọi là Nhà nước Đề ga độc lập. Tương tự ở Tây Nam Bộ, nơi có đông đồng bào Khmer sinh sống, chúng cũng dựng nên cái gọi là “Nhà nước Khmer Krôm” với luận điệu vu khống Nhà nước ta đàn áp sư sãi Phật giáo Nam tông Khmer Nam Bộ. Đây là thủ đoạn rất nham hiểm, trắng trợn của các thế lực thù địch hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phá hoại an ninh quốc gia, đe dọa độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Bên cạnh đó, thời gian qua, tại một số địa phương xuất hiện những mặt hạn chế, yếu kém trong quản lý, điều hành xã hội như vấn đề đầu tư, ô nhiễm môi trường, giải phóng mặt bằng, đền bù giải tỏa… Triệt để lợi dụng vấn đề này, các đối tượng chống đối cực đoan trong tôn giáo tìm mọi cách để ngụy tạo chứng cứ, thường xuyên tuyên truyền, xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín và vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp và các ban, ngành chức năng có liên quan. Từ đó tạo tâm lý tiêu cực, chia rẽ mối quan hệ giữa nhân dân với các cấp uỷ đảng, chính quyền, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cao hơn nữa có thể kích động quần chúng tín đồ tụ tập đông người, gây rối an ninh, trật tự hoặc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, chống phá chế độ. Không những vậy, một số đối tượng cực đoan trong tôn giáo còn lợi dụng tình hình thiên tai hay đại dịch COVID-19 để tuyên truyền xuyên tạc, tạo “chiến tranh tâm lý”, gây hoang mang, lo lắng, hoài nghi trong nhân dân, nhất là việc xuyên tạc chất lượng của vaccine phòng COVID-19; xuyên tạc chính sách phòng, chống COVID-19 của Nhà nước ta; bôi nhọ các lực lượng thực thi pháp luật, hỗ trợ nhân dân chống dịch bệnh; thổi phồng những mất mát, tổn thất do dịch bệnh gây ra, quy nguyên nhân dịch bệnh do “chính quyền thờ ơ, vô cảm”, “đường lối của Đảng sai lầm”!

Mới đây, sau khi một số trang báo điện tử đưa tin về việc Mỹ tiêu hủy gần 400 triệu liều vaccine COVID-19 do vấn đề chất lượng, các đối tượng lập tức “đánh bùn sang ao”, cố tình bẻ lái sang vấn đề tiêm vaccine ở Việt Nam với luận điệu hết sức hoang đường khi ám chỉ Nhà nước ta không coi trọng sức khỏe và tính mạng của người dân, o ép người dân tiêm vaccine. Trong khi đó, thực tế đã chứng minh việc tiêm vaccine ở Việt Nam thời gian qua đã đem lại những tín hiệu tích cực, được nhân dân ủng hộ cao, qua đó đã tạo “tấm lá chắn” hữu hiệu nhất để chúng ta và nhân loại đẩy lùi dịch bệnh.

Rõ ràng, qua phân tích những vấn đề nêu trên cho thấy, chiêu bài tôn giáo được các thế lực thù địch và số đối tượng chống đối ở trong và ngoài nước triệt để lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước ta, là vấn đề mang tính quy luật. Hiện nay, thủ đoạn lợi dụng chống phá của các đối tượng ngày càng tinh vi, xảo quyệt, lại được che đậy bởi vỏ bọc tôn giáo nên người dân khó phát hiện. Tính chất nguy hiểm ngày càng cao khi thủ đoạn này đã tác động trực tiếp đến nhận thức, tư tưởng của đồng bào theo đạo. Đây sẽ là tiền đề để khi có điều kiện, có thời cơ, các đối tượng sẽ đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, kích động, lôi kéo quần chúng tín đồ tham gia vào các hoạt động chống đối, vi phạm pháp luật.

Do đó, mọi chức sắc, tín đồ tôn giáo nói riêng và mỗi người dân Việt Nam nói chung hãy luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động lên án những mưu đồ xấu của kẻ địch. Đồng thời, tích cực tham gia đấu tranh, đẩy lùi việc lợi dụng vấn đề chính trị để chống phá ra khỏi đời sống tôn giáo, góp phần làm cho các hoạt động tôn giáo trở nên thuần khiết, tốt đẹp như bản chất vốn có. Nâng cao nhận thức, tinh thần cảnh giác của người dân, phân biệt rõ hoạt động tôn giáo đúng nghĩa và hành vi lợi dụng tôn giáo để kích động chống phá của kẻ xấu. Mọi hoạt động tôn giáo phải tuân thủ giáo lý, giáo luật, tuân thủ luật pháp, đem lại đời sống đạo pháp đúng nghĩa, đảm bảo nhu cầu sinh hoạt tôn giáo cho đồng bào trên cơ sở tuân thủ pháp luật của Nhà nước.