Thứ Bảy, 15 tháng 10, 2022

Người lãnh đạo và bài học tu dưỡng, tránh cám dỗ

     

Không chỉ đề cao vai trò, tầm quan trọng của người lãnh đạo: “Một người lo bằng kho người làm”, triết lý người Việt còn nhắc nhở những ai ở cương vị đó phải biết giữ gìn nhân cách, bởi “nhà dột từ nóc”.

 

Lại có câu ca dao: “Người trên ở chẳng chính ngôi/ Để cho bề dưới chúng tôi hỗn hào” là chân lý cũng là đạo lý, vì người lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao không chỉ phải “lo” đường lối chiến lược, hoạch định chính sách... mà còn phải là mẫu mực nhân cách có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng.

Thế nhưng vừa qua, có không ít vị lãnh đạo cấp cao lại “nhúng chàm” để rồi đang ở đỉnh cao quyền lực rơi xuống đáy thân phận bị cáo, trở thành “tấm gương mờ” để người đời bêu riếu... “Tài” và “đức” là hai phạm trù cơ bản cấu thành nhân cách người lãnh đạo. Họ có thể có “tài” nhưng còn thiếu “đức”. Bác Hồ từng dạy người cách mạng phải lấy đức là nguồn, là gốc: “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(1). Những “tấm gương mờ” kia còn thiếu đạo đức cách mạng nên sức yếu, không “gánh được nặng” và chẳng “đi được xa”.

Bốn cái cột chống vững chắc của ngôi nhà đạo đức cách mạng, theo Bác Hồ là “cần, kiệm, liêm, chính”. Ngày Quốc khánh 2-9-1947, Người viết bài "Cán bộ và đời sống mới" giải thích rõ vấn đề, đặc biệt nhấn mạnh đến sự “thực hành”: “Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành bốn điều đó, mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc dây leo trời”(2). Câu nói mang ý nghĩa thời sự sâu sắc, như là nói với hôm nay!


Bác Hồ đến thăm hội nghị phổ biến máy cấy công cụ cải tiến ở Từ Liêm, Hà Nội, tháng 7-1960. Ảnh tư liệu.

Một phẩm chất hàng đầu của người lãnh đạo là uy tín. Tham ô, đục khoét tức “vô liêm”, không trong sạch thì làm sao “được lòng dân”. Người xưa rất coi trọng chữ “liêm”. Cụ Khổng Tử mỉa mai: “Người mà không liêm, không bằng súc vật”. Cụ Mạnh Tử trăn trở: “Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy”. Bác Hồ kế thừa các tinh hoa tư tưởng ấy và minh họa một trường hợp cụ thể. Trong "Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch bốn tháng sang Pháp", Người có nói về “tấm gương” của Napoléon “đại tài nhưng tham lam”, từ một anh lính làm đến tổng tư lệnh rồi hoàng đế, vẫn chưa thấy đủ, ông còn muốn làm chúa cả thế giới: “Nếu ông Napoléon mà biết dè dặt, không tham muốn quá chừng, thì chắc nước Pháp lúc đó không đến nỗi vì chiến tranh mà chết người, hại của. Mà ông Napoléon cũng giữ được địa vị thiên tử trong một nước giàu mạnh ở Âu châu. Nhưng ông Napoléon đã làm con giời lại muốn làm cả giời, kết quả bị rơi xuống đất... Xưa nay đã nhiều người vì không “tri túc” (chừng mực) mà thất bại”(3). Là người có tài, lại ở vị trí lãnh đạo cao nhất nhưng “kết quả bị rơi xuống đất”, theo Bác Hồ có 3 lý do là “tham lam”, “không khiêm tốn”, “không biết lượng sức mình”. Vì thế mà ông ta mắc bệnh cuồng vọng “đã làm con giời lại muốn làm cả giời”. Hậu quả do người lãnh đạo gây ra, không chỉ mình người đó mà còn cả cộng đồng phải gánh chịu, có khi rất nặng nề.

Soi vào một vài trường hợp cán bộ lãnh đạo cấp cao vừa rồi bị kỷ luật, không thể so sánh về tài năng, nhưng về nguyên nhân và “kết quả” thì thấy họ cũng gần giống như Napoléon vậy!  

Phật giáo coi tính “tham” là nguyên nhân đầu tiên dẫn con người đến “bể khổ”. Khổng Tử coi sự “tham lợi” chỉ có ở kẻ “tiểu nhân”. Bác Hồ dạy cán bộ phải biết: “Ít lòng tham muốn về vật chất”! Mọi cán bộ đều phải thế, cán bộ lãnh đạo càng phải thế!

Về giải pháp ngăn chặn, căn cứ vào tư tưởng biện chứng của Lenin từ “trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng”, đối chiếu với quan niệm về đặc trưng tâm lý người lãnh đạo mới nhất của thế giới hiện nay, thì lời Bác Hồ dạy vẫn là bài học đúng đắn, thiết thực. Cụ thể nhất là lấy gương người tốt-việc tốt hằng ngày để giáo dục lẫn nhau. Đây là một truyền thống văn hóa phương Đông mà chính Bác Hồ giải thích: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Ở phương Tây, một số vị tổng thống khi nhậm chức thường đặt tay lên cuốn Kinh Thánh là một cách “hứa” sẽ làm theo những lời dạy mẫu mực, tức cũng coi đó là tấm gương. Vấn đề ở chỗ “làm gương” như thế nào, bằng cách nào?

Ở ngay lĩnh vực giáo dục cán bộ, đảng viên, Bác Hồ đã là nhà giáo dục lớn với tư tưởng và các biện pháp mang tính hệ thống, toàn diện, phù hợp. Theo Người, lấy những tấm gương “đảng viên đã vì Đảng, vì giai cấp, vì dân tộc mà oanh liệt hy sinh như đồng chí Lê Hồng Phong, Trần Phú, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Văn Cừ, Lương Khánh Thiện, Minh Khai, cùng trăm nghìn đồng chí khác... Máu xương của các tiên liệt đã thấm nhuần gốc rễ của Đảng ta, làm cho cây nó càng vững, ngành nó càng to, và kết quả khai hoa ngày càng rực rỡ”(4). Hình tượng ẩn dụ “cây” Đảng ta tươi tốt là nhờ “gốc rễ” được “thấm nhuần” máu xương của các bậc tiền bối thật giàu ý nghĩa biểu cảm này được Người nhiều lần nhắc lại. Thế hệ lãnh đạo đầu tiên ấy đã hy sinh trọn vẹn, tuyệt đối cho dân tộc, xứng đáng là tấm gương cho mọi thế hệ kế tục học tập, noi theo.

Bác Hồ từng nhấn mạnh những cán bộ chủ chốt, cấp cao phải tiên phong trong việc nêu gương. Trong "Bài nói chuyện tại phiên họp cuối năm của Hội đồng Chính phủ năm 1963", Người nhắc nhở: “Một điều rất quan trọng nữa là các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Có như thế mới xứng đáng với đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng chống đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam và hòa bình thống nhất nước nhà. Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”(5). Không chỉ là lời dạy về nội dung, còn là vấn đề phương pháp luận: Phải lấy tấm gương sáng nhất, cụ thể mà gần gũi để giáo dục. Thời điểm ấy, với các bộ trưởng, thứ trưởng... thì có tấm gương nào “sáng” hơn “đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng”.

Một số cán bộ lãnh đạo mắc khuyết điểm vừa qua có nguyên nhân là phai mờ lý tưởng cộng sản, nhạt phai tinh thần tự nguyện cống hiến, hy sinh vì cách mạng, vì dân nên sa vào chủ nghĩa cá nhân, đúng như Bác nói, họ “coi Đảng như một cái cầu thang để thăng quan phát tài”(6). Xa dân nên thành “quan cách”, không đoái hoài đến đời sống của dân, không chỉ không “cần kiệm” mà còn xa hoa, lãng phí. Do vậy quy trình bổ nhiệm cán bộ cấp cao cần hết sức chặt chẽ. Nhất thiết cán bộ đó phải kinh qua những cương vị lãnh đạo gần với dân, hiểu dân. Bởi có vậy họ mới thấm thía “một hột gạo, một đồng tiền, tức là một số mồ hôi nước mắt của đồng bào” nên có ý thức chi tiêu, sử dụng bất cứ cái gì cũng phải nghĩ đó là của dân. Chỉ khi nghĩ được như lời Bác dạy “hoang phí là một tội ác” thì mới biết trân trọng, giữ gìn tài sản của dân và danh dự của mình.

Những vụ việc ấy cho thấy bài học là còn nhiều cơ quan, tổ chức đảng coi nhẹ công tác tự phê bình và phê bình. Điều ấy có lý do từ căn tính tiểu nông cả nể đã ngàn xưa, với cán bộ chủ chốt thì sự cả nể càng tăng lên nhiều. Lại thêm tâm lý “chín bỏ làm mười”, “xuê xoa”, “an phận thủ thường”, “đấu tranh là... tránh đâu”... nên lãnh đạo mắc khuyết điểm ngày thêm nặng mà không được góp ý, chỉ ra, ngăn chặn.

Rất nhiều lần Bác Hồ nhắc cán bộ phải “gương mẫu”, “nêu gương”, phải là “đầu tàu”... Không ít lần, Người mượn lời Khổng Tử dạy cán bộ mình có đứng đắn, trong sáng mới tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ... Những lời dạy ấy không chỉ đúng với đạo lý mà còn là khoa học, biện chứng. Để có uy tín, để là tấm gương sáng, với người lãnh đạo-theo lời Bác dạy là phải “thực hành trước” các nguyên tắc “Cần, kiệm, liêm, chính”, “chí công”, “vô tư” . Một phương pháp sư phạm đã trở thành chân lý: Cách tốt nhất để giáo dục, thuyết phục người khác là giáo dục, thuyết phục bằng chính nhân cách mình!

Quyền con người và sức khỏe cộng đồng

 

Thực tế những năm qua cho thấy, Việt Nam luôn quan tâm bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản của con người. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người và là thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế trong việc bảo đảm các vấn đề về nhân quyền. Các thành tựu về nhân quyền được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội, y tế, văn hóa...

Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam tăng đều qua các năm: từ 0,682 năm 2016 lên 0,706 năm 2020. Trong các thành tựu về quyền về con người của Việt Nam, quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của người dân luôn được ưu tiên hàng đầu bởi mỗi cá nhân khi được chăm sóc tốt về sức khỏe thì mới có thể thụ hưởng và thực hiện được các quyền cơ bản khác. Mặt khác, việc thực hiện quyền chăm sóc sức khỏe cũng gắn liền với các quyền con người khác như: quyền sống, quyền có lương thực, thực phẩm, quyền về nhà ở, việc làm, giáo dục, quyền được bảo vệ đời tư, tiếp cận thông tin, bình đẳng, không phân biệt đối xử...

Các quốc gia đều có nghĩa vụ bảo đảm người dân phải được chăm sóc sức khỏe trong những điều kiện cơ bản của quốc gia đó. Nghĩa vụ quốc gia trong việc bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe đã được cộng đồng quốc tế khẳng định trong một số văn bản pháp lý quan trọng. Điều 12 ICESCR (Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa) quy định: mọi người dân có quyền được thụ hưởng những cơ sở vật chất, hàng hóa, dịch vụ và điều kiện cần thiết để đạt được tiêu chuẩn sức khỏe cao nhất có thể.

Tại Việt Nam, quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của người dân được ghi nhận trong các Công ước quốc tế mà Chính phủ ký kết và tham gia; đồng thời, được ghi nhận trong Hiến pháp và nhiều đạo luật như: Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989, Luật Khám chữa bệnh năm 2009, Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi bổ sung năm 2014, Luật Dược năm 2016... Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để bảo đảm việc thực hiện quyền chăm sóc sức khỏe của toàn dân. Thực tế, với một hệ thống các văn bản pháp luật hỗ trợ, quyền được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam đã được thực hiện thông qua nhiều cách tiếp cận khác nhau.

Cụ thể như: đầu tư nguồn lực cho y tế gồm nhân lực (đội ngũ bác sĩ, cán bộ y tế) và vật lực (trang thiết bị y tế, các bệnh viện, trạm y tế...) luôn được Chính phủ quan tâm; dịch vụ công về y tế cũng có nhiều cải tiến, phần lớn người dân cảm thấy hài lòng; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế hơn 90% số dân; trẻ em dưới 6 tuổi không phải đóng các khoản phí tham gia bảo hiểm y tế và được làm thẻ bảo hiểm y tế miễn phí... Những chính sách của Đảng và Nhà nước cho thấy, quyền và lợi ích của người dân luôn được ưu tiên, người dân được bình đẳng, tạo điều kiện thuận lợi để tiếp cận các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe.

Đặc biệt, trong hơn hai năm xảy ra đại dịch COVID-19, quyền được chăm sóc về sức khỏe của người dân càng được thể hiện rõ nét. Ngay từ khi có thông tin chính thức về đại dịch toàn cầu này, mọi quyết sách và các biện pháp y tế của Việt Nam đều nhất quán theo quan điểm tính mạng người dân là quan trọng, cả hệ thống chính trị phải ưu tiên bảo vệ tính mạng và sức khỏe của người dân. Mọi người dân đều được tiếp cận với các thông tin cũng như cơ sở, dịch vụ y tế, được tiêm vaccine miễn phí theo đúng lộ trình và được điều trị miễn phí.

Đây là một nỗ lực rất đáng ghi nhận của Việt Nam trong bối cảnh bệnh nhân mắc COVID-19 ở nhiều quốc gia trên thế giới phải tự chi trả mọi chi phí. Trước làn sóng biến thể phụ BA.4, BA.5 của Omicron trên thế giới và bắt đầu xâm nhập vào Việt Nam, hệ thống y tế từ trung ương đến địa phương đang tích cực triển khai tiêm vaccine COVID-19, liều nhắc lại lần 2 (mũi 4) từ tháng 6/2022 để bảo đảm an toàn sức khỏe cho cả cộng đồng.

Những ứng phó với đại dịch COVID-19 của Chính phủ Việt Nam nhân văn, ưu việt, hoàn toàn phù hợp nghĩa vụ thực hiện quyền được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của người dân trong tình huống khẩn cấp y tế dựa theo yêu cầu cơ bản của quyền này dựa trên các yếu tố: tính sẵn có của cơ sở, hàng hóa, dịch vụ y tế; khả năng tiếp cận với cơ sở, hàng hóa, dịch vụ, thông tin y tế với chi phí hợp lý và không có sự phân biệt đối xử với bất kỳ nhóm đối tượng nào; phù hợp về mặt y học và với điều kiện đặc thù về kinh tế, xã hội, văn hóa của từng quốc gia và bảo đảm nền y tế có chất lượng.

Nỗ lực nâng cao sức khỏe người dân không chỉ được thể hiện ở các con số mà còn thể hiện ở niềm tin của người dân vào Đảng, vào chính quyền, vào hệ thống y tế; cũng như sẵn sàng sát cánh cùng hệ thống chính trị trong các hoạt động chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Đảng và Nhà nước ta luôn thấu hiểu rằng, bên cạnh việc giữ vững, phát huy những thành tựu đã đạt được còn rất nhiều việc phải làm để bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân được thực hiện toàn diện, triệt để hơn. Chẳng hạn như cần nhanh chóng tìm giải pháp tháo gỡ những khó khăn, bất cập trong thể chế, chính sách, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thực hiện quyền được chăm sóc sức khỏe và các quyền liên quan. Ngoài ra cần chú trọng nâng cao nhận thức của người dân về quyền được chăm sóc sức khỏe, từ đó, có những đề xuất, kiến nghị phù hợp khả năng đáp ứng về y tế.

Đối với ngành y tế, cần thiết phải đưa ra nhiều giải pháp đồng bộ, tiến tới nâng cao năng lực khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho người dân. Đặc biệt là các giải pháp về phát triển y tế cơ sở và y tế dự phòng; nâng cao chất lượng đội ngũ y, bác sĩ, nhân viên y tế; ứng dụng khoa học y học, phát triển các ngành khoa học phục vụ bảo vệ, chăm sóc sức khỏe con người; đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ thông tin, công nghệ số trong khám, chữa bệnh; xây dựng một số trung tâm y tế chuyên sâu, các cơ sở khám, chữa bệnh tầm cỡ khu vực và quốc tế; phát triển mô hình bác sĩ gia đình...

Dư luận tiến bộ trên thế giới đánh giá cao những thành tựu của Việt Nam trong các nỗ lực về bảo đảm nhân quyền, trong đó có quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân. Tuy nhiên, vì những mục đích cá nhân đen tối, một số đối tượng cực đoan, phản động thiếu thiện chí vẫn không ngừng ra sức xuyên tạc, phủ nhận những thành quả về nhân quyền, chống phá Đảng, Nhà nước bằng nhiều thủ đoạn khác nhau.

Vụ án nâng giá kit xét nghiệm COVID-19 xảy ra tại Công ty cổ phần công nghệ Việt Á gần đây là một vụ án nghiêm trọng và có liên quan đến nhiều cán bộ y tế. Lợi dụng sự việc này, trên các trang mạng xã hội, thế lực thù địch, phản động không ngừng tuyên truyền các luận điệu sai trái nhằm bôi nhọ, hạ uy tín của Đảng, Nhà nước, cho rằng đứng sau đó có “nhóm lợi ích”, là “đấu đá nội bộ” và đưa ra những suy diễn vô căn cứ về “trùm cuối” khiến dư luận hết sức bức xúc. Cần khẳng định đây là vụ việc rất đau xót, nhưng cũng cho thấy Đảng và Nhà nước ta không khoan nhượng với cái xấu, cái tiêu cực.

Các cơ quan chức năng đã vào cuộc nhanh chóng, quyết liệt, với tinh thần không có “vùng cấm”. Chỉ trong vài tháng qua, đã có hàng chục cán bộ trong ngành y tế bị khởi tố liên quan vụ án này, trong đó, có cả những cán bộ cấp cao. Việc xử lý các cá nhân sai phạm liên quan đến vụ án Việt Á cho thấy sự quyết tâm của Đảng và Nhà nước với các hành vi sai phạm liên quan đến tham nhũng, đồng thời tiếp tục khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước là bảo đảm tốt nhất quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân. Bởi y tế là lĩnh vực liên quan trực tiếp, mật thiết đến sức khỏe, tính mạng người dân; đội ngũ những người làm y tế phải thật sự trong sạch, liêm chính thì người dân mới được chăm sóc, điều trị trong điều kiện tốt nhất. Các trang thiết bị y tế là để phục vụ việc khám, điều trị bệnh cho nên cần được bảo đảm cao nhất về chất lượng, hiệu quả.

Sự việc nêu trên khiến nhiều người nhớ lại thời điểm chống dịch COVID-19 căng thẳng, những đối tượng phản động không ngừng xuyên tạc các chính sách y tế nhằm bảo đảm quyền sống, quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân mà Chính phủ áp dụng để đẩy lùi dịch COVID-19. Chúng đưa ra luận điệu cho rằng Việt Nam vi phạm các quyền tự do đi lại, quyền tự do hội họp, các quyền riêng tư khác khi yêu cầu cách ly, cung cấp thông tin cá nhân, giãn cách xã hội...

Chúng cố tình bỏ qua các quy định pháp luật rất rõ ràng về thực hiện quyền con người trong những điều kiện y tế khẩn cấp. Cụ thể, khoản 2 Điều 14 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng”. Theo đó, việc bảo đảm quyền con người còn đòi hỏi mỗi cá nhân phải tôn trọng quyền của người khác, đồng thời, bảo đảm quyền con người cũng phải gắn liền với việc thực hiện trách nhiệm của công dân với đất nước và trách nhiệm của con người với cộng đồng xã hội.

Những năm qua, Việt Nam luôn cho thấy sự tôn trọng, bảo vệ, và thúc đẩy quyền con người trong những tình huống khẩn cấp cũng như trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng. Sự lựa chọn ưu tiên thực hiện “quyền được chăm sóc sức khỏe” của Đảng, Nhà nước là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp điều kiện và bối cảnh thực tế, thực hiện mục tiêu bảo đảm tốt nhất an toàn tính mạng và sức khỏe của mọi người dân./.

Minh Anh (nhandan.vn)

Chiêu trò đòi "tự trị dân tộc" - sự mơ mộng hão huyền

     


Qua theo dõi có thể thấy, thời gian gần đây, các thế lực thù địch đã dùng nhiều thủ đoạn, phương thức để tiến hành hoạt động ly khai, đòi tự trị dân tộc chống phá nước ta. Trong đó, chúng tập trung vào một số phương thức, thủ đoạn sau:

Một là, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các vấn đề về nguồn gốc lịch sử tộc người, đất đai, lợi dụng những hạn chế, thiếu sót trong việc thực hiện chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước, việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo phức tạp, giải quyết các “điểm nóng” tại địa phương; những tác động của mặt trái kinh tế thị trường... để tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta, tìm cách bôi đen cán bộ lãnh đạo để kích động tư tưởng ly khai, dân tộc hẹp hòi, tâm lý mặc cảm, kỳ thị dân tộc và cho rằng, chỉ có thành lập “nhà nước mới, quốc gia mới riêng thì mới giàu có, văn minh, phát triển” để lôi kéo, vận động đồng bào DTTS chống lại chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước; tham gia biểu tình, bạo loạn, phá hoại an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương.  

Hai là, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng chiêu bài “tôn giáo hóa dân tộc”, thông qua tôn giáo thâm nhập, gây ảnh hưởng, tập hợp lực lượng là người DTTS, tiến tới hình thành tổ chức phản động trên địa bàn. Chúng lợi dụng các tôn giáo ở vùng DTTS hoặc lập ra một số hình thức "tôn giáo riêng" cho người DTTS như: "Tin lành Đề ga" ở Tây Nguyên để hình thành “Nhà nước Đề ga độc lập”; lợi dụng "Tin lành của người Mông" để thành lập “Nhà nước Mông” ở Tây Bắc; lợi dụng "Phật giáo Nam Tông Khmer" để thành lập “Vương quốc Chăm Pa” ở vùng DTTS Nam Trung Bộ, “Nhà nước Khmer Kampuchea Krom” ở Tây Nam Bộ... Chúng tập trung móc nối, lôi kéo người có uy tín trong đồng bào DTTS, học sinh, sinh viên, thanh niên DTTS, đối tượng cầm đầu, cốt cán các “tà đạo, đạo lạ”, “hiện tượng tôn giáo mới” trong vùng DTTS...

Thế lực thù địch đặc biệt triệt để lợi dụng chiêu bài “đấu tranh đòi quyền lợi cho người DTTS, đòi ly khai, tự trị” để thu hút, lôi kéo người tham gia tổ chức phản động. Ở bên ngoài, các thế lực thù địch xây dựng, phát triển lực lượng chống đối; nuôi dưỡng, hậu thuẫn, tổ chức các lớp đào tạo, huấn luyện kỹ năng hoạt động và chỉ đạo số này móc nối, tác động, xâm nhập về nước hoạt động xâm phạm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

Ba là, núp dưới chiêu bài hoạt động “nhân đạo”, “từ thiện” của các tổ chức phi chính phủ để lôi kéo, kích động người DTTS, người dân ở vùng sâu, vùng xa chống phá Nhà nước ta. Đây là một thủ đoạn mới hết sức tinh vi mà các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng để tác động, mua chuộc đồng bào DTTS; dùng thần quyền, giáo lý để nắm và khống chế người DTTS, chi phối các địa bàn; qua đó hòng kích động, lôi kéo người DTTS tham gia hoạt động đòi ly khai, tự trị, thành lập “nhà nước riêng”; gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Đặc biệt, thông qua hoạt động “nhân đạo”, “từ thiện”, kẻ địch còn tìm cách thâm nhập vào các địa bàn chiến lược, nhất là các địa bàn vùng sâu, vùng xa để thu thập tình hình, cung cấp cho các tổ chức phản động lưu vong bên ngoài báo cáo xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. 

Bốn là, chúng tìm cách đánh tráo và đồng nhất khái niệm “quyền dân tộc tự quyết” là quyền của quốc gia-dân tộc với quyền của các DTTS để tuyên truyền, xuyên tạc nhằm làm cho một số đồng bào các dân tộc ngộ nhận rằng, “quyền dân tộc tự quyết” là quyền của riêng các DTTS, từ đó, chúng tìm cách kích động, lôi kéo đồng bào dân tộc đòi thành lập nhà nước riêng, phá hoại khối đại đoàn kết của dân tộc như: “Nhà nước Tin lành Đề ga” ở Tây Nguyên, “Vương quốc Chăm Pa” ở Tây Nam Bộ, “Vương quốc Mông” ở Tây Bắc... Lợi dụng “quyền dân tộc tự quyết” làm điều kiện trong quan hệ ngoại giao với nước ta; gắn vấn đề viện trợ, hợp tác kinh tế với việc đòi Nhà nước Việt Nam trao “quyền tự quyết, tự quản” cho các DTTS ở trong nước, qua đó hòng tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ nước ta.

Năm là, tìm mọi cách để tác động quốc hội các nước phương Tây, các tổ chức quốc tế thông qua các dự luật, nghị quyết, báo cáo... hoặc tổ chức nhiều cuộc điều trần, hội thảo, họp báo nhằm xuyên tạc, bóp méo tình hình dân chủ, nhân quyền ở các vùng DTTS trong nước. Thông qua đó, họ tìm cách vận động các nước, các chính khách, người Việt ở nước ngoài tài trợ vật chất, tiền, phương tiện để tiến hành các hoạt động đòi ly khai, tự trị dân tộc đối với nước ta. Họ còn tăng cường “quốc tế hóa” vấn đề “quyền dân tộc tự quyết” để tạo sức ép từ bên ngoài, đồng thời kích động các hoạt động chống đối Nhà nước ta từ bên trong. Bên ngoài, các tổ chức phản động lưu vong như: "Hội người Mông thế giới", "Hội những người miền núi", "Nhà nước Đề ga độc lập"... tăng cường tổ chức biểu tình ủng hộ các đối tượng trong nước hoạt động tích cực, quyết liệt hơn. 

Thời gian qua, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những khó khăn trong cuộc sống của đồng bào DTTS để tổ chức truyền đạo trái pháp luật, đội lốt tôn giáo hoạt động chính trị, móc nối xây dựng cơ sở. Đi liền với việc truyền bá các tà đạo, phát triển cái gọi là “hiện tượng tôn giáo mới”; chúng khuyến khích đồng bào các DTTS duy trì tập tục lạc hậu, thiếu khoa học, cổ vũ cho lối sống thực dụng trong thanh niên, thiếu niên, từng bước làm băng hoại đạo đức, bản sắc văn hóa dân tộc. Họ cũng tận dụng thế mạnh các phương tiện thông tin đại chúng trong đó tập trung sử dụng internet, đài phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc; in ấn tài liệu, văn hóa phẩm, đặc biệt là sử dụng phương pháp tuyên truyền miệng, rỉ tai để kích động hoạt động ly khai, đòi tự trị dân tộc đối với đồng bào các DTTS ở trong nước.  

Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào DTTS ở nước ta không ngừng được cải thiện, nâng lên, các quyền cơ bản của đồng bào DTTS ngày càng được bảo đảm. Tuy nhiên, việc giải quyết vấn đề dân tộc trong thời gian qua còn có những hạn chế nhất định. Đó là đời sống văn hóa-xã hội của đồng bào DTTS tuy đã có những tiến bộ đáng kể, song mức hưởng thụ văn hóa tinh thần của người dân còn thấp, vẫn còn một bộ phận đồng bào DTTS có cuộc sống khó khăn. Hệ thống chính trị cơ sở ở một số vùng DTTS còn yếu; công tác quản lý xã hội còn có sơ hở, chưa sát dân, chưa nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng của đồng bào, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới. Công tác nắm tình hình có lúc, có nơi còn yếu, chưa phát hiện kịp thời các vụ việc phức tạp xảy ra, dẫn đến việc giải quyết còn lúng túng, thụ động; chính quyền ở một số địa phương còn sơ hở, thiếu sót trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhất là các chính sách về dân tộc, tôn giáo để các đối tượng và các thế lực bên ngoài lợi dụng tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá ta.

Từ thực tế trên, trong thời gian tới, các thế lực thù địch vẫn tiếp tục đẩy mạnh hoạt động ly khai, đòi tự trị dân tộc hòng “diễn biến hòa bình” đối với nước ta. Do vậy, công tác phòng ngừa, đấu tranh cần có sự tham gia của cả hệ thống chính trị trong việc triển khai thực hiện đồng bộ nhiều nhóm giải pháp trên nhiều lĩnh vực xã hội, trong đó, cần tập trung vào một số giải pháp trọng tâm sau đây: 

Một là, tiếp tục tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về âm mưu, thủ đoạn hoạt động ly khai, đòi tự trị dân tộc của các thế lực thù địch để chống phá Đảng, Nhà nước ta; nâng cao ý thức tự giác của nhân dân trong việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo; tích cực tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động này. Tiếp tục phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối, toàn diện của Đảng trong công tác đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động lợi dụng vấn đề này để chống phá nước ta.  

Hai là, tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, thường xuyên chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; không ngừng nâng cao trình độ dân trí, văn hóa, xã hội cho đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa. Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói giảm nghèo nhằm góp phần bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của đồng bào các DTTS, vùng sâu, vùng xa trên cơ sở pháp luật. Thường xuyên chăm lo xây dựng, củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị ở cơ sở; quan tâm xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân thực sự vững chắc, trong đó, tập trung xây dựng các khu vực phòng thủ “cơ bản, toàn diện, liên hoàn, vững chắc”; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trên địa bàn vững mạnh, thực sự là nòng cốt trong giữ vững an ninh trật tự tại địa phương.   

Ba là, không ngừng xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng khối liên minh công-nông-trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, hiệu lực hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong mở rộng, đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân; là “cầu nối” giữa Đảng với nhân dân, làm cho mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước với đồng bào các DTTS ngày càng gắn bó khăng khít. Tiếp tục phát huy và thực hiện đồng bộ, triệt để, hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở trong vùng đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa. Đề cao tinh thần dân tộc và tôn trọng những điểm khác biệt của các DTTS không trái với lợi ích chung của đất nước; kiên quyết chống tư tưởng kì thị, chia rẽ dân tộc, tôn giáo, dân tộc hẹp hòi, cực đoan hoặc mặc cảm dân tộc, tôn giáo.

Bốn là, chủ động nắm chắc tình hình từ sớm, từ xa; ngay từ trung tâm của các tổ chức phản động lưu vong; tập trung đánh giá, dự báo sát tình hình biến động của cục diện thế giới, khu vực; sự điều chỉnh chiến lược, chính sách các nước lớn... để kịp thời phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động đòi ly khai, tự trị dân tộc của các thế lực thù địch chống phá nước ta. Giải quyết triệt để, kịp thời các “điểm nóng”, các mâu thuẫn, khiếu kiện trong đồng bào DTTS ngay từ cơ sở, không để kéo dài, không lây lan, vượt cấp. Thường xuyên chăm lo bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn gắn với chế độ đãi ngộ hợp lý cho đội ngũ cán bộ chuyên trách về công tác dân tộc, tôn giáo ở địa phương.  

Năm là, tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền chính sách, thành tựu đã đạt được trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, trong đó có các quyền của đồng bào DTTS. Kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền đối nội và tuyên truyền đối ngoại; tận dụng thế mạnh của các kênh ngoại giao, đối thoại, hợp tác làm cho cộng đồng quốc tế, kiều bào ta ở nước ngoài hiểu đúng quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thành tựu đã đạt được trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, bảo đảm quyền của đồng bào DTTS ở nước ta. Qua đó, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các quốc gia, các chính khách quốc tế và cộng đồng người Việt ở nước ngoài đối với nước ta./.

Theo qdnd.vn 

VẬN HÀNH ĐƯỜNG DÂY 220 KV VƯỢT BIỂN DÀI NHẤT ĐÔNG NAM Á!

     Công trình đường dây 220 kV Kiên Bình - Phú Quốc dài 80,4 km với 117 trụ tháp vượt biển, tổng đầu tư hơn 2.200 tỷ đồng được đóng điện, vận hành ngày 14/10.
     Đây là công trình đường dây vượt biển trên không cấp điện áp 220 kV dài nhất khu vực Đông Nam Á, được triển khai lần đầu tại Việt Nam, do Tổng Công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) tiến hành hơn ba năm trước.
     Móng trụ điện trên biển được thiết kế với hệ cọc bêtông ly tâm dự ứng lực, đúc sẵn chống nhiễm mặn, liên kết với hệ đài móng rộng 400 m2. Mỗi cột cao 55-87m, khoảng cách giữa các cột trung bình 560 m. Đường dây đảm bảo tĩnh không hàng hải và có hệ thống cảnh báo an toàn hàng không theo quy định.
     Ông Nguyễn Phước Đức, Tổng giám đốc EVNSPC, cho biết việc đóng điện, vận hành cấp điện áp 110 kV sẽ giúp cải thiện chất lượng cấp điện cho TP Phú Quốc, giảm tổn thất điện, đồng thời san tải cho đường dây cáp ngầm 110 kV đang vận hành ở mức rất cao. "Năng lực cung cấp điện cho đảo Phú Quốc tăng khoảng 6 lần và có thể đáp ứng nhu cầu điện trên đảo đến năm 2035", ông nói.
     Đồng bộ với công trình Đường dây 220 kV Kiên Bình - Phú Quốc giai đoạn 1, còn có công trình Trạm biến áp 110 kV Nam Phú Quốc.
     Ông Huỳnh Quang Hưng, Chủ tịch UBND TP Phú Quốc cho biết công trình có ý nghĩa to lớn, không chỉ cung cấp điện cho nhân dân sử dụng mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội cho thành phố.
     Cách đây 8 năm, lần đầu tiên nguồn điện lưới Quốc gia được đưa ra Phú Quốc bằng đường cáp ngầm xuyên biển 110 kV Hà Tiên - Phú Quốc dài nhất Đông Nam Á, thay thế hoàn toàn nguồn điện diesel tại chỗ. Từ đó đến nay, nhu cầu phụ tải sử dụng điện trên đảo liên tục tăng nhanh với mức tăng trưởng bình quân trên 35% mỗi năm./.
Yêu nước ST.

Chiêu trò lợi dụng danh nghĩa “người dân” để chống phá

      

Để tiến hành các hoạt động phá hoại, chống Đảng và Nhà nước mà vẫn có thể lừa bịp được quần chúng nhân dân, các thế lực thù địch, phản động, chống phá đã lợi dụng cái mác “nhân danh nhân dân”, “đại diện cho người dân” để ngụy trang cho hoạt động của chúng.
 

 

Các đối tượng đóng vai “những người đại diện cho nhân dân”, “đòi quyền lợi cho nhân dân” nhằm “đánh bùn sang ao”, đánh đồng hiện tượng của một hoặc một nhóm người với toàn thể nhân dân. Qua đó, các đối tượng tô vẽ, thổi phồng để lừa bịp, dụ dỗ người dân vào các chiêu trò xuyên tạc, tuyên truyền, kích động phá rối an ninh, trật tự, chống phá chính quyền nhân dân.

Từ vấn đề, sự kiện thu hút người dân trong xã hội, các đối tượng tạo ra sự đối lập, đẩy mâu thuẫn lên cao, châm ngòi cho các hoạt động chống đối chính quyền, cùng với việc xuyên tạc hình ảnh người dân thống khổ, các đối tượng chống phá còn thêu dệt nên hình ảnh của đảng độc tài, xã hội mất dân chủ, chính quyền yếu kém, quan tham,…
 

Đặc biệt, lợi dụng việc một số cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, đưa ra xét xử do liên quan đến những vụ án tham nhũng, tiêu cực, các đối tượng chống phá suy diễn, quy chụp, cho đó là tình trạng phổ biến, hệ quả của chế độ xã hội chủ nghĩa, là “căn bệnh” do cơ chế độc đảng lãnh đạo,… gây hoài nghi và làm giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.
 

Bên cạnh đó, lợi dụng một số người dân có khiếu kiện với chính quyền để tạo ra “dân oan”. Không cần biết việc khiếu kiện đúng hay sai, một mặt, các thế lực thù địch tiếp cận, kích động để người dân thấy oan ức, tiếp tục các hoạt động khiếu kiện đông người, gây mất an ninh, trật tự xã hội,… Thậm chí, xuất hiện một số học sinh, sinh viên có hạn chế về nhận thức chính trị bị các đối tượng xấu lôi kéo, dụ dỗ tham gia bình luận, viết bài, quay video clip cổ súy quan điểm “dân chủ tư sản”, nói xấu chế độ, vu cáo, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước rồi tán phát trên các trang mạng xã hội và được trang “lề trái” nước ngoài khai thác triệt để, tạo hình ảnh về một lực lượng quần chúng bất bình với chế độ ở trong nước.
 

Cho dù các đối tượng “khoác tấm áo người dân” với bất kỳ cái tên gì thì bản chất giả nhân, giả nghĩa của các thế lực chống đối đã dần bị bộc lộ. Mọi ngôn từ mĩ miều “thương cho dân”, đồng cảm với “nỗi khổ” của người dân cuối cùng đều dẫn đến mục đích chính trị của chúng là chống phá Đảng, Nhà nước. Bản chất xấu xa của những kẻ “đại diện cho người dân” đã bộc lộ hoàn toàn khi đưa ra những lời hô hào, xúi giục, kích động nhân dân “đoàn kết”, đấu tranh đòi “cái bánh vẽ” tự do, dân chủ, nhân quyền,... để phá hoại sự bình yên của cuộc sống, chống phá công cuộc xây dựng và phát triển của đất nước ta.
Nguồn: HSV

Vạch trần luận điệu lừa bịp “Quân đội phải trung lập về chính trị”

      

LUẬN ĐIỆU CŨ RÍCH

“Quân đội phải trung lập về chính trị” là luận điểm đã có từ lâu, mà các đảng chính trị đối lập ở những nước đi theo chế độ đa đảng thường sử dụng để hạn chế quân đội “can dự” vào những tranh giành chính trị của các đảng phái. Ngay từ năm 1905, V.I.Lênin đã chỉ rõ: “... những câu nói của bọn tôi tớ của nền chuyên chế về tính trung lập của quân đội, về sự cần thiết phải giữ cho quân đội đứng ngoài chính trị v.v. là giả dối, rằng những lời nói đó không thể mong được binh lính đồng tình một chút nào”
(1).
 
Trong những thập niên cuối của thế kỷ XX, khi thấy rằng phương thức chống phá chủ nghĩa xã hội bằng biện pháp gây chiến tranh xâm lược không hiệu quả, chủ nghĩa đế quốc đã đẩy mạnh chống phá bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”. Một trong các thủ đoạn mà họ sử dụng là đưa khẩu hiệu “quân đội phải duy trì tính trung lập về chính trị” vào các nước xã hội chủ nghĩa, nơi chỉ có một đảng (Đảng Cộng sản) lãnh đạo, nhằm thực hiện “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang cách mạng, mà thực chất là nhằm tách quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, vô hiệu hóa vai trò của quân đội là công cụ bạo lực của Đảng, của Nhà nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Thủ đoạn này đã được họ áp dụng thành công ở Liên Xô trước đây; khi những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội Liên Xô tự rời bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, mắc những sai lầm rất nghiêm trọng, như: tự xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội, làm cho Quân đội Liên Xô bị “phi chính trị hóa” và bị vô hiệu hóa. 
 
Đối với nước ta, từ nhận định rằng, hiện nay Đảng Cộng sản Việt Nam còn nắm chắc quân đội, chưa thể xóa bỏ được vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, chưa thể xóa bỏ được chế độ xã hội chủ nghĩa, nên các thế lực thù địch với cách mạng nước ta ráo riết thực hiện chiêu bài “quân đội phải duy trì tính trung lập về chính trị”. Họ hy vọng rằng, một khi quân đội đã bị mê hoặc bởi khẩu hiệu đó, đội ngũ cán bộ quân đội đã dao động, mất phương hướng chính trị, họ sẽ ra tay lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam và thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam theo đúng kịch bản “không đánh mà thắng”(!). 

Năm 2013, lợi dụng việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức xin ý kiến nhân dân vào bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, các thế lực chống phá con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội xem đây là thời cơ để công khai đòi “phi chính trị hóa” quân đội. Họ đưa ra nhiều luận điểm, như: “quân đội phải duy trì tính trung lập về chính trị”, “quân đội phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không cần trung thành với bất kỳ tổ chức nào”, mà áp dụng cụ thể vào Việt Nam là “không phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam”, v.v.. Đáng tiếc là, không ít người đã vào hùa với chúng, mà không tỉnh táo tự vấn mình rằng: tại sao những đề xuất về “quân đội phải trung lập về chính trị” lại được VOA, BBC, RFA, RFI... cùng những kẻ phản bội Tổ quốc, những người có thâm thù với cách mạng ở hải ngoại tung hô, cổ vũ nhiệt thành đến vậy (?). Khi bị chỉ trích những đề xuất đó là biểu hiện của sự “suy thoái về tư tưởng chính trị”, những người cổ xúy cho tư tưởng này vội “lấp liếm” rằng: “chúng tôi chỉ yêu cầu quân đội trung lập về chính trị, chứ đâu có đòi phi chính trị hóa quân đội”(?). 

Sự ngụy biện đó không đánh lừa được công luận; bởi xét về bản chất, yêu cầu “quân đội phải trung lập về chính trị” chỉ là một phiên bản của quan điểm đòi “phi chính trị hóa quân đội”. Nói đến “trung lập về chính trị”, nghĩa là “đứng giữa các lực lượng chính trị”, “đứng ngoài chính trị”, “không can dự vào chính trị”...; trong khi đó, Quân đội nhân dân Việt Nam đang được xây dựng theo phương hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở, nền tảng để xây dựng vững mạnh toàn diện. Hơn nữa, bản thân Quân đội nhân dân Việt Nam đang là lực lượng chính trị, đặt dưới sự lãnh đạo “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” của Đảng Cộng sản Việt Nam, tức là đang “không đứng ngoài chính trị”; thì đòi hỏi “quân đội phải trung lập về chính trị” thực chất là đòi “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam.
 
Để thực hiện mưu đồ đòi “quân đội phải trung lập về chính trị”, các thế lực thù địch sử dụng mọi biện pháp, cả về lý luận, tư tưởng lẫn hành động thực tiễn.
 
Trên lĩnh vực lý luận, tư tưởng, họ thường lập luận rằng: quân đội là của nhà nước, nên chỉ phục tùng nhà nước, chứ không phục tùng và chịu sự lãnh đạo của bất cứ chính đảng nào; hoặc: hoạt động của quân đội chỉ để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và phục vụ nhân dân, nên chỉ phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào, v.v. Nghe thoáng qua, không ít người ngộ nhận sự có lý của lập luận này, mà không hiểu rằng: đây là thủ đoạn lừa bịp, nhằm chuyển lập trường chính trị của quân đội cách mạng sang lập trường của bọn cơ hội chính trị, của giai cấp tư sản. 
 
Trong hành động thực tiễn, những người cổ xúy cho tư tưởng “quân đội phải trung lập về chính trị” yêu cầu một khi có biến động chính trị, thì quân đội hãy án binh, bất động, không đứng về phe nào. Đối với những nước đi theo chế độ xã hội chủ nghĩa, chỉ có một Đảng Cộng sản lãnh đạo như nước ta, họ đòi xóa bỏ nguyên tắc “Đảng Cộng sản lãnh đạo quân đội”; hạ thấp, đi đến đòi xóa bỏ hoạt động công tác đảng, công tác chính trị cùng hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị  (nhất là chế độ chính ủy, chính trị viên) trong quân đội - một trong những yếu tố riêng có của quân đội các nước xã hội chủ nghĩa, nhằm đảm bảo cho Đảng Cộng sản giữ vững sự lãnh đạo đối với quân đội. Họ xuyên tạc các sự kiện chính trị trong lịch sử có quân đội tham gia; thổi phồng khuyết điểm của một vài đơn vị quân đội và một bộ phận quân nhân trong quá trình làm nhiệm vụ; bôi nhọ đời tư của các tướng lĩnh, anh hùng lực lượng vũ trang... hòng qua đây, làm cho quân đội mất uy tín trong nhân dân, hạ thấp vị thế của quân đội trong xã hội..., từ đó mà vô hiệu hóa vai trò của quân đội trong cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng.
 
Đối với Việt Nam, để thực hiện mục tiêu nhất quán là xóa bỏ thành quả cách mạng và lái con đường phát triển của đất nước sang quỹ đạo tư bản chủ nghĩa, trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch đẩy mạnh các chiến dịch vận động đòi thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập và lôgic tất yếu của tiến trình đó, nếu được thực hiện, sẽ là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Họ công khai đòi bỏ quy định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; bỏ quy định “lực lượng vũ trang nhân dân phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam” đã được ghi trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Lợi dụng tình cảm của nhân dân ta với Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, họ cố tình lờ đi hoàn cảnh lịch sử của sự kiện ngày 26/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng Trường Võ bị Lục quân Trần Quốc Tuấn (nay là Trường Sĩ quan Lục quân 1) lá cờ “Trung với nước, hiếu với dân”, để xuyên tạc tư tưởng nhất quán của Người về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, bằng lý lẽ: “Cụ Hồ không yêu cầu quân đội phải trung thành với Đảng” (!). Đáng tiếc rằng, một bộ phận nhân dân, kể cả một số cán bộ, đảng viên ta đã dao động trước những lý lẽ này.

KHÔNG CÓ QUÂN ĐỘI CỦA QUỐC GIA NÀO “TRUNG LẬP VỀ CHÍNH TRỊ” HAY “ĐỨNG NGOÀI CHÍNH TRỊ”

Cần khẳng định ngay rằng, mục tiêu hướng tới của những thủ đoạn nói trên là thúc đẩy sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Quân đội, làm cho Quân đội nhân dân Việt Nam xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng và sự lãnh đạo của Đảng; biến chất về chính trị, tiến tới vô hiệu hóa vai trò của Quân đội là chỗ dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những thủ đoạn đó thật tinh vi và thâm hiểm, nhưng sai cả về lý luận và thực tiễn.
 
Từ góc độ lý luận, trước hết, cần bắt đầu từ luận điểm “Chiến tranh là sự kế tục của chính trị”, mà quân đội xuất hiện để đáp ứng nhu cầu của chiến tranh (tiến công hoặc phòng ngự). Đây là luận điểm được Clau-dơ-vit (1780-1831) - nhà lý luận quân sự tư sản nổi tiếng của nước Phổ đã khái quát. Luận điểm này được thừa nhận rộng rãi trong cả khoa học quân sự tư sản lẫn khoa học quân sự vô sản, nên không thể bác bỏ. Chính V.I.Lênin cũng đánh giá cao luận điểm này. Một khi đã thừa nhận “chiến tranh là sự kế tục của chính trị”, thì tất yếu phải thừa nhận: không bao giờ và không ở đâu có thứ quân đội “trung lập về chính trị”, hoặc “không dính đến chính trị”, bởi bất cứ cuộc chiến tranh nào cũng có mục tiêu chính trị, phản ảnh lập trường chính trị của các bên tham chiến; và quân đội của các bên tham chiến đều được lực lượng chính trị cầm quyền tổ chức, giáo dục để thực hiện mục tiêu chính trị đó của cuộc chiến tranh.

Thứ hai, quân đội bao giờ cũng mang bản chất giai cấp của nhà nước đã tổ chức và nuôi dưỡng nó; bởi quân đội là một thành phần của nhà nước, là công cụ bạo lực vũ trang của nhà nước để bảo vệ thành quả mà lực lượng chính trị cầm quyền có được qua các cuộc đấu tranh giành quyền lực. 

Lịch sử xuất hiện quân đội gắn liền với sự ra đời của nhà nước; mà nhà nước là sản phẩm tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp, nên bất cứ nhà nước nào cũng có tính chất giai cấp. Ngày nay, ở các nước theo thể chế chính trị tư bản, với chế độ đa đảng, mặc dù có hiện tượng các đảng phái thay nhau cầm quyền, nhưng thực chất họ vẫn duy trì sự nhất nguyên về chính trị. Đó là thứ chính trị của giai cấp tư sản, bởi đảng chính trị nào cầm quyền cũng chỉ là sự đại diện cho các nhóm và tầng lớp khác nhau của giai cấp tư sản; nên chính phủ do các đảng chính trị cầm quyền chi phối vẫn đều phục tùng quyền lợi và bảo vệ lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản là chủ yếu, mặc dù vẫn phải thực thi chức năng công quyền - một trong hai chức năng cơ bản (chức năng giai cấp và chức năng công quyền) của bất cứ nhà nước nào. Theo đó, với tư cách là các cơ quan chức năng của nhà nước, quân đội được lập ra để bảo vệ thể chế chính trị của giai cấp cầm quyền, không thể không mang bản chất giai cấp của nhà nước đã tổ chức, quản lý và nuôi dưỡng nó. Những người cổ súy cho quan điểm “quân đội phải trung lập về chính trị” đã không hiểu, hay cố tình không hiểu rằng: nói đến “chính trị” của một tổ chức, một lực lượng, là nói đến tính giai cấp mà tổ chức, lực lượng đó quán triệt và thực hiện trong thực tiễn xây dựng về mặt tư tưởng, tổ chức và thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. 

Với tư cách là một bộ phận của nhà nước, quân đội của bất cứ xã hội nào cũng đều phụ thuộc vào đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền; đồng thời, các lực lượng chính trị cầm quyền bao giờ cũng tìm mọi cách để nắm chắc quân đội thông qua nhiều biện pháp về chính trị, tư tưởng, tổ chức và chính sách. Do vậy, ngay từ khi xuất hiện, quân đội đã “thấm đẫm” thứ chính trị của nhà nước và giai cấp nắm giữ quyền lực trong xã hội; không có và không thể có thứ quân đội “trung lập về chính trị”, hay “đứng ngoài chính trị” như giai cấp tư sản thường tuyên truyền, nhằm che giấu bản chất giai cấp của quân đội các nước tư bản. 

Phê phán sự che giấu bản chất giai cấp của quân đội tư sản. V.I.Lênin đã thẳng thừng vạch rõ: “Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản và của chế độ Nga hoàng, bọn này trong thực tế bao giờ cũng đã lôi kéo quân đội vào chính trị phản động”(2). Công khai bản chất giai cấp công nhân của lực lượng vũ trang cách mạng, V.I.Lênin đề ra nguyên tắc xây dựng Hồng quân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. 

Vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, ngay từ năm 1930, trong Chánh cương vắn tắt của Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh - đã yêu cầu phải “Tổ chức ra quân đội công nông”(3) và trong suốt quá trình tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục Quân đội ta, Người luôn nhắc nhở: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”(4); do đó, “Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội. Phải tăng cường giáo dục chính trị để nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho toàn quân”(5).
 
Từ góc độ thực tiễn của thế giới cũng cho thấy, từ trước đến nay không có quân đội của quốc gia nào “trung lập về chính trị” hay “đứng ngoài chính trị”; bởi đây là công cụ bạo lực vũ trang bảo vệ thể chế chính trị của lực lượng chính trị thắng thế cầm quyền duy trì. Không khó để nhận thấy sự tham chính của quân đội nhiều nước, khi người ta vẫn chứng kiến các vụ đảo chính quân sự ở nước này, nước khác, nhất là ở châu Á, châu Phi trong những năm gần đây. Ở các nước Mỹ, Anh, Pháp... quân đội không chỉ được dùng vào nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, dân tộc, mà còn được dùng vào các hoạt động xâm lược, lật đổ, can thiệp quân sự vào các quốc gia có chủ quyền khác, nhằm mục tiêu chính trị là dựng lên ở đây các chính phủ thân phương Tây; thực chất là để phục vụ đường lối đối nội và đối ngoại của các đảng chính trị cầm quyền, mà suy cho cùng là phục vụ lợi ích của các thế lực tư bản độc quyền đứng đằng sau các chính phủ đương nhiệm. Chỉ tính từ năm 1990 đến nay, quân đội Mỹ đã liên tục can dự vào đời sống chính trị của các nước và các khu vực, kể cả tiến hành chiến tranh, như: ở vùng Vịnh Pec-xích năm 1991, Nam Tư năm 1999, Áp-ga-ni-xtan năm 2001, I-rắc năm 2003, Li Bi năm 2011, v.v. 

Nhìn vào thực tiễn lịch sử cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta chống lại ách nô dịch của thực dân Pháp, phát xít Nhật và đế quốc Mỹ cũng thấy rất rõ quân đội các nước này không bao giờ “trung lập về chính trị”, nhất là khi các quân nhân của họ được giáo dục “sứ mệnh” đến Việt Nam để “ngăn chặn làn sóng chủ nghĩa cộng sản lan ra toàn khu vực Đông Nam Á” (!).
 
Cũng cần thấy rằng, ở các nền chính trị có cấu trúc đa đảng đối lập, bất cứ đảng chính trị nào khi cầm quyền cũng tìm mọi cách để nắm quân đội; bởi khi nắm được quân đội, thì việc duy trì quyền lực của đảng đó sẽ thuận lợi hơn. Tuy vậy, khi mà sự tranh giành quyền lực giữa các đảng chính trị diễn ra gay gắt, dẫn đến khủng hoảng chính trị, thì thường xuất hiện lời kêu gọi “quân đội trung lập về chính trị”, nhưng trong thực tế, các đảng đều tìm sự hậu thuẫn từ quân đội. 
Thực tiễn lịch sử của cách mạng Việt Nam cũng chứng minh: Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời từ các phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, được Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo và giáo dục để giành và giữ chính quyền cách mạng; nên bản thân nó đã là một lực lượng chính trị. 

78 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam đã chứng minh rõ một thực tiễn lịch sử: Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Điều đó được thể hiện trước hết ở sự thống nhất về mục tiêu chiến đấu của Quân đội với mục tiêu chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Vì thế, trái với sự hô hào “quân đội phải trung lập về chính trị”, Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu, thực hiện chiến đấu thắng lợi. Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh sự cần thiết phải chăm lo xây dựng Quân đội vững về chính trị. Người căn dặn: “Một quân đội văn hay võ giỏi, là một quân đội vô địch”(6) và “Muốn cho quân đội ta quyết chiến quyết thắng hơn nữa thì phải săn sóc đời sống vật chất của họ, nâng cao trình độ chiến thuật và kỹ thuật của họ, nhất là giáo dục chính trị, làm cho có lập trường vững chắc, lập trường quân đội của nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo”(7). Trong lần về thăm Trường Chính trị trung cấp quân đội (nay là Học viện Chính trị) ngày 25/10/1951, Người nhắc nhở các học viên: “Phải cố gắng học tập về mọi mặt chính trị, quân sự. Phải học tập chính trị: Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”(8).

Xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, mà cốt lõi là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, chăm lo xây dựng bản chất giai cấp công nhân gắn liền với xây dựng tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội ta là một bài học thành công của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Lãnh tụ Hồ Chí Minh trong việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản ở một nước có nền kinh tế chậm phát triển. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã kiểm nghiệm và khẳng định tính đúng đắn của bài học đó. Ngay từ ngày đầu thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã được tổ chức theo mô hình có chi bộ Đảng lãnh đạo; bên cạnh người đội trưởng, có một cán bộ chính trị chuyên làm công tác chính trị theo đường lối của Đảng.

Nhờ chăm lo xây dựng vững mạnh về chính trị, mà trước hết là giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình trong mọi giai đoạn cách mạng, xứng đáng với lời tuyên dương (năm 1964) của Bác: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(9).
 
Đấu tranh vạch trần sự lừa bịp của luận điểm “Quân đội phải trung lập về chính trị” và tăng cường các biện pháp xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị là hai nhiệm vụ gắn bó chặt chẽ với nhau trong quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đó là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, trước hết là sự nỗ lực của bản thân cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta./. 

Trung tướng, PGS. TS NGUYỄN NGỌC HỒI

________________________________________
(1) (2) V.I.Lênin toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.136, 136
(3)  Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 3, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.1.
(4) (9) Hồ Chí Minh toàn tập,Tập 14, Sđd,tr.435, 435
(5) Hồ Chí Minh toàn tập,Tập 11,Sđd, tr.365.
(6) Hồ Chí Minh toàn tập,Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.470.
(7) Hồ Chí Minh toàn tập,Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 397-398, 217

Bôi đen hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” – Một mưu đồ “hạ bệ “thần tượng Hồ Chí Minh”

      

  



“Bộ đội Cụ Hồ” là tên gọi, danh hiệu bình dị, gần gũi nhưng vô cùng cao quý, được nhân dân khen tặng cán bộ, chiến sĩ, phản ánh đầy đủ, sâu sắc và tập trung nhất những phẩm chất tốt đẹp của Quân đội ta; đã trở thành biểu tượng sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng; được hình thành, phát triển trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội và Nhân dân luôn trân trọng, giữ gìn danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” như giữ gìn điều thiêng liêng nhất với trách nhiệm, tình yêu và lương tâm của mình – đó là sự tôn kính vô hạn đối với Bác Hồ kính yêu.

Xuyên tạc phẩm chất, bôi đen hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” là âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta. Âm mưu, thủ đoạn này dù không mới nhưng tính chất nguy hiểm và tác hại rất lớn; là một chiêu thức “biến dạng” của âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam, một chiêu trò thực hiện “phi chính trị hóa” Quân đội được che đậy kín đáo. Vì vậy, nâng cao cảnh giác cách mạng, không bị mắc mưu kẻ địch; kiên quyết đấu tranh làm thất bại sự chống phá, âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc phẩm chất, bôi đen hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” là yêu cầu khách quan, nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân hiện nay, là tiếng gọi từ trái tim, mệnh lệnh của cuộc sống.

Vì sao các thế lực thù địch lại chĩa mũi nhọn vào việc xuyên tạc phẩm chất, bôi đen hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”? Có thể giải thích vấn đề này qua các điểm sau đây:

Cố tình xuyên tạc, phủ nhận, hạ bệ “thần tượng” Hồ Chí Minh

Phẩm chất, hình ảnh Lãnh tụ Hồ Chí Minh, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ” có vị trí đặc biệt quan trọng trong lòng Nhân dân Việt Nam, cũng như trong đời sống tinh thần xã hội ta. Bác Hồ là niềm tin, biểu tượng của lẽ phải, của chân lý, dẫn dắt dân tộc Việt Nam đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc. Bác Hồ là người sáng lập Đảng ta và Quân đội ta, người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân. Tư tưởng của Người là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Trong tâm thức và trái tim của mỗi người Việt Nam yêu nước và bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình, Bác Hồ mãi mãi là người Việt Nam đẹp nhất, là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, người chiến sĩ cộng sản.

Với âm mưu, thủ đoạn xóa bỏ hình ảnh mang tính biểu tượng, ý thức hệ về Lãnh tụ Hồ Chí Minh, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, làm cho hình tượng về Người mất đi tính chất thiêng liêng, không còn sự trân trọng, “hư nát giá trị kiểu mẫu” thì tình cảm, niềm tin của cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân cũng không còn, biểu tượng cao quý sẽ sụp đổ, nền tảng tư tưởng “biến mất”. Cùng với đó, chúng thực hiện “mục tiêu kép”: hạ bệ “thần tượng Hồ Chí Minh”, làm mất vai trò cầm quyền, lãnh đạo của Đảng, “phân rã sự trung thành của Quân đội” đối với Đảng. Vì lẽ đó, chúng đã “lựa chọn” và triệt để sử dụng “trăm mưu, ngàn kế” kể cả mưu hèn, “phi nhân tính” để hạ bệ “thần tượng” Hồ Chí Minh, bôi đen hình ảnh, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Đây là chiêu trò nhỏ mọn, dọn đường cho âm mưu bạo loạn lật đổ, “cách mạng màu”, thực hiện “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Cố tình xuyên tạc, phủ nhận phẩm chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta

Thực hiện âm mưu, thủ đoạn bôi đen hình ảnh, phủ nhận phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, các thế lực thù địch hướng đến việc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, xã hội và Quân đội; xuyên tạc, phủ nhận thành quả cách mạng do Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta bằng việc chà đạp lên công sức, trí tuệ, mồ hôi, nước mắt và phủ nhận xương máu của hàng triệu anh hùng liệt sĩ, đồng chí, đồng bào xây đắp nên thành quả cách mạng hôm nay. Đích đến của chúng là đánh sập Đảng Cộng sản Việt Nam do Bác Hồ sáng lập, tổ chức, giáo dục và rèn luyện.

Qua đó, hạ thấp uy tín, vị thế, cống hiến, cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại của Bác Hồ kính yêu đối với dân tộc, xóa bỏ sự tôn trọng, sự ngưỡng mộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới đối với Bác Hồ và Đảng ta. Đồng thời, hạ thấp uy tín, vị thế của Đảng, Nhà nước ta trên trường quốc tế. Qua đó, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân, đòi “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân, tách rời sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước ra khỏi Quân đội. Thực hiện mưu đồ đen tối ấy, các thế lực thù địch sẽ dễ dàng lái nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, có lợi cho chúng.

Cố tình xuyên tạc, phủ nhận phẩm chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” nhằm thực hiện “phi chính trị hóa” Quân đội

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Bác Hồ sáng lập, giáo dục và rèn luyện, là quân đội kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Vì lẽ dó, Quân đội ta trở thành lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, Quân đội ta cũng “tận trung với nước, tận hiếu với dân”, một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, luôn xứng đáng với lời khen của Bác Hồ: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân; sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, các thế lực thù địch xác định: phải xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng của Đảng; phá hủy sức mạnh của Quân đội ta; hạ bệ “thần tượng” Hồ Chí Minh, bôi đen hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, làm mất chỗ dựa vững chắc của Đảng là Quân đội; làm mất chỗ dựa không thể thay thế của Quân đội là Nhân dân.

Thực hiện chiêu trò này, chúng ra sức đòi “phi chính trị hóa” quân đội: Ra sức xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, nói xấu, bôi đen những cống hiến và đời tư của các vị tướng lĩnh, lãnh đạo quân đội. Đồng thời, xuyên tạc, hạ thấp vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của đồng chí Bí thư Quân ủy Trung ương – Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta, đối lập, chia rẽ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng với Tổng cục Chính trị, với các ban, bộ, ngành Trung ương. Cùng với đó, chúng xuyên tạc, hạ thấp vai trò của Quân đội trong chiến đấu, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, công tác, lao động sản xuất, bảo vệ biên giới, biển, đảo của Tổ quốc; bôi nhọ, chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Quân đội và Nhân dân.

Chúng lợi dụng những vấn đề phức tạp trong quan hệ quốc tế, đối ngoại quốc phòng, đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia…, để kích động Nhân dân, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; cổ súy tư tưởng cực đoan, dân tộc hẹp hòi; đòi Đảng, Nhà nước ta hủy bỏ chính sách “bốn không”, đòi liên minh quân sự, đòi dựa vào nước này để chống nước kia, kích động biểu tình, gây rối; xuyên tạc, hạ thấp vai trò của Quân đội trong xây dựng “thế trận lòng dân”, nền quốc phòng toàn dân.

Khi quân đội xả thân hy sinh cứu dân vượt qua thiên tai, hoạn nạn, dịch bệnh, chúng lại “đổ dầu vào lửa”, cho rằng Quân đội “mỵ dân’, “lấy lòng Đảng”;  trắng trợn xuyên tạc, bóp méo sự thật, phủ nhận những cố gắng của cán bộ, chiến sĩ. Khi đại dịch Covid-19 hoành hành khắp nơi, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ của Quân đội xông pha trên tuyến đầu, vào nơi tâm dịch, không quản ngại khó khăn, gian khổ, “vì nhân dân quên mình”, “vì nhân dân phục vụ”; không ít người đã phơi nhiễm hoặc hy sinh vì nhiệm vụ. Thế nhưng, chúng lại cố tình bóp méo sự thật, trắng trợn xuyên tạc, bôi nhọ, làm giảm uy tín, vai trò của Quân đội, cho rằng quân đội tăng cường “để chống biểu tình, khủng bố dân”, “quân đội giúp dân không hiệu quả”, “chống dịch không phải là chức năng của quân đội”, v.v.. Chúng còn lợi dụng một số vụ việc vi phạm pháp luật, kỷ luật trong quân đội để thổi phồng khuyết điểm, làm suy giảm niềm tin, tình cảm của Nhân dân đối với Quân đội, “Bộ đội Cụ Hồ”.

Thực chất các quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch khi xuyên tạc, bôi đen hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” là nhằm mục đích duy nhất: thực hiện “phi chính trị hóa” quân đội; phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội; làm cho Quân đội xa rời sự lãnh đạo của Đảng, bị tha hóa, biến chất, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trở nên vô dụng; không còn là lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; không còn là quân đội của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

Để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, bôi đen phẩm chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, thực hiện “phi chính trị hóa” quân đội, chúng ta cần:

(1) Thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; (2) Tiếp tục giữ gìn, vun đắp, xây dựng hình ảnh, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; (3) Tiếp tục học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; thực hiện tốt Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới”; (4). Tuyệt đối không cho phép, không chấp nhận bất kỳ một cá nhân, tổ chức và thế lực nào cố tình vu khống, bôi nhọ hình ảnh, giá trị phẩm chất, nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ”; (5). Thường xuyên nêu cao cảnh giác cách mạng, phát huy vai trò của mọi tổ chức, cá nhân trong đấu tranh, ngăn chặn những hành vi bôi nhọ, vu khống làm tổn hại đến giá trị thiêng liêng, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” cao quý./.

Nguồn: Hương Sen Việt