Thứ Năm, 4 tháng 5, 2023

Phê phán các quan điểm sai trái, thù địch về tự do tôn giáo ở Việt Nam.

 Một trong những chiêu bài thường được các thế lực thù địch, phản động sử dụng là đăng tải, công bố các thông tin phiến diện, lệch lạc, thù địch, xuyên tạc về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Đấu tranh trên lĩnh vực này là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng, góp phần giúp cộng đồng trong nước và quốc tế nắm rõ, nhận thức đúng đắn về tình hình tự do tôn giáo và pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam.

Lật tẩy những nội dung, cách thức xuyên tạc về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam

Các quan điểm sai trái, thù địch, điển hình là những báo cáo phiến diện, lệch lạc, thiếu căn cứ khoa học lẫn pháp lý của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ - USCIRF(1), thường lặp đi lặp lại điệp khúc rằng: tình trạng vi phạm tự do tôn giáo vẫn tiếp diễn ở Việt Nam; sự đàn áp của Chính phủ tiếp tục là một thực tế khắc nghiệt đối với các nhóm tôn giáo độc lập chưa đăng ký(?!). Có thể nhận diện và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc đó trên các vấn đề sau đây:

Thứ nhất, các thế lực phản động, thù địch thường lập luận một cách vô căn cứ về quyền tự do tôn giáo được ghi nhận trong luật pháp về tôn giáo của Việt Nam, xuyên tạc rằng các quy định về quyền tự do tôn giáo trong pháp luật Việt Nam là “hạn chế về bản chất, “đi ngược lại với các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế và vi phạm một cách có hệ thống tự do tín ngưỡng”(?!).

Cần phải khẳng định rằng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong luật pháp ở Việt Nam được xây dựng dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin - một học thuyết khoa học, đúng đắn về tự do tôn giáo khi đặt nó trong quyền con người (nhân quyền) - như C. Mác đã khẳng định: “Tự do tín ngưỡng là quyền thực hành bất cứ tín ngưỡng nào,... quyền được mộ đạo, được mộ đạo theo bất luận kiểu nào, được hành đạo theo tôn giáo riêng của mình. Đặc quyền tín ngưỡng là một quyền phổ biến của con người(2). Kế thừa và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tự do tín ngưỡng là một quyền lợi căn bản của nhân dân ta”(3).

Ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được Đảng, Nhà nước ta khẳng định, được pháp luật thừa nhận và thực thi trong thực tế. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã mở rộng nội hàm khái niệm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, thay cụm từ “mọi công dân” (quyền công dân) (Hiến pháp năm 1992), bằng cụm từ “mọi người” (nhân quyền, quyền con người). Điều 24, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”(4).

Không thể phủ nhận sự tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam (Trong ảnh: Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính với các chức sắc và đại diện các tổ chức tôn giáo tham dự Hội nghị biểu dương các tổ chức tôn giáo có đóng góp trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc) _Ảnh: TTXVN

Cụ thể hóa quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp năm 2013, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 khẳng định: 1- Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; 2- Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo; 3- Mỗi người có quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng của tổ chức tôn giáo; người chưa thành niên... phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý; 4- Chức sắc, chức việc, nhà tu hành có quyền thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác.

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được mở rộng cho cả những “người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc”, và “người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam” (Điều 8).

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ được Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định, được pháp luật thừa nhận và thực thi trong thực tế, mà còn có sự tương thích, phù hợp với quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo luật pháp và thông lệ quốc tế. Điều 18 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (Việt Nam tham gia năm 1982) quy định: “1. Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền tự do này bao gồm việc tự do có hoặc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng do mình lựa chọn, tự do thể hiện tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong tập thể với nhiều người khác, một cách công khai hoặc thầm kín dưới hình thức thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và giảng đạo; 2. Không một ai có thể bị ép buộc phải làm những điều tổn hại đến quyền tự do lựa chọn một tôn giáo hoặc tín ngưỡng của họ”(5). Tương tự như vậy, Điều 9 Công ước châu Âu về bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do cơ bản (ECHR) ghi: “1. Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo; quyền này bao gồm quyền tự do thay đổi tôn giáo, tín ngưỡng và quyền tự do thể hiện tôn giáo, tín ngưỡng của mình thông qua hành vi thờ phụng, thuyết giảng, thực hành và tuân thủ giáo luật một mình hoặc với một nhóm, ở nơi riêng tư hoặc nơi công cộng”(6).

Thứ hai, các thế lực phản động, thù địch, trong đó có USCIRF, xuyên tạc rằng, cả Hiến pháp và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam đều có những quy định nhằm hạn chế quyền tự do tôn giáo: Hiến pháp cũng quy định sự tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo, nhưng nó cho phép các cơ quan chức năng hạn chế quyền con người, bao gồm cả quyền tự do tôn giáo; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo có các quy định tương tự cho phép hạn chế quyền tự do tôn giáo(?!). Những lập luận xấu, độc, nguy hiểm này là bất chấp an ninh quốc gia, trật tự công cộng, an toàn xã hội, đạo đức xã hội và hạnh phúc của cộng đồng. Chúng hoàn toàn không có cơ sở pháp lý, mang tính áp đặt của các thế lực phản động, thù địch và của USCIRF đối với tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Trong luật pháp quốc tế cũng như luật pháp của các quốc gia, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phải là tự do tuyệt đối, tự do vô chính phủ. Tự do tín ngưỡng phải tôn trọng và không ảnh hưởng đến các quyền công dân, đến quyền tự do của người khác và đặc biệt không được ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự công cộng, môi trường, đạo đức xã hội. Chính vì vậy, để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và ổn định, phát triển xã hội, Điều 5 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm: “1. Phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; 2. Ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; 3. Xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; 4. Hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; a) Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; b) Xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; c) Cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; d) Chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; 5. Lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi”.

Những quy định về hạn chế quyền tự do tôn giáo trong luật pháp về tôn giáo của Việt Nam nêu trên hoàn toàn phù hợp, tương thích với luật pháp quốc tế về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Khoản 3, Điều 18 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốc (năm 1966) ghi: “Quyền tự do thể hiện tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi những quy định pháp luật và khi những giới hạn này là cần thiết cho việc bảo vệ an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng hoặc những quyền và tự do cơ bản của người khác”(7). Điều đó cũng được Công ước châu Âu về bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do cơ bản thừa nhận tại Điều 9: “Quyền tự do thể hiện tôn giáo, tín ngưỡng của một người chỉ bị luật pháp giới hạn nếu điều đó là cần thiết trong một xã hội dân chủ, phục vụ an ninh công cộng, bảo vệ trật tự trị an, sức khỏe, chuẩn mực đạo đức chung hoặc các quyền và sự tự do của người khác”(8). Luật pháp của nhiều nước trong khi khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng chế định quyền ấy sẽ bị hạn chế vì trật tự công cộng, an ninh quốc gia. Nước Pháp là một ví dụ, Luật Phân ly 1905 quy định: “Cộng hòa Pháp bảo đảm tự do tín ngưỡng. Nó bảo đảm quyền tự do hành đạo với những hạn chế vì quyền lợi duy trì trật tự công cộng”(9).

Như vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là phải có giới hạn, quyền ấy sẽ bị hạn chế vì an ninh quốc gia, trật tự công cộng, đạo đức xã hội, môi trường, chứ không như đòi hỏi vô lý của USCIRF và một số giới chức Mỹ.

Thứ ba, các luận điệu sai trái, thù địch nhìn nhận không đúng về mô hình quản lý tôn giáo theo chế độ “đăng ký” của Việt Nam. Họ lập luận hàm hồ rằng, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo bắt các tôn giáo phải đăng ký, bao gồm: các điều khoản mơ hồ cho phép tự do tôn giáo vì lợi ích an ninh quốc gia và đoàn kết xã hội; đặt ra gánh nặng và yêu cầu phức tạp đối với các nhóm tôn giáo để đăng ký với chính phủ; có những quy định sự kiểm soát đáng kể của chính phủ đối với các hoạt động tôn giáo bằng những điều khoản hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, như duy trì một quy trình đăng ký và công nhận nhiều giai đoạn cho các nhóm tôn giáo (?!).

Những nhận định trên rõ ràng là mang tính áp đặt, không đúng với điều kiện thực tế công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam. Bởi lẽ, mỗi quốc gia đều có cách thức quản lý hoạt động tôn giáo phù hợp với truyền thống và thực tế của mình, trong đó quản lý hoạt động tôn giáo thông qua con đường đăng ký là một hình thức phổ biến, thích hợp và hiện thực ở nhiều quốc gia (như Pháp, Bun-ga-ri, Ba Lan, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc...), trong đó có Việt Nam. Theo đó, mỗi quốc gia có những yêu cầu riêng về điều kiện và thể thức việc đăng ký xem xét tư cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo. Có quốc gia xem việc đăng ký pháp nhân của tổ chức tôn giáo thuộc vấn đề ở cấp quốc gia, như Ba Lan, Nga, I-ta-li-a, Đức, Lat-vi-a; có quốc gia chỉ ở cấp hội đồng tỉnh, thành phố (Bun-ga-ri). Về điều kiện, có sự khác biệt giữa các nước, trong đó yếu tố thời gian tồn tại, số lượng, cơ sở tài sản tôn giáo, nhân sự, khả năng tài chính..., là những tiêu chí cơ bản(10). Việt Nam lựa chọn mô hình quản lý theo hình thức “đăng ký” và phân cấp chủ thể có thẩm quyền cấp đăng ký theo phạm vi hoạt động của tôn giáo là hợp lý và phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Luật pháp Việt Nam đưa ra những tiêu chí cụ thể để công nhận tổ chức tôn giáo chứ không phải để cản trở tự do tôn giáo. Theo đó, mọi tôn giáo nếu bảo đảm những điều kiện đó đều được công nhận, khác với một số quốc gia chỉ thừa nhận một số tôn giáo chủ yếu(11). Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam ngoài những điều kiện về thời gian (giảm từ 23 năm theo Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo xuống còn 5 năm), nhân sự, địa điểm hợp pháp, còn có yêu cầu về hiến chương, điều lệ, tôn chỉ, mục đích... Luật Tín ngưỡng, tôn giáo còn phân cấp quản lý (Trung ương và địa phương) theo phạm vi hoạt động của tổ chức tôn giáo. Bởi lẽ, tổ chức tôn giáo ở Việt Nam rất đa dạng, có tôn giáo phạm vi sinh hoạt trên khắp cả nước, như Phật giáo, Công giáo, Tin lành; có tôn giáo phạm vi hoạt động chỉ trong một khu vực, như Phật giáo Hòa Hảo, Bà-la-môn giáo, có tôn giáo thuộc loại nhóm nhỏ, như Minh sư đạo, Minh lý đạo, Bửu sơn Kỳ hương, Phật giáo Hiếu nghĩa Tà Lơn, Mặc Môn, đạo Baha’i (ở Việt Nam); có tôn giáo có nhiều tổ chức, hệ phái khác nhau, như Cao Đài, Tin lành,... Do đó, cơ chế công nhận và quản lý hoạt động của tổ chức tôn giáo theo hình thức đăng ký theo quy mô hoạt động của tôn giáo là phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam, cũng giống như nhiều quốc gia khác và được luật pháp quốc tế thừa nhận (tính đặc thù). Đó không phải là điều kiện đặt ra để hạn chế hay cản trở quyền tự do tôn giáo như USCIRF hay các thế lực phản động, thù địch xuyên tạc.

Thứ tư, các quan điểm sai trái, thù địch, luận điệu xuyên tạc về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam chủ yếu dựa vào một số  hiện tượng, nhóm trái pháp luật mang danh nghĩa tôn giáo, chưa được công nhận, có hiện tượng hoạt động vi phạm pháp luật để quy kết Việt Nam “đàn áp tôn giáo”. Ví như: Nhóm bất hợp pháp Dương Văn Mình (Tây Bắc), Hà Mòn (Tây Nguyên), Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ, Pháp luân công (không được thừa nhận là hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo). Các hiện tượng (nhóm) đó chưa đủ điều kiện để được đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung hay công nhận tư cách pháp nhân tôn giáo theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (giáo lý, giáo luật, lễ nghi, tôn chỉ, mục đích, điều lệ, tổ chức, nhân sự). Thậm chí có một số nhóm lợi dụng hoạt động tôn giáo chống Nhà nước Việt Nam, như Văn phòng Công lý và hòa bình (do một số giáo sĩ, tu sĩ cực đoan của tỉnh dòng Chúa Cứu thế Việt Nam); nhóm Hội đồng Liên tôn (gồm một số giáo sĩ cực đoan thuộc 5 tôn giáo tham gia: Công giáo, Tin lành, Phật giáo, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo); nhóm Liên đoàn dân chủ Công giáo Việt Nam; nhóm Phật giáo Việt Nam thống nhất; nhóm Phật giáo Hòa Hảo thuần túy  Phật giáo Hòa Hảo truyền thống; nhóm Khối Nhơn sanh (Cao Đài); nhóm Tin lành Đấng Christ, Tin lành Lutheran Việt Nam - Hoa Kỳ (trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên; nhóm Giê-sùa, Bà Cô Dợ (Tin lành ở Tây Bắc)... đã được USCIRF nêu lên như những minh chứng cho việc Việt Nam “đàn áp tôn giáo”(?!).

Dựa vào các nhóm trái pháp luật mang danh nghĩa tôn giáo cực đoan, chưa được chính quyền công nhận, lấy đó làm cơ sở để phê phán “đàn áp tôn giáo” là cách thức mà USCIRF và một số cá nhân, tổ chức thường sử dụng để áp đặt một cách vô lý quan điểm của họ, không chỉ đối với Việt Nam, mà còn đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Trên thực tế, nhiều quốc gia có những biện pháp cứng rắn, kiên quyết dẹp bỏ các hiện tượng tôn giáo mới cực đoan để bảo đảm an ninh, trật tự xã hội, như Trung Quốc đối với Pháp luân công; Nga đối với giáo phái Hội anh em trong trắng (The White Brotherhood), nhân chứng Giê-hô-va; Nhật Bản đối với phái Chân lý tối thượng (Aum Shirikyo); kể cả Pháp đối với các giáo phái cực đoan, cũng bị Mỹ xếp vào diện các nước hạn chế quyền tự do tôn giáo.

Các báo cáo của USCIRF và quan điểm sai trái, thù địch chủ yếu dựa vào một số phần tử cực đoan lợi dụng tôn giáo hoạt động chống Nhà nước Việt Nam, bị tòa án phạt tù, lấy đó là những “tù nhân lương tâm” (?!) để quy kết Việt Nam vi phạm nhân quyền, dân chủ, tự do tôn giáo. Trong đó có các đối tượng như: Nguyễn Bắc Truyển (nhóm Phật giáo Hòa Hảo truyền thống, bị tuyên phạt 11 năm); Y Yich (bị kết án 12 năm) - người dân tộc thiểu số theo nhóm Tin lành cực đoan ở Tây Nguyên; Phan Văn Thu (án tù chung thân) - người sáng lập nhóm Ân đàn Đại đạo (Phú Yên),... Đó đều là những phần tử lợi dụng tôn giáo chống Nhà nước Việt Nam nên bị phạt tù theo quy định của Bộ luật Hình sự, chứ không phải các “tù nhân lương tâm”, như USCIRF gán cho.

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được pháp luật bảo hộ và luôn được bảo đảm, thực thi trong thực tế

Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống chính sách, pháp luật bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với luật pháp, thông lệ quốc tế

Cho đến nay, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật liên quan đến tự do tôn giáo tương đối hoàn chỉnh, từ Hiến pháp năm 2013, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 đến Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Với sự ra đời của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, Việt Nam cơ bản đã xây dựng hoàn thiện hệ thống luật pháp về tôn giáo làm công cụ pháp lý cho việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; Việt Nam cũng là một trong số ít quốc gia trên thế giới ban hành luật riêng về tự do tôn giáo (hơn 20 quốc gia ban hành luật riêng về tôn giáo). Việc tổ chức, triển khai thực hiện chính sách và luật pháp về tôn giáo được quan tâm coi trọng, quyền tự do tôn giáo của mọi người được bảo đảm trong thực tế theo quy định của pháp luật.

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam luôn được thực hiện trong thực tiễn, được pháp luật bảo hộ và được chính quyền tạo điều kiện.

Trước hết, số lượng tín đồ các tôn giáo không ngừng gia tăng, sinh hoạt đời sống tâm linh, tôn giáo diễn ra sôi động. Theo số liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ, số lượng tín đồ, chức sắc tôn giáo không ngừng tăng lên. Năm 1997, cả nước có trên 15 triệu tín đồ, chiếm hơn 20% dân số; đến năm 2021, số tín đồ của 41 tổ chức tôn giáo đã được công nhận tăng lên 26,59 triệu người, chiếm trên 27% dân số. Bên cạnh đó có hơn 200 nghìn người thuộc 70 nhóm Tin lành tư gia và trên 30 nghìn người thuộc hơn 60 hiện tượng tôn giáo mới (“đạo lạ”), chưa đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung(12). Ngoài ra, đại đa số người Việt Nam có đời sống tâm linh, theo tín ngưỡng đa thần truyền thống.

Người Việt Nam ít theo tôn giáo (27% dân số theo tôn giáo, trong khi 84,5% dân số thế giới theo tôn giáo), nhưng đa số người Việt Nam (trên 75% người Việt Nam nói chung; trên 80% người dân tộc thiểu số nói riêng) theo tín ngưỡng đa thần truyền thống. Đó là điểm khác biệt so với các quốc gia phương Tây hay quốc gia theo tôn giáo độc thần (Kitô giáo, Islam giáo). Vì thế, dù không theo tôn giáo, song người Việt Nam lại có đời sống tâm linh sâu đậm, tham gia sinh hoạt tín ngưỡng sôi nổi, nhiệt tình. Điều này thể hiện khá rõ trong sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội truyền thống.

Sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra sôi động ở khắp các vùng, miền, các cộng đồng dân cư, các tầng lớp xã hội, nhất là vào dịp đầu năm, lễ hội truyền thống. Tín đồ các tôn giáo đều thực hiện sinh hoạt tôn giáo thường xuyên trong gia đình và nơi thờ tự theo nghi lễ truyền thống của mỗi tôn giáo. Các tôn giáo đẩy mạnh hoạt động, nhiều sinh hoạt tôn giáo diễn ra với quy mô lớn, thời gian kéo dài, thu hút một số lượng rất lớn, không chỉ tín đồ, mà cả những người không theo tôn giáo tham dự. Nhiều hoạt động tôn giáo thu hút hàng trăm nghìn người tham gia, như các kỳ đại lễ Vesark của Phật giáo (các năm 2008, 2014, 2019); lễ hành hương thánh địa La Vang, lễ khai mạc Năm thánh (năm 2010), đại hội giới trẻ của Công giáo; lễ công nhận pháp nhân, kỷ niệm khai đạo của Cao Đài; Phật giáo Hòa Hảo; lễ kỷ niệm 100 năm Tin lành đến Việt Nam (năm 2011); lễ kỷ niệm 500 năm cải cách Tin lành (năm 2017)(13).

Sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra sôi động ở khắp các vùng, miền, các cộng đồng dân cư, các tầng lớp xã hội, nhất là vào dịp đầu năm, lễ hội truyền thống (Trong ảnh: Nhân dân tham dự lễ hội hoa đăng) _Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Các tôn giáo, như Phật giáo, Công giáo, Tin lành tổ chức nhiều cuộc lễ kết nạp tín đồ tập thể với quy mô lớn, số lượng lên tới hàng trăm, thậm chí hàng nghìn người, như lễ Quy y cho 3.755 người dân tộc thiểu số (Ba Na và Sơ Đăng) ở tỉnh Kon Tum (tháng 4-2009); cho 5.311 người (dân tộc Xtiêng) ở tỉnh Bình Phước (tháng 7-2011)(14); lễ Báp-tem tập thể của Tin lành; lễ rửa tội, lễ thêm sức tập thể của Công giáo(15). Đây là những điểm mới, ít nơi nào trên thế giới có được, thể hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được Nhà nước Việt Nam và các cấp chính quyền tạo điều kiện, bảo đảm.

Thứ hai, các tổ chức tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân ngày càng nhiều và tiếp tục gia tăng. Trước năm 1990, Nhà nước mới công nhận ba tổ chức, gồm Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc, năm 1958), Hội đồng Giám mục Việt Nam (năm 1980), Giáo hội Phật giáo Việt Nam (năm 1981). Từ năm 1990 đến năm 2004 (trước khi có Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo) 6 tôn giáo: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Islam giáo (Hồi giáo), 12 tổ chức tôn giáo được công nhận; từ năm 2004 đến năm 2017 (thực hiện Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo) có 15 tôn giáo, 37 tổ chức tôn giáo được công nhận; từ năm 2018 đến năm 2021 (thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo): 1 tổ chức tôn giáo được công nhận, 3 tổ chức tôn giáo được cấp đăng ký hoạt động. Đến năm 2021, cả nước có 16 tôn giáo với 41 tổ chức tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân hay đăng ký hoạt động. Bên cạnh đó, còn có hàng nghìn tổ chức tôn giáo trực thuộc, 3.803 điểm, nhóm đã được cấp giấy đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung.

Sau khi được công nhận tư cách pháp nhân hay cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo, các tổ chức tôn giáo đẩy mạnh hoạt động, tích cực củng cố tổ chức giáo hội, đào tạo chức sắc, xây dựng cơ sở vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của tín đồ. Công tác đào tạo chức sắc được các tổ chức tôn giáo đẩy mạnh. Trước năm 1990, cả nước có 6 cơ sở đào tạo tôn giáo (Phật giáo: 2, Công giáo: 4). Đến năm 2021, cả nước có 63 cơ sở đào tạo người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp (Phật giáo: 46; Công giáo: 11; Tin lành: 3; Cao Đài: 2; Phật giáo Hòa Hảo: 1), mỗi năm có hàng nghìn người tốt nghiệp. Năm 2021, cả nước có 8.884 người tốt nghiệp ra trường, 13.350 người đang theo học. Ngoài ra, còn có hàng trăm người đang du học tại nước ngoài. Nhờ vậy, số chức sắc, nhà tu hành tăng rất nhanh (từ 31.548 người năm 1995, lên 54.125 người năm 2021). Ngoài ra còn có đội ngũ nhà tu hành đông đảo (riêng Phật giáo hiện có 54.000 tăng, ni; Công giáo có 6.000 giáo sĩ, 31.000 tu sĩ). Cả nước hiện có trên 108.770 chức sắc, nhà tu hành(16), cơ bản đáp ứng được nhu cầu hướng dẫn việc đạo cho tín đồ.

Công tác xây dựng cơ sở thờ tự được các tôn giáo quan tâm, đẩy mạnh. Từ năm 1990 đến nay, cơ sở thờ tự được xây dựng, sửa chữa khá mạnh mẽ ở khắp nơi trong cả nước nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của giáo dân. Năm 2000, cả nước có 18.474 cơ sở thờ tự của các tôn giáo, đến năm 2021 tăng lên 30.047 cơ sở(17), tăng 11.573 cơ sở trong 20 năm, bình quân mỗi năm có thêm 579 cơ sở thờ tự. Hầu hết các cơ sở thờ tự được xây dựng, sửa chữa khang trang to lớn, có công trình lên hàng chục, thậm chí hàng trăm tỷ đồng. Chính quyền địa phương quan tâm giải quyết, cấp đất cho các tổ chức tôn giáo xây dựng cơ sở tôn giáo(18).

Các tôn giáo còn đẩy mạnh việc in ấn, xuất bản, dịch thuật một khối lượng lớn kinh sách, đồ dùng việc đạo. Trong 5 năm (2000 - 2004), Nhà xuất bản Tôn giáo đã in ấn, xuất bản được 719 ấn phẩm tôn giáo với số lượng 4,2 triệu bản, trong đó có nhiều kinh sách được dịch ra tiếng dân tộc thiểu số, như Ba-na, Ê-đê, Gia-rai. Đó là chưa kể một số lượng rất lớn kinh sách in ấn thông qua xuất bản khác hoặc được in ấn ở các cơ sở khác(19). Bên cạnh kinh, sách, báo chí in ấn, mảng kinh, sách, tài liệu, báo chí điện tử rất đa dạng, phong phú với số lượng không hạn chế cấp không cho tín đồ và những người quan tâm qua các phương tiện truyền thông xã hội. Nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tìm hiểu về tôn giáo, năm 2022, Bộ Công an cung cấp 17 đầu sách (9 đầu kinh sách, 8 đầu sách tìm hiểu về tôn giáo) với 4.418 cuốn cho 54 trại giam, tạm giam trong cả nước.

Những số liệu nêu trên là minh chứng sinh động, rõ nét nhất cho tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Điều ấy càng khẳng định sự đúng đắn trong chính sách, pháp luật về tự do tôn giáo của Việt Nam và sự phù hợp với luật pháp, thông lệ quốc tế, chứ không phải dựa vào một số hiện tượng nhỏ lẻ để rêu rao rằng, luật pháp Việt Nam “đi ngược với tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế và vi phạm một cách có hệ thống tự do tín ngưỡng”. Những nhận định ấy là không đúng, thiếu khách quan với thực tế luật pháp, tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, làm tổn hại đến quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Mỹ. Do đó, việc Bộ Ngoại giao Mỹ không đưa Việt Nam vào nhóm các nước cần quan tâm đặc biệt (CPC) theo đề nghị của Ủy ban này trong suốt 15 năm (từ năm 2007) đến nay là đúng đắn.

Đồng thời, để công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta trên lĩnh vực tôn giáo, dân tộc có hiệu quả, góp phần làm cho xã hội và cộng đồng quốc tế hiểu rõ hơn luật pháp về tự do tôn giáo và tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, chúng ta cần chú trọng đến các giải pháp sau: 1- Tăng cường công tác tuyền truyền, phổ biến về luật pháp về tự do tôn giáo và tình hình tự do tôn giáo ở nước ta cho toàn dân và cộng đồng quốc tế hiểu rõ hơn; 2- Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho phù hợp với tình hình thực tế nước ta và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; 3- Quán triệt nâng cao nhận thức cho hệ thống chính trị về quan điểm, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo; nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tôn giáo; nghiêm túc chấp hành chính sách, pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo; 4- Đa dạng hóa công tác truyền thông, kịp thời và nâng cao chất lượng của công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trên phương diện tín ngưỡng, tôn giáo. Đi đôi với đấu tranh phản bác các luận điểm sai trái, thù địch cần phải tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận của Đảng về tôn giáo ngày càng sâu sắc hơn, đáp ứng với yêu cầu của cách mạng trong tình hình mới./.

--------------

(1) Từ khi được thành lập năm 1998, hằng năm USCIRF đều có báo cáo với một cái nhìn sai trái, thù địch, phiến diện, thiếu khách quan về tự do tôn giáo ở Việt Nam. Trong Báo cáo về tự do tôn giáo năm 2021, Ủy ban này hàm hồ đánh giá: “Mặc dù đã có những cải tiến đáng chú ý so với Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo trước đây, nhưng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (có hiệu lực từ ngày 1-1-2018) vẫn còn hạn chế về bản chất”; “đi ngược lại với các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế và vi phạm một cách có hệ thống tự do tín ngưỡng”#(?!). Từ đó, họ kiến nghị Chính phủ Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách “những quốc gia cần quan tâm đặc biệt” (CPC), vì sự “vi phạm quyền tự do tôn giáo có hệ thống, trầm trọng và đang tiếp tục”. Đây là lần thứ 15 liên tục (từ năm 2007) tổ chức này kiến nghị Chính phủ Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách CPC.
(2) C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 1, tr. 548 - 549
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 9, tr. 285
(4) Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 và các bản hiến pháp Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992, 2013), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015, tr. 203 – 204
(5) Văn kiện quốc tế về quyền con người, Trung tâm nghiên cứu quyền con người và Viện Thông tin khoa học thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000, tr. 212
(6) W. Cole Durham, JR. - Brett G. Scharffs: Luật pháp và tôn giáo tiếp cận so sánh quốc gia, quốc tế, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014, tr. 141
(7) Văn kiện quốc tế về quyền con ngườiTlđd, tr. 212
(8), (9) W. Cole Durham, JR. - Brett G. Scharffs: Luật pháp và tôn giáo tiếp cận so sánh quốc gia, quốc tếSđd, tr. 141 - 142, 223
(10) Có quốc gia yêu cầu thời gian hoạt động, như Bỉ (31 năm), Nga (15 năm); có quốc gia yêu cầu số lượng tín đồ, như Ba Lan (ít nhất 100 người); Lát-vi-a (15 người); Nga (10 người từ 18 tuổi trở lên)...
(11) Trung Quốc chỉ công nhận 5 tôn giáo (Đạo giáo, Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Islam giáo (Hồi giáo); In-đô-nê-xi-a chỉ thừa nhận 6 tôn giáo (Islam giáo, Phật giáo, Ấn giáo, Tin lành, Công giáo, Khổng giáo); Nga chỉ thừa nhận 4 tôn giáo “truyền thống” (Chính Thống giáo, Islam giáo, Do Thái giáo, Phật giáo),...
(12) Xem: Ban Tôn giáo Chính phủ: Tài liệu bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ thông tin, tuyên truyền chính sách pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và công tác tín ngưỡng, tôn giáo (ban hành kèm theo Quyết định số 1158/QĐ-TGCP, ngày 29-9-2021, của Ban Tôn giáo Chính phủ)
(13) Nguyễn Phú Lợi: Sự chuyển biến của tôn giáo Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng 4.0, Nxb. Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2022, tr. 423 - 426
(14) Hoàng Thị Lan (chủ biên): Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2021, tr. 120
(15) Nguyễn Phú Lợi: Sự chuyển biến của tôn giáo Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng 4.0Sđd, tr. 423
(16), (17) Xem: Ban Tôn giáo Chính phủ: Tài liệu bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ thông tin, tuyên truyền chính sách pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và công tác tín ngưỡng, tôn giáo, Sđd
(18) Chính quyền thành phố Đà Nẵng cấp hơn 10.000m2 mở rộng Tòa Giám mục Đà Nẵng; 5.000mxây dựng trụ sở Hội truyền giáo Cơ đốc Việt Nam; chính quyền thành phố Cần Thơ cấp 11ha xây dựng Học viện Phật giáo Nam tông Khmer; chính quyền tỉnh Quảng Trị cấp thêm 15ha mở rộng khuôn viên trung tâm hành hương Đức Mẹ La Vang; chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế cấp 10ha xây dựng thiền viện Bạch Mã; chính quyền thành phố Hải Phòng cấp 10.000m2 xây dựng nhà hưu dưỡng cho các linh mục, tu sĩ Giáo phận Hải Phòng; chính quyền tỉnh Ninh Bình cấp 15.000mxây dựng Trung tâm mục vụ Giáo phận Phát Diệm; chính quyền tỉnh Đắk Lắk giao hơn 11.000mcho Tòa Giám mục Buôn Ma Thuột; chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh giao đất cho Tòa Tổng giám mục Thành phố Hồ Chí Minh xây dựng trung tâm mục vụ. Chỉ tính riêng Phật giáo trong thời gian gần đây đã được cấp rất nhiều đất: Thiền viện Trúc Lâm Phú Lâm (tỉnh Quảng Nam): 19,5ha, chùa Ba Vàng (tỉnh Quảng Ninh): 21ha (trong quy hoạch 123ha), chùa Giám (tỉnh Nghệ An): 30ha, Thiền viện Trúc Lâm Chính Pháp (tỉnh Tuyên Quang): 40ha; quần thể chùa Bái Đính (tỉnh Ninh Bình): 539ha; quần thể chùa Tam Trúc (tỉnh Hà Nam): 5.100ha;... (Xem: Nguyễn Thanh Xuân: Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2020, tr. 436 - 438).
(19) Từ năm 2018 - 2020, Nhà xuất bản Tôn giáo đã cấp quyết định xuất bản 1.457 xuất bản phẩm với 5,47 triệu bản in, riêng Công giáo và đạo Tin lành đã in 1 triệu bản Kinh thánh. Đến năm 2020, các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam đã có 01 kênh truyền hình (An viên), 15 tờ báo và tạp chí đang hoạt động, trong đó có các báo, tạp chí có uy tín, như Khuôn Việt, Nghiên cứu Phật học, Văn hóa Phật giáo, Phật giáo Nguyên thủy, Giác ngộ (Phật giáo); Hiệp thông, Công giáo và Dân tộc, Người công giáo Việt Nam (Công giáo); Mục vụ, Tông công (đạo Tin lành), Hương Sen (Phật giáo Hòa Hảo), Cao Đài (đạo Cao Đài)... (Xem: Nguyễn Thanh Xuân: Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Sđd, tr. 439 - 440).

LỊCH SỬ NGÀY QUỐC TẾ LAO ĐỘNG

Ngày 1.5 bắt nguồn từ thành phố công nghiệp lớn Chicago, Mỹ. Năm 1886, tại thành phố công nghiệp lớn Chicago, Đại hội Liên đoàn Lao động Mỹ thông qua nghị quyết nêu rõ: "...Từ ngày 1/5/1886, ngày lao động của tất cả các công nhân sẽ là 8 giờ". Sở dĩ ngày 1/5 được chọn bởi đây là ngày bắt đầu một năm kế toán tại hầu hết các nhà máy, xí nghiệp ở Mỹ. Vào ngày này, hợp đồng mới giữa thợ và chủ sẽ được ký. Giới chủ tư bản có thể biết trước quyết định của công nhân mà không thể kiếm cớ chối từ. Ngày 1/5/1886, do yêu cầu của công nhân không được đáp ứng một cách đầy đủ, giới công nhân trên toàn nước Mỹ đã tham gia bãi công nhằm gây áp lực buộc giới chủ thực hiện yêu sách của mình. Đầu tiên là cuộc bãi công tại thành phố Chicago. Khoảng 40 nghìn người không đến nhà máy. Họ tổ chức mit-tinh, biểu tình trên thành phố với biểu ngữ "Từ hôm nay không người thợ nào làm việc quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui chơi!" Cuộc đấu tranh lôi cuốn ngày càng đông người tham gia. Và từ thời điểm đó, ngày 1/5 chính thức trở thành Ngày Quốc Tế Lao Động nhằm kỷ niệm ngày hành động của phong trào công nhân quốc tế và của người lao động. NGÀY QUỐC TẾ LAO ĐỘNG ĐẦU TIÊN Ở VIỆT NAM Tại Việt Nam, sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời (1930), giai cấp công nhân Việt Nam đã lấy ngày l/5 hàng năm làm ngày đỉnh cao của phong trào đấu tranh chống thực dân, đế quốc, giành độc lập - tự do - dân chủ, giành những quyền lợi kinh tế - xã hội. Tại Việt Nam, Ngày Quốc tế Lao động đầu tiên được tổ chức vào năm 1930. Ngày 1/5/1930 - lần đầu tiên trong lịch sử phong trào công nhân ở Đông Dương, giai cấp công nhân nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã biểu tình ngoài đường phố để biểu dương tình đoàn kết cách mạng với công nhân quốc tế, đồng thời đấu tranh trực diện với bọn đế quốc thực dân Pháp, đòi Pháp phải cải thiện điều kiện làm việc, phải tăng lương và thực hiện luật lao động ngày làm việc 8 giờ. Đó là điểm bắt đầu cho cả cao trào 1930 - 1931 với đỉnh cao là phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh. Ngày 1/5/1946, lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, Ngày Quốc tế Lao động được tổ chức kỷ niệm mít tinh trọng thể tại Thủ đô Hà Nội với sự tham dự của 20 vạn nhân dân lao động. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nước nhà được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 22c NV/CC ngày 18/2/1946 về những ngày nghỉ Tết, lễ kỷ niệm lịch sử và lễ tôn giáo, trong đó công bố: Ngày 1/5 là một trong những ngày lễ chính thức và công nhân lao động cả nước sẽ được nghỉ 1 ngày hưởng nguyên lương.

Công tác thông tin đối ngoại với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giai đoạn hiện nay.

  Một nhiệm vụ rất quan trọng của công tác thông tin đối ngoại là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xây dựng và quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam hòa bình, ổn định, thu hút sự ủng hộ, chia sẻ của cộng đồng quốc tế. Công tác thông tin đối ngoại cần phát huy tinh thần chủ động, đổi mới nội dung và hình thức, huy động sự tham gia tích cực của tất cả các lực lượng ở lĩnh vực trọng yếu này.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng và các đại biểu thăm gian trưng bày ảnh tại Lễ trao Giải thưởng toàn quốc về thông tin đối ngoại lần thứ VIII _Ảnh: TTXVN

Vị thế của công tác thông tin đối ngoại trong thời kỳ đổi mới

Từ khi bắt đầu khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đến nay, trước những tác động, biến đổi mạnh mẽ, phức tạp của tình hình mới, với những yêu cầu mới thường xuyên đặt ra, Đảng ta luôn chủ động kịp thời lãnh đạo, định hướng công tác thông tin đối ngoại, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Trước sự thay đổi nhanh chóng của tình hình thế giới, ngày 13-6-1992, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII ban hành Chỉ thị số 11-CT/TW, “Về đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại”, nêu rõ nhiệm vụ của công tác thông tin đối ngoại là: “Đường lối, chính sách và thành tựu đổi mới toàn diện của nước ta, những chủ trương quan trọng của ta nhằm giải quyết một số vấn đề lớn hoặc đáng chú ý về kinh tế, chính trị, xã hội... Kịp thời phê phán, bác bỏ những thông tin xuyên tạc, sai lệch về tình hình Việt Nam, nhất là về tình hình dân chủ, nhân quyền, ngăn chặn việc truyền bá vào nước ta những quan điểm tư tưởng, lối sống, văn hóa phản động, đồi trụy, kích động bạo lực”(1). Đồng thời, cần phải thông tin về chính sách đối ngoại, những khả năng to lớn của Việt Nam trong quan hệ hợp tác với các nước; con người, lịch sử, văn hóa lâu đời hết sức phong phú của các dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Trên cơ sở sơ kết Chỉ thị số 11-CT/TW; nhằm phát huy hơn nữa vai trò của công tác thông tin đối ngoại, ngày 29-12-1998, Thường vụ Bộ Chính trị ban hành Thông báo số 188/TB-TW, “Về công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới”, yêu cầu công tác thông tin đối ngoại cần chú trọng thực hiện nhiệm vụ: “Ngoài việc tiếp tục quan hệ và chủ động xúc tiến công tác thông tin, tuyên truyền hướng vào các đối tượng và địa bàn đã xác định tại Chỉ thị 11, ưu tiên cung cấp thông tin đúng định hướng cho người nước ngoài đến Việt Nam sinh sống, làm việc, du lịch, học tập và các nhà Việt Nam học trên thế giới. Tranh thủ họ để qua đó đưa thông tin giới thiệu về Việt Nam ra thế giới”(2).

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (năm 2001) đề ra chủ trương: “Đẩy mạnh công tác thông tin phục vụ nghiên cứu, làm tốt công tác dự báo tình hình khu vực và thế giới, kịp thời có những chủ trương, chính sách đối ngoại thích hợp khi tình hình thay đổi... Tăng cường hơn nữa công tác thông tin đối ngoại và văn hóa đối ngoại”(3). Hiện thực hóa mục tiêu, yêu cầu của Đại hội IX, ngày 27-12-2001, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX ban hành Quyết định số 16-QĐ/TW, về việc thành lập Ban Chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại với nhiệm vụ giúp Ban Bí thư Trung ương Đảng và Thủ tướng Chính phủ theo dõi tình hình, điều hành, chỉ đạo, phối hợp công tác thông tin đối ngoại.

Ngày 28-6-2007, Ban Bí thư ra Thông báo Kết luận số 85-TB/TW, về Đề án nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin đối ngoại, nêu rõ nhiệm vụ của công tác thông tin đối ngoại là: “Phối hợp chặt chẽ giữa thông tin đối ngoại với thông tin tuyên truyền trong nước, chủ động thông tin kịp thời, chính xác tình hình mọi mặt của đất nước, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta tới bạn bè quốc tế, tới đồng bào ta sinh sống, làm việc, học tập ở nước ngoài, bà con Việt kiều về thăm quê hương và người nước ngoài đến Việt Nam”(4).

Ngày 10-9-2008, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 26-CT/TW, về tiếp tục đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới, nêu bật yêu cầu: “nâng cao tính chủ động, sáng tạo, tính linh hoạt, sự phong phú và sắc bén của các hoạt động thông tin đối ngoại”(5). Ban Bí thư nêu rõ, phải coi đây là nhiệm vụ của hệ thống chính trị, tập trung giới thiệu, quảng bá, làm nổi bật thế và lực của đất nước sau 20 năm đổi mới; nâng cao tính chủ động, thuyết phục và hiệu quả trong cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các phần tử cơ hội, phản động,...

Ngày 14-2-2012, Bộ Chính trị khóa XI ban hành Kết luận số 16/KL-TW thông qua Đề án Chiến lược phát triển thông tin đối ngoại giai đoạn 2011 - 2020, tiếp tục khẳng định thông tin đối ngoại là một bộ phận rất quan trọng trong công tác tuyên truyền và công tác tư tưởng của Đảng, là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài; công tác thông tin đối ngoại tập trung tuyên truyền, làm rõ phương châm đối ngoại của Đảng là đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Để tiếp tục quán triệt và triển khai chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, thống nhất quản lý các hoạt động đối ngoại, nhiều văn bản đã được các cấp có thẩm quyền ban hành(6), qua đó bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ trong công tác đối ngoại giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân; giữa đối ngoại với quốc phòng - an ninh; giữa các ban, bộ, ngành liên quan; chủ động phối hợp, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền để giải quyết các vấn đề phát sinh trong công tác đối ngoại.

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng đặt ra yêu cầu mạnh mẽ: “đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền đối ngoại”(7) nhằm phục vụ mục tiêu nâng cao vị thế, uy tín của đất nước, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Với mục tiêu kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, đẩy mạnh quan hệ với các đối tác, đặc biệt là đối tác quan trọng, đi vào chiều sâu, hiệu quả, bền vững, Đại hội XIII của Đảng đề ra chủ trương: “Tăng cường và nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ truyền thông mới, mạng xã hội trong thông tin đối ngoại và đấu tranh dư luận”(8); trong những năm tới, cần “tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”(9). Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác đối ngoại, khẳng định công tác đối ngoại có vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và sự phát triển của đất nước.

Như vậy, có thể khẳng định rằng, Đảng ta luôn chủ động, kịp thời, thường xuyên ban hành các nghị quyết, chỉ thị, kết luận nhằm nâng cao vai trò của công tác thông tin đối ngoại; định hướng đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên mọi mặt trận, trong đó có mặt trận thông tin đối ngoại. Bên cạnh đó, Đảng cũng nêu rõ cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị, của nhân dân, của toàn xã hội, trong đó các bộ, ban, ngành, như Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Thông tin và Truyền thông,... đóng vai trò chủ chốt; các cơ quan báo chí lớn, như Báo Nhân Dân, Tạp chí Cộng sản, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam và các cơ quan báo chí đối ngoại Việt Nam,... đóng vai trò là lực lượng xung kích.

Thông qua các con đường ngoại giao Đảng, Nhà nước, nhân dân, Việt Nam đã thiết lập được quan hệ ngoại giao với 189/193 nước thành viên Liên hợp quốc; có quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư với 224 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và khu vực, có quan hệ với hơn 500 tổ chức phi chính phủ(10).

Công tác thông tin đối ngoại của Đảng góp phần nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các đảng, các nước, các đối tác trên thế giới hết sức coi trọng, nhận thức đầy đủ, rõ ràng về hệ thống chính trị của Việt Nam, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hệ thống chính trị. Các chuyến thăm nước ngoài của lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước được lãnh đạo các nước đón tiếp trọng thể, đóng vai trò hết sức quan trọng và mang tầm chiến lược trong việc triển khai đường lối đối ngoại, tạo đột phá, xử lý các vấn đề đặt ra và thúc đẩy quan hệ với các nước, đưa quan hệ đối tác đi vào chiều sâu, tạo ra cục diện quốc tế thuận lợi. Các đảng chính trị ở hầu hết các nước, không phân biệt hệ thống chính trị, nhận thức rất rõ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đều mong muốn củng cố và mở rộng quan hệ với Đảng ta. Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát triển quan hệ ở nhiều mức độ khác nhau với 247 chính đảng ở 111 quốc gia, trong đó có 96 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 28 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính(11).

Công tác thông tin đối ngoại bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Đấu tranh, phê phán, bác bỏ những quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ đất nước là nhiệm vụ xuyên suốt và thống nhất của Đảng. Ngay từ năm 1962, khi đất nước còn bị đế quốc Mỹ xâm lược, bên cạnh nhiệm vụ nêu cao tính chính nghĩa trong cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà, Đảng chủ trương trong tuyên truyền đối ngoại phải “Vạch một cách liên tục và có hệ thống những âm mưu đen tối của đế quốc Mỹ và tay sai đối với Việt Nam”(12). Sau khi đất nước thống nhất, bước vào công cuộc đổi mới đất nước toàn diện, Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI, ngày 29-3-1989, khẳng định: “Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn luôn là nền tảng tư tưởng của Đảng ta, chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Đổi mới tư duy là nhằm khắc phục những quan điểm không đúng, làm phong phú những quan niệm đúng về thời đại, về chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển, chứ không phải xa rời những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin”(13).

Trước tình hình thế giới diễn biến hết sức nhanh chóng và phức tạp, thiết chế, mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, Đảng xác định phải tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Ngày 13-6-1992, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 11-CT/TW, “Về đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại”, nêu rõ nhiệm vụ của công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới là: “Kịp thời phê phán, bác bỏ những thông tin xuyên tạc, sai lệch về tình hình Việt Nam, nhất là về tình hình dân chủ, nhân quyền, ngăn chặn việc truyền bá vào nước ta những quan điểm, tư tưởng, lối sống văn hóa phản động, đồi trụy, kích động bạo lực”(14). Ngày 18-2-1995, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 09-NQ/TW, “Về một số định hướng trong công tác tư tưởng hiện nay”, nhấn mạnh phải rút kinh nghiệm công tác đấu tranh chống những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của địch, nhất là trên báo, đài; có kế hoạch chủ động, kịp thời chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”...(15).

Sau hơn 20 năm đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, thế và lực, uy tín quốc tế được nâng lên. Trên thế giới, quá trình toàn cầu hóa và cách mạng khoa học - công nghệ diễn ra mạnh mẽ, tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, mặc dù hòa bình, hợp tác vẫn là xu thế lớn, nhưng chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, hoạt động lật đổ, khủng bố vẫn diễn ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng phức tạp; các thế lực thù địch vẫn ráo riết chống phá Đảng và Nhà nước ta. Do đó, ngày 10-9-2008, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 26-CT/TW, “Về tiếp tục đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới”, xác định một nhiệm vụ trọng tâm của thông tin đối ngoại là: “Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch một cách chủ động, có tính thuyết phục và hiệu quả hơn”(16).

Trong giai đoạn hiện nay, Đảng, Nhà nước có những yêu cầu mạnh mẽ đối với công tác thông tin đối ngoại trong lĩnh vực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Ngày 21-10-2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, khẳng định đấu tranh ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhằm bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chế độ, Nhà nước; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Võ Văn Thưởng, Thường trực Ban Bí thư; GS. TS. Nguyễn Xuân Thắng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự Lễ ra mắt ấn phẩm “Tạp chí Cộng sản - Chuyên đề” và khai trương “Trang tiếng Tây Ban Nha” trên Tạp chí Cộng sản điện tử. Hiện nay, Tạp chí Cộng sản điện tử có các trang tiếng Anh, Lào, Trung Quốc, Tây Ban Nha, góp phần quan trọng thực hiện nhiệm vụ thông tin đối ngoại những vấn đề lý luận chính trị của Đảng _Ảnh: TTXVN

Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực chuyển biến sâu sắc, có mặt diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị đang lợi dụng những tiến bộ của các ứng dụng công nghệ mới, tuyên truyền chống phá Việt Nam. Do đó, việc xác định nội dung thông tin đối ngoại một cách chính xác, trọng tâm, bao quát để thông tin với bạn bè quốc tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiểu biết sâu sắc hơn nữa về Việt Nam là điều vô cùng quan trọng.

Nội dung căn cốt và quan trọng của công tác thông tin đối ngoại là bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng; bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động đang ra sức tuyên truyền xuyên tạc, đưa những thông tin lệch lạc, chống phá chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh trên không gian mạng và trên các phương tiện truyền thông mới; lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để xuyên tạc, lôi kéo, tập hợp lực lượng dưới nhiều danh nghĩa, hình thức khác nhau để chống đối. Các hoạt động chống phá đó đều nhằm phủ nhận, xóa bỏ hệ tư tưởng vô sản, cổ xúy cho tư tưởng tư sản và các trào lưu chính trị đối lập chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Dù âm mưu, thủ đoạn, phương thức thực hiện khác nhau, nhưng mục tiêu chính của chúng đều hướng vào “tuyên truyền phủ nhận các giá trị lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội là học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc thân thế, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đả kích, bôi nhọ các lãnh tụ cách mạng, cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; ... ra sức tuyên truyền các học thuyết tư sản, đặc biệt là chủ nghĩa đa nguyên (đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập); ... mở rộng ảnh hưởng của tôn giáo trong xã hội, đề cao chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng theo chủ nghĩa hiện sinh,...”(17).

Do đó, nhiệm vụ của công tác thông tin đối ngoại, trên cơ sở nhận diện các thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị, là đưa ra các nội dung thông tin chính xác, kịp thời, nhấn mạnh sự sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của đất nước, để đưa ra những chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn, phù hợp, góp phần phát triển đất nước; phản bác các luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã lạc hậu, lỗi thời; làm rõ sự phát triển, sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa Mác - Lê-nin; sự sáng tạo trong vận dụng học thuyết này của Đảng Cộng sản Việt Nam như lời chỉ dạy của V.I. Lê-nin: “Chúng ta không thể coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm, trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”(18).

Cùng với việc bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nội dung của thông tin đối ngoại đã tập trung đưa những thông tin bảo vệ Cương lĩnh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thông tin đối ngoại luôn chủ động, kịp thời giới thiệu với bạn bè quốc tế những chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đặc biệt trên các lĩnh vực dân chủ, nhân quyền; đưa ra những cơ sở lý luận và thực tiễn sắc bén để phản bác các luận điệu sai trái, lệch lạc; có những công trình khoa học, những bài viết chính luận sắc sảo “tấn công trực diện mạnh hơn nữa vào những luận điệu xuyên tạc Đảng Cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh ”(19).

Các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị thường núp dưới chiêu bài “dân chủ, nhân quyền, tôn giáo”, đưa những thông tin sai lệch, xuyên tạc, bóp méo sự thật, mưu toan phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khai thác các ứng dụng công nghệ truyền thông kỹ thuật số; các nhóm đối tượng, chủ yếu là nhóm đối lập về hệ tư tưởng, nhóm thù địch, chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa, nhóm các phần tử cơ hội chính trị - nhiều người vốn là đảng viên, nhưng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,... thường xuyên và liên tục cố gắng bịa đặt, đưa ra những thông tin sai lệch, luận điệu xuyên tạc, chống phá trên các bình diện thông tin đối ngoại. Trên một số trang mạng xã hội, các cá nhân và một số hãng truyền thông nước ngoài, vì mục tiêu chính trị hoặc mang nặng định kiến, thiếu thiện chí với Việt Nam tập trung đăng tải các thông tin sử dụng những ngôn từ kích động thù hằn dân tộc, khoét sâu vào những hạn chế, vướng mắc trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng, các đối tác quan trọng, bất chấp thực tế là các bên liên quan đều đang có những nỗ lực để vượt qua khó khăn, rào cản với thiện chí cao; núp dưới bóng những “nhà dân chủ, trí thức, học giả, người dân yêu nước chân chính” để phê phán, đả kích, chỉ ra những “khuyết điểm, sai lầm” trong chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước(?!).

Các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị  ra sức tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch trên mọi mặt trận, trong đó có mạng xã hội với mưu toan phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ, làm giảm niềm tin của người dân vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, từ đó làm chệch hướng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta(20). Các luận điệu tinh vi, thâm độc, thông tin sai lệch, xuyên tạc, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch, phản động hòng gây tâm lý hoang mang, lo lắng và quan ngại trong dư luận trong và ngoài nước, gây cách nhìn nhận thiếu thiện chí của cộng đồng quốc tế đối với uy tín, vai trò của Đảng; hòng cản trở, tạo sức ép dư luận nhằm “hướng” quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước “ngả theo quốc gia này hoặc quốc gia khác”; mưu toan làm suy giảm niềm tin của nhân dân trong nước, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và nhân dân thế giới đối với Việt Nam.

Thực hiện sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và các ban, bộ, ngành của Trung ương, hệ thống báo chí đối ngoại đã nỗ lực đưa những thông tin chính xác, kịp thời, sinh động ở mọi lúc, mọi nơi, cung cấp cho bạn bè quốc tế những cái nhìn khách quan, toàn diện, đúng đắn về tình hình Việt Nam. Nhiều cơ quan báo chí đã mở chuyên mục với nội dung đa dạng, phong phú, trong đó nổi bật là các bài phân tích, bình luận, phê phán các thông tin không đúng sự thật, bịa đặt, các quan điểm sai trái, thù địch, các phần tử cơ hội chính trị; phản bác những lời nói, hành động thiếu thiện chí, mưu toan hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ Đảng với quần chúng; đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; phản bác sự vu cáo về việc Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, “đàn áp tôn giáo”, phê phán những quan điểm lệch lạc về phát triển kinh tế, văn hóa, đạo đức, lối sống, thông tin sai lệch về dịch bệnh COVID-19,...

Lực lượng làm công tác thông tin đối ngoại của Việt Nam ngày càng trưởng thành về số lượng và nâng cao về chất lượng(21). Phương thức thông tin đối ngoại phong phú, đa dạng; bên cạnh mặt trận thông tin truyền thống, đã sử dụng tốt hơn các phương thức thông tin dựa trên ứng dụng công nghệ số để nhanh chóng, kịp thời đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Thông tin đối ngoại xây dựng những tài khoản mạng xã hội chính thống để tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chủ động cung cấp thông tin chính thống, đầy đủ, kịp thời về tình hình đất nước với những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng một hình ảnh Việt Nam năng động, phát triển trong sự nhìn nhận của bạn bè quốc tế, của người Việt Nam ở nước ngoài. Phương thức thông tin đối ngoại ngày càng đổi mới, đa dạng và sáng tạo, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của đất nước.

Qua hơn 35 năm đổi mới, với  đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa, Việt Nam đã phá thế bị bao vây, cấm vận, cô lập, bình thường hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả. Công tác thông tin đối ngoại được Đảng đề ra với nhiều chủ trương, chính sách phù hợp, nhằm mang đến cho nhân dân thế giới hình ảnh đất nước Việt Nam yêu chuộng hòa bình, hữu nghị và hợp tác; một dân tộc giàu truyền thống văn hóa, lịch sử, cần cù lao động, sáng tạo, thân thiện và mến khách... Những yếu tố cốt lõi đó được thông tin đối ngoại truyền tải dưới nhiều hình thức, nhiều phương tiện, đã thu hút được sự quan tâm, đồng tình, ủng hộ và yêu mến của bạn bè quốc tế, từ đó, nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế tin tưởng, giao lưu, hợp tác và đầu tư vào Việt Nam. Kết quả đạt được trong công tác thông tin đối ngoại, xuất phát từ nhận thức của Đảng về vai trò và tầm quan trọng của công tác thông tin đối ngoại, với mục tiêu cao nhất là “mang Việt Nam ra thế giới và mang thế giới đến với Việt Nam”; sự chủ động triển khai, tổ chức quản lý và nhanh nhạy kịp thời của Nhà nước, các cơ quan bộ, ban, ngành Trung ương và các địa phương; sự ý thức về hình ảnh đất nước trong mỗi thông điệp của các nhà lãnh đạo, mỗi tổ chức, cá nhân khi có các cuộc tiếp xúc ngoại giao, giao lưu, đầu tư, hợp tác trên các lĩnh vực./.

---------------------------

(1) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội, 2007, t. 52, tr. 58
(2) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 2015, t. 57, tr. 571
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 122
(4) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 2018, t. 66, tr. 340
(5) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 2018, t. 67, tr. 994
(6) Như: Quyết định số 272-QĐ/TW, ngày 21-1-2015, của Bộ Chính trị khóa XI, “Về việc ban hành Quy chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại”; Kết luận số 33-KL/TW, ngày 25-7-2018, của Bộ Chính trị khóa XII về việc tiếp tục thực hiện Quy chế thống nhất các hoạt động đối ngoại ban hành kèm theo Quyết định số 272-QĐ/TW; Hướng dẫn số 05-HD/BĐNTW, ngày 26-3-2019, của Ban Đối ngoại Trung ương về hướng dẫn thực hiện Quy chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại ban hành kèm theo Quyết định số 272-QĐ/TW;...
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 156
(8), (9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 284, 162
(10) Xem: Nguyễn Thị Mai: “Công tác thông tin đối ngoại trong quá trình hội nhập quốc tế”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 4-2022, tr. 97
(11) Ban Tuyên giáo Trung ưong - Ban Chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại: Rạng danh Tổ quốc cơ đồ Việt Nam 
Dấu ấn 2021, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 108
(12) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 2002, t. 23, tr. 525
(13) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 2007, t. 49, tr. 591
(14) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 2007t. 52, tr. 58
(15) Văn kiện Đàng toàn tập, Sđd, 2007, t. 54, tr. 233 - 234
(16) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 2018, t. 67, tr. 995
(17) Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự: Phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2020, tr. 36
(18) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1980, t. 20, tr. 99
(19) Mạch Quang Thắng: Xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo sự chỉ dẫn của tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2022, tr. 313
(20) Xem: Mai Đức Ngọc (chủ biên): Định hướng, giải pháp báo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 227 – 228
(21) Năm 2019, Việt Nam có 58 văn phòng thường trú báo chí Việt Nam tại nước ngoài. Lực lượng thông tin đối ngoại phối hợp có các ban, bộ, ngành Trung ương và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; 100% các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho 1 đơn vị đầu mối về thông tin đối ngoại, giao lãnh đạo cấp vụ là cán bộ phụ trách thông tin đối ngoại; 100% các bộ, cơ quan ngang bộ đã ban hành kế hoạch thông tin đối ngoại hằng năm, thành lập, kiện toàn Ban chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại; 100% số cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có đầu mối phối hợp liên hệ trong việc triển khai Quy chế phối họp giữa Bộ Ngoại giao và các cơ quan trong nước về công tác thông tin đối ngoại của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài;... (Nguồn: Bộ Thông tin và Truyền thông: Sách trắng công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam 2021, Nxb. Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2021, tr. 154).

VIỆT NAM LUÔN THỰC HIỆN NHẤT QUÁN CHÍNH SÁCH TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO

Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến các hoạt động tôn giáo và đã ban hành những chủ trương, chính sách nhằm tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động đúng tôn chỉ mục đích và Hiến pháp, pháp luật. Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước là tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân, thực hiện bình đẳng giữa các tôn giáo; bảo đảm sinh hoạt tôn giáo đúng pháp luật, đúng Hiến chương và điều lệ của các tôn giáo được Nhà nước công nhận. Qua đó, giữ gìn, phát huy phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp, nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước, không ngừng chăm lo đời sống cho Nhân dân, tạo điều kiện cho đồng bào có đạo, chức sắc các tôn giáo thực hiện tốt việc tu hành chân chính và làm tròn bổn phận của công dân đối với Tổ quốc. Trong tiến trình cách mạng của đất nước, để khẳng định chính sách nhất quán, những nỗ lực của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân, được khẳng định trên nguyên tắc Hiến định tại các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980,1992 đến Hiến pháp năm 2013 được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện văn bản pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, tiệm cận luật pháp quốc tế và Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị, năm 1966 (ICCPR) mà Việt Nam đã tham gia thành viên, nhằm bảo đảm cho mọi người được thụ hưởng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng tốt hơn trên thực tế bằng các văn bản pháp luật như: Pháp lệnh số 21/2004/PL-UBTVQH 11 “Quy định về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo”; Nghị định số 22/2005/NĐ-CP, ngày 01/3/2005 Hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh; Chỉ thị số 1940/CT-TTg ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về nhà đất liên quan đến tôn giáo. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”; Quốc hội khóa XIV đã ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; Chính phủ đã ban hành Nghị định số 162/2017/NĐ-CP và các văn bản pháp luật khác đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân… Thế nhưng, các thế lực xấu chưa bao giờ từ bỏ âm mưu “diễn biến hoà bình”, lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, móc nối với một số đối tượng bất mãn chế độ, có tư tưởng định kiến với Đảng, Nhà nước ta, xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, quy chụp những điều không có thật, yêu cầu thả người “đấu tranh cho tự do tôn giáo”. Trong khi đó, thực tế ở Việt Nam là tự do tôn giáo, chưa thấy người dân phản ứng chính sách, pháp luật của Nhà nước nghiêm cấm giáo dân, tín đồ hành lễ tại cơ sở thờ tự... Các thế lực này xuyên tạc quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo “việc đăng ký điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung” là nhằm “kìm kẹp hoạt động tôn giáo”, lợi dụng những vấn đề xã hội như: ô nhiễm môi trường, công tác cán bộ, công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước để xuyên tạc quan điểm, chủ trương, chính sách pháp luật của Việt Nam với mục tiêu là gây rối loạn lòng dân, bao gồm cả chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo, gây sự hoài nghi, giảm sút niềm tin với Đảng, Nhà nước ta. Trong tình hình hiện nay, xu thế hội nhập và phát triển, tác động của cách mạng khoa học công nghệ, bên cạnh thời cơ để xây dựng và phát triển đất nước, cũng đặt ra nhiều thách thức. Đảng, Nhà nước ta luôn khẳng định, động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, xoá bỏ mặc cảm, định kiến, không phân biệt đối xử về thành phần giai cấp, dân tộc, tôn giáo, tôn trọng ý kiến khác nhau, không trái với lợi ích đất nước, dân tộc, đề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, vì sự ổn định, phát triển của đất nước. Mỗi khi Đảng có chủ trương, quan điểm mới về tôn giáo thì Nhà nước kịp thời thể chế bằng những văn bản pháp luật để đưa vào thực tiễn. Đảng, Nhà nước ta kịp thời uốn nắn, chấn chỉnh để công tác tôn giáo đi vào nề nếp, đúng hướng, tạo sự tin tưởng trong giới chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo để xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần đã khẳng định “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín của đất nước như ngày nay”, đó là do sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, trong đó có sự đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.