Thứ Sáu, 7 tháng 7, 2023

 

Phản động nhân danh lòng yêu nước

Thời gian gần đây, các thế lực thù địch sử dụng nhiều luận điệu khác nhau để kích động chống Ðảng, chống Nhà nước ta, kêu gọi lật đổ chính quyền. Dù nấp dưới danh nghĩa nào, vẫn có thể nhận ra các luận điệu nhằm mục đích chống phá của chúng. Mới đây, một số website và blog truyền bá bài viết của Phạm Lê Vương Các - người tự giới thiệu là "sinh viên đại học năm thứ ba"(!?), cũng nằm trong  các thủ đoạn mà các thế lực thù địch đang triển khai.

Sau khi viện dẫn "triết gia Socrate bị kết án tử hình vì tội đầu độc tư tưởng cho giới trẻ và chống lại nhà nước dân chủ chủ nô", Bruno "phải lên máy chém vì ủng hộ thuyết "nhật tâm", Phạm Lê Vương Các nhắc tới một số nhân vật lịch sử như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học... và gọi họ là "những người tiên phong trong việc chống nhà nước phong kiến nửa thuộc địa đương thời để xóa bỏ sự nô dịch, lạc hậu, và bất công". Từ những cứ liệu đó, tác giả này kết luận "không thể xem chống nhà nước là hành vi hoàn toàn tiêu cực được". Khi làm công việc này, Phạm Lê Vương Các đã bỏ qua một nội dung có tính chất nền tảng là bối cảnh lịch sử của mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử, và tính tất yếu của quá trình nhận thức cùng hành vi của con người trong bối cảnh lịch sử ấy. Phải chăng, tác giả do thiếu hiểu biết hay cố tình bỏ qua nội dung nền tảng này, đánh đồng nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến nửa thuộc địa với nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân hiện nay? Trên thực tế, bản chất các loại hình nhà nước mà những nhân vật lịch sử do Phạm Lê Vương Các viện dẫn đã từng sống lại hoàn toàn khác nhau, mục đích đấu tranh của mỗi người cũng rất khác nhau. Từ sự mập mờ này, Phạm Lê Vương Các nhận định "tuy cùng một  hành vi chống nhà nước, nhưng đã làm cho Việt Nam sản sinh ra những con người "phản động" theo tinh thần lý luận đấu tranh giai cấp nhưng lại mang bản chất "yêu nước" theo tinh thần ý thức trách nhiệm của một công dân đấu tranh cho dân chủ tiến bộ, tùy theo cách hiểu khác nhau của mỗi người". Sao lại đánh đồng "phản động" với "yêu nước"? Nếu là người hiểu biết, không thể nhầm lẫn giữa hai phạm trù đối nghịch nhau như thế. Phản động hay yêu nước đều phải dựa trên các tiêu chí xét đoán rõ ràng, được cả cộng đồng thừa nhận, không phải muốn là có thể nói vống lên. Trong cuộc sống, suy nghĩ và hành vi của con người có ý thức đều hướng tới mục tiêu cụ thể, mà tựu trung trước hết là vì nhu cầu của bản thân mình và vì nhu cầu của cộng đồng mà mình là thành viên. Thử hỏi ba blogger mà Phạm Lê Vương Các đứng ra bao biện cho họ đã đóng góp gì cho đất nước, cho cộng đồng nơi họ sống, mà có thể gán cho tên gọi "người yêu nước"? Việc họ viết năm, bảy cái entry chứa đựng thông tin mơ hồ, thật - giả và tốt - xấu lẫn lộn... để vu cáo chính quyền lẽ nào lại là biểu hiện của lòng "yêu nước"? Và không biết vì ấu trĩ không hiểu mối quan hệ giữa hiến pháp và pháp luật với nhà nước hay tôn thờ chủ nghĩa vô chính phủ mà Phạm Lê Vương Các còn viết một cách rất tùy tiện rằng: "Không thể lấy hiến pháp và pháp luật để bảo vệ Nhà nước"! Thử hỏi, nếu Nhà nước không có hiến pháp và pháp luật sẽ ra sao, ai sẽ bảo vệ quyền lợi của người dân?! Xã hội sẽ ra sao nếu mỗi công dân lại tự đề ra một luật riêng cho bản thân để muốn làm gì thì làm?

Nguy hiểm hơn, theo Phạm Lê Vương Các: "Một khi nhà nước không còn là của dân, do dân, và vì dân trên thực tế thì chống lại nhà nước đó là hành vi tất yếu". Cần vạch rõ sự dối trá này vì nó chỉ đúng khi "dân" ở đây là đại đa số nhân dân, chứ không phải là một vài cá nhân chưa làm được bất cứ điều gì cho dân nhưng vẫn xưng xưng tự nhận là "đại diện của nhân dân". Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhà nước thuộc địa nửa phong kiến  ở Việt Nam chỉ phục vụ bộ máy cai trị thực dân, thẳng tay đàn áp bóc lột nhân dân. Còn Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được Hiến pháp khẳng định là Nhà nước "của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân". Chúng ta xây dựng Nhà nước pháp quyền chính là xây dựng một nhà nước dân chủ ngày càng hoàn thiện, nơi nhân dân đứng ra tự tổ chức, tự quản lý, tự điều hành xã hội của mình. Tính thống nhất bao trùm lên mọi hoạt động tổ chức và thực hiện quyền lực của nhân dân, chứ không phải mâu thuẫn hay đối kháng. Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do nhân dân lập ra thông qua bầu cử, ý chí của đại đa số nhân dân thể hiện qua hoạt động của Nhà nước một cách công khai, minh bạch, và hành động của Nhà nước thể hiện ý chí, tư tưởng, nguyện vọng của nhân dân. Nhân dân lập ra Nhà nước để bảo vệ cho các quyền và lợi ích của chính mình, nếu Nhà nước không có Hiến pháp và pháp luật bảo vệ thì sẽ không bảo vệ được nhân dân. Ðiều 6 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (năm 1992) quy định "Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân"; Ðiều 53 khẳng định công dân "có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương". Trong trường hợp công dân không đồng tình với Nhà nước, hoặc muốn đưa ra ý kiến riêng thì có thể "kiến nghị với cơ quan Nhà nước", Ðiều 74 nêu cụ thể "Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào". Quy định của pháp luật nước ta cũng nêu rõ, công dân có quyền phản đối cơ quan Nhà nước, công dân có thể kiện cơ quan Nhà nước ra tòa án. Ðó là quyền của công dân, bởi không phải lúc nào các cơ quan nhà nước cũng đúng, và ở nước ta đã có một số trường hợp công dân thắng kiện cơ quan nhà nước.

Bên cạnh đó, Phạm Lê Vương Các còn cho rằng, có sự khác nhau trong quan niệm "chống nhà nước" giữa "các nước dân chủ" với các nước XHCN. Xét từ chính trị học, tất cả các mô hình nhà nước đều có những mặt tốt và mặt hạn chế, con người luôn cố gắng tiệm cận với một mô hình nhà nước hoàn hảo như tiệm cận với chân lý. Nhà nước còn có tính lịch sử, văn hóa sâu sắc, không thể đem mô hình nhà nước của quốc gia này áp dụng cho quốc gia khác mà hy vọng sẽ có kết quả. Tuy nhiên, Phạm Lê Vương Các lại đưa ra quan niệm lệch lạc: "chống lại nhà nước XHCN ở đây luôn được nhà cầm quyền xem là mối đe dọa lực lượng thống trị, an ninh quốc gia, phá vỡ khối đại đoàn kết thống nhất, và lý tưởng của toàn dân".  Xét từ nguồn gốc và bản chất của nhà nước, điều này thật ngây thơ, người viết hoàn toàn không hiểu biết. Ðể bảo vệ nhà nước, mọi quốc gia đều phải áp dụng các biện pháp bảo đảm an ninh, một số quốc gia phương Tây còn theo dõi tường tận đến từng cá nhân, thậm chí phát động tấn công các quốc gia khác với lý do... để bảo đảm an ninh! Ở nước ta, quyền lực nhà nước là thống nhất, dù là hành pháp, lập pháp hay tư pháp đều phải làm đúng, làm hết trách nhiệm của mình. Nhà nước khuyến khích hoạt động phản biện xã hội thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể. Khi công dân có vấn đề cần giải quyết, họ đều có quyền yêu cầu các tổ chức đoàn thể, hệ thống thông tin đại chúng... giúp đỡ. Song không vì thế, công dân lại làm dư luận hoang mang, gây mất ổn định xã hội bằng đưa tin bịa đặt trên internet, nói xấu lãnh đạo, nói xấu người khác mà không đưa ra bằng chứng, rồi kích động bạo loạn, kêu gọi lật đổ chính quyền... Các Ðiều 87, Ðiều 88, Ðiều 92 của Bộ luật Hình sự quy định rõ các tội danh liên quan đến hành vi chống chính quyền nhân dân, chỉ có ai cố tình không hiểu mới phát ngôn tùy tiện như vậy. Xét trên mọi phương diện, hành vi "làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu có nội dung chống nhà nước" đều rất nguy hiểm đối với xã hội và không thể gọi đó là hành vi yêu nước. Vì thế, các nước phương Tây đã đối xử rất cứng rắn với Julian Assange khi trang mạng Wikileaks tải lên những thông tin "nhạy cảm".

Nhà nước của chúng ta đang có bước chuyển quan trọng để tự hoàn thiện, từ đó tiếp tục tổ chức, lãnh đạo sự nghiệp phát triển đất nước, củng cố niềm tin của mọi tầng lớp nhân dân. Và khi trong bộ máy Nhà nước còn những "con sâu làm rầu nồi canh", chúng ta cần đấu tranh làm trong sạch theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI). Hệ thống pháp luật của nước ta được xây dựng nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, nhưng một số cán bộ, công chức chưa thực hiện đúng nhiệm vụ, chức trách được giao, vẫn còn tình trạng cơ hội, trục lợi cá nhân, gây bất bình trong nhân dân. Những cán bộ trong bộ máy nhà nước, doanh nghiệp vi phạm pháp luật bị khởi tố trong thời gian qua là minh chứng cho quyết tâm lập lại kỷ cương xã hội của Nhà nước. Do đó, mỗi công dân cần có cái nhìn toàn diện hơn về vai trò của Nhà nước, cũng như cần đóng góp thiết thực để xây dựng Nhà nước. Từ lâu, những ý kiến đóng góp tâm huyết của người yêu nước chân chính luôn luôn được ghi nhận, nghiên cứu, xem xét một cách nghiêm túc.

ANH KHÔI

 

 

 

Mười ngày rung chuyển thế giới’ – cuộc Cách mạng Tháng Mười qua

góc nhìn một người Mỹ

“Tôi mong muốn cuốn sách được phát hành hàng triệu bản và dịch ra đủ mọi thứ tiếng vì nó rất sinh động khi diễn tả về những sự kiện cực kỳ quan trọng, giúp hiểu thế nào là cách mạng vô sản, thế nào là chuyên chính vô sản”, đó là những lời bình của Vladimir Ilyich Lenin – lãnh tụ thiên tài của cách mạng tháng Mười Nga về ấn phẩm “Mười ngày rung chuyển thế giới”. Và người đã đến nước Nga, đến Cung điện mùa Đông để viết nên tác phẩm xuất sắc về cuộc cách mạng vĩ đại ấy là John Reed – một nhà báo Mỹ.

Nhà báo Mỹ mang tâm hồn người Cộng sản

Nhà báo John Reed sinh ngày 22/10/1887 trong một gia đình khá giả ở thành phố Portland, thuộc bang Oregon của Mỹ. Ngay từ khi còn nhỏ, John Reed luôn được gia đình cho học tại các ngôi trường danh tiếng nhất. Năm 1910, sau khi tốt nghiệp đại học Harvard, John Reed đã có dịp chu du tới nhiều miền đất lạ, gặp gỡ những con người xa lạ và tiếp cận với nhiều nền văn hoá, dòng tư tưởng mới. Sức hút của những chuyến đi xa, sự thôi thúc của một tâm hồn phóng khoáng, ưa giãi bày quan điểm, thích bùng nổ đã khiến ông quyết định chọn nghề báo.

Và trong những tháng ngày tác nghiệp, đặc biệt là trong những chuyến đi xa, như tới Mexico năm 1913 để viết về các cuộc cách mạng nước này cho tờ Metropolitan Magazine, tới quảng trường Madison Square Garden để viết về cuộc đình công của công nhân, hay tới Colorado để viết về cuộc thảm sát Ludlow… đã khiến cho John Reed dần có những suy nghĩ về giai cấp, về bóc lột, giàu nghèo… những tư tưởng của một người cộng sản mà bản thân ông có lẽ cũng không tự ý thức được. Và con đường dẫn ông tới nước Nga, đến với cách mạng tháng Mười cũng bắt đầu mở ra từ đấy.

Sự ra đời của “Mười ngày rung chuyển thế giới”

John Reed đến Nga vào mùa hè năm 1917. Tại đây, ông đã được chứng kiến bước chuyển mình của xã hội Nga, báo trước một cơn bão cách mạng đang tràn đến. Bên cạnh chính quyền của chính phủ lâm thời giai cấp tư sản, có một chính quyền khác tồn tại song song của giai cấp công nhân, nông dân và binh lính nước Nga với các Xô viết đại biểu.

Khi Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra vào ngày 7/11/1917, John Reed đã thấy được sức mạnh của quần chúng công nông binh dưới sự dẫn dắt và lãnh đạo của những người Bolshevik. Ông đã có mặt ở các địa điểm nóng bỏng nhất, từ Cung điện Mùa đông ở thành Petrograd đến điện Smol’nyi trong những ngày khởi nghĩa giành chính quyền và cả ở bên các chiến lũy trên đường phố Moskva sục sôi cách mạng.

Có thể nói, những ngày sát cánh bên các chiến sĩ Bolshevik, lần diện kiến Lênin, hay những lần bị chính quyền Mỹ bắt giam… đã khiến những tư tưởng cộng sản, tư tưởng về cách mạng tháng Mười, về cái lý của những người cộng sản, của giai cấp công nhân đứng lên giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp thấm đẫm trong tâm hồn nhà báo – chiến sĩ John Reed. Và, “Mười ngày rung chuyển thế giới” đã ra đời trong hoàn cảnh ấy.

Xuất bản năm 1919 tại New York, cuốn sách gồm 12 chương, diễn giải nguyên nhân dẫn đến cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại và quá trình diễn ra sự kiện lịch sử này. Mặc dù John Reed giới thiệu với người đọc về cuộc cách mạng qua góc nhìn của một người ngoại quốc nhưng ông đã đem đến cho độc giả một cảm nhận hết sức chân thực và toàn cảnh về cuộc cách mạng vĩ đại ở nước Nga. Có thể nói, trong “Mười ngày rung chuyển thế giới”, John Reed đã làm được đúng như những gì chính ông từng kì vọng, đó là: “Kể lại lịch sử những ngày vĩ đại ấy bằng con mắt của một người ghi chép có lương tâm, cố gắng ghi lại sự thật”.

Ngay sau khi xuất bản, “Mười ngày rung chuyển thế giới” đã thu hút được sự chú ý đặc biệt của dư luận. Và cho tới nhiều thập kỷ sau, tác phẩm này vẫn được tạp chí New York Times xếp vào danh sách “100 ấn phẩm báo chí xuất sắc nhất mọi thời đại”.

Lênin đã đánh giá rất cao cuốn sách “Mười ngày rung chuyển thế giới”. Có thể nói, sự trân trọng của Lenin đối với cuốn sách này cũng chính là sự trân trọng mà lãnh tụ Bolshevik dành cho tác giả John Reed, một nhà báo Mỹ đã sống tại Nga trong những ngày sục sôi của Cách mạng Tháng Mười để có những trang viết rất chân thực, sâu sắc và xúc động về sự kiện này. Chính vì điều đó, sau khi qua đời vào ngày 17/10/1920, thi hài ông được vinh dự mai táng gần chân tường điện Kremlin của Mos

 

Quan điểm Marxist vẫn ‘vững như bàn thạch’ trong thế kỷ 21

Có nhiều cách giải thích về tư tưởng của Marx. Nhiều trong số đó dựa trên phân tích khách quan. Nhưng cũng có người tìm cách bác bỏ Marx bằng cách viện dẫn những luận điệu chống Cộng sản theo kiểu hoang dã.

Tất nhiên, không phải lúc nào những nhận định của Marx cũng chính xác, nhưng ông vẫn là một gương mặt đáng được coi trọng vì những quan điểm vẫn còn nguyên giá trị trong thế kỷ 21.

1. Marx không chỉ đơn giản gạt bỏ chủ nghĩa tư bản. Ông ấy đã rất ấn tượng về nó. Ông cho rằng đây là hệ thống sản xuất có năng suất cao nhất mà thế giới từng đạt được.

“Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại. Sự chinh phục những lực lượng thiên nhiên, sự sản xuất bằng máy móc, việc áp dụng hoá học vào công nghiệp và nông nghiệp, việc dùng tàu chạy bằng hơi nước, đường sắt, máy điện báo, việc khai phá từng lục địa nguyên vẹn, việc khai thông các dòng sông cho tầu bè đi lại được, hàng khối dân cư tựa hồ như từ dưới đất trôi lên, có thế kỷ nào trước đây lại ngờ được rằng có những lực lượng sản xuất như thế vẫn nằm tiềm tàng trong lòng lao động xã hội?”.

– Tuyên ngôn Cộng sản.

2. Marx đã dự đoán chính xác rằng chủ nghĩa tư bản sẽ thúc đẩy cái mà ngày nay gọi là toàn cầu hóa. Ông nhìn thấy chủ nghĩa tư bản tạo ra một thị trường thế giới, trong đó các quốc gia sẽ ngày càng phụ thuộc lẫn nhau.

“Do bóp nặn thị trường thế giới, giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng trong tất cả các nước mang tính chất thế giới. Mặc cho bọn phản động đau buồn, nó đã làm cho công nghiệp mất cơ sở dân tộc. Những ngành công nghiệp dân tộc đã bị tiêu diệt và đang ngày càng bị tiêu diệt… Thay cho những nhu cầu cũ được thoả mãn bằng những sản phẩm trong nước, thì nảy sinh ra những nhu cầu mới, đòi hỏi được thoả mãn bằng những sản phẩm đưa từ những miền và xứ xa xôi nhất về. Thay cho tình trạng cô lập trước kia của các địa phương và các dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc”.

– Tuyên ngôn Cộng sản.

3. Không giống như các xã hội trước đây, có xu hướng bảo tồn cách thức sản xuất truyền thống, chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh nhờ việc phát minh ra các phương thức sản xuất mới và ảnh hưởng mạnh đến lối sống của con người.

Công nghệ đã thay đổi cuộc sống của chúng ta với tốc độ nhanh hơn bao giờ hết. Sản phẩm cũ liên tục phải nhường chỗ cho những sản phẩm mới (và tương tự với những người tạo ra chúng). Điều này có thể gây lo lắng sâu sắc, ngay cả khi những thay đổi mang tính tích cực. Nó có thể khiến nhiều người cảm thấy bị bỏ lại phía sau vì các giá trị và cách sống của họ không còn chỗ đứng trên thế giới.

Ngoài ra, việc sử dụng các công nghệ và phương pháp sản xuất mới để theo đuổi lợi nhuận cho số ít có thể dẫn đến những hậu quả không lường trước được. (Nếu sống trong thời đại của chúng ta, chắc chắn Marx sẽ tuyên bố rằng biến đổi khí hậu là hậu quả của một thứ chủ nghĩa tư bản không được kiểm soát.)

“Giai cấp tư sản không thể tồn tại, nếu không luôn luôn cách mạng hoá công cụ sản xuất, do đó cách mạng hoá những quan hệ sản xuất, nghĩa là cách mạng hoá toàn bộ những quan hệ trong xã hội. Trái lại đối với tất cả các giai cấp công nghiệp trước kia thì việc duy trì nguyên vẹn phương thức sản xuất cũ là điều kiện kiên quyết cho sự tôn tại của họ. Sự đảo lộn liên tiếp của sản xuất, sự rung chuyển không ngừng trong tất cả những quan hệ xã hội, sự luôn luôn hoài nghi và sự vận động làm cho thời đại tư sản khác với tất cả các thời đại trước. Tất cả những quan hệ xã hội cứng đờ và hoen rỉ, với cả tràng những quan niệm và tư tưởng vốn được tôn sùng từ nghìn năm đi kèm những quan hệ ấy, đều đang tiêu tan; những quan hệ xã hội thay thế những quan hệ đó chưa kịp cứng lại thì đã già cỗi ngay. Tất cả những gì mang tính đẳng cấp và trí tuệ đều tiêu tan như mây khói; tất cả những gì là thiêng liêng đều bị ô uế, và rốt cuộc, mỗi người đều buộc phải nhìn những điều kiện sinh hoạt của họ và những quan hệ giữa họ với nhau bằng con mắt tỉnh táo”.

– Tuyên ngôn Cộng sản.

4. Các công ty hùng mạnh, sự tập trung của cải và các phương pháp sản xuất mới khiến các chuyên gia độc lập và thương gia trung lưu ngày càng khó duy trì vị thế, khi kỹ năng của họ không còn được trọng dụng. Nói cách khác, Marx đã tiên liệu về sự tiến bộ của các xã hội tư bản.

“Những nhà tiểu công nghiệp, tiểu thương nghiệp và người thực lợi nhỏ, thợ thủ công và nông dân là những tầng lớp dưới của tầng lớp trung đẳng xa kia, đều bị rơi xuống hàng ngũ giai cấp vô sản, một phần vì số vốn ít ỏi của họ không đủ cho phép họ quản lý những xí nghiệp, nên họ bị sự cạnh tranh của bọn tư bản hơn đánh bại, một phần vì sự khéo léo nhà nghề của họ bị những phương pháp sản xuất mới làm giảm giá trị đi. Thành thử giai cấp vô sản được tuyển mộ trong tất cả các giai cấp của dân cư”.

– Tuyên ngôn Cộng sản.

5. Marx không tìm cách xóa bỏ sở hữu tài sản. Ông không muốn đại đa số mọi người có ít của cải vật chất hơn. Ông không phải là người theo chủ nghĩa duy vật không tưởng.

Điều mà ông phản đối là một lượng lớn tài sản và của cải của xã hội lại thuộc sở hữu của một số ít các nhà tư bản trong giai cấp tư sản. Trên thực tế, ở phần cuối của trích dẫn dưới đây, Marx và F. Engels buộc tội chủ nghĩa tư bản tước đoạt tài sản mà người lao động xứng đáng được hưởng:

“Đặc điểm nổi bật của chủ nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ tài sản nói chung, mà là xóa bỏ tài sản tư sản. Nhưng chế độ tư hữu tư sản hiện thời, lại là biểu hiện cuối cùng và đầy đủ nhất của phương thức sản xuất và chiếm hữu sản phẩm dựa trên những đối kháng giai cấp, trên cơ sở những người này bóc lột những người kia.

Theo ý nghĩa đó, những người Cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành một luận điểm duy nhất này là: xoá bỏ chế độ tư hữu.

Người ta trách những người cộng sản chúng tôi là muốn xoá bỏ sở hữu do cá nhân mỗi người làm ra, kết quả lao động của cá nhân, sở hữu mà người ta bảo là cơ sở của mọi tự do, mọi hoạt động và mọi sự độc lập của cá nhân.

Cái sở hữu làm ra, kiếm được một cách lương thiện và do lao động của bản thân tạo ra! Phải chăng người ta muốn nói đến cái hình thức sở hữu có trước sở hữu tư sản, tức là sở hữu của người tiểu tư sản, của người tiểu nông? Chúng tôi có cần gì phải xoá bỏ cái đó, sự phát triển của công nghiệp đã xoá bỏ và hàng ngày vẫn tiếp tục xoá bỏ cái đó rồi”.

– Tuyên ngôn Cộng sản.

6. Marx nghĩ rằng con người có khuynh hướng tự nhiên là cảm thấy được kết nối với các đối tượng mà họ đã làm hoặc tạo ra.

Ông gọi đây là sự “đối tượng hóa” của lao động, theo đó ý ông muốn nói rằng chúng ta đặt một cái gì đó của bản thân vào công việc của mình. Khi một người không thể kết nối với công trình sáng tạo của chính mình, khi một người cảm thấy mình “ở bên ngoài” với nó, thì kết quả là sẽ bị tha hóa. Giống như thể bạn đang tạc một bức tượng, sau đó ai đó đã lấy nó khỏi bạn và bạn không bao giờ được phép nhìn thấy hoặc chạm vào nó nữa. Marx cho rằng công nhân ở vị trí tương đương như vỵ trong các nhà máy tư bản thế kỷ 19.

Vậy thì điều gì tạo nên sự tha hóa lao động?

“Đầu tiên, lao động trở thành mặt bên ngoài của người lao động, tức là nó không thuộc về bản chất bên trong của người đó. Vì vậy, trong công việc của mình, người lao động phủ nhận chính mình. Anh ta không hạnh phúc, không được phát triển tự do năng lực thể chất và tinh thần. Thậm chí, lạo động trở thành sự hành hạ thể xác và hủy hoại tâm trí. Người lao động thỉ cảm thấy mình là chính mình khi không làm việc, và khi làm việc thì thì anh ta không còn là mình nữa. Anh ta cảm thấy như ở nhà khi anh ta không làm việc, và khi anh ta làm việc anh ta không cảm thấy như ở nhà. Do đó, lao động của anh ta không phải là tự nguyện, mà là ép buộc. Đó là lao động cưỡng bức”.

– Bản thảo kinh tế – triết học năm 1844.

7. Marx muốn chúng ta có thể thoát khỏi sự chuyên chế của sự phân công lao động và những ngày làm việc kéo dài, thứ ngăn cản các cá nhân phát triển năng lực và tài năng tiềm ẩn.

Trong xã hội tư bản, chúng ta trở thành người phục vụ cho một loại hoạt động chuyên biệt, và các khía cạnh khác của nhân cách chúng ta không được phát triển. Trong một đoạn văn đầy khát vọng, mà Marx viết khi còn trẻ, ông đã định hình tầm nhìn của mình như sau:

“Vì ngay khi sự phân phối sức lao động ra đời, mỗi người có một lĩnh vực hoạt động cụ thể, riêng biệt, bị ép buộc, và từ đó anh ta không thể thoát ra. Anh ta là một thợ săn, một người đánh cá, một người chăn gia súc, hay một nhà phê bình nghiêm khắc, và phải duy trì như vậy nếu anh ta không muốn mất phương tiện mưu sinh của mình. Trong khi đó xã hội Cộng sản là nơi không ai bị bắt buộc tham gia một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt nào, mà mỗi người đều có thể làm bất kỳ việc gì mình muốn trong xã hội điều tiết sản xuất chung, và do đó, hôm nay tôi có thể làm việc này, rồi ngày mai chuyển sang một việc khác, đi săn vào buổi sáng, câu cá vào buổi chiều, chăn gia súc vào buổi tối, chỉ trích sau bữa ăn tối, chỉ vì tôi có trí tuệ, mà không bao giờ trở thành thợ săn, người đánh cá, người chăn gia súc hay nhà phê bình”.

– Hệ tư tưởng Đức.

8. Marx không phải là một người theo chủ nghĩa quyết định kinh tế thô thiển. Cách mọi người suy nghĩ và hành động để áp dụng quan điểm của ông mới là vấn đề.

Trong một bức thư Engels viết sau khi Marx qua đời, ông nhấn mạnh tầm quan trọng của kinh tế học, nhưng ông cũng cố gắng làm rõ rằng Marx và ông đã bị hiểu sai, và đó là một phần lỗi của chính họ (hãy chú ý đến sự phê phán những người được gọi là “nhà Marxist” ở phần cuối của đoạn trinh dẫn):

“Bản thân tôi và Marx cũng phải chịu một phần trách nhiệm về việc những người trẻ tuổi đôi khi nhấn mạnh vào mặt kinh tế một cách quá mức. Chúng tôi phải nhấn mạnh vào các nguyên tắc chính khi tranh luận với đối thủ, những người đã phủ nhận nó, và không phải lúc nào chúng tôi cũng có thời gian, địa điểm hoặc cơ hội để diễn giải cho họ về các yếu tố khác có tương tác. Nhưng nói đến việc trình bày một phần của lịch sử, tức là để tạo vận dụng vào thực tiễn, thì lại là một vấn đề khác và không có sai sót nào được cho phép. Tuy nhiên, thật không may, điều đó xảy ra quá thường xuyên khi mọi người nghĩ rằng họ đã hiểu đầy đủ một lý thuyết mới và có thể áp dụng nó… Và tôi không thể miễn cho nhiều ‘Người theo chủ nghĩa Marx’ gần đây khỏi sự sỉ nhục này, cho thứ rác rưởi tuyệt vời nhất đã được họ tạo ra…”.

– Thư Engels gửi J. Bloch ở Königsberg

Nguồn: Eight Marxist Claims That May Surprise You; Mitchell

Nguyễn Trọng Luật (NCS2018)

 

 

Một số chiêu bài bôi nhọ lãnh đạo Việt Nam của các thế lực thù địch trên không gian mạng

 

Chuẩn bị bước vào Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam, trong thời gian qua, với âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình”, một số đối tượng đã ra sức kích động, xuyên tạc những luận điệu sai lệch sự thật, với âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chúng lợi dụng truyền thông, tận dụng sự phát triển của các trang mạng xã hội để chia sẻ, lan truyền thông tin xấu với động cơ lợi ích cá nhân.

 

Thời gian gần đây, một số đối tượng còn xuyên tạc, bôi nhọ, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và một số địa phương. Thủ đoạn của chúng là tạo hàng loạt bài viết, video, hình ảnh xuyên tạc để đăng tải trên tất cả các mạng xã hội. Tần suất các bài viết được tải lên mạng hàng ngày, hàng giờ. Điều này khiến cho các công cụ tìm kiếm thông tin (chủ yếu là google) hiển thị các bài viết đó ở những vị trí đầu tiên khi được người dùng tìm kiếm. Với phương thức “mưa dầm thấm lâu”, một sự kiện xuyên tạc nhiều lần cùng một nội dung, chúng khiến cho người đọc từ bàng quan đến nghi ngại, và từ nghi ngại đến suy giảm niềm tin. Đây là thủ đoạn rất nguy hiểm của các thế lực thù địch, bởi hệ thống máy chủ đặt ở nước ngoài, việc kiểm soát rất khó khăn.

 

Điều nực cười hơn nữa là khi các đối tượng bị xử lý về hành vi Tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước, những kẻ cơ hội khác lại kích động, lấy chiêu bài dân chủ, nhân quyền “để đấu tranh”. Chúng đòi hỏi thực hiện pháp luật trong khi chính các đối tượng trên lại là những người không tôn trọng pháp luật. Được sự hậu thuẫn của tổ chức phản động ở nước ngoài, chúng xuyên tạc cái gọi là “đàn áp nhân quyền, thiếu tự do dân chủ”, kích động chống phá, gây phức tạp tình hình ANTT. Chúng đưa ra những viễn cảnh về tự do, dân chủ nhưng không chịu tìm hiểu rằng ở những “miền đất hứa” của chúng, hành vi tương tự cũng là vi phạm pháp luật nghiêm trọng.

 

Không ai là hoàn hảo. Dù là vĩ nhân, lãnh đạo, họ cũng có những khoảng trời, cuộc sống thường nhật riêng. Những thế hệ lãnh đạo đất nước vẫn đang kiên trì, tiếp nối nhau trong thực hiện mục tiêu xây dựng đất nước phồn vinh, giàu mạnh, tập trung chăm lo đời sống cho người dân. Dĩ nhiên, trước một chủ trương, một vấn đề, mỗi người đều có cách nhìn nhận riêng, quan điểm khác biệt. Tuy nhiên, không thể vì mưu cầu lợi ích cá nhân mà có hành vi xúc phạm, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, dù trong bất cứ trong hoàn cảnh nào.

 

Ai cũng có quyền tiếp nhận thông tin, quyền thể hiện, chia sẻ những quan điểm, chính kiến của bản thân trước nhiều vấn đề, sự kiện chính trị. Vậy làm thế nào để giữ cho mình sự chủ động, để không bị lung lay, tiêm nhiễm những thông tin vu cáo, bịa đặt trên mạng xã hội? Giữa mớ hỗn độn thông tin, mỗi người cần tỉnh táo để không bị lôi kéo, biến mình thành con rối của kẻ xấu, tiếp tay cho những mưu đồ thấp hèn. Điều này vừa gây nguy hại đến an ninh quốc gia, vừa vi phạm pháp luật, trái với đạo lý, thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam.

 

Chữa bệnh... phương phưởng?

 

Thực tiễn quản lý bộ đội cho thấy, điểm yếu nhất của đội ngũ CTV đại đội hiện nay là chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, kiến thức quân sự thường bị “hẫng” hoặc thiếu. Như bài viết “Động viên... phương phưởng” đã dẫn chứng: vì không hiểu hết yêu cầu kỹ chiến thuật môn học, không nắm chắc cấu tạo, tính năng của lựu đạn, nên CTV đã động viên bộ đội theo lối “trống giong, cờ mở”, hô hào bộ đội phải hăng hái hoạt động, mà không định hướng, hướng dẫn cụ thể. Bởi thế vô hình trung lòng nhiệt huyết, tinh thần trách nhiệm của cán bộ lại trở thành nguyên nhân dẫn đến những hạn chế của đơn vị.

Tôi là một cán bộ quân sự. Ngày trước khi còn là trung đội trưởng quản lý bộ đội, cũng có lúc tôi tỏ thái độ thiếu tôn trọng một số CTV mới tốt nghiệp ra trường. Tất nhiên, một phần vì tuổi quân, tuổi đời của tôi có nhỉnh hơn các đồng chí ấy, nhưng phần lớn là vì anh em không hiểu sâu, nắm chắc kiến thức quân sự nhưng lại không chủ động, tích cực hoàn thiện những khuyết thiếu đó, không làm cho cấp dưới phục mình bằng chính năng lực công tác. Thậm chí, có CTV bảo thủ, giấu dốt; số khác, lại áp đặt, chỉ tay năm ngón... nên anh em trong đơn vị không phục. Như vậy, nguyên nhân của "bệnh phương phưởng" thì có nhiều, nhưng trong đó việc yếu về năng lực, thiếu về kiến thức của CTV là một nguyên nhân quan trọng.

Tôi có kỷ niệm rất sâu sắc về một CTV đại đội trẻ tuổi. Năm 2007, khi nhận cương vị CTV đại đội anh chỉ vừa tròn 23 tuổi, trong khi cán bộ trung đội chúng tôi lại hơn anh vài ba tuổi và đã có ít nhất 4 năm thâm niên quản lý bộ đội. Thế nhưng chính anh đã để lại ấn tượng tốt đẹp trong tôi về hình ảnh của người CTV.

Khi mới về đơn vị công tác, tối nào cũng vậy, anh luôn dành thời gian đến tận phòng cán bộ trung đội để “kiểm tra” việc thục luyện giáo án của từng trung đội trưởng. Anh quan sát rất kỹ và thi thoảng có hỏi lại một số nội dung, vấn đề huấn luyện. Tất nhiên, chúng tôi không dám nghi ngờ “năng lực” của CTV vì cảm nhận ở anh thái độ nghiêm túc, trách nhiệm với công việc và cấp dưới. Một thời gian sau, anh bắt đầu đóng góp cho anh em những ưu, khuyết trong quá trình thục luyện và thực hành huấn luyện. Những đóp góp của anh rất chân thành và thể hiện vốn kiến thức khá toàn diện. Mãi đến khi tôi phát triển lên cán bộ đại đội và chuyển sang đơn vị khác, anh mới kể lại với tôi. Thì ra, mỗi lần đi “kiểm tra” là mỗi lần CTV "đi học". Sau khi theo dõi anh em thục luyện, anh trở về phòng riêng để học lại nội dung và rèn luyện tư thế, tác phong cho mình. Với nỗ lực tự học, tự rèn như vậy, anh đã 2 lần đạt danh hiệu CTV giỏi cấp sư đoàn, 3 năm liền là chiến sĩ thi đua cơ sở... Đến tháng 7-2010, anh được cấp trên tin tưởng bổ nhiệm CTV phó tiểu đoàn.

Tôi kể lại câu chuyện về CTV của tôi với mong muốn các CTV trẻ nói riêng, cán bộ quản lý bộ đội nói chung có cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về phương thức hoàn thiện mình và biết cách chữa bệnh... phương phưởng.

 

 

BIDEN HAY TRUMP, VIỆT NAM VẪN LÀ VIỆT NAM

 

Kể từ năm 1991 đến nay, Việt Nam duy trì chính sách ngoại giao 4 điểm: 

Một là, tạo dựng và củng cố môi trường hòa bình, ổn định cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hai là, ra sức tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi góp phần vào công cuộc phát triển đất nước, mở rộng hợp tác kinh tế.

Ba là, nâng cao vị thế nước nhà trên trường quốc tế. 

Bốn là, chủ động tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng duy trì thực hiện nguyên tắc "3 không": 

+ Không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào. 

+ Không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam. 

+ Không dựa vào nước này để chống nước kia.

Việt Nam có quan hệ ngoại giao, kinh tế, quân sự... ngang hàng với Mỹ, từng là đối thủ của Mỹ trên chiến trường, từng đánh bại Mỹ trên lãnh thổ của Việt Nam và hiện nay là một quốc gia đối tác của Mỹ trên cơ sở cả hai bên cùng có lợi. Việt Nam không liên minh quân sự, chính trị với Mỹ, càng không phải là 1 chư hầu của Mỹ, an ninh quốc phòng của Việt Nam cũng không phụ thuộc vào chiếc ô hạt nhân hay sự hiện diện của quân Mỹ trên lãnh thổ đất nước. 

Việc Trump hay Biden sẽ là Tân Tổng thống Mỹ, chính sách mới của các Tổng thống Mỹ trong nhiệm kỳ này chắc chắn sẽ có tác động đến kinh tế hoặc chính sách ngoại giao của Việt Nam, nhưng tuyệt nhiên nó sẽ không làm thay đổi các chính sách nền tảng và nguyên tắc đối ngoại, quân sự mà Việt Nam đã đặt ra. Mỹ có thể có những động thái "tưởng như giúp đỡ" Việt Nam trong một số thời điểm nhất định, chẳng hạn như ở biển Đông, nhưng sự "giúp đỡ" đó luôn gắn liền với lợi ích của Mỹ, vì vậy, dù Trump hay Biden cũng đừng quá ảo tưởng rằng họ sẽ giúp Việt Nam chống Trung Quốc hay họ sẽ dung túng cho Trung Quốc làm bá chủ thế giới. Đó là suy nghĩ sai lầm! 

Nói như Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh: "Việt Nam là của thế giới, Việt Nam vì thế giới nhưng giá trị của Việt Nam sẽ mãi là của Việt Nam", bất kể vị tổng thống nào lên cũng không thay đổi được sự thật đó. 

Độc lập, tự chủ là khát vọng ngàn đời của người Việt Nam, không có gì quý hơn độc lập, tự do, chủ quyền quốc gia là do chính dân tộc, quốc gia ấy bảo vệ, đừng trông mong gì vào những người ngoại quốc!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NẾU BIDEN THẮNG VÀ SUY NGHĨ "KÉO NHAU ĐI HỌC TIẾNG TRUNG"

Cáp Văn Đang

(Từ bao giờ mà một số người Việt lại mong muốn phó thác giao số mệnh dân tộc, chủ quyền quốc gia cho 1 tổng thống nước khác vậy???) 

Hơn ngàn năm Bắc thuộc, nước Việt vẫn sống, vẫn tồn tại, vẫn không chịu là phần của Thiên Triều, không chấp nhận nói tiếng Trung Quốc, vẫn khởi nghĩa, bị vùi dập, lại tiếp tục khởi nghĩa, vẫn vùng lên. Và từ chối sự đồng hóa.

Rồi thêm một ngàn năm sau nữa, trải qua bao nhiêu cuộc binh biến, các triều đại phong kiến Việt Nam vẫn chọn cách “vừa sống chung, vừa đối đầu” với các triều đại phong kiến Trung Quốc, vẫn hô “đánh” chứ không hô “hàng” tại mọi cuộc xâm lăng, vẫn tuyên bố rõ rằng: “Sông núi nước Nam, vua Nam ở”. Các đời vua Việt Nam vẫn mặc áo long bào, con dấu riêng, quân đội riêng, người Việt nói tiếng Việt, chứ không nói tiếng Trung Quốc. 

Rồi cả trăm năm bị phương Tây đô hộ, người Việt vẫn “từ chối” tiếng Pháp, tiếng Nhật, tiếng Anh… Người ta thường nói vui rằng, thà nói “đ** m* mày” và cầm súng chiến đấu, còn hơn nói mấy thứ tiếng đó. 

 

Nhiều quốc gia Nam Mỹ, khi bị đô hộ, đã nói thứ tiếng của các nước đô hộ, đó là Brazil nói tiếng Bồ Đào Nha, Argentina nói tiếng Tây Ban Nha. Hay nói vui một chút, như Mỹ chẳng hạn, quốc gia này nói tiếng Anh, và Anh cũng chính là một quốc gia từng đô hộ Mỹ, còn tiếng nói bản địa của Mỹ là tiếng nói của những thổ dân da đỏ. Gần hơn một chút, người Philippines coi tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai, quốc gia này cũng từng bỏ phiếu xin được trở thành một bang của Hoa Kỳ - những đã bị từ chối. 

Nhà văn hóa Phạm Quỳnh có một câu nói bất hủ: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn”. Phần vì Truyện Kiều là một tác phẩm viết bằng chữ Nôm, loại chữ mà người Việt sáng tạo ra dựa trên chữ Hán. Ngoài ra, hoàn cảnh mà nhà văn hóa Phạm Quỳnh nói câu đó đúng là vào lúc Việt Nam đang bị Pháp đô hộ, văn hóa Việt Nam gặp khủng hoảng, trào lưu “Tây hóa” lan rộng, một cuộc “xâm thực” văn hóa diễn ra.

Vậy mà, chỉ qua một cuộc cuộc bầu cử ở tận bờ bên kia Thái Bình Dương, nhiều người Việt đã nghĩ đến một viễn cảnh “học tiếng Trung Quốc” - ở đây có nghĩa là sợ Trung Quốc bành trướng, sợ Trung Quốc lớn mạnh, sợ Trung Quốc phát triển, hay xa hơn, là sợ Trung Quốc đánh Việt Nam. Có nhiều người Việt nghĩ rằng nếu ông Joe Biden nắm quyền, thì Trung Quốc sẽ rộng cửa phát triển, vì ông Trump đánh Trung Quốc, còn ông Joe Biden thì không. 

Họ thực sự đang mong muốn Mỹ có thể kìm hãm Trung Quốc. 

Lương Khải Siêu từng bút đàm với Phan Bội Châu, khuyên Phan Bội Châu không nên cầu viện Nhật đánh Pháp. Vì nếu việc ấy diễn ra, chỉ có Nhật thay Pháp, còn Việt Nam thì vẫn là một quốc gia thuộc địa. Dẫu biết so sánh là khập khiễng, nhưng về bản chất, chuyện Phan Bội Châu nhờ “Nhật đánh Pháp” và chuyện nhiều người Việt hiện nay nhờ “Mỹ đánh Trung Quốc” có khá nhiều điều tương đồng.

Lê Chiêu Thống từng cần viện nhà Thanh đem quân sang đánh Quang Trung, nhằm mục đích đòi lại ngôi báu và đi kèm với điều đó là việc đưa nước Việt trở thành một nước phụ thuộc vào Trung Quốc. Nguyễn Ánh cũng đã ngồi quỳ trước vua Xiêm - giờ là Thái Lan, mong muốn Xiêm đem quân tiến đánh phía Nam nước ta, nay là khu vực Tây Nam Bộ. Điểm chung của hai vị vua này, đều là việc bị người đương thời và hậu thế khinh miệt, coi là “cõng rắn cắn gà nhà”. 

Vậy mà, giờ đây, nhiều thanh niên sẵn sàng mang tâm tưởng “cầu viện” Mỹ, mong Trump chiến thắng, chỉ vì một suy nghĩ, ông Trump sẽ kìm hãm Trung Quốc. 

Bất cứ ai là tổng thống Mỹ, Joe Biden hoặc Trump, đều chỉ quan tâm đến lợi ích của Mỹ là trước tiên. Mà bất cứ một đảng phái nào, dù Dân chủ hay Cộng hòa, cũng đều có những chính sách kìm hãm Trung Quốc. Nói một cách đơn giản, phía Cộng hòa nhắm vào kinh tế, quân sự, ngoại giao… còn phía Dân chủ thường hay sử dụng quân bài dân chủ, nhân quyền, sắc tộc, tôn giáo… 

Dưới thời ông Trump, Việt Nam “bị” đưa ra khỏi danh sách các quốc gia hưởng ưu đãi của các nước phát triển. Rồi phía Chính phủ Mỹ còn cho rằng Việt Nam đã thao túng tiền tệ trong một thương vụ xuất khẩu lốp xe, rồi cũng từng không dưới 2 lần cho rằng Việt Nam là một kẻ thao túng tiền tệ và liên tục đe dọa sẽ áp thuế lên hàng xuất khẩu từ Việt Nam. Trên mạng xã hội, ông Trump từng viết rằng Việt Nam là “kẻ lợi dụng” trong chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, khiến thị trường chứng khoán Việt Nam chìm trong sắc đỏ. 

Vào đầu tháng 7, phía chính quyền TT Trump còn trực tiếp cho rằng Việt Nam, cùng với Trung Quốc và Đài Loan đã có những áp đặt vô lý tại Biển Đông, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Mỹ và đồng minh. Cũng từ những động thái gia tăng hoạt động quân sự tại Biển Đông của Mỹ, Trung Quốc từng đưa tên lửa ra đảo Phú Lâm, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Và tất nhiên, phía Mỹ và TT Trump chưa bao giờ thừa nhận chủ quyền Việt Nam tại Biển Đông, nên đừng nhầm tưởng và BỢ ĐÍT.

Đúng là trong nhiệm kỳ của ông Trump, Việt Nam phát triển hơn trông thấy, xuất khẩu và nhập khẩu tốt hơn, vị thế cao hơn, ít bị nhòm ngó về “nhân quyền”. Nhưng, không phải vì được cái này mà đánh đổi đi những cái khác, mà thậm chí, sự đánh đổi này còn không đáng.

Cái đáng ở đây, là việc dù bất cứ ai đắc cử, Việt Nam vẫn thể hiện mong muốn quan hệ hòa bình, chung sống hữu nghị, lợi ích đồng đều. Và mỗi người Việt Nam, cần giữ được "bản sắc" Việt Nam, làm bạn chứ không hòa nhập, "bắt tay" chứ không phải "quỳ gối".

Hàng ngàn năm ở cạnh Trung Quốc, làm gì có ông tổng thống nào, mà Việt Nam vẫn bảo vệ được độc lập, chủ quyền, vẫn có tiếng nói riêng, vẫn kết bạn với bạn bè khắp thế giới. Dù là ông Biden lên, hay ông Trump tại vị, thì Việt Nam vẫn phải độc lập, tự chủ, tự cường, phải tự đứng trên đôi chân của mình. 

Mình thực sự bực mình, vì đi đâu cũng thấy những bình luận kiểu: “Nếu ông Biden trúng cử thì kéo nhau đi học tiếng Trung Quốc là vừa” hoặc “Nếu ông Biden trúng cử thì ai lấy lại Hoàng Sa, Trường Sa cho Việt Nam”, cái quái gì vậy? 

Từ bao giờ, mà một đám người Việt lại muốn giao phó vận mệnh dân tộc, chủ quyền dân tộc vào tay một lãnh đạo đến từ nước ngoài như vậy? Rồi thậm chí sợ sệt, lo lắng nếu người lãnh đạo đó không trúng cử mà lại là một người khác. Người Mỹ bầu tổng thống của họ, vì quyền lợi của họ, chứ đâu bầu tổng thống cho người Việt Nam? Cứ đả kích chế độ Việt Nam Cộng Hòa là dựa hơi Mỹ, nhờ cậy Mỹ, nhưng với suy nghĩ như đã nói ở trên, thì tự nhìn nhận lại bản thân xem, có gì khác gì Việt Nam Cộng Hòa hồi trước đâu? Như vậy thì cha ông hy sinh làm gì, chiến đấu làm gì?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HUN ĐÚC ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI QUÂN NHÂN CÁCH MẠNG CHO VỮNG VÀNG

Nguyễn Thế Anh

“…Phải ra sức thi đua:

Luyện tập thân thể cho mạnh mẽ.

Nghiên cứu kỹ thuật cho thông thạo.

Trau dồi tinh thần cho vững chắc.

Hun đúc đạo đức của người quân nhân cách mạng cho vững vàng”.

Đây là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Thư gửi lớp “Chuẩn bị tổng phản công” Trường Trung học Lục quân Trần Quốc Tuấn (nay là Trường Sĩ quan Lục quân 1), đăng trên Báo Cứu quốc, số 1392, ngày 09 tháng 11 năm 1949.

Đây là thời điểm quân và dân ta đã bước sang năm thứ ba của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Nhằm nâng cao trình độ chính trị, quân sự, nhất là trình độ tác chiến của đội ngũ cán bộ chỉ huy các cấp, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của cuộc kháng chiến, Trường Trung học Lục quân Trần Quốc Tuấn đã mở lớp “Chuẩn bị tổng phản công”. Để động viên kịp thời, Người đã viết thư gửi đến lớp học này. Lời huấn thị của Bác tuy ngắn gọn, nhưng cụ thể và rõ ràng, thể hiện sự quan tâm sát sao và nhắc nhở sâu sắc đối với mỗi cán bộ chỉ huy trong quá trình học tập và rèn luyện tại Trường Trung học Lục quân Trần Quốc Tuấn cũng như các nhà trường khác trong Quân đội.

Thấm nhuần lời dạy của Bác, hơn 70 năm qua, các nhà trường quân đội đã liên tục phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, đào tạo, bồi dưỡng được hàng vạn cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực phục vụ kịp thời yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong từng giai đoạn cách mạng, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta giành thắng lợi vẻ vang trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong chiến tranh biên giới phía Bắc, Tây Nam, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và làm tròn nhiệm vụ quốc tế cao cả.

Đặc biệt trong những năm gần đây, thực hiện phương châm đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, lấy người học làm trung tâm, xây dựng nhà trường chính quy, tiên tiến, mẫu mực; các nhà trường đã tích cực triển khai đồng bộ, toàn diện các mặt công tác, đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong thời kỳ mới. Đi đôi với nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, các nhà trường luôn tích cực, chủ động trong công tác nghiên cứu khoa học và đã nghiên cứu thành công nhiều đề tài khoa học cấp Bộ, cấp ngành có chất lượng cao. Duy trì nghiêm nền nếp chính quy, chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội. Quản lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn kinh phí trên cấp, đầu tư xây dựng mới hệ thống cơ sở hạ tầng khang trang, hiện đại phục vụ tốt cho nhiệm vụ giáo dục, đào tạo và nâng cao đời sống vật chất tinh thần của bộ đội.

 

 

ÂM MƯU “PHI CHÍNH TRỊ HÓA” QUÂN ĐỘI TRÊN LĨNH VỰC

TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN HIỆN NAY

 

 “Phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch không có gì khác là làm cho quân đội ta dần dần biến chất, từ quân đội của nhân dân, mang bản chất của giai cấp công nhân, trở thành một đội quân phản bội lại lợi ích của Đảng, của nhân dân, phụng thờ và bảo vệ cho lợi ích của các tầng lớp, giai cấp bóc lột. Để thực hiện mục tiêu đó, chúng tập trung phủ nhận học thuyết Mác - Lênin về giai cấp và đấu tranh giai cấp, xuyên tạc tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng về quân sự, quốc phòng, an ninh, về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; tung ra các luận điệu lừa bịp về bản chất của quân đội ta. Chúng rêu rao: “quân đội phải là một lực lượng trung lập”; rằng: “quân đội phải đứng ngoài chính trị”. Tuy nhiên, thực tiễn khẳng định rằng: không có một quân đội nào "đứng ngoài chính trị", là "trung lập". Nghiên cứu quân đội các nước tư bản đều cho thấy, giai cấp tư sản không hề coi nhẹ, trái lại, rất coi trọng xây dựng nhân tố chính trị. Vấn đề này, ngay từ năm 1905, khi nói về “Quân đội và cách mạng”, V.I. Lê-nin đã bóc trần luận điệu lừa bịp đó của giai cấp tư sản: “Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản... Bọn này trong thực tế bao giờ cũng lôi kéo quân đội vào chính trị phản động”; mà cái “chính trị phản động” đó là để bảo vệ quyền lợi và sự thống trị của giai cấp tư sản... Đối với chúng ta, trong xây dựng quân đội kiểu mới - quân đội cách mạng, bao giờ Đảng ta cũng khẳng định rõ bản chất giai cấp, mục tiêu chính trị, mục tiêu chiến đấu của quân đội. Và trong suốt hơn 70 năm qua, quân đội ta luôn thể hiện rõ bản chất, truyền thống tốt đẹp của mình, đó là: Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì CNXH, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Có thể thấy, âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch không tách rời với âm mưu, thủ đoạn hòng “phi chính trị hóa” các lĩnh vực khác của đời sống xã hội; trong đó, nguy hiểm và thâm độc nhất là luận điệu phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chúng thường rêu rao: "Độc đảng là độc quyền, độc tài", là "thủ tiêu dân chủ"; rằng: "Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng lãnh đạo đất nước"; rằng: cần phải "bỏ Điều 4 của Hiến pháp" quy định về sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội; qua đó, phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang nhân dân. Từ đó, chúng gieo rắc những quan điểm nguy hại như: Quân đội phải được “quốc gia hóa”, “trung lập hóa”, hòng làm tê liệt, vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.

Trong tình hình hiện nay, lợi dụng chủ trương mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng, Nhà nước ta, lợi dụng các hình thức quan hệ, hợp tác về quốc phòng-an ninh giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, bóp méo bản chất cách mạng tốt đẹp của quân đội ta, thực hiện âm mưu chống phá ta một cách toàn diện trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận quân sự. Trong đó, chúng đặc biệt đề cao về một “sức mạnh quân sự mới” - sức mạnh của vũ khí công nghệ cao, hòng tuyên truyền cho một quan điểm quân sự tư sản nguy hiểm: vũ khí, kỹ thuật là nhân tố quyết định thắng lợi trên chiến trường; để phủ nhận vai trò của nhân tố chính trị, tinh thần trong chiến tranh; gieo rắc tâm lý hoài nghi, làm giảm sút lòng tin của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân với đường lối, nghệ thuật quân sự của Đảng, với khả năng chiến đấu và chiến thắng của quân đội ta trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

Cùng với những luận điệu đó, chúng còn triệt để lợi dụng những tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường, những biểu hiện tiêu cực, yếu kém trong xã hội ta để truyền bá tư tưởng dân chủ tư sản, lối sống thực dụng chủ nghĩa; tấn công, phá hoại trực tiếp vào tư tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ; bôi nhọ, làm mờ nhạt hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân, hòng làm xói mòn bản chất, truyền thống tốt đẹp của quân đội ta.

 

Nhận diện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội 


“Phi chính trị hóa” quân đội là âm mưu cực kỳ nham hiểm, nằm trong tổng thể chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta. Mục tiêu của chúng là làm thay đổi bản chất giai cấp công nhân của quân đội nhằm vô hiệu hóa quân đội; biến quân đội không còn là quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Trước các sự kiện chính trị quan trọng mang tính dấu mốc, các thế lực thù địch thực hiện chống phá quân đội ta một cách toàn diện cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Từ các vấn đề cơ bản về chính trị, bản chất giai cấp, hệ tư tưởng, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến những vấn đề về chức năng, nhiệm vụ, về cơ cấu, tổ chức, vũ khí trang bị... Toàn bộ các hoạt động của chúng đều chống phá trực diện vào “gốc” chính trị của quân đội ta, âm mưu làm cho quân đội mất phương hướng về chính trị, xa rời về bản chất cách mạng, rệu rã về tổ chức, mơ hồ về bạn thù, dẫn đến tê liệt, mất sức chiến đấu.

Nguy hiểm hơn, các thế lực thù địch thường xuyên sử dụng nhiều chiêu bài khác nhau hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ khó nhận diện và đề phòng. Khi thì chúng đứng hẳn về phía đối lập, ra mặt chống phá ta, có thời điểm lại như người trong cuộc, thể hiện “thiện chí”, “tâm huyết”, “trách nhiệm” của mình đối với các vấn đề thuộc vận mệnh của quốc gia, dân tộc. Từ đó, cố gắng khuyên nhủ “tư vấn” quân đội phải thực hiện cái chúng cho là “giải pháp” và “kế sách”.

Năm 2020 là năm cuối thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng, cũng là năm các đơn vị trong toàn quân tổ chức Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI. Trước vấn đề đó, các thế lực thù địch ráo riết chống phá, triệt để lợi dụng mọi vấn đề để thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội. Chúng ta dễ dàng nhận thấy sự chống phá của chúng trên các nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, tăng cường xuyên tạc, phủ định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và bản chất, truyền thống tốt đẹp của quân đội. Chúng nhận thấy rằng, vấn đề bản chất giai cấp là vấn đề cốt tử của mọi quân đội, chỉ “phi chính trị hóa” quân đội khi đã xóa bỏ bản chất giai cấp của quân đội ta. Bởi vì, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu lý tưởng chiến đấu, thể hiện tập trung chính trị của quân đội ta trong thực tiễn. Nguy hiểm hơn, chúng đòi xóa bỏ yếu tố “cách mạng” của quân đội. Sở dĩ, nội hàm “cách mạng” là bản chất “trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân”.

Thứ hai, chúng tăng cường phá hoại nền tảng tư tưởng của quân đội. Chúng biết rõ rằng, chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng vững chắc của QĐND Việt Nam. Trên cơ sở nền tảng tư tưởng ấy, quân đội ta ngày càng trưởng thành và lớn mạnh về mọi mặt. Để “phi chính trị hóa” quân đội, các thế lực thù địch điên cuồng xuyên tạc, bôi nhọ, công kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng. Với mục tiêu chỉ cần tạo ra được “không gian rỗng” về tư tưởng, sau đó nhồi nhét lý luận phản động, chủ nghĩa tư sản vào quân đội, gây hoang mang, dao động về nhận thức, mất phương hướng về hành động, mơ hồ về mục tiêu và lý tưởng chiến đấu.

Thứ ba, phủ định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội. Bởi lẽ, sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng là nhân tố quyết định sự trưởng thành và chiến thắng của QĐND Việt Nam. Để “phi chính trị hóa” quân đội ta, thì vấn đề xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội chúng xem là vấn đề cốt tử. Để thực hiện ý đồ, chúng đưa ra nhiều luận điệu tuyên truyền, lừa dối, triệt để lợi dụng những khuyết điểm, hạn chế của ta trong quá trình thực hiện chủ trương, chính sách để xuyên tạc đường lối. Chúng chỉ cần tạo tâm lý bất mãn, chống đối trong một bộ phận nhân dân, cán bộ, đảng viên và cả trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ quân đội để chính lực lượng này “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là đạt mục đích đề ra.

Thứ tư, chúng ra sức tìm cách can thiệp sâu rộng việc xây dựng đội ngũ cán bộ và chức năng, nhiệm vụ của quân đội. Những vấn đề cơ bản trong quá trình xây dựng quân đội là một trong những hướng quan trọng mà các thế lực thù địch thường chú ý khai thác, lợi dụng để chống phá, làm suy yếu, rệu rã quân đội từ bên trong tiến tới “phi chính trị hóa”. Bên cạnh đó, chúng tìm mọi thủ đoạn để “can dự” nhằm làm cho công tác cán bộ của quân đội có sự sai lệch, là cơ sở cho sự chuyển hóa về chính trị của quân đội sang hướng chính trị tư sản. Cá biệt, chúng còn mua chuộc, lôi kéo những cán bộ quân đội từng bị xử lý kỷ luật để thúc đẩy quá trình chuyển hóa về chính trị, tạo ra lực lượng nòng cốt thực hiện ý đồ nham hiểm.

Thứ năm, chúng tìm mọi cách phá hoại mối quan hệ mật thiết giữa quân đội với nhân dân. Bản chất truyền thống của QĐND Việt Nam là đoàn kết quân dân, đây là mối quan hệ máu thịt không thể tách rời, đặc biệt đối với đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Hơn 75 năm qua, nhân dân luôn che chở đùm bọc quân đội, ngược lại, quân đội ra sức chiến đấu để bảo vệ nhân dân. Vì thế, trong âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, các thế lực thù địch luôn tìm cách phá vỡ mối quan hệ mật thiết đó. Chúng ta dễ dàng nhận thấy, việc tìm cách chia rẽ mối quan hệ giữa quân đội với nhân dân để triệt tiêu nguồn sức mạnh vô tận “từ nhân dân mà ra”. Đây là thủ đoạn hết sức nham hiểm và tinh vi, do đó, cần hết sức cảnh giác, đồng thời, không ngừng vun xới cho mối quan hệ máu thịt này.

Thứ sáu, triệt để tận dụng không gian mạng để kích động chống phá. Trước sự phát triển vũ bão của cuộc cách mạng 4.0, chúng lợi dụng các phương tiện thông tin, đặc biệt là các trang mạng xã hội như Facebook, Zalo, Youtube... để chống phá, sử dụng các thủ đoạn “gợi nhưng không tả”, nêu vấn đề để cho người đọc tự suy ngẫm, thay đổi suy nghĩ của một bộ phận quần chúng và cán bộ, chiến sĩ quân đội. Một mặt, chúng lợi dụng không gian mạng để thực hiện chiến tranh tâm lý, gây hoang mang, móc nối với cán bộ của ta trước đây vi phạm để lôi kéo, khai thác thông tin làm cơ sở chống phá. Mặt khác, làm suy giảm hiệu lực công tác tư tưởng của quân đội, làm nhiễu loạn thông tin, lái tư tưởng của quân đội sang chiều hướng có lợi cho chúng.

Âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội rất rõ ràng và nguy hiểm, sự tác động và ảnh hưởng của vấn đề này là rộng lớn và ngày càng mạnh mẽ trên các vấn đề xây dựng quân đội. Do đó, việc định hướng tốt về tư tưởng và nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ của cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị là cấp thiết và quan trọng hàng đầu. Thực hiện đồng thời việc định hướng tư tưởng và đấu tranh chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội là nhiệm vụ cấp bách hơn bao giờ hết, đặc biệt trước thềm Đại hội Đảng các cấp đang chuẩn bị diễn ra.

 

 

Đấu tranh chống văn hóa phẩm sấu độc ảnh hưởng đến đoàn viên, thanh niên trong đơn vị quân đội hiện nay

 Đấu tranh chống DBHB là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc rất gay go, phức tạp, quyết liệt và lâu dài. Sự thắng lợi hay thất bại trong cuộc đấu tranh chống lại sự phá hoại của kẻ địch trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng trong quân đội hiện nay hoàn toàn do chúng ta quyết định. Trong cuộc đấu tranh này, đòi hỏi quân đội phải chủ động, tích cực, với nhiều biện pháp, nhiều lực lượng, kết hợp chặt chẽ giữa “chống” với “xây”, “xây” với “chống”, lấy “xây” làm chính dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ chính trị, trước hết là chính ủy, chính trị viên, đội ngũ cán bộ, đảng viên, với sự tham gia của các tổ chức quần chúng và mọi chiến sĩ trong toàn quân. Đấu tranh chống DBHB trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng trong quân đội phải hướng vào vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn chống phá về tư tưởng - chính trị trong quân đội; giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội; giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự quản lý của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân Việt Nam; giữ vững mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội; giữ vững truyền thống, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; củng cố, tăng cường đoàn kết nội bộ, giữa quân đội với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân, với công an; phòng ngừa và đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ quân đội.

Để thực hiện đấu tranh chống DBHB trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng trong quân đội hiện nay đạt hiệu quả cần chú trọng tiến hành đồng bộ nhiều hoạt động mà trước hết là phải đẩy mạnh giáo dục chính trị - tư tưởng, nâng cao giác ngộ mục tiêu lý tưởng chiến đấu, xây dựng ý chí quyết tâm, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ. Nếu cán bộ, chiến sĩ có giác ngộ chính trị, bản lĩnh vững vàng, ý chí quyết tâm cao, đạo đức cách mạng trong sáng sẽ tạo sự “miễn dịch” cần thiết, tăng sức “đề kháng”, đủ để ngăn chặn, loại trừ sự thẩm thấu và xâm nhập của các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc. Để nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị của mọi quân nhân, đòi hỏi phải thường xuyên làm tốt công tác giáo dục với những vấn đề cơ bản là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở để cán bộ, chiến sĩ quán triệt đường lối của Đảng, củng cố vững chắc niềm tin và nâng cao khả năng đấu tranh chống lại những quan điểm, tư tưởng thù địch. Quá trình giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải đặc biệt coi trọng làm rõ bản chất cách mạng, khoa học, chỉ rõ những giá trị, phương hướng vận dụng học thuyết, tư tưởng ấy trong đời sống và hoạt động của quân đội; mặt khác phải kịp thời giải đáp có sức thuyết phục những băn khoăn, thắc mắc có liên quan đến những vấn đề lý luận và thực tiễn của đời sống xã hội, quân đội mà cán bộ, chiến sĩ quan tâm. 

Cần tiếp tục giáo dục nâng cao lòng yêu nước, truyền thống dân tộc, truyền thống của Đảng, của quân đội, của đơn vị. Đây chính là nguồn sức mạnh chính trị, tinh thần nuôi dưỡng tình cảm, lòng tin, ý chí, thúc đẩy cán bộ, chiến sĩ quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thử thách, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Tăng cường giáo dục đạo đức lối sống cách mạng, ý thức kỷ luật tự giác nghiêm minh, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, đẩy lùi mọi biểu hiện của đạo đức lối sống thực dụng, hưởng lạc, đề cao chủ nghĩa cá nhân, xa rời những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và của quân đội.

Thường xuyên giáo dục nâng cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật quân sự hiện đại, nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho bộ đội, tẩy trừ văn hoá phẩm xấu độc, phản động. Tích cực bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ nâng cao năng lực đấu tranh chống lại sự phá hoại của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng thông qua  trang bị những kiến thức về lý luận, văn hoá, khoa học kỹ thuật quân sự, chuyên môn nghiệp vụ; đề phòng và khắc phục quan điểm vũ khí luận của tư tưởng quân sự tư sản, đề cao quá mức sức mạnh vũ khí, trang bị kỹ thuật công nghệ cao, dẫn đến mất lòng tin vào khả năng và sức mạnh chiến đấu của quân đội hiện nay.

Thường xuyên giáo dục tinh thần cảnh giác cách mạng để cán bộ, chiến sĩ trong quân đội nhận rõ những nội dung, điều kiện, hình thức mới của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, đấu tranh ý thức hệ giữa hệ tư tưởng vô sản và hệ tư tưởng tư sản. Đặc biệt phải làm rõ xu hướng hợp tác quốc tế hiện nay giữa các nước với nhau trong cùng tồn tại hoà bình, không có nghĩa là xoá bỏ đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc vì mục tiêu bảo vệ hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Cùng với công tác giáo dục nâng cao nhận thức mọi mặt cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội, phải thường xuyên chăm lo xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh gắn với xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng vững mạnh, trong sạch về chính trị, tư tưởng, tổ chức là yếu tố quan trọng hàng đầu bảo đảm sự vững chắc của trận địa chính  trị - tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong các đơn vị quân đội. Cùng với đó, phải tăng cường xây dựng đơn vị vững mạnh thông qua tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 917/1999/CT-QP ngày 22-9-1999 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, trong đó có yêu cầu hàng đầu là vững mạnh về chính trị - tư tưởng. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” và “Xây dựng môi trường văn hoá trong sạch, lành mạnh” ở các đơn vị quân đội.

Chú trọng tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chủ động kịp thời có biện pháp ngăn ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” ở các đơn vị quân đội. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ phải nhằm bảo đảm sự trong sạch về chính trị, tư tưởng, tổ chức của tổ chức đảng và các đơn vị quân đội. Do đó, phải thường xuyên giáo dục nâng cao tinh thần cảnh giác, ý thức bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ quân đội cho mọi quân nhân.

Tiếp tục đổi mới chính sách xã hội đối với quân đội và hậu phương quân đội tạo động lực thúc đẩy đấu tranh chống DBHB trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng. Trong tình hình hiện nay phải tiếp tục đổi mới chính sách xã hội hướng vào góp phần cân đối thu nhập, giải quyết việc làm, phân phối lại lợi ích, giảm bớt sự phân hoá giàu nghèo, tạo ra sự công bằng hợp lý giữa cống hiến và hưởng thụ, khuyến khích người có tài năng cống hiến. Cần tiếp tục nghiên cứu, đổi mới chính sách xã hội phù hợp với đội ngũ cán bộ, chiến sĩ cũng như gia đình hậu phương của họ, trực tiếp nhất là những vấn đề tiền lương, phúc lợi xã hội, bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội, ưu đãi xã hội; về đất đai, nhà ở và những nhu cầu về chính trị, văn hoá tinh thần cho quân nhân. Qua đó tạo động lực cho mỗi quân nhân yên tâm, phấn khởi thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, tăng thêm lòng tin vào Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, góp phần làm thất bại chiến lược DBHB, ngăn ngừa và đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng.

Chủ động, kiên quyết đấu tranh và phối hợp chặt chẽ với các lực lượng để đấu tranh chống DBHB  trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng trong quân đội. Chống DBHB  trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng trong quân đội hiện nay là một bộ phận của cuộc đấu tranh chống DBHB  trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng của toàn Đảng, toàn dân. Do vậy, quân đội phải chủ động, kiên quyết đấu tranh và thực hiện phối hợp với các lực lượng, các tổ chức trong hệ thống chính trị, tạo nên sức mạnh tổng hợp chống sự phá hoại của các thế lực thù địch về chính trị - tư tưởng đối với quân đội, đồng thời góp phần vào cuộc đấu tranh chung của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Quá trình này, phải quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng: tích cực, chủ động tiến công, khắc phục mọi biểu hiện thụ động, bị động hoặc chỉ hô hào chung chung, mà trên thực tế không đấu tranh. Trong đó, phải tạo được nhận thức đúng đắn, thống nhất trong nội bộ cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và toàn quân, nhận diện đầy đủ âm mưu, thủ đoạn nguy hiểm và tác hại của các hoạt động chống phá trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng trong quân đội; tăng cường đoàn kết thống nhất nội bộ; phát huy sức mạnh tổng hợp của công tác tư tưởng, công tác tổ chức, công tác chính sách và sử dụng tổng hợp các hình thức, phương tiện để đấu tranh chống sự phá hoại của các thế lực thù địch. Cần tổ chức lực lượng đấu tranh có sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, chặt chẽ; bồi dưỡng lực lượng trực tiếp tham gia đấu tranh cả về phẩm chất chính trị, trình độ năng lực và dũng khí đấu tranh; nâng cao tính đảng, tính chiến đấu, tính khoa học. Phát huy hơn nữa vai trò của các lực lượng ở các viện nghiên cứu, học viện, nhà trường quân đội, đặc biệt là đội ngũ các nhà khoa học xã hội và nhân văn, đấu tranh chống “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng trong quân đội.

Thực hiện phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tuyên truyền, văn hoá, báo chí của Đảng, Nhà nước và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị nhằm phản bác có hiệu quả  các quan điểm sai trái, thù địch, các luận điệu tuyên truyền, lừa bịp mị dân về chính trị - tư tưởng của các thế lực thù địch. Đồng thời phối hợp chặt chẽ các hoạt động quân sự, quốc phòng với an ninh và đối ngoại; tăng cường phối hợp với tất cả các cấp, các ngành, các lực lượng trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương trong cuộc đấu tranh chống DBHB  nói chung và đấu tranh chống DBHB trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng trong quân đội nói riêng ./.