Thứ Sáu, 21 tháng 7, 2023

“Bệnh xa rời thực tiễn” của cán bộ, đảng viên

Trong chuyến công tác tại một số tỉnh phía Bắc mới đây, chúng tôi có lịch làm việc với trung tâm giáo dục chính trị của địa phương. Trước giờ diễn ra hội nghị, khi đề cập đến vấn đề thực tế đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên của trung tâm, đồng chí giám đốc tỏ ra khá cởi mở, không ngần ngại chia sẻ: Cán bộ, đảng viên của ta bây giờ kinh nghiệm thực tiễn hạn chế lắm. Thích ngồi phòng lạnh, nói toàn những điều “đao to, búa lớn”, chuyện “trên trời”, nhưng những chuyện tưởng như “rất vặt” làm nên hơi thở của cuộc sống, của thực tiễn thì lại cho là “không quan trọng”...

Biểu hiện của “căn bệnh xa rời thực tiễn"

Từ cuộc trò chuyện với đồng chí giám đốc trung tâm, chúng tôi nhớ đến phong cách làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh-phong cách thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dựa trên thực tiễn và xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn để tiếp thu chọn lọc những gì hợp lý, đúng đắn và định hướng cho quá trình tìm ra hệ thống lý luận cũng như phương pháp, nhằm giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam. Đó là phong cách hành động khoa học, lấy thực tiễn là cơ sở, điểm xuất phát của quá trình nhận thức chân lý. Vậy, "bệnh xa rời thực tiễn" của cán bộ, đảng viên hiện nay biểu hiện như thế nào?

Trước hết, đó là bệnh lười học tập để nâng cao năng lực, trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ. Thực tiễn luôn vận động không ngừng, trong khi một bộ phận cán bộ, đảng viên lười học tập, lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận những thông tin, hiểu biết mới; không có sự trăn trở và sáng tạo trong quá trình học tập, công tác. Những biểu hiện chính của bệnh lười học tập lý luận chính trị là: Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. 

Như đồng chí giám đốc trung tâm chia sẻ: Nhiều cán bộ, đảng viên có thái độ thiếu nghiêm túc khi tham gia các lớp bồi dưỡng về lý luận chính trị, trong đó có cả cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp từ tỉnh đến cơ sở. Biểu hiện rõ nhất là khi tham gia học tập, không ít cán bộ, đảng viên xuất hiện tư tưởng “có mặt” để điểm danh mà chưa thực tâm chú ý lắng nghe, trăn trở trước những vấn đề quan trọng, cốt lõi của lý luận chính trị. Đáng buồn hơn, không ít cán bộ, đảng viên mặc nhiên làm việc riêng, vô tư trò chuyện trong lớp học mà quên đi việc tập trung, chú ý lắng nghe báo cáo viên, giảng viên truyền thụ kiến thức lý luận chính trị. Thậm chí, sau mỗi đợt học tập chính trị tập trung, một số cán bộ, đảng viên còn “bỏ quên” tài liệu, văn kiện tại giảng đường, dưới gầm bàn... Khi làm bài thi, bài thu hoạch, do không nắm được kiến thức nên tình trạng sao chép, quay cóp diễn ra khá phổ biến.

Thứ hai, không xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn cán bộ, đảng viên: Phải nghiên cứu thực tế, kinh nghiệm thực tiễn, để qua đó “tự mình tìm ra phương hướng chính trị có thể làm những công việc thực tế, có thể trở nên người tổ chức và lãnh đạo”, có nghĩa là mọi suy nghĩ, hành động phải xuất phát, hình thành từ yêu cầu của thực tiễn, qua quá trình quan sát, lắng nghe, suy nghĩ, hành động thực tế để có được nhận thức, tư duy lý luận, từ đó định hướng hành động thực tiễn của người tổ chức, lãnh đạo, quản lý. Thực tế hiện nay, không ít cán bộ, đảng viên rất “máy móc” trong cả lời nói lẫn việc làm, đi đến đâu cũng chỉ một “bài phát biểu” gần như thuộc lòng mà không để ý đến thực tế địa phương, cơ quan, đơn vị đó như thế nào, có đặc điểm gì... Từ đó, nói toàn những lời “sáo rỗng”, nói kiểu “trên trời”, không ăn nhập gì với điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn.

Thứ ba, bệnh giáo điều lý luận. Nó xuất hiện dưới dạng “hàn lâm”, “kinh viện”, coi trọng sách vở (đến mức lạm dụng, sùng bái) sách vở, “kinh điển”. Đọc quá nhiều sách nhưng không “tiêu hóa” được sách hoặc đọc không đến nơi đến chốn... dẫn đến một hình thức cực đoan trong tư duy, trích dẫn thay thế cho suy nghĩ, cho lập luận logic, làm cho lý luận biến thành “màu xám”, không có sức sống, xa rời thực tiễn, không giúp ích gì trong việc lý giải, chỉ đạo thực tiễn. Từ đó, xuất hiện tư tưởng coi thường lý luận hoặc nói một đằng, làm một nẻo. Nói chỉ là nói lý luận suông, làm thì theo kinh nghiệm vụn vặt của cá nhân.

Tình trạng lý luận xa rời thực tiễn đang diễn ra khá phổ biến ở không ít cán bộ, đảng viên. Có người am hiểu lý luận, nhưng ít hiểu biết thực tiễn; số khác có hiểu biết thực tiễn, nhưng yếu về lý luận; hoặc là vừa không am hiểu lý luận, vừa xa rời thực tiễn. Số cán bộ, đảng viên vừa am hiểu lý luận, vừa sâu sát thực tiễn không nhiều. Như đồng chí giám đốc trung tâm chia sẻ: Thực tế, có giảng viên khi lên lớp giảng bài, học viên không biết giảng viên đang trình bày vấn đề đó nhằm mục đích gì cho bài giảng. Toàn những câu trích “kinh điển” mà nhiều khi không liên quan đến bài giảng, không phản ánh gì thực tiễn cuộc sống.

Nguyên nhân của “căn bệnh xa rời thực tiễn”

Bệnh xa rời thực tiễn bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là từ chính cá nhân mỗi cán bộ, đảng viên.

Về khách quan: Công tác cán bộ ở một số địa phương, ban, ngành, cơ quan, đơn vị còn những bất cập nhất định; chủ trương, chính sách đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, sử dụng, luân chuyển cán bộ còn hạn chế... dẫn đến việc bổ nhiệm người không đúng, không tương xứng, không phù hợp về trình độ, năng lực, sở trường với cương vị, chức trách, nhiệm vụ đảm nhiệm...; việc quy định một số tiêu chí cán bộ chưa phù hợp, nặng về hình thức, chưa có sự nhất quán trong tổ chức triển khai thực hiện; quản lý chưa chặt chẽ, nhiều “kẽ hở” để cán bộ, đảng viên có thể lách qua hoặc trì hoãn nhiệm vụ. Việc giải quyết hài hòa giữa luân chuyển cán bộ với đào tạo, sử dụng nguồn cán bộ tại chỗ và gắn với chức danh quy hoạch còn bất cập, hiệu quả chưa cao.

Về chủ quan: Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đúng về vị trí, vai trò của thực tiễn, tuyệt đối hóa lý luận. Một bộ phận, trong quá trình công tác lười quan sát, ít lắng nghe, thiếu sự phân tích, đánh giá thực tiễn của địa phương, cơ quan, đơn vị, từ đó không nâng cao được trình độ lý luận, không đổi mới tư duy, rơi vào giáo điều, lý thuyết suông, lý luận không gắn với thực tiễn, nếu có cũng chỉ là những kinh nghiệm vụn vặt; một bộ phận cán bộ, đảng viên lười đi thâm nhập thực tế, sợ luân chuyển. Nếu phải đi thì có tư tưởng “cầu an”, thiếu ý chí phấn đấu, ngại va chạm... vì nghĩ rằng đi thực tế chỉ là “cưỡi ngựa xem hoa”, đi luân chuyển để được đề bạt lên chức vụ cao hơn nên thiếu sâu sát thực tiễn, thiếu quyết liệt trong công tác, cố “giữ mình” để “chờ ngày về”. Vì vậy, chất lượng cán bộ sau khi đi thực tế, luân chuyển không đạt được yêu cầu như kỳ vọng...

Khắc phục “căn bệnh xa rời thực tiễn” bằng cách nào?

Để khắc phục “căn bệnh xa rời thực tiễn” của cán bộ, đảng viên hiện nay cần quán triệt, học tập, rèn luyện theo phong cách thực tiễn của Hồ Chí Minh một cách quyết liệt, hiệu quả.

Trước hết, cán bộ, đảng viên cần thay đổi nhận thức về việc giảng dạy, học tập lý luận; tăng tính thực tiễn trong giảng dạy, học tập lý luận. Công tác giảng dạy lý luận phải xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, không phải dạy cái giảng viên có mà dạy cái xã hội, con người, đời sống đang cần, Đảng cần, Nhà nước cần, nhân dân cần. Nghĩa là phải tăng tính thực tiễn trong từng bài giảng, giờ giảng và trong cả quá trình truyền thụ kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn đến người học. Ngược lại, người học phải hết sức nghiêm túc trong học tập, tiếp thu kiến thức lý luận trên cơ sở hiểu biết và bám sát thực tiễn.

Tăng tính thực tiễn là gắn các tri thức lý luận với thực tiễn công tác, thực tiễn đất nước, làm cho thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm tăng hiệu quả hoạt động thực tiễn công tác của mình. Học tập lý luận mà không gắn với thực tiễn của cán bộ, đảng viên là coi việc học tập lý luận chỉ để gắn cái “mác”, để “đủ tiêu chí”, để có cái “bằng”, học tập để nói cho “có vẻ” lý luận; học lý luận để biết “dăm câu ba chữ” dùng làm “trang sức” hoặc để lòe người khác, chứ không để nâng cao trình độ lý luận, nâng cao trình độ tư duy lên tầm lý luận; giải thích và chỉ đạo thực tiễn bằng lý luận.

Học tập lý luận cần chú trọng lý luận chính trị, học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, không phải kiểu học thuộc lòng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng phê phán đó là cách học sách vở Mác-Lênin nhưng không học tinh thần Mác-Lênin. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin là phải học tinh thần của Chủ nghĩa Mác-Lênin, học tập lập trường, quan điểm và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng giải quyết tốt những vấn đề trong thực tế học tập, công tác, nghĩa là học lý luận để phục vụ thực tiễn làm việc, từ đó khắc phục được bệnh xa rời thực tiễn.

Thứ hai, vận dụng lý luận một cách sáng tạo và hiệu quả vào thực tiễn để nâng cao hiệu quả công tác. Học tập lý luận cốt là vận dụng vào thực tiễn, phục vụ cải tạo thực tiễn. Vận dụng ở đây không đơn giản là dùng những kiến thức lý luận đã học để áp dụng vào thực tế mà để phân tích, lý giải thực tiễn. Phải đem những điều học được để phân tích và giải quyết các vấn đề thực tế trong công tác đặt ra, như vậy thì việc nghiên cứu, học tập, vận dụng lý luận mới có hiệu quả. Khi đem những kiến thức lý luận áp dụng vào thực tiễn phải phân tích những điều kiện cụ thể của thực tiễn để lựa chọn lý luận nào và kinh nghiệm thực tiễn nào vào cải tạo thực tiễn, nếu không sẽ rơi vào giáo điều lý luận.

Thứ ba, thường xuyên tổng kết kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận, làm giàu tri thức. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải biết tổng kết kinh nghiệm thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả công tác: Công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tích thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái chìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới. Đó chính là quá trình tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận. Làm được như vậy có nghĩa là làm cho lý luận được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động. Đồng thời, thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận mới. Đây là biểu hiện sinh động của việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.

Thứ tư, thường xuyên quan tâm làm tốt công tác luân chuyển cán bộ, đưa cán bộ, đảng viên thâm nhập, khảo sát thực tế địa phương, cơ sở. Đây được xem như là công đoạn tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong thực tế; thông qua đó giúp cán bộ có điều kiện, môi trường rèn luyện, phấn đấu, trưởng thành, phát triển nhanh và toàn diện hơn. Đây cũng là một bước tiến mang tính đột phát trong công tác cán bộ của Đảng nhằm thử thách và đào tạo ra những cán bộ nhiều bản lĩnh, kinh nghiệm gắn với thực tiễn ở cơ sở. Việc sâu sát, gắn bó, lăn lộn với cơ sở sẽ giúp cán bộ tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng lãnh đạo, quản lý cũng như tổng kết thực tiễn để nâng tầm thành lý luận trong xây dựng phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp để phát triển một địa phương, một cơ quan, đơn vị... sát, đúng yêu cầu của thực tiễn.

“Xa rời thực tiễn” là “căn bệnh” rất nguy hiểm ở một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay. Không khó để nhận biết, nhưng để khắc phục triệt để căn bệnh này không phải là việc đơn giản, ngày một ngày hai mà phải trải qua một quá trình với sự vào cuộc của nhiều chủ thể, lực lượng, tổ chức và chính ý thức chủ quan mỗi cán bộ, đảng viên.

Đấu tranh đẩy lùi thái độ bàng quan, dao động về tư tưởng xã hội chủ nghĩa

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng ta khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

Tuy nhiên, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, một bộ phận cán bộ, đảng viên tỏ ra thờ ơ, dao động về tư tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Đây là biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị cần đấu tranh phê phán, loại bỏ.

Tư tưởng tiến bộ, nhân văn nhưng vẫn bị thờ ơ, nghi hoặc

Tư tưởng XHCN là một hệ thống những quan niệm phản ánh nhu cầu, ước mơ, nguyện vọng của các giai cấp lao động về một xã hội không có áp bức bóc lột, mọi người đều bình đẳng và có cuộc sống ấm no, hạnh phúc; là những thành tựu của con người đạt được trong quá trình đấu tranh giải phóng giai cấp; là chế độ xã hội không có áp bức bóc lột, mọi người đều được tự do, bình đẳng, có điều kiện phát triển toàn diện.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn con đường XHCN và xây dựng đất nước theo định hướng XHCN để “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” như Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định.

Tuy nhiên, sau sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu, không ít người, trong đó có cả những cán bộ, đảng viên tỏ ra hoài nghi về sự lựa chọn con đường đi lên CNXH của Đảng ta; thậm chí còn xuất hiện những tư tưởng cơ hội đòi xét lại Chủ nghĩa Mác-Lênin, phủ nhận sự lựa chọn con đường cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Có thể khẳng định rằng, thái độ thờ ơ, dao động của một số cán bộ, đảng viên về tư tưởng XHCN là “căn bệnh” rất nguy hại, biểu hiện đa dạng như: Dửng dưng, làm ngơ, không quan tâm đến những sự kiện, sự việc diễn ra của đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị cũng như trước khó khăn của đất nước, trong khi đó lại có những lời lẽ chê bai, phê phán sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và chính quyền các cấp.

Biểu hiện rõ nhất của việc thờ ơ, dao động về tư tưởng XHCN là những phát ngôn mơ hồ về CNXH. Giọng điệu của họ là ngợi ca chủ nghĩa tư bản như hình mẫu của sự phát triển hiện đại và xem cuộc khủng hoảng của CNXH thời gian qua là "bằng chứng khách quan" của một thử nghiệm thất bại. Một số thái độ dao động đáng lên án hơn là lên tiếng phê phán Đảng, Bác Hồ đã không lựa chọn con đường phát triển tư bản chủ nghĩa để Việt Nam sớm “hóa rồng”, “hóa hổ” như một số nước Đông Bắc Á. Họ cố tình lãng quên rằng, trong suốt thời kỳ dài từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, các chí sĩ yêu nước Việt Nam đã từng thử nghiệm những con đường giải phóng dân tộc, phát triển đất nước khác nhau, trong đó có con đường tư bản chủ nghĩa, nhưng tất cả đều không thành công. Trước tình hình đó, đất nước và nhân dân đòi hỏi một con đường khác, con đường dẫn nhân dân Việt Nam đến độc lập, tự do, hạnh phúc thật sự mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh và Đảng ta đã khai mở từ mùa xuân năm 1930.

Một biểu hiện khác của thái độ thờ ơ, dao động đối với tư tưởng XHCN là phủ nhận giá trị bền vững của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới của đất nước và thế giới. Có người lập luận rằng, học thuyết do C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin sáng lập là kết quả của việc tổng kết lịch sử châu Âu thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 nên không còn sức sống trong thời đại mới. Học thuyết đó chỉ là sản phẩm của thời đại công nghiệp, không còn phù hợp trong thời đại toàn cầu hóa, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo... Thực chất đây là sự phủ nhận toàn bộ giá trị của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh-một biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã chỉ ra.

“Quy luật tiến hóa của lịch sử” đang hiện diện sinh động ở Việt Nam

Điều kiện bảo đảm cách mạng thành công, xây dựng thành công CNXH trên đất nước ta là trước hết phải có Đảng. Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng và xây dựng CNXH ở nước ta; Đảng phải lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng. Do đó, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm đến công tác xây dựng Đảng; yêu cầu Đảng phải nâng cao bản lĩnh chính trị, tư tưởng, trí tuệ, vận dụng một cách sáng tạo những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng CNXH vào hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam.

Kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986) đến nay, đã có nhiều hội thảo bàn luận khá sôi nổi về khả năng và triển vọng của CNXH; trong đó, đáng tiếc là có một số ý kiến của cán bộ, đảng viên có biểu hiện hoài nghi về tương lai của chế độ XHCN. Vào những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, trước sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu, với bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới CNXH vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”.

Về sự lựa chọn con đường cách mạng Việt Nam, Văn kiện Đại hội VII của Đảng (năm 1991) chỉ rõ: Đây là “sự lựa chọn của chính lịch sử”; gắn liền với tư duy sáng tạo, hợp logic và nhất quán của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh. Đến Đại hội XI của Đảng, trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH” (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Việc xác định những đặc trưng cơ bản trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH” đã phản ánh tổng quát, toàn diện quan niệm về CNXH của Đảng ta, là sự kiên định, hiện thực hóa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về CNXH trong điều kiện mới của đất nước.

Phê phán, đẩy lùi thái độ thờ ơ, dao động về tư tưởng XHCN

Nhìn từ góc độ bản chất, niềm tin CNXH chính là niềm tin khoa học, phát triển trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng, gắn bó chặt chẽ với hoạt động của những người cộng sản. Trong cuộc đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, những người cộng sản luôn phấn đấu vì hạnh phúc của toàn thể nhân loại, nhân dân lao động, vì lợi ích của giai cấp và dân tộc. Do đó, xét đến cùng, niềm tin CNXH mang bản chất giai cấp công nhân sâu sắc, là sự thống nhất và biện chứng của tri thức-niềm tin-tình cảm-ý chí-hành động. Đặc trưng cơ bản nhất của niềm tin CNXH là sự nhận thức đúng đắn các quy luật phổ biến và quy luật đặc thù trong sự phát triển của tự nhiên và xã hội. Có niềm tin về CNXH, cán bộ, đảng viên luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Hiện nay, vẫn còn tình trạng một số cán bộ, đảng viên thờ ơ, dao động với nhiều vấn đề của xã hội, trong đó có thờ ơ, dao động với tư tưởng CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Đây chính là kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá. Bởi các thế lực thù địch luôn ráo riết đẩy mạnh hoạt động chống phá những nước CNXH, trong đó có Việt Nam. Chúng tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” với nhiều thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tư tưởng, lý luận, với mục tiêu phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng nền tảng tư tưởng của Đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và thành tựu sự nghiệp xây dựng CNXH của Việt Nam. Tính chất thâm độc của các thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch đối với nước ta trong những năm gần đây là triệt để lợi dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội với các chiêu trò “đổi trắng thay đen”, đưa các thông tin đúng-sai lẫn lộn và xây dựng các “ngọn cờ” chống phá từ bên trong, kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nếu cán bộ, đảng viên thờ ơ, dao động sẽ dễ sa vào những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch.

Trước tình hình trên, việc làm rõ con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là cơ sở phản bác thuyết phục, đanh thép các luận điệu sai trái, thù địch; củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới theo định hướng CNXH nhằm thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Hiện nay, đa số cán bộ, đảng viên là những người có tri thức, được học tập, công tác, lao động trong điều kiện thuận lợi, do đó, cần hết sức tỉnh táo trước những luận điệu sai trái, xuyên tạc về CNXH và con đường đi lên CNXH dưới những hình thức khác nhau, trên những diễn đàn khác nhau, nhất là internet và mạng xã hội. Khi thấy những thông tin trên mạng xã hội, cần tỉnh táo nhận diện nguồn tin, tránh bình luận, chia sẻ tùy tiện. Điều này vô tình tuyên truyền cho các luận điệu sai trái, thù địch. Bên cạnh đó, cán bộ, đảng viên cũng cần biết lợi dụng thế mạnh của internet, mạng xã hội để tuyên truyền, lan tỏa những thông tin tốt về tính ưu việt của CNXH, sự đúng đắn của con đường đi lên CNXH ở Việt Nam theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Đối với cán bộ, đảng viên có trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị cao, cần nêu cao tinh thần đấu tranh trực diện với những quan điểm sai trái, thù địch thông qua việc viết bài trên các sách, báo, tạp chí hay tham gia những diễn đàn báo chí, phát thanh, truyền hình, mạng xã hội... Những sản phẩm đấu tranh trực diện đó thường có tính lan tỏa mạnh mẽ đối với cán bộ, đảng viên, tác động trực tiếp đến tâm lý, tư tưởng và định hướng dư luận trong cán bộ, đảng viên và quần chúng.

Thái độ thờ ơ, dao động của một bộ phận cán bộ, đảng viên về tư tưởng XHCN là đáng phê phán và cần có những biện pháp để chấn chỉnh kịp thời, nếu không xử lý dứt điểm dễ dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Việc loại bỏ thái độ thờ ơ, dao động của một số cán bộ, đảng viên về tư tưởng CNXH là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN trong tình hình hiện nay.

Phản bác luận điệu xuyên tạc công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

Tham nhũng xuất hiện từ khi có giai cấp, nhà nước và tồn tại ở các chế độ chính trị khác nhau. Bản chất của tham nhũng luôn gắn liền với quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế mà không phụ thuộc vào bất cứ chế độ chính trị hay đảng phái nào. Ngày nay, tham nhũng là căn bệnh phức tạp, hoành hành trên nhiều lĩnh vực, gây ra những hậu quả nghiêm trọng ở các quốc gia với các chế độ xã hội khác nhau. Vì lẽ đó, đấu tranh chống tham nhũng được nhiều nước quan tâm, thực hiện quyết liệt với các hình thức, biện pháp đa dạng, linh hoạt. Song, đây cũng là quá trình khó khăn, lâu dài và gian nan, không thể nôn nóng. Từ thực trạng tham nhũng ở các quốc gia trên thế giới; sự tham gia, vào cuộc mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế, khẳng định rõ Việt Nam đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN), tiêu cực vừa là yêu cầu tất yếu của sự phát triển đất nước, vừa là cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế trong thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng.

Một quyết tâm chính trị không thể phủ nhận, xuyên tạc công tác đấu tranh PCTN, tiêu cực là một trong những nội dung cốt lõi, trọng tâm của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Đảng ta lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết, chặt chẽ, thường xuyên, liên tục và quyết liệt, không ngừng, không nghỉ, bài bản, đi vào chiều sâu với quan điểm không có vùng cấm, sai phạm đến đâu thì xử lý đến đó, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào và được tiến hành sâu rộng từ Trung ương đến cơ sở. Phương châm PCTN, tiêu cực mà Đảng ta đề ra là: Phòng ngừa là chính, cơ bản, lâu dài; phát hiện, xử lý là quan trọng, cấp bách.

Quyết tâm đấu tranh PCTN, tiêu cực được thể hiện rất rõ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn”. Muốn vậy cần “triển khai đồng bộ, có hiệu quả quy định của pháp luật về PCTN... Khẩn trương xây dựng cơ chế phòng ngừa, cơ chế răn đe để kiểm soát tham nhũng”. Và yêu cầu phải “nâng cao vai trò, phát huy tính tích cực, chủ động và phối hợp của Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị-xã hội, nhân dân, doanh nghiệp, báo chí trong phát hiện, đấu tranh PCTN... Có cơ chế khuyến khích và bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng, lãng phí”. Trong 10 năm qua, Việt Nam đã có hơn 250 văn bản về xây dựng Đảng, 300 bộ luật và hơn 2.000 văn bản từ Chính phủ đề cập tới chống tham nhũng.

Ngày 30-6-2022, tại Hà Nội, trong bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về đấu tranh PCTN, tiêu cực: Nhìn lại 10 năm qua; định ra phương hướng, nhiệm vụ cho thời gian tới đã chỉ rõ: Trong giai đoạn 2012-2022, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.740 tổ chức đảng, hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng; đã kỷ luật 170 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 4 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; 29 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương... Riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay đã thi hành kỷ luật 50 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (cao hơn gấp 4 lần so với nhiệm kỳ khóa XI và bằng gần một nửa số cán bộ cấp cao bị xử lý của nhiệm kỳ khóa XII)... Đây là bước đột phá trong công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng. Riêng Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, tiêu cực đã đưa vào diện theo dõi, chỉ đạo gần 1.000 vụ án, vụ việc ở 3 cấp độ; trong đó trực tiếp theo dõi, chỉ đạo 313 vụ án, vụ việc tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm... Ngày 19-6-2023, tại Hội nghị sơ kết một năm hoạt động của ban chỉ đạo PCTN, tiêu cực cấp tỉnh, đồng chí Tổng Bí thư tiếp tục chỉ rõ: Đây là một hội nghị lớn, có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện sự đoàn kết, nhất trí và quyết tâm cao của chúng ta trong công tác đấu tranh PCTN, tiêu cực từ Trung ương đến địa phương. Những kết quả bước đầu sau một năm hoạt động của ban chỉ đạo PCTN, tiêu cực cấp tỉnh cho thấy quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong đấu tranh PCTN, tiêu cực không phải như lời lẽ suy diễn, đầy hằn học, mưu toan chống phá của các thế lực thù địch.

Sự chống phá ngày càng tinh vi, phức tạp 

 Bất chấp những thành tựu đạt được trong công tác PCTN, tiêu cực ở Việt Nam thời gian qua được nhân dân và cộng đồng quốc tế ghi nhận, với dã tâm thâm độc, nham hiểu, âm mưu chống phá đến cùng, thái độ hằn học mà các thế lực thù địch, phản động không từ bỏ thủ đoạn nào để xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ, bóp méo sự thật về công tác PCTN, tiêu cực ở Việt Nam. Chúng đã nhắm mắt làm ngơ trước những điều tốt đẹp mà Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta đạt được. Với luận điệu trơ tráo, lố bịch, các thế lực thù địch cố tình dùng mọi thủ đoạn để thực hiện mưu đồ xấu xa; xuyên tạc về công tác PCTN, tiêu cực ở Việt Nam. Lợi dụng công nghệ truyền thông, mạng xã hội và sự thiếu thông tin, hiểu biết của một bộ phận người dân để lập các trang web, đăng tải tin, video clip với nội dung xuyên tạc, bôi đen, gán ghép, dựng chuyện và cho rằng tham nhũng ở Việt Nam đang xảy ra ở khắp mọi nơi, ngõ ngách. Với những nhận định và kết luận vô căn cứ mang tính xuyên tạc, kích động, gây tâm lý bất ổn trong nhân dân; sự hoài nghi về các chủ trương, quyết sách của Đảng về PCTN, tiêu cực nhằm làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chúng dẫn dắt dư luận, gây tâm lý hoài nghi, dao động, tạo cớ, kích động và tạo sự đối lập, bất ổn từ bên trong và xa hơn là phá hoại, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội (XHCN) ở Việt Nam.

Nguy hiểm hơn, các thế lực thù địch tung ra luận điệu, tham nhũng là bản chất của chế độ XHCN, là căn bệnh nan y của “chế độ độc đảng cầm quyền”; một đảng không thể chống được tham nhũng; do đảng cầm quyền độc đoán cai trị nên tình trạng tham nhũng tất yếu xảy ra, rồi đi đến quy chụp tham nhũng là “do chế độ độc đảng cầm quyền”. Chúng suy diễn rằng, còn Đảng Cộng sản độc quyền lãnh đạo thì còn tham nhũng và ngày càng táo tợn, trầm trọng hơn. Rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng vì Đảng cũng suy thoái; là sự phân chia quyền lực, là các trận đấu giữa băng này với nhóm kia trong hệ thống chính trị, trong hệ thống công quyền...

Chúng còn lớn tiếng hô hào, “chỉ tự do chính trị mới giúp Việt Nam chống được tham nhũng” và công tác PCTN, tiêu cực ở Việt Nam chỉ là mị dân; càng chống tham nhũng thì tham nhũng càng gia tăng vì không có dân chủ; căn nguyên của tham nhũng là do Đảng đứng trên pháp luật... Từ đó, chúng kêu gọi muốn chống tham nhũng thì phải thay đổi chế độ, phải đa nguyên, đa đảng, phải thực hiện “xã hội dân sự”.

Với âm mưu cực kỳ tinh vi, xảo quyệt hòng thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng việc xử lý kỷ luật những cán bộ, đảng viên vi phạm, gây hậu quả nghiêm trọng, nhất là sau các vụ việc ở Bộ tư lệnh Cảnh sát biển và Học viện Quân y, các phần tử xấu đã thổi phồng, vơ đũa cả nắm với luận điệu cho rằng, tham nhũng xảy ra ở toàn quân.

Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) đã thảo luận Đề án thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực. Đã có nhiều cuộc hội thảo được tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia, cán bộ có kinh nghiệm thực tiễn về PCTN, tiêu cực. Đề án cũng được triển khai lấy ý kiến các ban, bộ, ngành, địa phương và các thành viên Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, tiêu cực. “Đề án đã trình bày đầy đủ, đúng đắn, có cơ sở lý luận và thực tiễn về sự cần thiết, căn cứ và nguyên tắc thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh”(1). Sau một năm đi vào hoạt động đã khẳng định chủ trương đúng và tầm nhìn chiến lược của Ðảng trong lãnh đạo công tác PCTN, tiêu cực. Vậy mà, các thế lực thù địch, phản động đã lợi dụng vấn đề này để xuyên tạc chủ trương thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực là giả tạo và không cần thiết, chỉ tốn tiền của dân. Rằng, thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực cho thấy sự kém hiệu quả của công tác chống tham nhũng. Những luận điệu xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ, sự bịa đặt thiển cận và gán ghép, quy chụp trên nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và thành quả cách mạng của nhân dân ta; phủ định sạch trơn những thành tựu to lớn của đất nước; hạ thấp vai trò lãnh đạo và quyết tâm PCTN, tiêu cực của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp

 Đấu tranh, phản bác các luận điệu suy diễn, xuyên tạc công tác PCTN, tiêu cực ở Việt Nam phải được tiến hành thường xuyên, liên tục với hệ thống các giải pháp đồng bộ, hiệu quả, thiết thực. Trong đó, tập trung vào một số giải pháp là: Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nhân dân về quan điểm, chủ trương của Đảng trong PCTN, tiêu cực và âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật về PCTN, tiêu cực và tổ chức triển khai có hiệu quả trên thực tế, không tạo khoảng trống để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các lực lượng và toàn thể nhân dân trong PCTN, tiêu cực và đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động hiện nay. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN, tiêu cực và đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. Thực hiện đa dạng, linh hoạt về nội dung, hình thức, phương pháp đấu tranh PCTN, tiêu cực và phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.

“Diễn biến hòa bình” và âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam trong tình hình mới

“Diễn biến hòa bình” là hoạt động phản cách mạng do các thế lực thù địch phát động nhằm chống phá, chuyển hóa, thủ tiêu các nước xã hội chủ nghĩa, các phong trào cộng sản, phong trào giải phóng dân tộc, ngăn cản xu thế vận động phát triển của xã hội loài người, trong đó có cách mạng Việt Nam. Âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam trong “Diễn biến hòa bình” thể hiện trên những phương diện sau:

Một là, tuyên truyền, xuyên tạc nhằm loại bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Các thế lực thù địch lên tiếng đòi “viết lại lịch sử”, hòng phủ nhận những thành tựu cách mạng của dân tộc và nhân dân ta giành được dưới sự lãnh đạo của Đảng. Với âm mưu này, chúng lên án các cuộc chiến tranh ở Việt Nam là “nội chiến”, làm cho người Việt Nam đánh người Việt Nam, đánh đồng những chiến sĩ cách mạng hy sinh giành độc lập dân tộc với những kẻ làm tay sai bán nước.

Hai là, tuyên truyền nhằm xóa bỏ xã hội chủ nghĩa và văn hóa truyền thống dân tộc, truyền bá văn hóa phương Tây vào Việt Nam. Chúng xuyên tạc, bôi nhọ, đả kích văn hóa dân tộc, đặc biệt là văn hóa, văn nghệ cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa. Chúng ra sức truyền bá tư tưởng, lối sống tư bản phương Tây vào nước ta, đặc biệt là lối sống thực dụng, vụ lợi và chủ nghĩa cá nhân, sùng bái đồng tiền và dâm ô trụy lạc,…; chúng mọc nối, mua chuộc, kích động đội ngũ tri thức, văn nghệ sĩ có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội,…Qua đó, lôi kéo họ vào con đường chống lại Đảng, Nhà nước và Nhân dân; tìm cách thao túng, lũng đoạn, chi phối các cơ quan, tổ chức văn hóa, văn nghệ, đi chệch định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ba là, lợi dụng dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam. Lợi dụng diễn đàn quốc tế, các phương tiện tuyên truyền khác nhau để vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền. Lợi dụng khoảng cách về nhận thức, tồn tại lịch sử và hạn chế, yếu kém trong tổ chức thực hiện chính sách đối với đồng bào các dân tộc ít người để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Việt Nam. Đồng thời, kích động, lôi kéo, tập hợp quần chúng, xây dựng lực lượng, lập các đảng phải, tổ chức chính trị, lực lượng vũ trang gây rối, tiến tới bạo loạn lật đổ. Chúng vu cáo Việt Nam đàn áp tôn giáo, vi phạm nhân quyền, tạo cớ kích động tín đồ đấu tranh chống chính quyền, kêu gọi quốc tế can thiệp. Tuyên truyền, phát triển tôn giáo trái pháp luật, làm cho tôn giáo trở thành một lực lượng đối lập, đối trọng với Đảng cộng sản Việt Nam, xúi dục các hoạt động phá rối an ninh, gây bạo loạn lật đổ.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: NHỮNG VIÊN ĐẠN... THỜI BÌNH!

     Dư luận tiếp tục "chia rẽ", tranh luận xung quanh lời khai của cựu Trưởng phòng 5 Hoàng Văn Hưng trong vụ án chuyến bay giải cứu... Những con số hàng chục nghìn USD, hằng trăm tỷ đồng... được nêu ra nghe cứ nhẹ tênh tênh mà chua xót. Thậm chí có bà cựu Cục trưởng trình bày hoàn cảnh khó khăn mà cũng gom vội được gần 30 tỷ đồng để nộp khắc phục hậu quả... 

Trở lại với đầu đạn trong bức hình này, nó được gắp ra từ cơ thể một đồng đội của tôi công tác ở Đồn Biên phòng Sơn Hồng, Hà Tĩnh. Cách đây gần 3 năm, trong một chuyện án bắt tội phạm ma túy tại địa bàn huyện Vũ Quang, Trung úy Trần Hữu Chiến, trinh sát Đồn Biên phòng Sơn Hồng đã bị tội phạm bắn trọng thương. Anh may mắn thoát "hy sinh" nhưng phải nằm viện gần nửa năm điều trị và đến giờ thì trong tình trạng vừa đi vừa xóa, trái gió trở trời là đau không ngủ được... Hai vợ chồng Chiến và Oanh đều sinh năm 1994 quê ở Hương Sơn, Hà Tĩnh, đôi bạn ấu thơ học chung phổ thông rồi về chung một nhà. Chiến bộ đội biên phòng, quanh năm lăn lội nơi rừng sâu núi thẳm, Oanh ở nhà chăm 2 con nhỏ (cháu bé mới 10 tháng) và mẹ chồng đau yếu nghỉ mất sức. Oanh từ khi lấy chồng không công việc ổn định nên nguồn sống của cả gia đình trông chờ vào đồng lương trung úy của Chiến. Điều đáng nói hơn, ông nội của Chiến là thương binh trong kháng chiến chống Mỹ, bố của Chiến là một trung tá biên phòng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ năm 2009 tại Đắc Nông. Ngày ấy Chiến mới 15 tuổi, cậu thanh niên lớp 9 đã gạt nước mắt, xếp vòng khăn tang để quyết tâm theo chân cha bảo vệ biên giới.

Mấy năm trước tôi huy động được 50 triệu đồng nhờ gửi vào ủng hộ giúp đỡ gia đình Chiến. Lần này liên lạc tôi hỏi cậu có cần giúp đỡ gì không thì cậu bảo không, mới đây Bộ Quốc phòng đã hỗ trợ sửa sang lại căn nhà cho mẹ cậu (vợ liệt sĩ); còn bản thân có lương và vợ cũng làm thêm chạy chợ đồng ra đồng vào được nên thôi. Cậu nói nếu có thể hãy dành sự giúp đỡ ấy cho những đồng đội khác. 

Bỗng nhiên mình nghĩ tới chuyện về Bác Hồ khi căn dặn lực lượng về tiếp quản Thủ đô năm 1954. khi đó nhiều người thắc mắc không biết về dưới xuôi rồi thì lương bổng thế nào, công tác sau này ra sao, Bác đã bổ sung thêm một điều đáng thắc mắc mà không ai nêu ra:

- "Khi về xuôi thì đạo đức và nhân cách của mình phải thế nào"? Người căn dặn: "Bom đạn của địch không nguy hiểm bằng “đạn bọc đường” vì nó làm hại mình mà mình không trông thấy".

Giữa thời bình nhưng những viên đạn vẫn luôn được kích nổ, có người lấy máu và sinh mạng của mình ra đón nhận nó, để giữ bình yên cho đất nước. Họ hy sinh. Nhưng có không ít kẻ lại ngã xuống bởi những viên đạn bọc đường. Chúng chết tức tưởi./.
Yêu nước ST.

MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG BIỂU TÌNH, GÂY RỐI, BẠO LOẠN LẬT ĐỔ DIỄN RA Ở VIỆT NAM

 

Bạo loạn lật đổ là hoạt động bạo lực có vũ trang hoặc dùng bạo lực có tổ chức của số đông người nhằm chống phá tiến tới lật đổ chính quyền nhân dân do đối tượng phản cách mạng tổ chức và chỉ huy.

Căn cứ vào hình thức sử dụng bạo lực có thể phân loại thành các loại: Bạo loạn vũ trang; bạo loạn không vũ trang; bạo loạn kết hợp bạo lực có vũ trang với bạo lực không vũ trang.

Căn cứ vào địa bàn xảy ra bạo loạn có thể phân chia bạo loạn thành các loại: Bạo loạn ở thành thị; bạo loạn xảy ra ở vùng nông thôn; bạo loạn trong vùng tôn giáo; bạo loạn trong vùng dân tộc thiểu số.

Căn cứ đối tượng tổ chức hoạt động bạo loạn, có thể chia thành: bạo loạn do đối tượng phản động trong nước gây ra; bạo loạn do đối tượng thù địch ở nước ngoài và tổ chức và chỉ huy.

Trong thực tế, lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người dân Việt Nam, một bộ phận chính quyền cơ sở của Việt Nam công tác quản lý, điều hành yếu kém, xuất phát từ một số vụ việc, sự kiện chính trị nhạy cảm, các thế lực thù địch, tổ chức phản động đã tổ chức các cuộc bạo loạn, gây rối có tính chất bạo loạn nhằm chống, lật đổ chính quyền Việt Nam như:

Bạo loạn Tây nguyên những năm 2000, 2004: Thực hiện chính sách di dân, phát triển vùng kinh tế mới, đồng thời xuất phát từ sự phát triển, thịnh vượng của cây cà phê mang lại, nhiều đợt di dân của các vùng khác đến khu vực Tây Nguyên sinh sống, mua bán đất cà phê phát triển kinh tế, dẫn tới tỉ lệ người Việt trước Cách mạng tháng Tám ở Tây Nguyên chỉ chiếm khoảng 30%, nhưng vào những năm 1990, tỉ lệ người Việt đã chiếm trên 70%, kéo theo đó, nhiều vùng đất của người Thượng ở Tây Nguyên được bán cho người Việt dẫn đến tình trạng người Thượng ở Tây Nguyên bị các thế lực thù địch, trong đó có thành viên tổ chức Fulro từ Mỹ âm thầm về Việt Nam qua con đường du lịch, tuyên truyền về Tổ chức Quỹ người Thượng và Ksor Kok thành lập nhà nước Đêga của người Thượng, lấy lại đất của người Tây Nguyên cho người Tây Nguyên. Các đối tượng âm thầm tổ chức bạo loạn, thúc đẩy, xúi giục người dân tộc thiểu số đến biểu tình, chiếm nhà, chiếm chính quyền tại các tỉnh Tây Nguyên với gậy, dao, thuổng, máy cày, máy kéo, xe máy; cuộc bạo loạn xảy ra với số lượng đến hàng trục nghìn người.

Lợi dụng sự căng thẳng trong vấn đề tranh chấp biển đông của Việt Nam và Trung Quốc; vào tháng 5/2014, sự kiện dàn khoan 981 của Trung Quốc đi vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, lợi dụng lòng yêu nước của con người, dân tộc Việt Nam, một số đối tượng phản động đã kích động người dân Việt Nam, khoét sâu tư tưởng bài Trung Quốc dưới hình thức yêu nước nên đã phá hoại chính sách ngoại giao của Việt Nam với Trung Quốc, kích động phá hoại các doanh nghiệp Trung Quốc tại Việt Nam, nhiều đối tượng lợi dụng để cướp tài sản, phá hoại kinh tế không chỉ của các doanh nghiệp Trung Quốc mà còn các doanh nghiệp của các quốc gia khác, đặc biệt là phá hoại kinh tế Việt Nam, làm suy yếu, ảnh hưởng quan hệ ngoại giao, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Tại các khu công nghiệp lớn của Việt Nam (Bình Dương, Hà Tĩnh, Đồng Nai…) đã xảy ra tình trạng gây rối, phá hoại với sự tham gia của hàng trục nghìn người; các đối tượng còn kích động biểu tình trước đại sứ quán Trung Quốc tại Tp. Hà Nội, lãnh sự quán Trung Quốc tại Tp. Hồ Chí Minh; đáng chú ý, xuống đường tuần hành biểu tình chúng ta còn phát hiện một số nhân viên sứ quán của Mỹ, phương Tây.

 Hoạt động khủng bố, chống chính quyền tháng 6/2023 tại Tây Nguyên: lợi dụng sự nhẹ dạ, cả tin của người dân tộc thiểu số; sự lừa dối, hứa hẹn thành quả sau khi gây án như được cho nhà, cho đất, có cuộc sống đầy đủ… có sự móc nối, chỉ đạo của đối tượng từ nước ngoài, trong đó không loại trừ công tác nắm tình hình của chính quyền cơ sở của Việt Nam có yếu kém nên không nắm được hoạt động tuyên truyền, lôi kéo của hàng trục đối tượng trên địa bàn suốt thời gian qua. Nên ngày 11/6/2023, hàng trục đối tượng mang theo súng, lựu đạn, dao với mục đích khủng bố, chống chính quyền tiến hành giết cán bộ chính quyền cơ sở trên địa bàn tỉnh Đăk Lắk; đốt, phá trụ sở Công an, ủy ban xã trên địa bàn tỉnh Đăk Lắk./.

 

THIẾU TRÁCH NHIỆM – MỘT SUY THOÁI ‘‘KÉP’’ CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 

         Sống trong cuộc đời này, ai cũng phải có trách nhiệm. Nếu không có trách nhiệm với chính mình, công việc, gia đình, xã hội thì con người khó có thể trưởng thành, tiến bộ. Đối với cán bộ, đảng viên, trách nhiệm không dừng lại ở bổn phận “việc phải làm, việc phải gánh vác, việc phải nhận lấy về mình”, mà đó còn là một trong những giá trị thuộc về phẩm chất chính trị, tư cách đạo đức, chiều sâu văn hóa của người chiến sĩ tiên phong của Đảng. Tuy nhiên, việc thấu hiểu, thể hiện, hành xử với hai chữ “trách nhiệm” của một bộ phận cán bộ, đảng viên thời gian qua có nhiều vấn đề rất đáng cảnh báo.

           Một biểu hiện suy thoái “kép”

          Với tư cách là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam từ lâu đã ăn sâu vào trái tim, khối óc của nhân dân lao động bởi nói đến đảng viên là nói đến hình ảnh dấn thân, tinh thần cống hiến, tấm gương hy sinh, trách nhiệm cao cả đối với Tổ quốc và nhân dân. Điều này đã được biểu hiện sinh động trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.

          Tuy nhiên, những năm qua, trước sự tác động mặt trái của cơ chế thị trường, một bộ phận cán bộ, đảng viên không những không giữ gìn được vai trò tiên phong, gương mẫu của người cộng sản, mà còn có biểu hiện sa sút ý chí phấn đấu, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao. Trong số 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII nêu ra, có một biểu hiện suy thoái “kép” đáng báo động trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, đó là: “Né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả” (biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị) và “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân” (biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống).

          Theo kết quả điều tra dư luận xã hội cách đây chưa lâu của Viện Nghiên cứu dư luận xã hội (Ban Tuyên giáo Trung ương), một trong 4 vấn đề liên quan đến cán bộ, đảng viên chưa được đa số nhân dân ghi nhận, đó là tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên chưa hết lòng vì tập thể, vì việc chung, vì nhân dân, vì đất nước. 

          Đã là trách nhiệm thì phải làm đến nơi đến chốn. Trong khi Đảng yêu cầu cán bộ, đảng viên sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của Đảng, Nhà nước và nhân dân, thì còn không ít người tìm mọi cách để trục lợi, tham nhũng nhằm vinh thân phì gia. Khi Đảng đòi hỏi cán bộ, đảng viên “kiên quyết không nhận quà biếu với động cơ vụ lợi dưới mọi hình thức; không để cho người thân lợi dụng quyền hạn và ảnh hưởng của mình để trục lợi”, thì một số người vẫn thản nhiên thu vén, vơ vét quà cáp của nhân viên, cấp dưới, người lao động và để cho vợ con lén lút làm những việc không trong sáng, minh bạch, gây điều tiếng xấu. Khi Đảng yêu cầu phải đề cao ý thức trung thực, công tâm, cầu thị trong tự phê bình và phê bình, thì còn nhiều cán bộ, đảng viên né tránh khuyết điểm, chạy theo thành tích, thậm chí lợi dụng phê bình để tâng bốc, tung hô nhau hoặc thành kiến, trù dập những người có ý kiến cương trực, thẳng thắn. Khi được bổ nhiệm chức vụ mới, đáng ra cán bộ phải dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, nhưng có những người đã lợi dụng vị trí công để lo việc tư, cắt xén của công đưa vào nhà riêng, lúc tập thể có thành tích thì "vơ" công lao về cá nhân mình, khi cơ quan, đơn vị có khuyết điểm thì lại đổ lỗi trách nhiệm chung nhằm “đánh bùn sang ao”, “hòa cả làng”! Thậm chí ở một số nơi đã xuất hiện tình trạng người đứng đầu miệng thì “thao thao bất tuyệt” là phải phát huy dân chủ trong thường vụ, cấp ủy, nhưng khi lại mưu mẹo, khéo léo “vỗ về” tập thể lãnh đạo “nuông chiều” theo ý kiến cá nhân, lúc thì lạm dụng tối đa quyền lực để định hướng, “lèo lái” thường vụ, cấp ủy tán thành với chủ kiến bản thân đưa ra. Đây thực chất là biểu hiện dựa dẫm, ỷ lại vào “trách nhiệm tập thể” nhưng để né tránh trách nhiệm cá nhân người lãnh đạo khi có hệ lụy xảy ra.

          Một đảng viên bình thường khi thiếu trách nhiệm đã là điều đáng trách. Nhưng đáng phê phán hơn là một bộ phận đảng viên có chức, có quyền thiếu trách nhiệm trong rèn luyện, tu dưỡng, công tác. Vì sự thiếu trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo các cấp không chỉ ảnh hưởng đến tư cách, uy tín cá nhân, mà còn tác động không thuận đến sự phát triển ổn định, lành mạnh của tổ chức, cơ quan, đơn vị. Cán bộ có chức vụ càng cao mà thiếu trách nhiệm thì càng gây ra những hệ lụy, hậu quả lớn. Những vụ việc sai phạm liên quan đến nhiều cựu cán bộ lãnh đạo ở Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2010-2015, Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng nhiệm kỳ 2015-2020, Ban Cán sự Đảng Bộ Công Thương nhiệm kỳ 2011-2016, Ban Cán sự Đảng Bộ Thông tin và Truyền thông nhiệm kỳ 2011-2016… đều liên quan đến sự thiếu trách nhiệm cá nhân người đứng đầu ở các doanh nghiệp, cơ quan, địa phương này./.