Thứ Sáu, 21 tháng 7, 2023

Quân đội là lực lượng nòng cốt trong ứng phó với thách thức an ninh phi truyền thống

An ninh phi truyền thống (ANPTT) là một khái niệm mới xuất hiện trong giai đoạn cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI và đã trở thành vấn đề toàn cầu của mọi quốc gia, dân tộc. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Những vấn đề ANPTT ngày càng đa dạng, phức tạp, tác động mạnh mẽ” và đề ra nhiệm vụ “sẵn sàng ứng phó hiệu quả các thách thức ANPTT và an ninh truyền thống”.

ANPTT dùng để chỉ các mối đe dọa, thách thức phi truyền thống đối với an ninh quốc gia, dân tộc, cộng đồng và sự ổn định của mỗi con người, có nguồn gốc phi quân sự từ các tác nhân, chủ thể phi nhà nước. ANPTT có thể khiến một quốc gia, thể chế, chế độ lung lay, bất ổn, sụp đổ, tiêu vong mà không cần bất kỳ một hoạt động chiến tranh quân sự nào. Các mối đe dọa ANPTT có đặc điểm là bột phát, đột ngột, không rõ ràng, phi chính thức nhưng lại dễ bùng phát và lan tỏa.

Quán triệt sâu sắc nhận thức và tư duy mới về an ninh quốc gia nói chung, ANPTT nói riêng của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã xác định, ứng phó hiệu quả với các thách thức ANPTT là nhiệm vụ “chiến đấu trong thời bình” nhằm bảo vệ chế độ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở khu vực biên giới (KVBG) nói riêng và toàn quốc nói chung. Từ đó, cùng với nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, toàn quân đã chủ động đấu tranh quyết liệt với các thế lực thù địch và các đối tượng cơ hội chính trị, giảm thiểu tác động, đe dọa của vấn đề ANPTT trong đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ở KVBG. Đặc biệt là BĐBP, với vai trò chuyên trách của mình trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia đã thực hiện nhiệm vụ này một cách đồng bộ, sáng tạo và hiệu quả.

Tuy nhiên, trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến chuyển phức tạp và khó lường như hiện nay, mặc dù vùng DTTS nói chung và KVBG nói riêng đã được Đảng và Nhà nước dành sự quan tâm đặc biệt, đầu tư phát triển toàn diện, nhưng khu vực này vẫn tồn tại những bất cập cần tháo gỡ như: Chênh lệch giàu nghèo còn khá lớn giữa vùng DTTS, biên giới với các vùng kinh tế phát triển của cả nước; hệ thống kết cấu hạ tầng cơ sở còn yếu kém; hệ thống chính sách an sinh xã hội, giáo dục, y tế hoạt động hiệu quả chưa cao; hệ thống chính trị cấp cơ sở và nguồn nhân lực tại chỗ chưa tương xứng với yêu cầu công việc và nhiệm vụ được giao; vấn đề biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan cũng sẽ tác động lên mọi mặt đời sống, xã hội trong vùng đồng bào DTTS ở KVBG.

Mặt khác, địa bàn vùng DTTS nơi biên giới là nơi xa xôi cách trở, đường biên giới kéo dài nên có nhiều điều kiện thuận lợi cho các loại tội phạm về ma túy, mua bán người hoạt động; đối tượng phạm tội nguy hiểm lẩn trốn; các tệ nạn xã hội như cờ bạc, ma túy và phong tục tập quán lạc hậu chưa được xóa bỏ... làm gia tăng nguy cơ mất an ninh, an toàn cho đồng bào sinh sống ở KVBG. Tất cả những yếu tố trên có ảnh hưởng rất lớn đến xu hướng vận động và tác động của các yếu tố ANPTT trong vùng DTTS ở KVBG, đáng lưu ý là những xu hướng sau:

Một là, xu hướng vận động của yếu tố an ninh chính trị, thể hiện chính ở yếu tố dân tộc - tôn giáo, tiềm ẩn những nguy cơ làm rạn nứt khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây bất ổn về an ninh chính trị, xã hội ở KVBG và có xu hướng gia tăng cả về tính chất và mức độ của các nguy cơ. Ở vùng DTTS, tính chất đa tộc người và cư trú phân tán, đan xen giữa các dân tộc dễ tạo ra những điều kiện, nguyên nhân có thể dẫn tới những xung đột, mâu thuẫn giữa các dân tộc do chưa hiểu biết về phong tục, tập quán hoặc va chạm nhau về quyền lợi kinh tế, đặc biệt giữa các DTTS với dân tộc Kinh.

Cùng với đó, các thế lực thù địch thường xuyên và gia tăng lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, đời sống khó khăn, trình độ kinh tế và dân trí thấp của đồng bào các DTTS, để chống phá, gây mất ổn định chính trị-xã hội, tiến tới thực hiện âm mưu chiến lược là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta, đưa Việt Nam đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.

Sự phát triển của các tôn giáo lớn và sự xuất hiện của các hiện tượng tôn giáo mới trong đồng bào DTTS những năm gần đây làm rạn nứt khối đại đoàn kết giữa các dân tộc, tiềm ẩn những nguy cơ gây bất ổn an ninh chính trị; tình trạng truyền đạo trái pháp luật, đơn thư khiếu nại vượt cấp, nêu ra các yêu sách không chính đáng, gây mâu thuẫn với chính quyền, gây chia rẽ giữa người theo đạo và người không theo đạo.

Hai là, xu hướng vận động của yếu tố an ninh, trật tự, an toàn xã hội thể hiện ở hiện tượng kích động, đòi ly khai dân tộc trong vùng DTTS ở KVBG đã và đang nổi lên như là một thách thức lớn đối với an ninh quốc gia nói chung và an ninh biên giới quốc gia nói riêng. Xu hướng này được chuyển hóa thành nhiều cách tiếp cận để đạt được mục đích như chuyển khẩu hiệu từ thành lập, phục hồi “vương quốc”, “xứ tự trị” sang “nhà nước” (quốc gia - dân tộc) cho đồng bào DTTS theo tiêu chí mà Liên hợp quốc công nhận để tìm kiếm sự đồng tình, ủng hộ của các tổ chức quốc tế, các nước trên thế giới, trên các diễn đàn quốc tế để gây áp lực với Nhà nước ta.

Các tổ chức phản động sẽ tiếp tục tuyên truyền, kích động tư tưởng ly khai dân tộc, lôi kéo, tập hợp quần chúng gây ra các vụ phá rối an ninh, bạo loạn; tiến hành các hoạt động phục hồi, thành lập cái gọi là “nhà nước”, như: “Nhà nước Đề Ga độc lập” ở Tây Nguyên, “Nhà nước Khmer Krom” ở Tây Nam Bộ, “Nhà nước Mông” ở Tây Bắc với yêu sách có quyền sở hữu, kiểm soát đất đai, lãnh thổ và tài nguyên trên lãnh thổ, bao gồm một số nơi ở KVBG.

Hoạt động của các tổ chức phản động này núp dưới chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, kêu gọi “quyền tự quyết” của các DTTS, tuyên truyền rằng, các DTTS ở Việt Nam có quyền tự do lựa chọn chế độ chính trị của mình, có quyền thành lập nhà nước riêng. Các tổ chức này có xu hướng liên kết với nhau và liên kết các tổ chức phản động người Việt lưu vong nhằm tạo ra một lực lượng thống nhất để quốc tế hóa vấn đề dân tộc nói chung và hoạt động ly khai trong DTTS ở Việt Nam nói riêng.

Ba là, xu hướng liên quan đến tập quán du canh, du cư, di cư tự do sẽ có chiều hướng gia tăng, phức tạp cả về số lượng người di cư, hướng di cư... trong thời gian tới, cũng gây áp lực và tạo nguy cơ tác động lớn đến ANPTT trong vùng DTTS ở KVBG, gây khó khăn trong công tác quản lý nhân khẩu, hộ khẩu, nảy sinh mâu thuẫn giữa các cộng đồng DTTS tại chỗ với dân di cư tự do, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội và sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng DTTS.

Các đối tượng xấu tiếp tục lợi dụng hoạt động di dân tự do tại KVBG Việt - Lào và các vùng khác dọc biên giới để truyền đạo trái pháp luật; mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy; tàng trữ chất nổ, vũ khí quân dụng; mua bán người; xuất, nhập cảnh trái phép; phá rừng... làm cho tình hình tội phạm phức tạp, gây tâm lý bất an, lo lắng trong đồng bào vùng DTTS ở KVBG.

Xác định được rõ những xu hướng này, trong thời gian tới, Quân đội nói chung và BĐBP nói riêng cần chủ động, tích cực hơn nữa trong ngăn ngừa, ứng phó với các thách thức ANPTT, đặc biệt chú trọng đến những vấn đề nổi cộm ở vùng DTTS và KVBG. Theo đó, cần tập trung làm tốt những nội dung sau:

Trước hết, cần tiếp tục quán triệt sâu sắc mọi chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Trên cơ sở đó, chủ động và phối hợp để chuẩn bị tốt các phương án ứng phó với các mối đe dọa ANPTT ở KVBG. Qua việc nắm vững quy luật, tính tất yếu của sự vận động chính trị, kinh tế toàn cầu, những vấn đề ANPTT; phát huy đầy đủ năng lực nội sinh; từ đó, xác định từng nhóm giải pháp đúng đắn, phù hợp nhằm ứng phó với các mối đe dọa ANPTT trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội trong vùng đồng bào DTTS ở KVBG.

Mặt khác, cần tích cực phối hợp với các cấp, các ban, ngành, lực lượng tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương tiếp tục thực hiện tốt công tác tư tưởng, giáo dục, tuyên truyền nhằm tạo nên sự thống nhất rộng rãi trong nhận thức xã hội về những nội dung, những biểu hiện mới của các yếu tố ANPPT. Trên cơ sở đó, chỉ rõ những tác động chung, cũng như những tác động mang tính đặc thù đối với từng lĩnh vực của vùng DTTS ở KVBG.

Từ đó, làm rõ những thuận lợi cơ bản, những khó khăn chủ yếu và các giải pháp trước mắt, cũng như lâu dài để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia và sự ổn định, phát triển của từng địa phương trước các mối đe dọa ANPTT trong thời kỳ mới hiện nay. Tập trung bồi dưỡng, nâng cao nhận thức cho đồng bào DTTS thường xuyên, liên tục; tăng cường trang bị phương tiện hiện đại, đáp ứng yêu cầu ứng phó với những thách thức ANPTT trong thời gian tới.

Đồng thời, chủ động xây dựng các kế hoạch, chương trình, đề án mang tính chiến lược để ngăn chặn, đối phó với các thách thức từ ANPTT; trọng tâm là xây dựng và cụ thể hóa các chiến lược, như: Chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu; Chiến lược bảo đảm an ninh mạng; Chiến lược phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia; Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia; Chiến lược bảo vệ môi trường; Chiến lược phòng, chống và kiểm soát ma túy, mua bán người... Việc chuẩn bị tốt các phương án ứng phó được biểu hiện cụ thể trong hành động thực tiễn, cũng như trong việc thực hiện nghị quyết, chủ trương của Đảng và trong các đề án, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Bên cạnh đó, việc chủ động ứng phó trước các mối đe dọa ANPTT phản ánh qua sự cố gắng của Đảng bộ, chính quyền, các lực lượng vũ trang và nhân dân; cùng sự tích cực hợp tác quốc tế và phối hợp hành động tại các diễn đàn quốc tế, khu vực và với láng giềng... nhằm tiếp thu kinh nghiệm từ các quốc gia đi trước; hợp tác xây dựng các đề án, phương án ứng phó với những thách thức ANPTT vùng DTTS ở KVBG...

Trị “bệnh” quan liêu, mệnh lệnh

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ. Kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức ta, để làm hỏng công việc của ta”...

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Quan liêu là xa rời quần chúng, không đi sâu, đi sát, không hiểu rõ lai lịch, tư tưởng và công tác của cán bộ mình. Không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Sợ phê bình và tự phê bình. Tác phong của những “ông quan liêu” là thiếu dân chủ, không giữ đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể, phân công phụ trách…”1), (2), (3), (4) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, HN.1996, tập 11, tr.373. Quan liêu thường đi đôi với mệnh lệnh, hống hách, vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường gọi chung là “quan liêu mệnh lệnh”. Người cho rằng, “bệnh quan liêu” là “chỉ biết dùng mệnh lệnh. Không biết giải thích, tuyên truyền. Không biết làm dân chúng tự giác và tự động”; cán bộ mắc bệnh quan liêu thực chất chỉ là những kẻ giả dối “làm láo, báo cáo hay”, những nhà dân chủ giả hiệu “miệng thì nói dân chủ nhưng làm việc thì theo lối “quan” chủ. Miệng thì nói “phụng sự quần chúng” nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng, trái ngược với phương châm, chính sách của Đảng và Chính phủ”. Hồ Chí Minh khẳng định “bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ. Kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức ta, để làm hỏng công việc của ta”...

Trong tình hình hiện nay, “bệnh” quan liêu mệnh lệnh còn tồn tại ở một số cơ quan, đơn vị nói chung, trong Quân đội nói riêng. Biểu hiện của “căn bệnh” này được thể hiện ở cả suy nghĩ, thái độ, hành vi và việc làm cụ thể của một số cán bộ, đảng viên; họ chưa thực sự phát huy được vai trò, hiệu quả, trách nhiệm trong công tác, tinh thần tự giác trong học tập, tu dưỡng phẩm chất đạo đức lối sống; ý thức tự phê bình và phê bình chưa cao, nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ chủ trì chưa thể hiện tính tiền phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát bộ đội, ngại va chạm, tiếp xúc với bộ đội, không lắng nghe và giải đáp kịp thời ý kiến, nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ; đánh giá hiệu quả công việc chủ yếu dựa trên các báo cáo, “lối làm việc bàn giấy”, chưa nghiên cứu tình hình thực tế; có thái độ thờ ơ, vô cảm, tắc trách, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, vướng mắc của bộ đội; thấy những việc khó khăn thì lẩn tránh, hoặc đùn đẩy trách nhiệm, đổ lỗi cho người khác; có thành tích thì vơ về mình theo kiểu “tranh công, đổ lỗi”. Thậm chí, họ sẵn sàng “dìm” người khác để nâng mình lên; giương oai, tự đắc, cho mình có quyền sinh, quyền sát, đe nẹt bộ đội.… Do đó, chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị không cao, gây bức xúc trong đơn vị...

Những biểu hiện đó đã và đang làm giảm sút ý chí chiến đấu, ảnh hưởng đến hiệu quả lãnh đạo, chỉ huy và kết quả hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị; khoét sâu mâu thuẫn, bất đồng trong cơ quan, đơn vị, ảnh hưởng đến tình đồng chí, đồng đội, truyền thống đoàn kết, nhất trí, uy tín của Quân đội ta, đến phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”. Đồng thời, đó là mảnh đất màu mỡ để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá, phát tán thông tin sai trái, bình luận xuyên tạc sự thật, nhằm hạ thấp uy tín của Quân đội, bôi nhọ tình đồng chí, đồng đội, làm suy giảm lòng tin của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân.

Để trị “bệnh” quan liêu mệnh lệnh, các cơ quan, đơn vị cần tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về tư cách đạo đức người quân nhân cách mạng; quán triệt, thực hiện nghiêm túc quy định Điều lệ Đảng, những điều đảng viên không được làm, quy định của Bộ Chính trị, Ban tổ chức Trung ương về chức năng, nhiệm vụ, quy trình công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên. Đặc biệt, làm tốt công tác tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ có tài, có đức, tận tâm trong thực hiện nhiệm vụ; lấy sự tín nhiệm của bộ đội để đánh giá và quy hoạch cán bộ, không để những cán bộ thoái hóa, biến chất, cơ hội, thực dụng chui vào các cơ quan, đơn vị. Phải làm cho đội ngũ cán bộ “Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư”, cán bộ phải làm gương để bộ đội học tập và làm theo, đặt công việc chung, lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân.

Cùng với đó, thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình, nhất là Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII, khóa XIII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tự phê bình phải đi đôi với phê bình; phê bình đồng chí, đồng đội để giúp nhau sửa chữa tiến bộ, để bồi bổ tư cách, không che giấu khuyết điểm, không làm qua quýt cho xong, làm chiếu lệ, hoặc cho rằng đó là việc nhỏ, không quan trọng, mà phải thực sự mạnh dạn chỉ cho nhau những hạn chế, khuyết điểm trong thực hiện nhiệm vụ. Thông qua đó, kịp thời ngăn ngừa, đấu tranh khắc phục các hiện tượng quan liêu, cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu, hay thờ ơ, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc, nguyện vọng chính đáng của bộ đội. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền những tấm gương “người tốt, việc tốt”, những điển hình tiên tiến, những “công bộc” hết lòng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, phụng sự Quân đội. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, các hành vi quan liêu mệnh lệnh, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần tự tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, nhất là đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; phải rèn luyện phương pháp, tác phong công tác khoa học, tỉ mỉ, thường xuyên tiếp xúc, lắng nghe ý kiến góp ý của cấp dưới và bộ đội; phải thực sự gần gũi, yêu thương, sẻ chia, giúp đỡ bộ đội; phải thật lòng, thật tâm, thật tình với bộ đội. Bởi lẽ, phẩm chất đạo đức cách mạng của người quân nhân không chỉ là yếu tố tạo nên nhân cách mà còn là tấm gương để bộ đội noi theo. Hơn nữa, muốn lãnh đạo, chỉ huy được bộ đội, muốn bộ đội tin, nghe và noi theo, thì cán bộ phải là tấm gương mẫu mực trong lời nói và hành động. Thực tế cho thấy, ở bất cứ cơ quan, đơn vị nào mà cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì thực sự gương mẫu về phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực công tác và hết lòng vì đơn vị thì được bộ đội tôn trọng, yêu mến, nể phục, tin tưởng và noi theo. Từ đó, cán bộ, chiến sĩ “hòa vào một”, và như thế, “bệnh” quan liêu mệnh lệnh cũng tự mất theo, thông qua đó góp phần xây dựng tổ chức đảng TSVM, cơ quan, đơn vị VMTD, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Ý đồ chính trị của thuyết Sự kết thúc của lịch sử

Ý đồ chính trị mà Francis Fukuyama thể hiện qua thuyết Sự kết thúc của lịch sử của ông ta:

1. Phủ nhận vai trò phương pháp luận khoa học của quan điểm duy vật về lịch sử của chủ nghĩa Mác.

2. Xuyên tạc chủ nghĩa Mác, để từ đó phủ nhận giá trị tiến bộ và khoa học của ý thức hệ giai cấp vô sản và hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa; bằng cách đó tấn công trực diện vào các nước xã hội chủ nghĩa còn lại trên thế giới.

3. Cổ vũ và tuyên truyền cho các giá trị của chủ nghĩa tư bản Mỹ.

4. Luận chứng cho ý định thiết lập trật tự thế giới đơn cực do Mỹ lãnh đạo. Nếu các giá trị dân chủ tự do của nền văn hoá phương Tây mang tính toàn năng, phổ quát đối với thế giới còn lại, thì nước Mỹ là "vật mang" điển hình các giá trị đó. Do vậy, sứ mạng thống trị thế giới hiển nhiên phải thuộc về đất nước siêu cường này.

Trong khi đó nhà nghiên cứu chính trị của Mỹ C. Wohlforth đã xuất phát từ lập trường của chủ nghĩa hiện thực chính tả để luận chứng rằng, trật tự thế giới hiện nay là đơn cực và Mỹ là cực duy nhất. Sammuel Huntington thì khẳng định Hoa Kỳ là đế chế cuối cùng của lịch sử. Không có sự khác biệt thực chất nào đáng kể về nhãn quan chính trị của các học giả này so với tác giả của thuyết Sự kết thúc của lịch sử.

Thật ra, phần đông các chính trị gia và các học giả Mỹ, bằng nhiều cách thức khác nhau, dưới cả cái vẻ bề ngoài đôi khi phản bác nhau, nhưng đều nhằm mục đích chung là tuyên truyền cho sức mạnh Mỹ, khuếch trương các giá trị Mỹ, phổ biến mô hình Mỹ ra toàn thế giới, kỳ vọng lấy đó làm chuẩn mực điều hành thế giới theo chiều hướng có lợi nhất cho Mỹ. Cổ vũ và tuyên truyền cho trật tự sức mạnh bá quyền của Mỹ - đa số thuyết đơn cực (trật tự sức mạnh đơn cực). Cổ vũ và tuyên truyền cho trật tự kinh tế dưới sự chỉ đạo của Mỹ - đã có thuyết về "sự đồng thuận Washington". Và cuối cùng, cổ vũ và tuyên truyền cho sức mạnh của ý thức hệ và các giá trị văn hoá - mà về thực chất là của Mỹ và theo kiểu Mỹ - chứ không phải của phương Tây nói chung - đó là thuyết Sự kết thúc của lịch sử.

Xét trên nhiều phương diện, thuyết Sự kết thúc của lịch sử là nguy hiểm hơn nhiều so với những thuyết khác. Bởi lẽ, thuyết này không bộc lộ trực diện thái độ ca ngợi và ủng hộ mưu đồ bá quyền của chính giới Mỹ. Trái lại, nhân danh các giá trị nhân đạo, tiến bộ và phổ quát, thuyết này đã liên lút" tuồn vào cái ý tưởng dẫn dắt mà về thực chất là cưỡng bức các dân tộc, các nền văn hoá - văn minh khác trên thế giới đi theo con đường mà nước Mỹ buộc họ phải theo.

Nguy hại hơn, khi núp dưới lớp “vỏ cái giá trị tự do và dân chủ phổ quát" thuyết Sự kết thúc của lịch sử, trong điều kiện toàn cầu hoá hiện nay, có cơ dễ dàng khuy ếch tán ảnh hưởng xuyên qua các rào chắn bản sắc văn hoá để phá vỡ tính cố kết nội tại trong các cộng đồng dân tộc trên thế giới. Sự suy yếu của ý thức hệ dân tộc cũng có nghĩa là sự lớn mạnh của ý thức hệ lai tạp (hợp chủng) của Hoa Kỳ, một hình mẫu có một không hai trong lịch sử.

Thuyết Sự kết thúc của lịch sử cũng đồng thời cổ vũ cho quá trình toàn cầu hoá theo cách đồng hoá thế giới bằng các giá trị Mỹ, chuẩn mực Mỹ và mô hình Mỹ. Thành thử, nếu không tỉnh táo phân tích tác hại các mặt của quá trình toàn cầu hoá đối với một quốc gia, một dân tộc, thì việc tiếp nhận giản đơn quá trình ấy không tránh khỏi tiếp nhận quá trình Mỹ hoá. Đây là kết luận do chính các tác giả thuộc các nước phương Tây "cựu lục địa" rút ra trước hết./.

Vai trò, vị trí của cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay

Cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận ở nước ta hiện nay là một bộ phận của cuộc đấu tranh tư tưởng trên phạm vi toàn thế giới. Giai đoạn hiện nay của cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận bắt đầu từ khi Liên Xô sụp đổ. Mở màn cho cuộc đấu tranh này là công trình nghiên cứu của nhà triết học Mỹ gốc Nhật Fukuyama với tiêu đề "Sự tận cùng của lịch sử" công bố vào năm 1992.

Trong công trình này, tác giả đã chứng minh với sự tan rã của Liên Xô, xã hội loài người không phát triển theo các quy luật do chủ nghĩa Mác đã phát hiện, mà là, với sự chấm dứt chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, lịch sử đã "dừng lại"; chủ nghĩa tư bản sẽ tồn tại vĩnh viễn. Từ những luận điểm gốc này, hàng loạt cuốn sách, bài báo đã ra đời để truyền bá những lý luận nhằm bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lê nin, bác bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa - đả kích vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Những luận điểm này được "chế biến" lại thành những luận điểm "Đảng trị", "Định hướng xã hội chủ nghĩa" là phi lý; "Chủ nghĩa xã hội đẻ non"; "Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời". Dường như, theo họ, đó là nguồn gốc của tình trạng vi phạm nhân quyền và xuống cấp đạo đức ở nước ta. Rõ ràng, đây là cuộc đấu tranh giữa hai hệ tư tưởng: tiến bộ và lạc hậu; giữa xu thế đi lên của lịch sử - và xu thế phản động, cản trở sự tiến bộ của lịch sử.

Cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay, bề ngoài dường như đó là các cuộc đấu tranh về quan điểm được các phương tiện thông tin đại chúng thực hiện bằng cách truyền bá các công trình nghiên cứu các học thuyết của các nhà khoa học. Các tổ chức xã hội, các chính khách ở Việt Nam còn có hiện tượng tán phát ý kiến của những người "yêu tự do", "khát khao dân chủ”. Về thực chất, cuộc đấu tranh này biểu hiện những khuynh hướng đại biểu cho những lợi ích chính trị - xã hội khác nhau. Đối với nước ta, đòn tấn công về tư tưởng lý luận của các thế lực thù địch nhằm vào việc xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đó chính là việc thực hiện âm mưu "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch.

Cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện có vị trí vô cùng quan trọng trong hoạt động của Đảng và Nhà nước. Tiến hành cuộc đấu tranh này là để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của dân tộc và an ninh quốc gia. Trong cuộc đấu tranh này, không những cần phải làm thất bại âm mưu phá hoại về tư tưởng, mà còn phát triển lý luận, giải đáp những câu hỏi đang đặt ra trong thời đại hiện nay, nâng cao trình độ nhận thức của nhân dân. Trên nền tảng tư tưởng lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phát triển tư duy lý luận sáng tạo, đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nâng cao trình độ lý luận của đảng viên và quần chúng lên ngang tầm của thời đại, có khả năng tự bảo vệ về mặt tư tưởng trước những đòn tiến công của kẻ thù. Điều đó có ý nghĩa sống còn đối với chế độ xã hội chủ nghĩa và sự phát triển của đất nước.

Nhận diện và đấu tranh với những kẻ “cơ hội chính trị”

Để đấu tranh có hiệu quả với những kẻ “cơ hội chính trị”, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân nói chung, các cơ quan, đơn vị trong Quân chủng nói riêng cần nhận thức đúng những biểu hiện của kẻ “cơ hội chính trị” và tính chất phức tạp, khó khăn của cuộc đấu tranh phòng, chống kẻ “cơ hội chính trị” hiện nay. Từ đó, chủ động, kịp thời, kiên quyết thực hiện những biện pháp, bước đi thích hợp, kết hợp chặt chẽ giữa “phòng” và “chống”, không thỏa hiệp với những tư tưởng, biểu hiện của kẻ “cơ hội chính trị” ở mọi nơi, mọi lúc. Đấu tranh trên tất cả các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, lý luận, kinh tế, văn hóa, xã hội, không cho chúng có cơ hội trở thành một trào lưu, một lực lượng ảnh hưởng tới sự nghiệp cách mạng của Đảng, của Nhân dân ta.

Nhận diện những kẻ “cơ hội chính trị”

“Cơ hội chính trị” là một bộ phận không nhỏ những kẻ cơ hội, thiếu lý tưởng cộng sản, tìm cách chui vào Đảng, mang danh cán bộ, đảng viên cộng sản để tìm cơ hội “thăng quan tiến chức”. Bất chấp lợi ích của Đảng, của nhân dân, họ tìm cách vun vén cho lợi ích cá nhân, gia đình, dòng tộc để đạt danh vọng, làm giàu cho bản thân và gia đình. Họ say mê quyền lực, địa vị, coi như một thứ có thể mua bán, tiến thân, từ đó mà khéo luồn lách, xun xoe, nịnh bợ cấp trên; đe nẹt, chèn ép cấp dưới. Họ kéo bè kết cánh, móc ngoặc trên dưới, trong ngoài, dựa vào các mối quan hệ thân thiết, tiền bạc để tìm cách chạy chức, chạy quyền, chạy danh, chạy lợi, chạy chỗ, chạy bằng cấp, chạy tuổi... Họ lợi dụng việc tuyển chọn, đánh giá, luân chuyển cán bộ để trục lợi cá nhân, tìm mọi cách đưa người “cùng cánh” vào nắm những chức vụ quan trọng trong cơ quan, đơn vị mà không chịu chọn những người có đức, có tài, đủ tâm, đủ tầm vào vị trí xứng đáng, thậm chí họ sẵn sàng “dìm” người khác để nâng mình lên, vì lợi ích cá nhân mà bất chấp lợi ích tập thể; không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; không gương mẫu trong công tác; không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao; không chấp hành sự phân công của tổ chức, kén chọn chức danh, vị trí công tác, chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó. Từ đó, họ dần từ bỏ trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, không còn là “công bộc” của dân, trở thành những “ông quan” cách mạng, đục khoét tiền bạc, của cải của nước, của dân.

Ngoài những kẻ cơ hội trên thì còn phải kể đến những đối tượng cơ hội chính trị cực đoan. Nhóm này thường bộc lộ công khai tư tưởng bất mãn, chống đối. Họ triệt để khai thác các khiếm khuyết của cơ chế, chính sách, lợi dụng những người có địa vị, uy tín cá nhân nhưng bất mãn hoặc đã từng bị xử lý, nhằm tạo dựng ngọn cờ, tập hợp lực lượng, công kích chính diện vào chủ trương đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của chế độ ta với động cơ và mục đích không lành mạnh, gieo rắc tâm trạng hoài nghi, tư tưởng bất mãn, chống đối, phục vụ cho mưu đồ bạo loạn, lật đổ khi có đủ các điều kiện. Hay có những đối tượng do hạn chế về nhận thức, thiếu thông tin hoặc tiếp nhận thông tin từ những kênh không chính thống, bị kẻ xấu lợi dụng, đứng trước các sự kiện phức tạp về chính trị xã hội thường tỏ ra dao động, thiếu tự chủ, mất niềm tin, mất phương hướng, hành động lệch chuẩn, gián tiếp tiếp tay cho các thế lực thù địch. Bộ phận khác do “công thần”, sống vụ lợi ích kỷ, thiếu tu dưỡng rèn luyện, khi lợi ích cá nhân không được đáp ứng, thể hiện và biểu lộ công khai quan điểm bất mãn. Họ thường nói và là trái với quan điểm của Đảng, gây xáo trộn và phân tâm trong xã hội, tạo môi trường xấu…

Có thể khẳng định, những kẻ cơ hội chính trị có nhiều cấp độ biểu hiện, có nhiều dạng và tồn tại ở nhiều vị trí khác nhau, nó là những con “sâu”, con “mọt” đang ngày đêm đục khoét phá hoại Đảng ta và chế độ XHCN ở nước ta, làm suy yếu sức mạnh của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, gây ra thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Chính vì vậy, nhận diện và đấu tranh với những kẻ “cơ hội chính trị” là một trong những nhiệm vụ chiến lược có ý nghĩa sống còn trong giai đoạn hiện nay.

Đấu tranh với những kẻ “cơ hội chính trị”

Để đấu tranh có hiệu quả với những kẻ “cơ hội chính trị”, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân nói chung, các cơ quan, đơn vị trong Quân chủng nói riêng cần nhận thức đúng những biểu hiện của kẻ “cơ hội chính trị” và tính chất phức tạp, khó khăn của cuộc đấu tranh phòng, chống kẻ “cơ hội chính trị” hiện nay. Từ đó, chủ động, kịp thời, kiên quyết thực hiện những biện pháp, bước đi thích hợp, kết hợp chặt chẽ giữa “phòng” và “chống”, không thỏa hiệp với những tư tưởng, biểu hiện của kẻ “cơ hội chính trị” ở mọi nơi, mọi lúc. Đấu tranh trên tất cả các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, lý luận, kinh tế, văn hóa, xã hội, không cho chúng có cơ hội trở thành một trào lưu, một lực lượng ảnh hưởng tới sự nghiệp cách mạng của Đảng, của Nhân dân ta.

Cùng với đó, thực hiện kiên quyết, hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Phải quán triệt, cụ thể hóa các nội dung Nghị quyết thành các văn bản pháp luật, thành kế hoạch, đề án cụ thể; đồng thời nêu cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ chủ trì trong nêu gương thực hiện Nghị quyết, nêu gương trong lời nói, hành động, công việc, đời sống riêng và thực hiện nghiêm chế tài giám sát, kiểm soát sự nêu gương ấy. Đặc biệt, phải thực hiện nghiêm Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23-9-201 của Bộ Chính trị về “Việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”. Trong đó, kiên quyết xử lý nghiêm, không có vùng cấm đối với các hành vi chạy chức, chạy quyền và hành vi bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền.

Xây dựng các tổ chức đảng TSVM, cơ quan, đơn vị VMTD; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự vững mạnh, không tham nhũng, lãng phí, quan liêu, mất đoàn kết. Thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tạo chuyển biến rõ rệt về ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và phong cách công tác của cán bộ, đảng viên. Thực hiện có nền nếp và chất lượng việc đấu tranh tự phê bình và phê bình, chủ động ngăn chặn, ngăn ngừa xu hướng cơ hội chính trị. Đặc biệt, thường xuyên nâng cao trình độ lý luận về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng để tạo sức “đề kháng” trước sự chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Tăng cường công tác quản lý nội bộ, kịp thời đấu tranh và xử lý đối với kẻ cơ hội chính trị, những cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trọng nội bộ.

Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp và tổ chức chặt chẽ của các lực lượng tạo thành thế trận vững chắc, nhiều tầng, nhiều lớp trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nói chung, chống chủ nghĩa cơ hội nói riêng. Nâng cao tính chuyên sâu của các cơ quan, các nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành, của các lực lượng và tính kịp thời, đa dạng, phong phú của các cơ quan thông tấn, báo chí trong đấu tranh với những kẻ “cơ hội chính trị”, góp phần xây dựng các tổ chức đảng TSVM, cơ quan, đơn vị VMTD.

Chữa “thứ bệnh hẹp hòi”

Ganh ghét, đố kỵ là đặc tính tiêu cực trong tính cách của con người. Nó có từ ngàn xưa và giờ đây vẫn đang phát triển, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, gây bức xúc cho xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi đó là “thứ bệnh hẹp hòi” cần phải được chữa trị.

Căn bệnh nguy hiểm

Ganh ghét đồng nghĩa với đố kỵ, ganh tỵ, ghen tỵ… là cảm xúc xảy ra khi một người thiếu đặc điểm tốt đẹp, thành tích, vật sở hữu của người khác và mong muốn điều đó hoặc mong muốn người khác không có được điều đó, muốn người khác kém mình. Ganh ghét khác với cạnh tranh và ganh đua. Ganh nghét là một trong những thói hư tật xấu của con người.

Từ thuở xa xưa, ông cha ta đã có những câu châm ngôn để mỉa mai thói ganh ghét, đố kỵ như: “Con gà tức nhau tiếng gáy”; “Trâu buộc ghét trâu ăn”; “Ăn không được thì đạp đổ” , “Ghen ăn, tức ở” …

Đã có rất nhiều câu chuyện trong văn hóa phương Đông và phương Tây nói về thói ganh ghét, đố kỵ. Truyện cổ tích Tấm Cám của Việt Nam đã khắc họa nhân vật Cám vì ganh tị với cô Tấm thảo hiền nên đã bị trừng trị đích đáng. Trong truyện “Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn” của nền văn hóa phương Tây, vì ganh ghét trước sắc đẹp của nàng Bạch Tuyết mà bà mẹ kế của nàng tìm đủ mọi thủ đoạn để hại nàng, nhưng rốt cục bà lại chết do chính những thủ đoạn của mình gây ra.

Xã hội hiện đại, thói ganh ghét, đố kỵ không những không giảm đi mà dường như phát triển rộng hơn, mức độ nguy hiểm tăng thêm.

Đã có rất nhiều câu chuyện cười ra nước mắt về thói ganh ghét, đố kỵ của một số cán bộ, công chức hiện nay. Cơ quan nọ quy hoạch hai cán bộ ở vị trí chủ trì, cả hai đều đã được cấp trên cho đi đào tạo, luân chuyển…, xem chừng “kẻ tám lạng, người nửa cân”… Sắp đến “giờ G” chính thức chọn người thay thế, một trong hai vị này ganh tị với người kia, bày đặt ra chuyện khai man lý lịch, rồi thuê hẳn một cán bộ đã về hưu viết “tâm thư” đến cấp trên nhằm hạ đối thủ của mình. Thế nhưng “gậy ông lại đập lưng ông”, “cháy nhà mới ra mặt chuột”, nhờ “trò bẩn” của vị này mà cả cơ quan đã nhận ra bộ mặt thật của người đố kỵ.

Có người đứng đầu một cơ quan không muốn cán bộ dưới quyền giỏi hơn mình, có học hàm, học vị cao hơn mình nên cương quyết không cho người dưới quyền đi học. Khi cấp dưới nghiên cứu khoa học, có giải thưởng cũng tìm đủ lý do để cấp dưới phải từ chối nhận, bởi lẽ “sếp” không muốn người khác có giải thưởng cao hơn mình. Đến khi vị cán bộ này nghỉ hưu, cả cơ quan đã thở phào nhẹ nhõm và dĩ nhiên vị lãnh đạo này chẳng bao giờ bước chân tới cơ quan cũ nữa.

Ở một cơ quan khác, người đứng đầu khá giỏi giang và thành đạt, nhưng con của ông ta chẳng may bị bệnh tự kỷ, học mãi không tốt nghiệp phổ thông và thế là ông ganh ghét tất cả những người có con học giỏi. Cả cơ quan, không ai dám kể chuyện con mình vì sợ “sếp” trù dập. Cũng vì thế mà mọi người xa lánh “sếp”, đến kỳ đại hội, “sếp” đau đớn vì trượt cấp ủy, trong khi rất nhiều người lại cảm thấy vui.

Có cán bộ về hưu thấy nhà hàng xóm ăn nên làm ra bèn nhìn họ bằng con mắt ác cảm và tưởng tượng ra đủ thứ xấu xa trong đầu, nghĩ rằng “họ cũng thường thôi, sao mà giỏi hơn ta được, chẳng qua là vì xấu xa bất chính nên mới giàu”. Vị cán bộ này bèn bịa đặt, nói xấu, vu khống, viết đơn tố cáo hàng xóm. Đến khi cơ quan thanh tra, kiểm tra làm rõ sự thật, cả khu dân cư đều xa lánh ông cán bộ về hưu kia. Xấu hổ quá, ông phải bán nhà chuyển đi chỗ khác.

Nguy hiểm hơn, có những người thể hiện lòng ganh ghét, đố kỵ bằng cách lôi kéo người có chung suy nghĩ để soi mói, nói xấu sau lưng và tìm cách cản trở đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp. Họ còn tỏ ra vui sướng trước thất bại của người khác; thậm chí họ lươn lẹo “quy chụp, biến báo” người tốt thành người xấu, tâng bốc mình lên để được cấp trên ưu ái mình…

Cách chữa thói ganh ghét, đố kỵ

Thói ganh ghét, đố kỵ như một chén thuốc độc mà mình tự chuốc lấy. Sự đố kỵ thường không chỉ dừng lại trong suy nghĩ của con người, nó luôn bộc lộ ra ngoài thông qua hành động lời nói để giải tỏa ẩn ức mặc cảm tự ti. Điều này làm cho con người càng trở nên thấp kém hơn chứ không mang lại suy nghĩ tích cực cần vươn lên để hoàn thiện bản thân. Không chấp nhận người khác hơn mình, cũng đồng nghĩa với việc sẽ làm tổn thương người khác. Những người có tính thư thế thì tâm không bao giờ thanh thản, ăn không ngon, ngủ không yên.

Trong Công giáo, Thánh Thomas d'Aquino xem ghen tị là một trong những tội chết người của nhân loại. Còn trong Phật giáo, Đức Thích Ca Mâu Ni răn: “Bi ai lớn nhất của đời người là sự ganh ghét, đố kỵ”. Đức Phật cũng khẳng định rằng đố kỵ nhau sẽ tạo ra thù hận, thành oan gia trái chủ, để phải luân hồi sinh tử mãi mà đọa đày trả ân oán với nhau.

Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi hiện tượng “ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình” là “bệnh hẹp hòi”. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết tại chiến khu Việt Bắc năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Vì ham danh vọng và địa vị, cho nên khi phụ trách một bộ phận nào, thì lôi người này, kéo người khác, ưa ai thì kéo vào, không ưa thì tìm cách tẩy ra. Thế là chỉ biết có mình, chỉ biết có bộ phận mình mà quên cả Đảng. Đó là một thứ bệnh hẹp hòi, trái hẳn với nguyên tắc tập trung và thống nhất của Đảng”.

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã coi thói ganh ghét, đố kỵ là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đó là biểu hiện “ Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình”. Ganh ghét, đố kỵ là một trong những thói hư, tật xấu của cán bộ đảng viên hiện nay, làm ảnh hưởng đến nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thực tế cho thấy, con người sẽ không thể từ bỏ được tính đố kỵ nếu không thể chiến thắng nổi bản thân. Để chiến thắng được bản thân, ngoài việc giáo dục, rèn luyện, cần phải có cơ chế ràng buộc ví dụ như việc kiểm tra, thanh tra, giám sát của các cơ quan chức năng.

Các tổ chức Đảng, tổ chức chính trị xã hội cần phải coi thói ganh ghét, đố kỵ, không muốn người khác hơn mình là kẻ thù vô hình. Vì thế, càng phải tuyên chiến với vấn nạn này. Trong nhận xét, đánh giá, đề bạt, khen thưởng phải thật sự khách quan, dân chủ, công khai và đúng thực chất, không bao che, không ích kỷ hẹp hòi, thành kiến cá nhân. Thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình, rà soát từ trong cấp ủy đến từng đảng viên, ai có biểu hiện ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình phải chấn chỉnh, chỉ rõ cho họ thấy để họ “tự soi”, “tự sửa”. Nếu không sửa được thì phải đưa ra khỏi đội ngũ.

Xây dựng tình đồng chí, đồng đội trong Quân đội hiện nay

Tình đồng chí, đồng đội trong Quân đội nhân dân Việt Nam một mặt được hình thành, củng cố, phát triển dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, chức năng, nhiệm vụ, điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định của Quân đội; mặt khác, còn dựa trên tình thương yêu giai cấp, tinh thần đoàn kết, gắn bó keo sơn như ruột thịt “lúc thường cũng như lúc ra trận” giữa những con người cùng chung chí hướng, mục tiêu, lý tưởng, cùng thực hiện nhiệm vụ cao cả và rất vinh quang của người quân nhân cách mạng mà Đảng, Nhà nước, nhân dân tin tưởng giao phó.

Tình đồng chí, đồng đội trong Quân đội ta vừa là thuộc tính bản chất của quân đội cách mạng, vừa là một trong những cơ sở tạo nên giá trị văn hóa quân sự tốt đẹp thấm sâu, thấm đậm trong đời sống tinh thần của bộ đội, là phẩm chất đặc biệt trong nhân cách người quân nhân cách mạng - “Bộ đội Cụ Hồ”.

Những năm qua, cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp trong toàn quân luôn nhận thức sâu sắc vị trí, ý nghĩa, sự cần thiết của việc xây dựng, củng cố, phát triển tình đồng chí, đồng đội; chăm lo xây dựng tình yêu thương đồng chí, đồng đội, nhất là đoàn kết trong cấp ủy, tổ chức đảng, xây dựng bầu không khí dân chủ, tin tưởng, chia sẻ, tương thân, tương ái, thắm tình đồng chí, đồng đội trong cơ quan, đơn vị. Cán bộ, chiến sĩ luôn tôn trọng, tin tưởng, thương yêu, giúp đỡ nhau như anh em một nhà. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp có động cơ phấn đấu đúng đắn, gắn bó với đơn vị; sâu sát, gần gũi, tôn trọng, đồng cam, cộng khổ với bộ đội. Bộ đội tôn trọng, tin tưởng, tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên, khi nhận bất cứ nhiệm vụ gì đều tận tâm, tận lực thi hành  nhanh chóng và chính xác… Qua đó, tình đồng chí, đồng đội trong Quân đội ta luôn được củng cố, phát triển, trở thành tài sản tinh thần thiêng liêng, cao quý trong nhận thức, tư tưởng, tình cảm của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ toàn quân, là nền tảng quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng của Quân đội ta.

Tuy nhiên, tình trạng vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, hiện tượng đoàn kết hình thức, đoàn kết xuôi chiều, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền, tranh công, đổ lỗi, đùn đẩy trách nhiệm, tâm lý nghi kỵ, bằng mặt mà không bằng lòng, độc đoán, gia trưởng, quan liêu, quân phiệt, cục bộ địa phương, lợi ích nhóm, đơn thư nặc danh, đơn thư khiếu nại, tố cáo vượt cấp vẫn diễn ra ở một số cơ quan, đơn vị. Còn có cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu về phẩm chất, lối sống trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ; thực dụng, tư duy nhiệm kỳ, toan tính, vun vén lợi ích cá nhân, thiếu trung thực; tự thương, tự sát, tự tự… vẫn chưa chấm dứt.

Những hạn chế, khuyết điểm trên đã trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả lãnh đạo, chỉ huy và kết quả hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị; khoét sâu mâu thuẫn, bất đồng trong cơ quan, đơn vị, ảnh hưởng đến tình đồng chí, đồng đội, truyền thống đoàn kết, nhất trí, uy tín của Quân đội ta, đến phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”. Đồng thời, đó là mảnh đất màu mỡ để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá, nhất là việc chúng lợi dụng các vụ việc vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội của một số cán bộ, chiến sĩ để phát tán thông tin sai trái, bình luận xuyên tạc sự thật, nhằm hạ thấp uy tín của Quân đội, bôi nhọ tình đồng chí, đồng đội, làm suy giảm lòng tin của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân.

Vì vậy, để xây dựng tình đồng chí, đồng đội vững chắc trong Quân đội trong tình hình hiện nay, các cơ quan, đơn vị, cấp ủy, chỉ huy các cấp, cán bộ, chiến sĩ toàn quân phải quán triệt, nhận thức sâu sắc và thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Quân đội; chức trách, nhiệm vụ của từng quân nhân; coi đây là tiền đề quan trọng để xác định các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt trong đơn vị. Đẩy mạnh công tác giáo dục tuyên truyền, cổ vũ, động viên, hướng mọi hoạt động của bộ đội vào mục tiêu hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của đơn vị, chức trách, nhiệm vụ được giao, ra sức phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện ở mọi lúc, mọi nơi; gắn mình với cơ quan, đơn vị, coi cơ quan, đơn vị là nhà, đồng chí, đồng đội là anh em, là người thân.

Phát huy trách nhiệm, sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các tổ chức, các lực lượng, nòng cốt là đội ngũ cán bộ, đảng viên trong xây dựng tình đồng chí, đồng đội. Tổ chức đảng, chỉ huy, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, công đoàn, hội đồng quân nhân, căn cứ vào tình hình, nhiệm vụ, đặc điểm tâm lý của các đối tượng trong đơn vị để xác định đúng, trúng chủ đề, nội dung sinh hoạt chính trị, tư tưởng cho bộ đội; lồng ghép nội dung tuyên truyền, giáo dục, định hướng để mọi thành viên trong tổ chức, đơn vị nhận rõ sự cần thiết, vai trò quan trọng, đề cao trách nhiệm, tích cực, tự giác tham gia xây dựng đơn vị có bầu không khí đoàn kết, thống nhất, tin cậy, tình yêu thường đồng chí, đồng đội. Đồng thời, thực hiện tốt quy chế dân chủ trong mọi hoạt động của cơ quan, đơn vị để bộ đội biết, bộ đội bàn, bộ đội làm và bộ đội kiểm tra, giám sát.

Bên cạnh đó, các cơ quan, đơn vị cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc xây dựng, phát triển và phát huy mặt tích cực, tiến bộ của bộ đội; không ngừng nhân rộng những tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến để ngăn chặn, đẩy lùi , khắc phục những mặt tiêu cực, lạc hậu; xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội. Kết hợp chặt chẽ việc xây dựng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, ý chí quyết tâm chiến đấu, ý thức tổ chức kỷ luật cho bộ đội gắn với đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống, những biểu hiện vô tổ chức, vô kỷ luật, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, các phần tử xấu trên địa bàn đóng quân nhằm mua chuộc, lôi kéo, dụ dỗ cán bộ, chiến sĩ sa ngã vào các tệ nạn xã hội làm ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín của Quân đội. Phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, gia đình quân nhân để nắm chắc, quản lý tốt các mối quan hệ xã hội của cán bộ, chiến sĩ; kịp thời giải quyết thấu đáo các tình huống về công tác tư tưởng, không để bị động bất ngờ. Thiết thực củng cố, phát huy những giá trị tốt đẹp của tình đồng chí, đồng đội; lan tỏa tình thương, trách nhiệm, sống có nghĩa, có tình trong cán bộ, chiến sĩ, góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị VMTD, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Chiến lược “diễn biến hòa bình” những biểu hiện mới trong bối cảnh hiện nay

Trong bối cảnh thế giới và các khu vực diễn biến phức tạp, khó lường như hiện nay, đặc biệt là khi chiến dịch quân sự đang diễn ra giữa Nga và Ukraine chưa có hồi kết thúc. Để thực hiện âm mưu của mình, các thế lực thù địch tiếp tục điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” dưới một hình thức mới, thể hiện sự tinh vi, xảo quyệt và vô cùng thâm độc. Những biểu hiện mới chúng ta cần nhận biết đó là:


        Thứ nhất, lực lượng tiến hành “diễn biến hòa bình" trong bối cảnh mới rất đa dạng, phức tạp, đan xen, khó nhận biết. Ngoài lực lượng của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch như trước đây còn thêm các nước theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi với tư tưởng bành trướng, bá quyền. Thậm chí có những nước bất chấp luật pháp quốc tế, trắng trợn xâm phạm chủ quyền, can thiệp sâu vào nội bộ các nước khác bằng nhiều biện pháp nhằm thay đổi bộ máy chính quyền cũ, thiết lập chính quyền mới theo hướng có lợi cho mình. 


        Thứ hai, đối tượng chống phá được mở rộng và phương thức tiến hành đã có sự chuyển đổi. Chúng không những nhằm vào các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa, mà còn chống phá các nước có chế độ chính trị đối lập với chúng. Đó là những nước độc lập, có chủ quyền nhưng "không cùng quỹ đạo", không có lợi cho chúng trong giải quyết các vấn đề quốc tế. Nhất là các nước có vị trí địa chính trị - kinh tế - quân sự chiến lược quan trọng, nhạy cảm hoặc ở những khu vực hội tụ sự cạnh tranh chiến lược, tranh chấp gay gắt về lợi ích,chủ quyền trên thế giới.


        Thứ ba, mục tiêu và động cơ chính trị của chiến lược“diễn biến hòa bình” đã có sự dịch chuyển và mở rộng hơn là thay đổi đường lối, chính sách cài cắm lực lượng thân cận vào bộ máy cầm quyền; làm phức tạp hóa thành phần lãnh đạo;  thay đổi tính chất quốc gia, dân tộc, thay đổi bộ máy cầm quyền nước khác nhằm phục vụ cho ý đồ của chúng.


        Thứ tư, biện pháp tiến hành chiến lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch hiện nay là sử dụng “công cụ mềm", “quyền lực thông minh". Đây là những biện pháp rất linh hoạt, mang tính tổng hợp trên các phương diện nhằm vào các lĩnh vực chính trị tư tưởng, kinh tế, văn hóa - xã hội, ngoại giao, nhất là vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để từng bước chuyển hóa đối phương, giành chiến thắng mà không cần chiến tranh". Trong đó tập trung khoét sâu mâu thuẫn, phân hóa nội bộ, tạo ra những “khoảng trống" quyền lực, đẩy đối phương vào vòng bất ổn, đồng thời kết hợp với tăng cường lôi kéo, dụ dỗ, mua chuộc bằng vật chất, bằng hoạt động từ thiện, nhân đạo, qua đó ngấm ngầm thao túng, khống chế, từng bước ép buộc đối phương lệ thuộc về chính trị. 


        Thứ năm, về công cụ mới để thực hiện “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch coi trọng sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông. Trước sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong kỷ nguyên thông tin của thời đại toàn cầu hóa và với quan điểm “một đài phát thanh cũng có thể bình định được một nước, một đô la chi cho tuyên truyền có hiệu quả hơn năm đô la chi cho quân sự” nên thứ “vũ khí” hữu hiệu được các thế lực thù địch coi trọng sử dụng trong chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí, xuất bản, nhất là các phương tiện có chương trình tiếng Việt để thực hiện bôi nhọ, vu cáo, đả kích Việt Nam. Trong đó, họ ngày càng coi trọng các trang mạng xã hội, internet - một phương tiện truyền thông có tốc độ nhanh, sức lan tỏa mạnh đối với công chúng. Thực tế ở nước ta gần đây đã xuất hiện khá nhiều các website, blog, phát tán quan điểm trái chiều, xuyên tạc. Với cách thức tiến hành khá công phu, tinh xảo; dựa vào một số sự kiện đã diễn ra, họ nhào nặn bằng các chi tiết “sặc mùi” chính trị phản động; thêm bớt những “số liệu” không thể kiểm chứng, kèm theo trích dẫn “kim, cổ, đông, tây”, giả danh khoa học; sử dụng công nghệ chèn các tư liệu, hình ảnh đã bị cắt ghép, chỉnh sửa, “live stream”... tạo ra những sự kiện “giật gân”, thông tin “câu khách”, gợi trí tò mò của dư luận; cố tình đổi trắng thay đen, biến không thành có, rồi suy diễn, bình luận theo kiểu làm “sáng tỏ vấn đề”. Tần suất các luận điệu thâm độc đó ngày càng gia tăng cả về lưu lượng, cấp độ, mật độ; thực hiện “bôi nhiều sẽ bẩn”, “nói lắm phải tin”, tung “hỏa mù” nhằm gây tâm lý hoài nghi, dao động trong xã hội; từng bước hướng cộng đồng đến những suy nghĩ lệch lạc, dẫn đến “tự diễn biến”, dần xuất hiện những hành vi “lệch chuẩn” và rơi vào “tự chuyển hóa” lúc nào không hay.


        Có thể khẳng định rằng cho dù chúng có sự điều chỉnh, thay đổi những biểu hiện gì đi chăng nữa, thì bản chất thực sự của chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là hoạt động chống phá của các lực lượng thù địch; vẫn là một kiểu “chiến tranh không có tiếng súng" nhưng vô cùng nguy hiểm với tính chất chính trị phản động, dân tộc chủ nghĩa, toàn cầu, phi vũ trang và Việt Nam vẫn là tiêu điểm. 


        Vì vậy, hơn lúc nào hết chúng ta phải nhận thức sâu sắc bản chất hiếu chiến và âm mưu thâm độc của chủ nghĩa đế quốc cùng các thế lực thù địch, nhằm tuyên truyền rộng rãi trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Tuyên truyền sâu rộng quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về công tác đối ngoại. Đồng thời tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức Đảng trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” gắn với ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa" trong nội bộ và luôn xác định đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, giữ vai trò quyết định trong bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trong tình hình mới./.

Bài học ý nghĩa từ câu chuyện tiết kiệm điện của Bác Hồ

Vào ngày 21/12/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm và nói chuyện thân mật với cán bộ, công nhân Nhà máy Điện Yên Phụ. Tại hôm đó, Bác đã nói: “Tổ quốc cần điện như cơ thể cần máu”… “Chúng ta tiết kiệm điện chính là giữ gìn “mạch máu” cho mỗi gia đình cũng như cả nền kinh tế”. Đã 69 năm kể từ ngày đó nhưng lời Bác dạy đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị.

Tấm gương sáng vĩ đại về thực hành tiết kiệm

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nêu cao tinh thần gương mẫu về lối sống giản dị và thực hành tiết kiệm. Chính vì vậy, trong cuộc sống hàng ngày từ việc ăn, ở, sinh hoạt, ở mọi lúc, mọi nơi, Bác không nói nhiều, không hô hào đao to búa lớn mà luôn thể hiện tinh thần gương mẫu về thực hành tiết kiệm bằng chính những hành động, nếp sống của mình. Từ những bữa ăn đến trang phục của Bác cũng rất đơn giản, không cầu kỳ. Đặc biệt, Bác thường nhắc nhở cán bộ, nhân dân về thực hành tiết kiệm điện: “Nước ta còn nghèo, nên càng phải tiết kiệm điện. Mỗi người, mỗi nhà, mỗi cơ quan, xí nghiệp,... đều tiết kiệm điện thì chúng ta sẽ đủ điện để dùng cho đời sống và sản xuất”. Là Chủ tịch nước, Bác được ưu tiên cấp điện trong sinh hoạt hàng ngày, nhưng tinh thần dùng điện tiết kiệm của Bác đáng cho mọi người trân trọng, suy ngẫm và học tập.

Một lần khi Bác đi thăm đồng bào ở một tỉnh xa. Lúc đó khoảng bảy giờ sáng, xe đang trên con đường Phan Đình Phùng sắp lên cầu Long Biên thì một cơ quan còn ba bóng điện sáng ở cổng. Tuy công việc đang vội, nhưng Bác vẫn bảo đồng chí lái xe dừng lại. Bác cử một đồng chí cùng đi vào gặp cơ quan ấy nhắc: Bác đi công tác qua, bảy giờ rồi vẫn thấy các đồng chí để ba ngọn đèn sáng ở cổng, không cần thiết đâu. Bác nhắc các đồng chí tắt đi. Thế là ba ngọn đèn được tắt ngay. Sau khi được Bác nhắc nhở, cơ quan ấy thấy ba ngọn đèn ở cổng không cần thiết nên tháo luôn để tiết kiệm điện.

Ngay cả khi ra nước ngoài, Bác vẫn luôn giữ thói quen tiết kiệm điện. Đi qua một hành lang đến nơi bạn mời Bác ở, hay trong nhà khách của bạn, thấy những bóng đèn sáng không cần thiết là Bác tìm cách tắt đi. Trong chuyến thăm Ba Lan năm 1957, khi Bác được đón tiếp tại phòng lễ tân, lúc đó khoảng 9 giờ sáng, mặt trời đã lên cao, mà 3 chiếc đèn chùm với hàng trăm bóng vẫn sáng trưng, Bác Hồ đã yêu cầu gặp Vụ trưởng Vụ Lễ tân và Người hỏi: “Chỗ tắt điện ở đâu?”. Lập tức, mấy chiến sĩ bảo vệ đi tắt điện. Chủ tịch Ba Lan Da-vát-dơ-ki (Zawasdzki) nói giọng cảm động: “Xin cảm ơn đồng chí Hồ Chí Minh. Tôi thành thật nhận khuyết điểm chưa nghiêm túc thực hiện tiết kiệm”.

Qua câu chuyện kể trên, chúng ta càng thêm thấu hiểu về những lời chỉ dạy, nhắc nhở của Bác về thực hành tiết kiệm nói chung và tiết kiệm điện nói riêng trong sinh hoạt, lao động, sản xuất và trong xây dựng, phát triển đất nước.

Tiết kiệm điện là giữ gìn “mạch máu”

Thời gian vừa qua, những âm thanh của chiếc loa phát thanh lại một lần nữa hiện hữu trong từng ngõ phố gây ấn tượng mạnh mẽ đến với mỗi người dân Thủ đô Hà Nội. Hình ảnh những người thợ điện áo cam cùng với chiếc loa đi từng ngõ phố yêu cầu người dân hãy sử dụng điện tiết kiệm, hãy tắt những thiết bị điện không cần thiết, giảm bớt các đèn chiếu sáng, đèn trang trí trong các cửa hàng, quán ăn...

Tiết kiệm điện là việc làm hết sức cần thiết, đặc biệt khi lãng phí trong sử dụng điện ở nước ta còn ở mức cao. Đây được xem là giải pháp quan trọng hàng đầu, vừa cải thiện chất lượng cuộc sống, bảo vệ môi trường, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong bối cảnh hiện nay, cùng với nhiều giải pháp về nguồn cung điện, truyền tải, phân phối điện, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương và ngành điện cùng nhiều ban ngành chức năng đều kêu gọi sử dụng tiết kiệm điện, hiệu quả.

Trong giai đoạn hiện nay, thực hành tiết kiệm theo tấm gương của Bác là việc làm trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Mỗi chúng ta cần phải biết tiết kiệm điện, tiết kiệm nước sinh hoạt hàng ngày, tiết kiệm thời gian giảm bớt chi tiêu cho những việc không cần thiết, biết đấu tranh chống xa hoa, lãng phí, biết chia sẻ tiết kiệm cùng mọi người. Vậy nên, “Hãy tắt khi không cần, để khi cần sẽ có điện”.

“Vợ nhặt” và chuyện chống phá không hề vặt

Kết thúc kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, ông Hưng trăn trở khi xem trên mạng xã hội thấy một số đối tượng lấy cớ đề thi môn Ngữ văn có sử dụng ngữ liệu từ tác phẩm “Vợ nhặt”, cho rằng tác phẩm đó không còn phù hợp; đồng thời kêu gọi loại khỏi chương trình phổ thông một bộ phận văn học kháng chiến. Điều mà nhà giáo về hưu lo lắng hơn là các đối tượng dùng những luận điệu xảo trá để kích động thanh niên phủ nhận các giá trị lịch sử.

Đem lo ngại đó chia sẻ trong buổi uống trà sáng với mấy người bạn hưu trí, ai cũng bày tỏ bức xúc giống ông Hưng. Ông Khang lên tiếng:

- Tôi không thể chấp nhận được cách nghĩ của một số người khi họ cho rằng cần xem lại môn Ngữ văn trong chương trình phổ thông theo hướng bỏ những tác phẩm văn học kháng chiến, thêm vào nhiều hơn các tác phẩm văn học mới, văn học hiện đại. Họ còn lên mạng chia sẻ, cổ xúy cho điều đó. Không biết những người này có hiểu rằng, văn học là một mạch nguồn xuyên suốt từ lịch sử đến hiện tại. Đành rằng cần liên tục tiếp nhận, bổ sung vào chương trình phổ thông các tác phẩm mới có giá trị. Song nếu không có quá khứ, không có lịch sử, truyền thống vẻ vang thì làm sao có một nền văn học như ngày hôm nay.

Ông Thanh tiếp lời:

- Thực ra, tôi thấy những người này làm vậy là có ý đồ xấu, hai ông ạ. Không chỉ đơn thuần nhắm đến văn học, họ âm mưu sâu xa phủ nhận một phần lịch sử, để lớp trẻ dần không còn biết đến những năm tháng kháng chiến hào hùng của dân tộc, sự hy sinh xương máu của thế hệ cha ông.

- Ông Thanh nói đúng đấy ạ! Tôi lo ngại nhất là những thông tin này đã được một số thanh niên chia sẻ. Với những suy nghĩ non nớt, lập trường chưa vững vàng, các cháu rất dễ bị những người có ý đồ chính trị thâm độc lợi dụng, định hướng để đạt được mục đích chống phá, lôi kéo lớp trẻ xa rời các giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo văn hóa du nhập, lối sống thực dụng, quay lưng với lịch sử, quên đi công lao của cha ông, sống vô ơn-ông Hưng tiếp tục bày tỏ lo lắng.

Ông Khang sốt sắng:

- Thế này là đã rõ, những người có ý đồ xấu đang mượn việc đề thi hoàn toàn bình thường để xuyên tạc, ra mặt chống phá chứ không còn là chuyện vặt nữa. Vậy thì, chúng ta phải làm gì đi chứ các ông nhỉ. Chẳng có lẽ, cánh già chúng mình thấy thế lại để những kẻ xấu lôi kéo con, cháu chúng ta?

Ba người bạn hưu trí thống nhất ngay, mỗi người sẽ viết lên Facebook và Blog cá nhân của mình một số bài tuyên truyền cho mọi người nhận rõ luận điệu của những kẻ bất mãn, chống phá. Còn ông Khang, từng là giáo viên dạy Ngữ văn, cộng tác viên của một số tờ báo sẽ viết bài đấu tranh với luận điệu chống phá của các thế lực thù địch.