Thứ Tư, 23 tháng 8, 2023

 

Kết quả và kinh nghiệm từ thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới ở Đồng Tháp

(LLCT) -  Đồng Tháp là tỉnh giàu tiềm năng, thế mạnh về nông nghiệp, du lịch. Tính đến ngày 1-4-2019, tỉnh Đồng Tháp có 1.599.504 người, mật độ dân số 495 người/km², trong đó dân số sống tại nông thôn là 1.309.303 người, chiếm 81,9%. Tỉnh có 12 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 3 thành phố và 9 huyện với 143 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 9 thị trấn, 19 phường và 115 xã. Qua 10 năm triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, vai trò tự quản của cộng đồng dân cư trên tinh thần “Tự lực, chăm chỉ, hợp tác”, nông thôn Đồng Tháp đã có nhiều khởi sắc, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng lên đáng kể. 


Tính đến tháng 9-2020, đã có 78/117 xã đạt chuẩn nông thôn mới, vượt 17 xã so với chỉ tiêu giai đoạn 2016-2020; có 29 xã đạt từ 15 - 18 tiêu chí và 10 xã đạt 14 tiêu chí, không còn xã đạt 13 tiêu chí. Thành phố Cao Lãnh, thành phố Sa Đéc, thành phố Hồng Ngự hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và huyện Tháp Mười đạt chuẩn huyện nông thôn mới. Như vậy, Đồng Tháp đã vượt 3 đơn vị so với chỉ tiêu giai đoạn 2016-2020. Trong số 14 xã đăng ký thực hiện xã nông thôn mới nâng cao, có 5 xã đạt từ 17 - 18 tiêu chí, 6 xã đạt từ 15 - 16 tiêu chí và 3 xã đạt từ 12 - 14 tiêu chí.

Để đạt được kết quả trên, Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo huy động toàn hệ thống chính trị, các ngành, địa phương, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, huy động mọi nguồn lực, vận động các tầng lớp nhân dân tham gia thực hiện phong trào “Chung sức xây dựng nông thôn mới”, triển khai đồng bộ trên các lĩnh vực.

Công tác tư tưởng được quan tâm chỉ đạo thực hiện. Các cấp đã tổ chức tuyên truyền với nhiều hình thức như: xây dựng chuyên mục, bài viết về xây dựng nông thôn mới trên các phương tiện thông tin truyền thông và trên Trang điện tử nông thôn mới, tổ chức hội thi về xây dựng nông thôn mới, lồng ghép với các phong trào, mô hình do Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phát động, góp phần lan tỏa đến từng hộ gia đình nông thôn, nâng cao ý thức tự lực, hợp tác của người dân, cộng đồng dân cư. Các phong trào nổi bật như: Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa gắn với cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; phong trào thi đua Dân vận khéo; phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới, thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững; phong trào cộng đồng dân cư quản lý xây dựng nông thôn mới theo phương châm “3 tự - 1 nhờ”, Nhà nước cấp vật tư, người dân đóng góp ngày công lao động trong xây dựng cầu đường nông thôn.

Cụ thể như: từ mô hình Nhà nước cấp vật tư, người dân đóng góp ngày công lao động khi người dân chủ động, tích cực bỏ công sức, tiền của để thực hiện công trình; huy động khối lượng lớn hội viên, đoàn viên, các tổ chức tình nguyện, từ thiện, cùng gắn kết, hướng đến mục tiêu chung xây dựng nông thôn mới.

Sổ tay hộ gia đình thi đua “Chung sức xây dựng nông thôn mới” do Tỉnh ủy trực tiếp chỉ đạo, với sự vào cuộc của cấp ủy, tổ chức chính trị xã hội các cấp. Từ kết quả thí điểm tại xã Bình Thạnh, huyện Cao Lãnh và xã Hòa An, thành phố Cao Lãnh, mô hình được nhân rộng đến 37 xã điểm xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 của tỉnh, với tổng số 95.220 hộ gia đình nông thôn tham gia, đăng ký thực hiện. Mô hình được nhân rộng trên tất cả các xã, nội dung bao gồm chung sức xây dựng nông thôn mới và cả tiêu chí nông thôn mới nâng cao.

Phong trào xây dựng điểm vui chơi cho thanh thiếu nhi xã nông thôn mới, cụm dân xanh - an toàn, biến bãi rác thành vườn hoa của Đoàn Thanh niên; “Nhà sạch, Đường sạch, Đồng ruộng sạch” của Hội Nông dân tỉnh triển khai tại xã Tân Phú, huyện Châu Thành; “Đoạn đường 3 sạch”, “Gia đình 5 không 3 sạch” của Hội Phụ nữ tỉnh.

Cùng với các phong trào, là những mô hình nổi bật:

Mô hình “Cây xoài nhà tôi”: Hợp tác xã xoài Mỹ Xương tổ chức bán hàng trên website, góp phần đưa thương hiệu xoài Cao Lãnh vươn xa, đồng thời tạo nguồn vốn ban đầu cho nhà vườn. Sau 2 năm hoạt động, đã bán được 224 cây xoài, với số tiền 830 triệu đồng. Hợp tác xã tiếp tục triển khai công nghệ Blockchain trên cây xoài.

Mô hình “Ruộng nhà mình”: Hợp tác xã Thuận Tiến thực hiện liên kết với Công ty Lương thực Đồng Tháp cung cấp gạo cho thị trường Hà Nội.

Mô hình Hội quán: trên toàn tỉnh có 83 Hội quán, với hơn 4.000 thành viên là người dân tham gia, gắn với từng ngành hàng đặc trưng của địa phương. Mô hình đã góp phần vào phát triển kinh tế, phát huy tính tự quản cộng đồng, thay đổi từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, phát huy tính chủ động, sáng tạo, cách làm hay trong sản xuất, trong đời sống ở cơ sở; tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, rút ngắn khoảng cách người dân và Nhà nước. Mô hình trở thành nền tảng để hình thành và phát triển các hợp tác xã mới. Đến nay, thành lập 17 hợp tác xã trên cơ sở các hội quán, góp phần hoàn thành tiêu chí 13 về tổ chức sản xuất trong xây dựng nông thôn mới.

Mô hình du lịch cộng đồng: Homestay cá linh huyện Tam Nông, ngôi nhà hoa - ếch, ngôi nhà tre, ngôi nhà hoa hồng tại thành phố Sa Đéc,... Các mô hình đưa du khách đến với thiên nhiên, sinh hoạt với gia đình và có những trải nghiệm thực tế về cuộc sống của người dân Đồng Tháp và trồng hoa, nuôi ếch, bắt cá.

Mô hình sinh thái cam, quýt Bá Chuốt: giúp du khách ngắm màu xanh của vườn quýt xứ Lai Vung với đài quan sát cao 6m, xem quýt đường trĩu quả bằng xuồng ba lá. Ngoài ra, đây còn là nơi bán các đặc sản cam quýt đạt chuẩn VietGap.

Mô hình tình nguyện vì cộng đồng: bà Trần Thị Kim Thia đã có 15 năm gắn bó với công việc phổ cập bơi lội cho trẻ em vùng lũ, đã dạy cho trên 2.000 trẻ em biết bơi.

Các phong trào đã lan tỏa rộng khắp đến từng hộ gia đình nông thôn, ý thức tự lực, hợp tác của người dân, cộng đồng dân cư ngày càng được nâng cao. Cộng đồng dân cư, tổ chức xã hội đã đóng góp nhiều vật chất, công sức vào chương trình xây dựng nông thôn mới. Giai đoạn 2016 - 2020, nhân dân đã tham gia với hơn 500.000 ngày công, hiến hơn 650.000m2 đất... Tổng giá trị đóng góp xây dựng nông thôn mới đạt hơn 840 tỷ đồng. Đóng góp vào nâng cấp, sửa chữa hơn 450km đường nông thôn, gần 600 cầu; sửa chữa, xây mới hơn 3.300 căn nhà, thắp sáng hơn 200km đường.

Kết quả lớn nhất từ những mô hình này mang lại chính là sự khơi dậy tinh thần cộng đồng, tự lực, chăm chỉ, cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm, hợp tác làm ăn của mỗi người dân nông thôn. Qua 10 năm xây dựng nông thôn mới, từ chỗ còn thụ động, trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, người dân Đồng Tháp đã nhận thức rõ việc xây dựng nông thôn mới là công việc của chính mình, cùng với sự đồng hành của các ngành, các cấp.

Đã có sự thống nhất cao trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Tỉnh ủy chủ trương thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chính quyền tập trung chỉ đạo thực hiện trên cơ sở những thành quả đạt được, bài học kinh nghiệm. Trong đó chú trọng chấn chỉnh, đổi mới phương thức thực hiện các nhiệm vụ, nội dung của Chương trình, hướng đến xây dựng nông thôn mới thực chất và bền vững. Gắn kết nhiều chương trình, dự án, đề án trong xây dựng nông thôn mới, như: Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững; Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; Đề án “Phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh, trật tự 8 xã biên giới”,... tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập cho người dân. Thực hiện cơ chế Nhà nước cấp vật tư, người dân đóng góp ngày công lao động trong xây dựng các công trình nông thôn gắn với nhu cầu sản xuất, dân sinh từ ý nguyện của người dân theo phương châm “dân bàn, dân làm, dân thụ hưởng” trong xây dựng nông thôn mới.

Bên cạnh những ưu điểm, thành công, trong chỉ đạo, triển khai thực hiện, còn một số địa phương cơ sở chưa chủ động, vẫn trông chờ sự chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên, không chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; cấp huyện, xã chưa bố trí được cán bộ chuyên trách thực hiện Chương trình nông thôn mới, từ đó việc theo dõi, tham mưu, báo cáo kết quả thực hiện Chương trình chưa kịp thời, chặt chẽ; một số lãnh đạo được phân công phụ trách các xã chưa dành thời gian đi thực địa để nắm thông tin và hỗ trợ tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện các chương trình. Việc duy trì, nâng chất tiêu chí nông thôn mới ở các xã đạt chuẩn ở một số nơi chưa được quan tâm đúng mức, có tình trạng tự bằng lòng sau khi xã đạt chuẩn; một số địa phương chưa quan tâm đúng mức công tác tuyên truyền vận động, chưa tập trung vận động người dân thực hiện các tiêu chí.

Công tác triển khai và nhân rộng các mô hình hay, hiệu quả đã được các địa phương chỉ đạo thực hiện. Tuy vậy, chưa có sự gắn kết chặt chẽ trong phối hợp thực hiện; thiếu tính chủ động, do đó, chưa tạo được phong trào thi đua giữa các địa phương để Cuộc vận động đạt chất lượng và hiệu quả cao hơn.

Việc giám sát, đánh giá, theo dõi thực hiện các chính sách, dự án, các giải pháp giảm nghèo triển khai chưa kịp thời. Một số địa phương họp xét đưa nhiều hộ thoát nghèo nhưng thực tế hộ thoát nghèo vẫn còn nhiều khó khăn (do mức chuẩn nghèo thấp) và nguy cơ tái nghèo cao nếu có biến cố, thiên tai, dịch bệnh xảy ra. Chưa phát huy được nội lực trong dân, tiềm năng thế mạnh của địa phương và chính người nghèo.

Môi trường nông thôn tuy có sự cải thiện thông qua các mô hình bảo vệ môi trường, xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp nhưng việc duy trì còn nhiều khó khăn do phong tục, tập quán, văn hóa và thói quen của một bộ phận dân cư, chưa có những giải pháp hiệu quả để khắc phục; việc quản lý về môi trường vẫn còn nhiều bất cập (thống kê, kiểm soát số lượng, hồ sơ đăng ký, thực hiện các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường).

Nguồn vốn đầu tư của Trung ương (vốn trung hạn 2016-2020 là 741,127 tỷ đồng), trong giai đoạn 2016-2019 chỉ được phân bổ 417,867 tỷ đồng, năm 2020 còn lại 323,26 tỷ đồng, chiếm 43,62% tổng vốn, nhưng các mục tiêu, chỉ tiêu giai đoạn 2016-2020 phải hoàn thành trong năm 2019. Do đó, nhiều địa phương gặp khó khăn trong việc hoàn thiện các tiêu chí về hạ tầng.

Từ thực tiễn tổ chức triển khai Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020, tỉnh Đồng Tháp đúc kết những kinh nghiệm bước đầu:

Một là, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, đặc biệt cùng sự quyết tâm, sâu sát và tính gương mẫu của người đứng đầu trong chỉ đạo thực hiện thì sẽ đạt kết quả tốt trong xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu nông nghiệp.

Hai là, thực hiện tốt công tác tuyên truyền, tạo nhận thức đúng đắn về nội dung, mục đích ý nghĩa, giải pháp thực hiện Chương trình, tạo sự đồng thuận trong cộng đồng, đặc biệt sự đồng thuận, chia sẻ về lợi ích, trách nhiệm của người dân để người dân tự nguyện, hăng hái tham gia thực hiện; khơi dậy sức mạnh cộng đồng (doanh nghiệp, hợp tác xã, người dân) là yếu tố then chốt để thực hiện hiệu quả, bền vững Chương trình xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu nông nghiệp; xây dựng nông thôn mới cần khởi đầu từ từng con người đến gia đình, thôn xóm, tạo nền tảng vững chắc để tiến lên xây dựng xã, huyện nông thôn mới; tạo sự đồng thuận trong cộng đồng để tập trung giải quyết những vấn đề căn cơ nhất ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của người dân; phải tạo phong trào thi đua, tạo sự cạnh tranh thực sự, thường xuyên, liên tục trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội khu vực nông thôn, nuôi dưỡng ngọn lửa nông thôn mới (nông thôn mới có điểm bắt đầu, nhưng không có điểm kết thúc).

Ba là, sự giúp đỡ của Nhà nước chỉ là yếu tố đầu vào, tạo nền tảng (xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ xây dựng mô hình thí điểm, xây dựng thương hiệu, xúc tiến thị trường,...), tạo động lực cho người dân tham gia xây dựng nông thôn mới, tái cơ cấu nông nghiệp, từ đó khơi dậy tinh thần cộng đồng, sự chung tay góp sức của người dân; nơi nào có sự đồng thuận, nhiệt tình, tự giác của người dân trong xây dựng nông thôn mới thì kết quả thực hiện Chương trình mới bền vững, hiệu quả. Tiếp tục phát huy hiệu quả hoạt động của các tổ nhân dân tự quản, Hội quán trong xây dựng nông thôn mới, tái cơ cấu nông nghiệp.

Bốn là, nông thôn mới, tái cơ cấu nông nghiệp, giảm nghèo bền vững có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại với nhau, cùng phát triển, trong đó giải quyết 3 vấn đề mấu chốt ở nông thôn là nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, tạo việc làm, ổn định an ninh trật tự xã hội.

Trên cơ sở những thành tựu đạt được và những bài học kinh nghiệm qua 10 năm thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới, tỉnh Đồng Tháp xác định mục tiêu giai đoạn 2021-2025 là tiếp tục thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới theo hướng nâng cao vai trò tự quản của cộng đồng dân cư trên tinh thần tự lực, chăm chỉ và hợp tác; cơ sở hạ tầng được quy hoạch, phát triển đồng bộ, hiện đại theo hướng chủ động, thông minh, thích ứng biến đổi khí hậu, bảo đảm an toàn trước thiên tai; tài nguyên thiên nhiên được quản lý, sử dụng hợp lý; đa dạng sinh học và truyền thống văn hóa lịch sử được duy trì và tôn tạo, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao; tiếp tục gắn kết chặt chẽ Chương trình xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu nông nghiệp và giảm nghèo bền vững, tạo nền tảng vững chắc để thực hiện thành công Chương trình trong giai đoạn 2021-2025.

Mục tiêu cụ thể:

- Phấn đấu đến năm 2025, có ít nhất 90% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có 30% số xã đạt chuẩn nâng cao, 5% xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu, có thêm 6 huyện đạt chuẩn nông thôn mới;

- Thu nhập bình quân của người dân nông thôn cao gấp 1,6 lần so với năm 2020;

- Giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân hằng năm (ứng với tiêu chuẩn nghèo mới) 1,5%;

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 78,6%;

- Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 95%;

- Tỷ lệ hộ dân nông thôn được sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh đạt 100%;

- Phấn đấu đến năm 2030 có 100% đơn vị huyện hoàn thành hoặc đạt chuẩn nông thôn mới, 100% xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có 50% xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, 10% xã đạt nông thôn mới kiểu mẫu.

Để đạt mục tiêu đó, Đồng Tháp tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

- Tiếp tục thực hiện tốt chủ trương tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững, phát triển nông nghiệp bền vững, phù hợp với điều kiện thích ứng biến đổi khí hậu.

- Rà soát, bổ sung các cơ chế, chính sách về khuyến khích chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông thôn, hỗ trợ người dân phát triển kinh tế nông thôn, sản xuất nông nghiệp bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường.

- Đẩy mạnh công tác chuyển giao các ứng dụng khoa học - kỹ thuật tiên tiến, công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản Đồng Tháp.

- Triển khai có hiệu quả Kế hoạch mô hình cộng đồng dân cư quản lý xây dựng nông thôn mới. Trong đó, phát triển tinh thần cộng đồng, tinh thần tự lực, chăm chỉ, hợp tác của chính người dân tự vươn lên với khát vọng khởi nghiệp, làm giàu, xây dựng nông thôn mới tại địa phương trên cơ sở đổi mới phương thức vận hành Chương trình xây dựng nông thôn mới, nhân rộng mô hình “Hộ gia đình thi đua chung sức xây dựng nông thôn mới”, tạo sự cạnh tranh, thi đua giữa các ấp, các xã trong quá trình thực hiện mô hình; dựa trên sự phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần và mức độ hài lòng của người dân, cộng đồng làm cơ sở để đánh giá hiệu quả của mô hình.

- Phát huy hiệu quả hoạt động của các Hội quán, tạo sự gắn kết giữa các hộ gia đình, giữa người dân với chính quyền địa phương nhằm chủ động phát huy, nhân rộng những mô hình hay, cách làm hiệu quả trong phát triển sản xuất giúp nâng cao thu nhập, tạo việc làm và giảm nghèo bền vững; tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát huy vai trò người dân trong thực hiện mô hình cộng đồng dân cư tham gia quản lý xây dựng nông thôn mới và cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp.

- Huy động, lồng ghép các nguồn vốn để hoàn thiện cơ sở hạ tầng nông thôn, đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất, nhu cầu dân sinh trong điều kiện biến đổi khí hậu.

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, khơi dậy phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới từ gia đình đến ấp, xã; xây dựng và phát triển các xã nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu.

- Tiếp tục triển khai hiệu quả Chương trình quốc gia mỗi xã một sản phẩm r

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 5-2021

Tài liệu tham khảo:

1. UBND tỉnh Đồng Tháp: Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020 trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp.

2. Quyết định số 1287/QĐ-UBND-HC ngày 22-10-2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Nguồn: TS NGUYỄN PHƯỚC DŨNG

Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp

 

Nâng cao đời sống văn hóa đồng bào dân tộc Hà Nhì trong bối cảnh hiện nay (từ thực tiễn xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai)

(LLCT) - Hiện nay, những giá trị văn hóa truyền thống của người Hà Nhì ở Lào Cai đang đứng trước nguy cơ bị mai một, nguy cơ bị biến mất khỏi đời sống. Do vậy, cần phải có những giải pháp đồng bộ để giữ gìn, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của người Hà Nhì, để văn hóa tộc người thực sự trở thành sức mạnh nội sinh của nền văn hóa dân tộc.


Huyện Bát Xát, Lào Cai hiện có 4.661 người Hà Nhì sinh sống, chiếm 99,2% tổng số người Hà Nhì của tỉnh. Riêng địa bàn xã Y Tý có 2.491 người, chiếm gần 51,1% tổng số dân toàn xã và 50% tổng số người Hà Nhì toàn tỉnh(1).

Về đặc điểm cư trú,người Hà Nhì ở Y Tý thường chọn những nơi địa hình hiểm trở, núi cao, sườn dốc để sinh sống. Họ cư trú tập trung thành các làng, bản chủ yếu với người cùng dân tộc, ít có sự cộng cư với các dân tộc khác, nên bản sắc văn hóa vẫn được bảo tồn. Nhà trình tường của người Hà Nhì được xây dựng bằng đất, đá dày từ 30-45 cm, mái phủ rơm hoặc lợp cỏ gianh do những người đàn ông Hà Nhì làm hoàn toàn thủ công, thiết kế đặc biệt theo hình vuông, bảo đảm đông ấm, hè mát.

Đặc điểmkinh tế - xã hội,đời sống kinh tế của người Hà Nhì ở Y Tý chủ yếu vẫn tự cấp tự túc, dựa vào ruộng nương. Kinh tế chủ yếu là nghề trồng lúa nước trên các thửa ruộng bậc thang và trồng một số cây hoa màu như lạc, ngô, đậu tương, bí đỏ, su su… Những năm gần đây, người dân đã biết tận dụng đất trong mùa khô hạn để trồng các loại rau, hoa màu, cây dược liệu...

Chăn nuôi gia súc, gia cầm của người Hà Nhì khá ổn định, gồm các loại: trâu, bò, ngựa, làm sức kéo và lợn, gà, ngan, ngỗng... làm thực phẩm. Do đặc điểm của địa hình đồi dốc, khó khăn trong sản xuất, người Hà Nhì sử dụng trâu, bò làm sức kéo trong quá trình canh tác trên ruộng bậc thang.

Người Hà Nhì cũng có một số nghề thủ công truyền thống như: dệt, rèn, chạm khắc bạc, đan lát, mộc... Đến nay, những nghề này đã bị mai một, chỉ còn nghề đan lát được duy trì và có khả năng phát triển.

Người Hà Nhì có đời sống văn hóa tinh thần phong phú với rất nhiều lễ hội, nghi lễ gắn liền với quan điểm “vạn vật hữu linh” - vạn vật đều có linh hồn ngự trị. Người Hà Nhì rất chú trọng đời sống tâm linh, các khu rừng và nơi nguồn nước sinh hoạt của cả làng được chọn làm nơi thờ cúng. Ngày nay, trong điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, giao lưu văn hóa, giá trị văn hóa truyền thống của người Hà Nhì đang đứng trước những nguy cơ bị mai một...

Hiện nay, người dân Hà Nhì đa phần thích làm nhà ống hoặc có sự hiện đại hóa trong cách làm, cách bố trí, sắp xếp, bài trí không gian trong nhà trình tường, nhiều người dân sử dụng bê tông thay thế cho vật liệu truyền thống là đất sét; mái nhà lợp gianh được thay thế bằng những tấm lợp, hoặc tôn có giá trị sử dụng lâu hơn. Hay, trong nhà đã được bố trí phòng khép kín, không gian sinh hoạt bên trong có sự bài trí khác biệt, phối hợp giữa yếu tố truyền thống và hiện đại…

 Một số ngành nghề thủ công truyền thống đã không còn, một số khó có khả năng khôi phục lại như nghề dệt vải, chạm bạc, mộc. Phụ nữ Hà Nhì không còn trồng bông, dệt vải, nhuộm chàm để tự may trang phục truyền thống. Thay vào đó là những bộ quần áo được may sẵn. Trang phục truyền thống chủ yếu được những người trung tuổi, người già sử dụng trong các dịp hội hè, lễ tết. Trong lễ cưới, ngoài những bộ trang phục truyền thống, cô dâu, chú rể còn sử dụng trang phục như vest, váy cưới theo phong cách hiện đại.

Cơ cấu bữa ăn cũng có nhiều thay đổi. Các món ăn truyền thống vẫn được dùng trong các ngày lễ hội, còn lại ngày thường các món ăn cũng khá đa dạng, có nhiều “màu sắc” của các dân tộc khác.Thức uống truyền thống của người Hà Nhì là rượu thóc và các loại cây giải nhiệt nhưng nay đã có các loại nước uống công nghiệp trong sinh hoạt cộng đồng hoặc bữa cơm gia đình.

Những năm gần đây một số tín ngưỡng dân gian, nghi thức cúng tế, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, nghi thức trong lễ cưới, tang ma… đang dần bị biến đổi, mai một. Nhu cầu vui chơi giải trí và hưởng thụ các giá trị văn hóa cũng có nhiều biến đổi. Trong các dịp lễ tết, trai gái ít hát đối, hát giao duyên bằng các làn điệu dân ca, dân vũ của dân tộc.

          Để nâng cao đời sống văn hóa của người Hà Nhì cần xác định và giải quyết được những vấn đề mà thực tiễn đang đặt ra, trong đó có bảo tồn, phát huy, phát triển các giá trị văn hóatruyền thống. Bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của người Hà Nhì, gắn với bảo vệ và bảo đảm các giá trị đó phù hợp với xu hướng thẩm mỹ hiện đại; đưa các sản phẩm văn hóa đặc sắc của người Hà Nhì thành sản phẩm kinh tế có giá trị; phát triển du lịch. Bảo tồn không có nghĩa là đóng khung; phát huy, phát triển không có nghĩa là học theo cái mới, xóa bỏ cái cũ. Do đó, phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy, phát triển các di sản văn hóa của người Hà Nhì để văn hóa tộc người thực sự trở thành sức mạnh nội sinh của nền văn hóa dân tộc.

Thực tiễn đang đặt ra yêu cầu cần có những giải pháp đồng bộ để nâng cao đời sống văn hóacủa người Hà Nhì:

Thứ nhất, phát huy vai tròlãnh đạo, quản lý của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương cơ sở trong xây dựng đời sống văn hóa

Tăng cường trách nhiệm của cấp uỷ, chính quyền trong xây dựng đời sống văn hóa của các dân tộc. Nâng cao năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về văn hóacho phù hợp, hiệu quả, theo hướng chú trọng duy trì văn hóa truyền thống, phát huy những giá trị văn hóa mới trong bối cảnh hội nhập và tăng cường giao lưu.

Đẩy mạnh và thực hiện tốt các chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc, nhất là các chương trình xóa đói giảm nghèo, Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào.

Cấp uỷ, chính quyền địa phương tiếp tục quán triệt sâu rộng và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng nền văn hóaViệt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và các chỉ thị, nghị quyết, đề án, kế hoạch khác của địa phương về văn hóa. Tăng cường phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; phát huy vai trò của Ban công tác Mặt trận, các chi hội làng, bản trong vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ hai, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác văn hóa

Quan tâm đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ cấp xã nói chung, cán bộ là người tại chỗ nói riêng, bởi họ là những người am hiểu phong tục, tập quán, tâm lý của dân tộc mình nên sẽ có những đề xuất, kiến nghị sát hợp nhằm bảo tồn, giữ gìn và phát huy, phát triển bản sắc văn hóacủa người Hà Nhì phù hợp với truyền thống văn hóadân tộc. Chính quyền các cấp cần có những chính sách đãi ngộ phù hợp để những người làm công tác văn hóa gắn bó lâu dài với công việc.

Thứ ba, phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng

Phát huy vai trò của những người có uy tín trong cộng đồng người Hà Nhì để thông qua họ vận động đồng bào xây dựng đời sống văn hóa tiến bộ trên cơ sở giữ gìn các nét đẹp trong phong tục tập quán, văn hóa truyền thống. Thường xuyên quan tâm, thăm hỏi, chia sẻ về cuộc sống với những người có uy tín trong cộng đồng.

Thứ tư, củng cố, hoàn thiện môi trường giáo dục, nâng cao nhận thức, trình độ học vấn cho người HàNhì

Tập trung đầu tư nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các trường và cơ sở vật chất trường học trên địa bàn nhằm từng bước nâng cao chất lượng dạy và học cho đồng bào. Thực hiện tốt những chính sách đãi ngộ để đội ngũ giáo viên yên tâm bám trường, bám lớp, gắn bó lâu dài với địa phương.

Đổi mới phương pháp giáo dục, đào tạo để thu hút con em đồng bào người dân tộc trên địa bàn xã đến trường, trong đó có người Hà Nhì. Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục; thường xuyên tổ chức giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm để nâng cao trình độ nhận thức của người dân, nâng cao ý thức tự tôn dân tộc cũng như ý thức cao về những giá trị văn hóa truyền thống của người Hà Nhì.

Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cán bộ địa phương, cán bộ người Hà Nhì học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị để có những đóng góp thiết thực, hiệu quả trong nâng cao đời sống văn hóa của người dân nói chung và của người Hà Nhì.

Thứ năm, phát triển kinh tế nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người Hà Nhì

Chính quyền địa phương bám sát chủ trương, chính sách của Nhà nước để cụ thể hóa thành các biện pháp nhằm nâng cao đời sống vật chất của người dân. Đa dạng hóa các loại hình sinh kế, xác định và xây dựng ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương. Làm tốt công tác quy hoạch trên địa bàn, xác định rõ tiềm năng, lợi thế của từng vùng để có chiến lược phát triển phù hợp như quy hoạch các vùng chuyên canh sản xuất các sản phẩm nông nghiệp, tạo thương hiệu, uy tín trên thị trường tỉnh và trong nước. Phát triển kinh doanh du lịch cộng đồng theo hướng bền vững gắn với bảo đảm vệ sinh và bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên…

Thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào các ngành kinh tế là thế mạnh trên địa bàn, xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng cơ sở, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng chuyên canh tăng năng suất, tăng sản lượng và chuyên môn hóa; vận động đồng bào ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất; liên kết, làm cầu nối trung gian để giúp đồng bào thuận lợi trong tiêu thụ sản phẩm một cách ổn định, bền vững. Khuyến khích phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hộ gia đình. Chủ động thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi. Tạo điều kiện để các doanh nghiệp sử dụng nguồn nhân lực tại chỗ nhằm tạo việc làm cho người Hà Nhì. Đào tạo, bồi dưỡng tay nghề cho người lao động. Hỗ trợ giống, cây trồng, vật nuôi, vốn và kỹ thuật để người dân yên tâm phát triển sản xuất.

Trong phát triển kinh tế, cần chú trọng tới các sản phẩm văn hóađặc trưng. Với truyền thống văn hóa phong phú, người Hà Nhì có những sản phẩm từ nghề thủ công truyền thống như trang phục, các sản phẩm từ đan lát… Đây là những sản phẩm văn hóacần được bảo tồn và phát triển. Bên cạnh những chủ trương, chính sách chung về phát triển kinh tế, chính quyền địa phương cần tập trung phát triển các nghề thủ công truyền thống. Người dân Hà Nhì biết tận dụng lợi thế về khí hậu, thổ nhưỡng để trồng các loại dược liệu như xuyên khung, đương quy, hoàng sin cô, thảo quả…Tuy nhiên, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, chưa có sự đầu tư theo hướng phát triển thành vùng chuyên canh cho năng suất và sản lượng lớn. Vì vậy, cần mở rộng diện tích trồng, tăng sản lượng, tăng cường giới thiệu hình ảnh, quảng bá các sản phẩm mang tính văn hóađặc trưng để xây dựng thành ngành kinh tế mang đậm dấu ấn địa phương.

Thứ sáu, đẩy mạnh quảng bá,giới thiệu giá trị văn hóa truyền thống, tăng cường giao lưu văn hóa giữa người Hà Nhìvới cộng đồng các dân tộc khác.

Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của người Hà Nhì về văn hóa dân tộc trước những đòi hỏi của đời sống xã hội thông qua những hình thức phong phú, phù hợp với tâm lý, trình độ nhận thức của người dân. Qua đó, người Hà Nhì có thể nhận thức một cách sâu sắc hơn việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình, hướng đến trao truyền, bảo lưu các giá trị văn hóa, để văn hóa người Hà Nhì là một thành tố quan trọng làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam trong đa dạng và thống nhất.

Phát huy vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng, các cơ quan thông tấn trong quảng bá,giới thiệu về hệ thống giá trị văn hóa truyền thống của người Hà Nhì đến với những dân tộc khác, địa phương khác. Phát huy vai trò của giao lưu văn hóa giữa người Hà Nhì ở Y Tý với cộng đồng bên ngoài để những tinh hoa văn hóa của người Hà Nhì có điều kiện lan tỏa và không ngừng phát triển.

__________________

(1) Cục Thống kê tỉnh Lào Cai: Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở tỉnh Lào Cai, Nxb Thống kê, 2019.

nguồn: TRẦN VIỆT HÀ

 

 

Công tác đánh giá cán bộ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(LLCT) - Trong những năm qua, công tác đánh giá cán bộ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh có nhiều đổi mới, được thực hiện thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch trong toàn hệ thống Học viện. Công tác đánh giá gắn với bình xét danh hiệu thi đua, giúp công tác thi đua ngày càng thực chất hơn. Tuy nhiên, vẫn còn một số bất cập đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu đổi mới cho phù hợp với thực tiễn tại Học viện.


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(1), “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(2).Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng nhiều lần khẳng định: “Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, thì công tác cán bộ là then chốt của then chốt”(3). Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19-5-2018 của Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu "then chốt" của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị”, trong đó, đánh giá cán bộ là khâu mở đầu, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và liên quan đến tất cả các khâu của công tác cán bộ, như bồi dưỡng, quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển, đặc biệt là khen thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức (cán bộ).

Về công tác đánh giá cán bộ, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết, chỉ thị… như: Quyết định số 286-QĐ/TW ngày 08-02-2010 về đánh giá cán bộ, công chức; Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07-6-2012 về việc nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chủ chốt ở các cấp; Quy định số 165 và Quy định số 282-QĐ/TW ngày 08-10-2014 về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với thành viên lãnh đạo cấp ủy và cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; Quy định số 89, 90-QĐ/TW ngày 04-8-2017 về tiêu chuẩn chức danh và khung tiêu chí đánh giá đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý nói chung, đối với cán bộ cấp chiến lược nói riêng… Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2020/NĐ-CPngày 13-8-2020 về đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức.

Vị trí, vai trò của công tác đánh giá cán bộ

Thứ nhất,đánh giá cán bộlà công việc hệ trọng và có ý nghĩa quyết định trong công tác cán bộ. Đánh giá cán bộlà tiền đề để bố trí, sử dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm và thực hiện chính sách khác đối với cán bộ. Quyết định số 286-QĐ/TW của Bộ Chính trị quy định phải tiến hành đánh giá cán bộtrước khi bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, bổ nhiệm lại, quy hoạch, điều động, luân chuyển. Trên cơ sở những ưu điểm, năng lực của cán bộđể đề bạt, sử dụng, cất nhắc một cách khách quan, công tâm, đúng người, đúng việc. Đánh giá cán bộcó mối quan hệ mật thiết với tất cả các khâu trong công tác cán bộ. Đánhgiá đúng cán bộsẽ phát huy được tiềm năng của từng cán bộvà của cả đội ngũ cán bộ; tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong cơ quan, đơn vị. Đánh giá không đúng sẽ dẫn đến lựa chọn nhầm những cán bộkhông đủ phẩm chất, năng lực để giao những cương vị có trọng trách, gây tổn thất cho tổ chức, đơn vị và ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ.

Thứ hai, đánh giá cán bộ góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ phát triển toàn diện về phẩm chất, năng lực và ngăn chặn, đẩy lùi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Đánh giá cán bộ giúp phát hiện những ưu điểm, sở trường đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế, nhược điểm của cán bộ. Nói đến cán bộ là nói đến khoa học về con người - những chủ thể có đời sống tâm lý - ý thức phức tạp, sống động và luôn chịu sự tác động của nhiều yếu tố như: môi trường sống, điều kiện kinh tế, đời sống văn hóa, chính trị. Thực hiện tốt công tác đánh giá cán bộsẽ tạo động lực mạnh mẽ, động viên cán bộbộc lộ tâm tư, tình cảm, xác định được những hạn chế, yếu kém về phẩm chất, năng lực của bản thân so với các yêu cầu đặt ra của cơ quan, đơn vị quản lý cán bộ. Từ đó tạo ra ý thức tự phấn đấu, tự đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống cũng như trình độ, kỹ năng để đáp ứng được các tiêu chuẩn của cơ quan, đơn vị, nâng cao hiệu quả công việc. Thực hiện tốt công tác đánh giá cán bộ sẽ góp phần phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi các phần tử cơ hội, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến""tự chuyển hóa" trong cán bộ; góp phần giữ gìn an ninh chính trị nội bộ, làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch.

Thứ ba, đánh giá cán bộcó mối quan hệ mật thiết với thi đua, khen thưởng và là tiền đề để xét tặng các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng.

Đánh giá cán bộ tốt sẽ khuyến khích cán bộ phát huy năng lực, sở trường, tâm huyết, đồng thời giúp cán bộ thấy được cái chưa tốt, cái còn hạn chế để tìm cách giúp đỡ họ khắc phục, giúp họ hoàn thiện. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “ở đời, ai cũng có chỗ tốt và chỗ xấu. Ta phải khéo nâng cao chỗ tốt, khéo sửa chữa chỗ xấu của họ”(4). Thi đua, khen thưởng với tiêu chí “khen trúng, thưởng xứng” sẽ là động lực, là đòn bẩy cổ vũ, động viên, khuyến khích các tập thể, cá nhân hăng say lao động, phát huy hết tài năng, sức lực, trí tuệ vào việc hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Như vậy, cả đánh giá cán bộ và thi đua, khen thưởng đều hướng đến con người, nhằm xây dựng và hoàn thiện con người. Do đó, đánh giá cán bộ và thi đua, khen thưởng không chỉ là chủ trương, chính sách mà còn là công cụ quản lý của Đảng, Nhà nước và là một biện pháp hữu hiệu để xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Nghị định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31-7-2017 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng đã cụ thể hóa các tiêu chuẩn, điều kiện có liên quan đến quy định sử dụng kết quả đánh giá cán bộ là cơ sở để thực hiện chính sách pháp luật về thi đua, khen thưởng.

Công tác đánh giá cán bộtại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Là cơ quan trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng,Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Học viện) có chức năng: đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp, cán bộ khoa học lý luận chính trị của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội; nghiên cứu khoa học lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, nghiên cứu khoa học chính trị, khoa học lãnh đạo, quản lý, góp phần cung cấp luận cứ khoa học trong việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nướcCơ cấu tổ chức của Học viện gồm có Ban Lãnhđạo Học viện (Giám đốc, các Phó Giám đốc) và 32đơn vị trực thuộc, gồm: 10vụ, đơn vị chức năng;18 viện nghiên cứu, giảng dạy và thông tin, xuất bản;05 học viện trực thuộc, Học viện hiện có gần 2.200 cán bộ.

Trong những năm qua, được sự chỉ đạo sát sao của Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện, công tác đánh giá cán bộ đã có nhiều đổi mới và có sự gắn kết chặt chẽ giữa công tác đánh giá cán bộvà công tác thi đua, khen thưởng, giảm thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho các đối tượng đánh giá và bình xét danh hiệu thi đua. Học viện đã cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đánh giá cán bộ và thi đua, khen thưởng thành các quy định cụ thể và được áp dụng trong toàn hệ thống như: Hướng dẫn số 468-HD/HVCTQG ngày 30-10-2017 , Hướng dẫn số 530-HD/HVCTQG ngày 22-11-2018, Hướng dẫn số 910-HD/HVCTQG  ngày 09-10-2019, Hướng dẫn số 348-HD/HVCTQG ngày 08-10-2020, Hướng dẫn số 418-HD/HVCTQG ngày 04-10-2021.

Kết quả đánh giá, xếp loại cán bộ là cái gốc, là cơ sở để xét tặng các danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng các cấp. Công tác đánh giá cán bộvà công tác bình xét danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng được tiến hành một cách toàn diện, đa chiều, gắn với sản phẩm cụ thể nhiều hơn, hạn chế dần sự cảm tính; quy trình đánh giá cán bộ và bình xét danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng được tiến hành chặt chẽ, công khai, minh bạch. Nhờ đó, kết quả đánh giá cán bộ và bình xét danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng đã dần đi vào thực chất và áp dụng đánh giá cá nhân đi đôi với đánh giá tập thể.

Có thể khái quát những kết quả trong công tác đánh giá cán bộ ở Học viện trong những năm qua như sau:

Thứ nhất,xây dựng được cơ chế đánh giá cán bộ ngày càng phù hợp với thực tiễn triển khai thực hiện nhiệm vụ của Học viện.

Các văn bản Hướng dẫn đánh giá cán bộcủa Học viện được xây dựng trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành về đánh giá cán bộ như: Luật Cán bộ, công chức năm 2008; Luật Viên chức năm 2010; Quyết định số 286-QĐ/TW, Quy định số 132-QĐ/TW của Bộ Chính trị; Nghị định số 90/2020/NĐ-CP của Chính phủ. Đồng thời có sự kết hợp chặt chẽ với các quy định, quy chế hiện hành của Học viện: Quyết định số 5029/QĐ-HVCTQG ngày 26-10-2017 ban hành quy định về ứng xử văn hóa của Học viện và các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Quyết định số 882/QĐ-HVCTQG ngày 01-3-2001 về việc ban hành Quy chế nghiên cứu viên của Học viện; Quyết định số 881/QĐ-HVCTQG ngày 01-3-2005 về việc ban hành Quy chế chuyên viên của Học viện; Quyết định số 1211-QĐ/HVCTQG ngày 01-4-2015 về việc ban hành Quy chế về tiêu chuẩn, nhiệm vụ, chế độ công tác của giảng viên ở Học viện. Đối với tiêu chuẩn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đối với tiêu chuẩn có sáng kiến trong công tác, Học viện đã nghiên cứu và xây dựng hệ thống các thành tích thay thế cho tiêu chuẩn sáng kiến theo hướng bám sát với vị trí công việc cụ thể của cán bộ tại Học viện như: vượt định mức giờ giảng, vượt bài đăng tạp chí, chủ biên sách, tham gia đề tài, đề án, đạt giải thưởng trong lĩnh vực chuyên môn… Nhờ vậy, các quy định về đánh giá cán bộđã ngày càng hoàn thiện và dần phù hợp với thực tiễn thực hiện nhiệm vụ của Học viện.

Thứ hai,kết quả đánh giá cán bộ đã bước đầu tạo cơ sở đánh giá đúng mức độ thực hiện nhiệm vụ của cán bộ.

Từ năm 2018 đến nay, công tác đánh giá cán bộ đã được tổ chức triển khai đồng bộ, thống nhất trong toàn hệ thống Học viện. Với phương thức chấm điểm và xếp loại cán bộ theo thang điểm và một số tiêu chuẩn, điều kiện khác, Học viện đã bước đầu đánh giá được mức độ thực hiện nhiệm vụ của cán bộtrong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao. Năm 2018, tỷ lệ cán bộ được xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là 13,38%, hoàn thành tốt nhiệm vụ là 79,11%, hoàn thành nhiệm vụ là 6,88%, không hoàn thành nhiệm vụ là 0,43%, không xếp loại là 0,2%. Năm 2019, các tỷ lệ này lần lượt là: 14,75%; 79,27%; 5,74%; 0,24% và không có cán bộ nào là không được xếp loại. Đến năm 2020, các tỷ lệ này lần lượt như sau: 21,72%; 71,74%; 5,74%; 0,55%; 0,25%.

Thông qua kết quả đánh giá cán bộ, Học viện xác định được đối tượng cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực. Đây chính là cơ sở để Học viện có sự điều chỉnh cần thiết trong công tác quản lý, sử dụng cán bộ.

Thứ bakết quả đánh giá cán bộ được sử dụng làm căn cứ cho các khâu khác của công tác cán bộ, như công tác thi đua, khen thưởng; công tác đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên và thực hiện các chính sách khác đối với cán bộ tại Học viện.

Từ năm 2018 đến nay, khi công tác đánh giá cán bộ đã được thực hiện một cách bài bản cả trong khâu xây dựng văn bản cũng như trong công tác tổ chức thực hiện thì kết quả đánh giá cán bộ mới chính thức được Học viện ban hành Quyết định công nhận. Học viện đã sử dụng kết quả đánh giá cán bộ làm căn cứ cho công tác bổ nhiệm; bổ nhiệm lại, xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp; kéo dài thời gian công tác; chi thưởng thu nhập tăng thêm; thi đua, khen thưởng; đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên… Cụ thể:

Về điều kiện bổ nhiệm, Học viện quy định cán bộ phải có ít nhất 03 năm liền kề cho đến thời điểm làm quy trình bổ nhiệm được đánh giá, phân loại hoàn thành nhiệm vụ từ tốt trở lên (áp dụng từ năm 2019).

Về khen thưởng, cán bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ 02 năm liên tục được đề nghị tặng thưởng Bằng khen của Giám đốc Học viện. Nếu có 05 năm hoàn thành nhiệm vụ trở lên, cán bộ được đề nghị khen thưởng ở các mức khen thưởng cao hơn như Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Huân chương Lao động.

Về chi thưởng thu nhập tăng thêm, cán bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được xếp loại A, hoàn thành tốt nhiệm vụ được xếp loại loại B, hoàn thành nhiệm vụ được xếp loại C, không hoàn thành nhiệm vụ thì không được chi (áp dụng từ năm 2018).

Về xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp, cán bộ phải có ít nhất 03 năm liền kề cho đến thời điểm xét thăng hạng được đánh giá, phân loại hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên (áp dụng từ năm 2018).

Thứ tư, công tác đánh giá cán bộ được thực hiện thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch trong toàn hệ thống Học viện và cùng với thời điểm tổng kết, bình xét danh hiệu thi đua.

Theo quy định hiện nay của Học viện, việc đánh giá cán bộ do thủ trưởng trực tiếp quản lý cán bộ thực hiện và được áp dụng thống nhất từ đơn vị cấp phòng cho đến cấp Học viện. Kết quả đánh giá được dựa trên sự tự đánh giá, xếp loại của cá nhân cán bộ, nhận xét của cấp ủy, lãnh đạo và toàn thể cán bộ đơn vị và cuối cùng là sự đánh giá, nhận xét của Thủ trưởng đơn vị. Kết thúc hội nghị đánh giá, thủ trưởng đơn vị phải công khai kết quả đánh giá, xếp loại trong đơn vị đến toàn thể cán bộ. Đối với hội nghị cấp Học viện, trước khi Giám đốc Học viện ban hành Quyết định công nhận kết quả đánh giá, xếp loại, Học viện còn thực hiện xin ý kiến toàn thể cán bộ về kết quả đánh giá cán bộtrong thời gian 07 ngày làm việc. Quy trình đánh giá, xếp loại dân chủ, công khai, minh bạch đã nhận được sự đồng thuận rất cao của cán bộ Học viện. Đồng thời, thời điểm đánh giá, xếp loại được tổ chức cùng với bình xét danh hiệu thi đua hàng năm góp phần đánh giá đúng thành tích, đảm bảo hồ sơ và thủ tục cải cách hành chính, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ khi kê khai hồ sơ đề nghị khen thưởng.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác đánh giá cán bộ Học viện còn một số hạn chế:

Thứ nhất, một số nội dung tiêu chí đánh giá còn chung chung, chưa có nhiều tiêu chí đánh giá được định lượng thành các chỉ số cụ thể.

Thứ hai, phương pháp đánh giá cán bộchưa phản ánh đúng chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ.

Thực tế ở những vị trí công việc khác nhau có những cách thức thực hiện công việc và quan hệ trong công việc khác nhau hay nói cách khác để hoàn thành nhiệm vụ cán bộkhông chỉ tiếp xúc, trao đổi với đồng nghiệp trong cùng một cơ quan, đơn vị mà còn phải cần đến quan hệ phối hợp với các tập thể, cá nhân bên ngoài cơ quan, đơn vị. Bên cạnh đó, quy định thủ trưởng các đơn vị cấp cơ sở chỉ phải đọc bản tự nhận xét, đánh giá tại đơn vị mình quản lý, việc nhận xét, đánh giá là do thủ trưởng cấp trên trực tiếp quyết định cũng chưa thực sự hợp lý. Vì thủ trưởng đơn vị cấp trên tuy là người trực tiếp giao nhiệm vụ, nhưng cán bộtrong đơn vị do thủ trưởng đơn vị cấp cơ sở quản lý mới hiểu rõ quá trình thực hiện nhiệm vụ của vị thủ trưởng đó. Do đó, để đánh giá thủ trưởng đơn vị cấp cơ sở chính xác hơn cần phải kết hợp với lấy phiếu tín nhiệm tại tập thể nơi thủ trưởng đơn vị cấp cơ sở quản lý, điều hành.

Thứ ba, một số quy định còn chưa hợp lý, chưa đáp ứng hiệu quả mục tiêu cải thiện, nâng cao phẩm chất, năng lực của cán bộvà khó đánh giá cán bộkhông hoàn thành nhiệm vụ.

Thực tiễn công tác đánh giá cán bộtại Học viện thời gian qua vẫn còn một số tiêu chí đánh giá cán bộtương đối dễ dãi, dẫn tới một số cán bộ chưa thực sự cố gắng, chưa nỗ lực phấn đấu trong công việc. Theo quy định hiện nay, một trong những tiêu chuẩn để đạt thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là cán bộphải hoàn thành 100% định mức nhiệm vụ chuyên môn chính theo ngạch đánh giá củacán bộ. Định mức này đối với tiêu chuẩn hoàn thành tốt nhiệm vụ là từ 80% trở lên và hoàn thành nhiệm vụ là từ 60% trở lên. Trước đó các năm 2018, 2019, hướng dẫn đánh giá cán bộkhông quy định định mức này. Đối với mỗi cán bộ, hoàn thành 100% định mức là nhiệm vụ bắt buộc, nhất là trong điều kiện hiện nay khi Học viện vẫn chưa có cơ chế đánh giá chất lượng, hiệu quả sản phẩm công việc của cán bộ. Có một số giảng viên thiếu định mức giờ giảng, nghiên cứu viên thiếu định mức công trình, nhưng do được cộng điểm từ các tiêu chí đánh giá khác nên vẫn đủ điểm hoàn thành tốt nhiệm vụ, hoàn thành nhiệm vụ.

Thứ tư, công tác đánh giá cán bộở một số đơn vị chưa thực sự hiệu quả, tính tự giác của cán bộtrong nhận xét, đánh giá chưa cao, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của Danh hiệu thi đua các cấp.

Thời gian qua, công tác đánh giá cán bộđã được cấp ủy, lãnh đạo nhiều đơn vị quan tâm chỉ đạo sát sao. Nhờ đó, công tác đánh giá cán bộđã bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, chính xác, tạo môi trường thuận lợi để cán bộnâng cao năng lực, trình độ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, ở một số đơn vị, công tác đánh giá cán bộcòn chưa thực sự hiệu quả, chưa đánh giá đúng người tài, người tận tâm với công việc; đánh giá cán bộcòn chủ quan, cảm tính, chưa căn cứ vào chất lượng và hiệu quả công việc. Có đơn vị, công tác đánh giá cán bộchưa trở thành nền nếp, chưa thực hiện đúng quy trình đánh giá, dẫn tới một số cán bộ"không phục", có thái độ "bất hợp tác" hoặc "bằng mặt nhưng không bằng lòng". Trong những năm qua, việc bình xét danh hiệu chiến sĩ thi đua các cấp tại Học viện đã được thực hiện tốt,với việc mở rộng tiêu chuẩn xét, công nhận giải pháp, thành tích thay thế giải pháp và lượng hóa thành tích trong đánh giá, nhưngtừ năm 2017 đến nay mới chỉ có 03 cán bộ đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua toàn quốc.

Nhìn chung,công tác đánh giá cán bộ và công tác bình xét danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng được quản lý và thực hiện đồng bộ, thống nhất trong toàn hệ thống Học viện.

Công tác đánh giá cán bộđược gắn kết với công tác bình xét danh hiệu thi đua đã giúp giảm bớt thủ tục hành chính và thời gian tổ chức các hội nghị. Do đó, việc thống nhất tổ chức công tác đánh giácán bộvà công tác bình xét danh hiệu thi đua vào cùng một thời điểm, đồng thời gộp chung hai công tác này thành 01 văn bản hướng dẫn đã nhận được sự ủng hộ của hầu hết các đơn vị.

Công tác đánh giá cán bộ góp phần giúp công tác bình xét danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng được thuận lợi hơn.

Nhờ có Hướng dẫn đánh giá cán bộ, Quy chế Công tác thi đua, khen thưởng đã bỏ các tiêu chí đánh giá thi đua cụ thể theo từng vị trí công việc của cán bộ. Việc bình xét danh hiệu thi đua được thực hiện đơn giản, thuận lợi hơn hơn vì mức độ thực hiện nhiệm vụ đã được căn cứ theo kết quả đánh giá cán bộ. Việc sử dụng kết quả đánh giá cán bộđã rút ngắn quy trình bình xét danh hiệu thi đua, đồng thời giúp công tác thi đua, khen thưởng trở nên thực chất hơn, ít hình thức hơn. Công tác đánh giá xếp loại cán bộ và bình xét thi đua, khen thưởng đã góp phần xây dựng hình ảnh mẫu mực người cán bộ Trường Đảng mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

__________________

(1), (2), (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.309, 313, 318.  

(3) https://nhandan.vn/dang-va-cuoc-song/doi-moi-manh-me-cong-tac-danh-gia-can-bo-281015/, ngày 19-12-2016.

nguồn: TS NGÔ THỊ HẢI ANH

Ban Thi đua - Khen thưởng,

Vụ Tổ chức - Cán bộ,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh


 

Xây dựng các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội phù hợp với xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội

(LLCT) - Để xây dựng các chính sách phát triển xã hội phù hợp và có hiệu quả cần dựa trên việc nắm bắt và dự báo đúng xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội trong các giai đoạn phát triển. Bài viết tập trung phân tích biến đổi cơ cấu xã hội ở nước ta, từ đó nhận diện một số thách thức chủ yếu, đồng thời đề xuất một số giải pháp góp phần hoạch định chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội phù hợp với xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.


Cơ cấu xã hội được hình thành và biến đổi dưới tác động của các tiến trình kinh tế - xã hội, như tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành, nghề trong nền kinh tế dẫn đến biến đổi cơ cấu lao động - việc làm; quá độ dân số dẫn đến biến đổi cơ cấu lứa tuổi của dân số; quá trình đô thị hóa dẫn đến biến đổi cơ cấu dân cư đô thị - nông thôn. Mặt khác, sự biến đổi cơ cấu xã hội còn chịu tác động của các chính sách đặc thù hướng đến phát triển ngành, lĩnh vực hoặc nhóm xã hội nhất định, như chính sách phát triển giai cấp công nhân và chiến lược phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo đều hướng đến gia tăng tỷ trọng công nhân trong cơ cấu lao động việc - làm, hay chính sách dân số và phát triển dẫn đến giảm tỷ trọng trẻ em và gia tăng tỷ trọng người cao tuổi trong dân số. 

Trải qua hơn 35 năm đổi mới, dưới tác động của phát triển kinh tế - xã hội cùng các chính sách đặc thù của Đảng và Nhà nước đối với các thành phần kinh tế, các nhóm xã hội, đất nước ta đã có một cơ cấu xã hội đa cấu trúc, nhiều chiều cạnh(1). Với mục tiêu trở thành nước thu nhập trung bình cao, công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030 và nước phát triển vào năm 2045, cơ cấu xã hội ở đất nước ta sẽ tiếp tục biến đổi mạnh mẽ tuân theo các quy luật tự nhiên và phù hợp với định hướng đường lối, chủ trương phát triển của Đảng và Nhà nước.   

Tại Đại hội XIII, Đảng ta nêu rõ yêu cầu trong xây dựng các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội là cần: “Trên cơ sở dự báo đúng xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội ở nước ta trong những năm tới, xây dựng các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội phù hợp, giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát phân tầng xã hội...”(2). Ở tầm chiến lược trung và dài hạn, các vấn đề về phát triển đất nước nói chung và phát triển xã hội nói riêng không thể tách rời ảnh hưởng và tác động của xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội nước ta trong nhiều lĩnh vực khác nhau.

1. Xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội trong một số lĩnh vực

Dân số

Biến đổi cơ cấu dân số Việt Nam trong thời kỳ quá độ dân số từ mức sinh cao sang mức sinh thấp có tác động sâu sắc đến các yếu tố đầu vào cho phát triển kinh tế - xã hội như: nguồn lực, nhu cầu tiêu dùng... Hiện nay, biến đổi cơ cấu dân số theo chiều hướng già hóa dân số đang đặt ra những thách thức mới trong bảo đảm cung cấp các dịch vụ xã hội cho người cao tuổi, bao gồm cả y tế, chăm sóc sức khỏe, cũng như việc làm và thu nhập. 

Số liệu đã công bố của Tổng điều tra dân số năm 2009 và 2019 cho thấy, mức sinh ở Việt Nam ổn định ở mức sinh thay thế (Tổng tỷ suất sinh - TFR tương đương 2,1 con/người phụ nữ). Tuy nhiên, phân tích số liệu tổng thể kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 cho thấy, mức sinh có thể xuống dưới 2,1, thậm chí đạt mức 1,85. Cùng với đó, số liệu phân tích theo 6 vùng kinh tế - xã hội cho thấy, chỉ số TFR của cả 6 vùng đều thấp hơn so với các kết quả đã công bố. Chỉ có 3/6 vùng kinh tế - xã hội có mức sinh bằng hoặc cao hơn 2,09 là trung du và miền núi phía Bắc, (TFR là 2,38, so với kết quả công bố 2,43); Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung (TFR là 2,11, so với kết quả công bố 2,43); Tây Nguyên (TFR là 2,32, so với kết quả công bố là 2,43). Ngược lại, vùng Đông Nam Bộ có mức sinh thấp ở mức báo động (TFR là 1,27, so với kết quả công bố là 1,56); tiếp theo là đồng bằng sông Cửu Long (TFR là 1,5, so với kết quả công bố là 1,8) và đồng bằng sông Hồng (TFR là 2,04, so với kết quả công bố là 2,35). 

Với mức sinh giảm sâu, kịch bản già hóa dân số và cơ cấu dân số vàng ở nước ta sẽ rút ngắn đáng kể so với dự báo chính thức hiện nay dựa trên TFR là 2,09 (đã ước lượng thời điểm năm 2039 Việt Nam sẽ chuyển sang dân số già với tỷ lệ người già chiếm trên 14% (65 tuổi trở lên) hoặc 20% (60 tuổi trở lên)). Tuy nhiên, với mức sinh là 1,85 thì thời điểm này hoàn toàn có thể đến sớm hơn vào năm 2035 - 2036. Cùng với đó là kết thúc giai đoạn cơ cấu dân số vàng ở nước ta. Tốc độ già hóa dân số nhanh sẽ tăng thêm áp lực lên hệ thống an sinh xã hội vốn chưa được hoàn thiện ở nước ta.   

Lao động - việc làm

Về chuyển dịch cơ cấu lao động: giai đoạn 2016 - 2020, cơ cấu các ngành kinh tế có sự dịch chuyển theo xu hướng giảm tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và tỷ trọng ngành dịch vụ. Năm 2020, lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 33,1% (giảm 8,5% so với năm 2016); khu vực công nghiệp và xây dựng là 30,8% (tăng 5,6%); khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất 36,1% (tăng 2,9%). Tuy nhiên, khu vực công nghiệp - xây dựng có tỷ lệ tăng trưởng cao nhất qua 5 năm là 22%, phản ánh sự chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp năng suất thấp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ có năng suất lao động cao hơn và thu nhập tốt hơn. 

Với định hướng trở thành quốc gia công nghiệp hóa theo hướng hiện đại vào năm 2030, trong 10 năm tới, khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ sẽ tạo việc làm nhiều hơn và thu hút nhiều hơn nữa lao động từ khu vực nông nghiệp.

Về chất lượng việc làm thông qua quan hệ lao động: hiện nay vẫn tồn tại một tỷ lệ lớn người làm việc không có quan hệ lao động, tức là không dựa trên các hợp đồng lao động. Đây là nhóm người lao động không được bảo đảm về quyền lợi, dễ bị tổn thương trước các biến cố sản xuất - kinh doanh hoặc biến cố xã hội lớn (mất việc, mất thu nhập, không có bảo hiểm). 

Năm 2020, tỷ lệ việc làm dễ bị tổn thương giảm xuống còn 44% so với 65% vào năm 2011(3). Như vậy hiện nay, cứ 5 người làm việc thì 2 người không có hợp đồng làm việc chính thức, và được xếp vào nhóm lao động dễ tổn thương...  Trong năm 2020, số lao động có việc làm phi chính thức là 20,3 triệu người, tăng 119,1 nghìn người, số lao động có việc làm chính thức là 15,8 triệu người, giảm 21,1 nghìn người so với năm 2019. Việc rời khu vực việc làm chính thức để quay trở lại khu vực việc làm phi chính thức, không có quan hệ lao động là một tín hiệu không tốt cho diễn biến thị trường lao động việc làm trong tương lai. 

Các số liệu thống kê cho thấy, người lao động không có hợp đồng lao động chiếm đa số trong gần 70% người lao động chưa có bảo hiểm xã hội. Đây sẽ là một khoảng trống lớn trong bảo đảm an sinh xã hội cho người lao động, đặc biệt khi xảy ra các biến cố xã hội lớn, như đại dịch Covid-19. Do đó, trong những năm tới nước ta đứng trước thách thức tạo việc làm cho người lao động, bao gồm tỷ trọng ngày càng cao của việc làm dựa trên hợp đồng lao động chính thức để bảo đảm sàn bảo hiểm xã hội cho người lao động.

Về trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động:  Năm 2020, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp chứng chỉ chỉ đạt 26,1%, không đạt mục tiêu Chiến lược phát triển Dạy nghề thời kỳ 2011-2020 (55% vào năm 2020, trong đó trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề chiếm tỷ lệ là 23%)(4). Đồng thời, tỷ lệ thấp này có biểu hiện lệch về cơ cấu đào tạo nghề đối chiếu với yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu ngành nghề kinh tế.

Trong khi tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề chung là 26,1% thì tỷ lệ này trong một số ngành công nghiệp lại thấp một cách đáng báo động như: Công nghiệp chế biến, chế tạo, từ 18,5% (năm 2016) giảm xuống 17,9% (năm 2020); Xây dựng là 13,9% (trong suốt giai đoạn 2013-2020)... Tỷ lệ rất thấp lao động qua đào tạo ở khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo tác động trực tiếp đến năng suất lao động. Năng suất lao động ở ngành này thấp, chỉ bằng 9,2% mức năng suất lao động chung cả nước(5).

Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng này là do phần lớn doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (gồm cả doanh nghiệp FDI) tham gia ở các khâu, công đoạn có giá trị gia tăng thấp, như: gia công, lắp ráp..., không có giá trị gia tăng kinh tế cao. Đồng thời các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo luôn là nơi tập hợp nhiều nhất lao động dôi dư từ quá trình phi nông nghiệp hóa với đa số người lao động đi vào các ngành nghề thâm dụng lao động như dệt, may mặc, da giày, điện tử, hóa chất...). Nếu xu hướng trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp và yếu như hiện nay kéo dài sẽ là một yếu tố cản trở lớn đến mục tiêu phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo để đạt 40% sản xuất công nghiệp vào năm 2030.

Một trong những thách thức của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là quá trình tự động hóa và người máy hóa thực hiện sản xuất không chỉ đe dọa việc làm của những lao động trình độ thấp mà ngay cả lao động có kỹ năng bậc trung (trung cấp, cao đẳng) cũng sẽ bị ảnh hưởng, nếu như họ không được trang bị những kỹ năng mới - kỹ năng sáng tạo cho nền kinh tế 4.0.

Dự báo khoảng 5 - 10 năm tới, sẽ có khoảng 50% máy móc thay thế con người vận hành sản xuất, kinh doanh và các quy trình quản trị, và sẽ khiến khoảng 1 tỷ người lao động trên toàn cầu và hàng triệu người lao động ở Việt Nam bị thiếu việc làm, đặc biệt là các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thâm dụng lao động(7). Chuyển đổi số trong sản xuất kinh doanh, một mặt góp phần tăng năng suất lao động, thêm giá trị gia tăng, đồng thời đòi hỏi người lao động trong tương lai cần được trang bị kiến thức và kỹ năng số hóa để có thể tham gia thị trường lao động cạnh tranh. Mặt khác, chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin như nhóm lao động trình độ chuyên môn cao tham gia trực tiếp vào nền kinh tế số và hỗ trợ đắc lực cho chuyển đổi số trong hoạt động nhà nước và cả xã hội. 

Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số xác định, kinh tế số sẽ chiếm 25% GDP vào năm 2025 và 30% GDP vào năm 2030 với nhu cầu nhân lực tương xứng là 1,2 triệu và 1,5 triệu lao động kỹ thuật số(8). Do đó, trong những năm tới, cần đẩy mạnh quy mô đào tạo nghề mới gắn liền với cách mạng công nghiệp lần thứ tư cho lực lượng lao động. Cùng với đó là bảo đảm cơ hội tái đào tạo nghề cho người lao động để phòng ngừa rủi ro mất việc làm và không tìm được việc làm mới.   

Về phân hóa thu nhập

Trong 2 thập niên đầu thế kỷ XXI, khoảng cách thu nhập giữa nhóm 20% giàu nhất với 20% nghèo nhất đã tăng từ 8,2 lần (năm 2002) lên hơn 10,2 lần (năm 2019). Tiến trình này trực tiếp dẫn đến hệ số bất bình đẳng (Gini) đã chạm ngưỡng bất bình đẳng cao từ năm 2016 với mức trên 0,4. Tuy nhiên, hệ số Gini không biến động nhiều và thậm chí còn giảm nhẹ (năm 2016: 0,431; năm 2019: 0,423). 

Bên cạnh xu hướng chung về phân hóa giàu nghèo gia tăng thì một xu hướng tích cực trong phân hóa giàu nghèo thời gian qua: vùng miền, địa phương nào có trình độ phát triển kinh tế và thu nhập bình quân đầu người cao hơn thì mức độ bất bình đẳng thu nhập có khuynh hướng giảm đi. Năm 2019, sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập ở nông thôn cao hơn so với thành thị (0,415 điểm so với 0,373 điểm); vùng trung du và miền núi phía Bắc, vùng Tây Nguyên có hệ số bất bình đẳng cao hơn hẳn các vùng khác (0,438 điểm và 0,443 điểm), trong khi đó hai vùng kinh tế trọng điểm của đất nước là đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ lại có hệ số bất bình đẳng thấp nhất là 0,387-0,375 điểm. Thu nhập bình quân đầu người theo tháng của khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng cao hơn từ 2 đến 2,5 lần so với vùng miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.

Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam năm 2020 là 0,704, đứng thứ 117, chính thức đưa Việt Nam vào nhóm có chỉ số HDI cao (trên 0,7). Khi tính chỉ số HDI điều chỉnh theo bất bình đẳng (HDI – adjusted by inequality) thì Việt Nam đạt con số 0,588, đứng thứ 107 với chênh lệch thứ hạng là +10(9). Nhìn toàn cảnh, mức độ điều chỉnh giảm của chỉ số HDI theo bất bình đẳng ở Việt Nam phụ thuộc nhiều vào bất bình đẳng trong thu nhập, trong khi đó mức độ bất bình đẳng trong tuổi thọ và giáo dục lại ở mức độ thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực. 

Như vậy, phân tầng xã hội theo mức sống biểu hiện qua phân hóa giàu - nghèo là một vấn đề chính sách lớn, quan trọng, đòi hỏi sự tác động và điều chỉnh của hệ thống chính sách và quản lý của nhà nước để phòng ngừa và kiểm soát các hệ quả không mong muốn có thể nảy sinh từ bất bình đẳng xã hội - kiểm soát phân tầng xã hội.

2. Phương hướng và giải pháp góp phần hoạch định các chính sách quản lý phát triển xã hội phù hợp với xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội 

Thứ nhất, chú trọng vấn đề tạo việc làm song hành với tăng trưởng kinh tế.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, quá trình này tất yếu làm thay đổi tỷ trọng lao động của Việt Nam. Phương châm của chuyển dịch cơ cấu lao động là phải phù hợp với cơ cấu kinh tế, có tác động thúc đẩy tăng trưởng gắn với tạo ra việc làm cho hàng triệu người lao động trong những năm tới. Đặc biệt, nhu cầu rất lớn trong chuyển đổi nghề nghiệp cho các lao động dôi dư từ khu vực nông nghiệp do tác động của công nghiệp hóa. Xét từ góc độ tạo việc làm, chủ trương của Đảng về phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân, coi đây là động lực cho tăng trưởng là hết sức đúng đắn và mang tính dẫn dắt thực tiễn. Kinh nghiệm các quốc gia và ở Việt Nam cho thấy, khu vực kinh tế tư nhân có khả năng tạo việc làm vượt trội so với khu vực kinh tế nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Hiện nay, với trên 800 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động và 5,4 triệu hộ kinh doanh gia đình, thì kinh tế tư nhân đóng góp 39-40% GDP nhưng chiếm tới 85% việc làm của toàn bộ nền kinh tế(10). Do đó, xóa bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân chính là chiến lược hỗ trợ tạo việc làm hiệu quả nhất.  

Đổi mới hệ thống đào tạo nghề theo nhu cầu thị trường mang tính dự báo cho giai đoạn 2021 - 2030. Theo đó, người lao động không chỉ được đào tạo nghề một lần mà cần có cơ hội và điều kiện tái đào tạo nghề trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có thể lấy đi nhiều việc làm truyền thống và đặt yêu cầu tái trang bị, đào tạo kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở tốc độ cao hơn. Chiến lược phát triển thị trường lao động đến năm 2030 yêu cầu đạt tỷ lệ lao động qua đào tạo là 30% (vào năm 2025) và 35 - 40% (vào năm 2030)(11) được coi là mục tiêu kỳ vọng cao so với thực tiễn hiện nay (26,1%). 

Cần thiết xã hội hóa và tư nhân hóa mạnh mẽ các hoạt động đào tạo nghề với sự tham gia của doanh nghiệp để phục vụ chính nhu cầu của thị trường, coi đây là một hoạt động kinh doanh đáp ứng nhu cầu thị trường.  

Thứ hai, tăng chi tiêu cho các lĩnh vực xã hội, trong đó chú trọng an sinh và phúc lợi xã hội để giảm thiểu hệ quả phân hóa giàu nghèo 

Chức năng xã hội của Nhà nước chỉ có thể được thực hiện có hiệu lực và hiệu quả khi có nguồn lực chi cho các mục tiêu phát triển xã hội và bảo đảm cơ cấu chi phù hợp cho các lĩnh vực phát triển xã hội. Đồng thời, khi được chi đúng đối tượng, đúng mục tiêu thì chi xã hội sẽ góp phần giảm thiểu phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội. Khảo sát chi ngân sách Trung ương trong 5 năm trở lại đây cho thấy, chi bảo đảm xã hội có khuynh hướng ít thay đổi về số lượng nhưng lại suy giảm về tỷ trọng trong ngân sách Trung ương. Năm 2017: 21,2%, đến năm 2021 còn 17,9%(12). Khuynh hướng này là chưa phù hợp với yêu cầu chung của phát triển xã hội khi trình độ phát triển kinh tế - xã hội càng cao, thì tổng lượng và tỷ trọng chi cho các lĩnh vực xã hội càng lớn. Một mặt, chi của Nhà nước phục vụ các nhu cầu của thế hệ hiện nay, đặc biệt trong các biến cố xã hội lớn như dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế, mặt khác chi cho xã hội trong giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe... lại được coi là một nguồn đầu tư quan trọng bậc nhất cho sự phát triển của đất nước trong tương lai. 

Ở các nước phát triển, chi tiêu xã hội (bao gồm chi cho giáo dục, y tế, trợ cấp và thay thế) chiếm đến 25 - 35% tổng chi tiêu xã hội. Thậm chí, sự gia tăng chi tiêu của nhà nước cho các lĩnh vực xã hội phản ánh quá trình hình thành nhà nước xã hội (phúc lợi xã hội) trên thế giới hiện nay(13)

Văn kiện Đại hội XIII bổ sung phạm trù dân hưởng lợi bên cạnh yêu cầu dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Do đó, yêu cầu dân hưởng lợi cần thiết được hiện thực hóa thực chất thông qua cơ cấu chi bảo đảm xã hội nói riêng và chi cho các lĩnh vực xã hội nói chung theo hướng gia tăng dần. 

Để tạo nguồn thu cho ngân sách, cần thiết hoạch định lộ trình cho các sắc thuế đánh vào nhóm thu nhập rất cao (siêu giàu), đối với tài sản và tích lũy qua thế hệ (thuế thừa kế). Qua 35 năm đổi mới, với sự hình thành tầng lớp giàu có trong xã hội, đã xuất hiện thế hệ thứ hai của nhà giàu được coi là những người thừa kế tài sản, có thu nhập không thông qua lao động, bao gồm cả tích lũy thông qua “phân tầng không hợp thức”. Do đó cần thiết nghiên cứu loại hình và mức thuế phù hợp để bảo đảm công bằng xã hội giữa các nhóm xã hội nhưng đồng thời không kích động chạy trốn tư bản(14)

Thứ ba, đổi mới phương thức hoạch định và thực thi chính sách phát triển xã hội

Tăng cường sự tham gia của người dân và doanh nghiệp ngay từ các bước đầu tiên của xây dựng chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội. Sự tham gia thực chất của người dân vào quá trình xây dựng và thực thi chính sách là một yếu tố quan trọng tác động đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và đánh giá thực thi chính sách. Đối với phát triển xã hội, vốn là những lĩnh vực gần gũi đời sống của người dân, cần thiết phải coi các đóng góp của người dân là một nguồn lực cả vật chất và tinh thần để xây dựng các phương án chính sách phù hợp với nhu cầu của người dân. Đồng thời, quyền tham gia quyết định khi được hiện thực hóa, sẽ tác động tích cực đến việc huy động nguồn lực xã hội cho các mục tiêu phát triển xã hội.

Cần xây dựng các chỉ báo mới phản ánh khía cạnh chất lượng cơ cấu xã hội phù hợp với trình độ phát triển và mục tiêu phát triển xã hội bền vững. Với mục tiêu quản lý phát triển xã hội bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, việc thụ hưởng các thành quả phát triển của người dân trở thành một tiêu chí quan trọng đánh giá hiệu quả của đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách phát triển của Nhà nước. Mặt khác, do tính chất đa cơ cấu của xã hội cũng như bản thân tiến trình phát triển kinh tế - xã hội lại có khả năng làm mới lại các tiêu chí đánh giá cụ thể kết quả thực hiện các chính sách phát triển. Do đó, hướng đến việc bảo đảm cơ cấu xã hội hài hòa, cần thiết tính toán đến các tiêu chí nhận diện cơ cấu xã hội theo các mục tiêu phát triển xã hội lớn, như cơ cấu xã hội về bảo hiểm xã hội; hay cơ cấu lao động - việc làm bền vững và thỏa đáng...

Tăng cường công tác dự báo trong hoạch định chính sách phát triển, đặc biệt chú trọng kết quả điều tra và dự báo xã hội từ phía người dân và doanh nghiệp, coi đó là nguồn thông tin đầu vào quan trọng cho thảo luận và lựa chọn các giải pháp chính sách phù hợp nhu cầu xã hội. Các quyết định chính sách và quản lý nhằm đạt mục tiêu xác định mà Đảng và Nhà nước đặt ra trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội cũng như giải quyết các vấn đề phát triển cả ngắn hạn và dài hạn. 

Thực tiễn cho thấy, các quyết định này có tác động khác nhau đến các nhóm đối tượng xã hội khác nhau. Bên cạnh đó, các quyết định này có tác động thúc đẩy hoặc điều tiết các tiến trình kinh tế - chính trị - xã hội, mà theo đó, các nhóm xã hội, một mặt tham gia vào việc thực hiện triển khai các quyết định, mặt khác được hưởng lợi từ việc thực thi các quyết định này. 

Để bảo đảm hiệu quả hoạch định và thực thi các quyết định, cần thiết thực hiện các đánh giá tác động trên cả ba phương diện: kinh tế, môi trường và xã hội. Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, đánh giá tác động xã hội trở thành yêu cầu quan trọng và có tính bắt buộc đối với các quyết sách lớn. Làm tốt công tác dự báo xã hội và đánh giá tác động xã hội chính là thực hiện yêu cầu của Đại hội XIII về “gắn kết chặt chẽ khoa học xã hội và nhân văn với khoa học tự nhiên và công nghệ trong quá trình triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước”(15).

__________________

(1) Nguyễn Đình Tấn: “Sự biến đổi của cơ cấu giai - tầng xã hội và những vấn đề đặt ra trong bối cảnh hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 6-2019.

(2), (15) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.148, 227.

(3) Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, Tổ chức Lao động quốc tế ILO: Đánh giá chương trình hợp tác quốc gia về việc làm bền vững ở Việt Nam 2017 - 2021.

(4) Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 630-QĐ/TTg phê duyệt Chiến lược phát triển Dạy nghề thời kỳ 2011 - 2020, https://thuvienphapluat.vn/

van-ban/Lao-dong-Tien-luong/Quyet-dinh-630-QD-TTg-phe-duyet-Chien-luoc-phat-trien-Day-nghe-139909.aspx, truy cập ngày 22-11-2021.

(5) Tổng cục Thống kê: Động thái và thực trạng kinh tế - xã hội Việt Nam 5 năm 2016 - 2020, Nxb Thống kê, 2021, tr.190-191.

(6) Lao động đã qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ bao gồm những người thỏa mãn cả hai điều kiện: (1) Đang làm việc  trong nền kinh tế hoặc thất nghiệp; (2) Đã được đào tạo ở một trường hay một cơ sở đào tạo chuyên môn,  kỹ thuật, nghiệp vụ thuộc Hệ thống giáo dục quốc dân từ 3 tháng trở lên, đã tốt nghiệp, được cấp bằng/ chứng chỉ chứng nhận đã đạt một trình độ chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ nhất định.

(7) “Xây dựng nguồn nhân lực Cách mạng 4.0 - Nhiều thách thức” https://www.mic.gov.vn/mic_2020/Pages/TinTuc/149808/Xay-dung-nguon-nhan-luc-cach-mang-4.0-Nhieu-thach-thuc.html, truy cập ngày 22-11-2021.

(8) “Phấn đấu đến năm 2025 tỷ trọng kinh tế số đạt 20% GDP” http://baochinhphu.vn/Chinh-sach-moi/Phan-dau-den-nam-2025-ti-trong-kinh-te-so-dat-20-GDP/441990.vgp, truy cập ngày 22-11-2021.

(9) UNDP: Human Development Report 2020, The next frontier - Human development and the Anthropocence - (Báo cáo phát triển con người năm 2020 - Giới hạn mới về sự thống trị của loài người 2021).  

(10) “Phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam: Cần đổi mới toàn diện cách làm”, https://baochinhphu.vn/Kinh-te/Phat-trien-kinh-te-tu-nhan-o-Viet-Nam-Can-doi-moi-toan-dien-cach-lam/425640.vgp, truy cập ngày 6-1-2022.

(11) Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 176-QĐ/TTg ngày 5-2-2021 về việc Ban hành Chương trình hỗ trợ phát triển thị trường lao động đến năm 2030, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Lao-dong-Tien-luong/Quyet-dinh-176-QD-TTg-2021-Chuong-trinh-ho-tro-phat-trien-thi-truong-lao-dong-den-nam-2030-464832.aspx, truy cập ngày 22-11-2021.

(12) Bộ Tài chính: Công khai ngân sách nhà nước các năm 2016 - 2021, https://ckns.mof.gov.vn/SitePages/home.aspx, truy cập ngày 22-11-2021.

(13) Thomas Piketty: Tư bản thế kỷ XXI, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2021, tr.594.

(14) “Thuế thu nhập của người giàu hiện ở mức cao nhất trong OECD”, https://www.vietnamplus.vn/thue-thu-nhap-cua-nguoi-giau-hien-o-muc-cao-nhat-trong-oecd/739626.vnp, truy cập ngày 6-1-2022.

nguồn: TS BÙI PHƯƠNG ĐÌNH

Viện Xã hội học và phát triển,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Thứ Ba, 22 tháng 8, 2023

Bóc mẽ chiêu thức bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ nhằm mưu đồ “phi đảng hóa” Quân đội

 Thời gian gần đây, lợi dụng một số quân nhân cấp tá, cấp tướng bị xử lý hình sự do vi phạm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, các thế lực thù địch, phản động ra sức rêu rao, vu cáo "Quân đội ta đã thoái hóa, biến chất...". Từ đó, chúng ra sức tuyên truyền rằng, “không cần phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ vì vô nghĩa”.

Đây là một trong những chiêu thức nguy hiểm được các thế lực thù địch ưu tiên khai thác, triệt để sử dụng nhằm tấn công trực diện để hạ bệ “thần tượng Hồ Chí Minh” trong Quân đội-một sự biến dạng đầy gian xảo của âm mưu, thủ đoạn "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội.  

Đủ chiêu trò xuyên tạc, bôi nhọ danh hiệu cao quý của Quân đội ta

Trong tâm thức Bộ đội Cụ Hồ và người dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đẹp nhất, là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất, vị lãnh tụ rất đỗi gần gũi, thân thương. Bác không chỉ là Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mà còn là lãnh tụ tinh thần, niềm tin yêu, biểu tượng cao quý, thiêng liêng, nguồn cội của sự quy tụ, tập hợp, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc; dẫn dắt quân và dân ta đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc. Nhờ có Bác, nhân dân ta có được cuộc sống hòa bình, hạnh phúc; đất nước ta có cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế to lớn như ngày nay.

Bộ đội ta rất vinh dự, tự hào được mang tên Bác kính yêu. Quân đội ta được thừa hưởng những tài sản đồ sộ và vô giá, được Bác trao truyền, để lại, luôn mang trong mình những phẩm chất tốt đẹp của người quân nhân cách mạng, được cô đọng, kết tinh trong danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ trọn đời vì nước, vì dân. Vì lẽ đó, phẩm chất và hình tượng Bộ đội Cụ Hồ mang giá trị biểu trưng độc đáo, đặc sắc, có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống tinh thần của Quân đội và nhân dân ta.

Với tầm ảnh hưởng sâu rộng và sự lan tỏa ngày càng to lớn của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế, điều đó đã làm cho các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị lo sợ, bất an. Họ hiểu rằng, chừng nào ở nước ta còn có Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, là lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, thì chừng ấy, âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội không thể thực hiện được.

Vì vậy, để bảo tồn “sự sống” của mình, các thế lực chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta đã cấu kết với nhau, tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ, xóa bỏ vai trò, sức mạnh và tầm ảnh hưởng to lớn của Quân đội ta trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một trong những chiêu thức xảo quyệt nhất mà các thế lực thù địch ráo riết thực hiện là xuyên tạc, bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ. Mục đích của chiêu trò này nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội ta.


 Cán bộ, chiến sĩ Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thừa Thiên Huế giúp dân khắc phục hậu quả bão (năm 2022). Ảnh minh họa: qdnd.vn

Đây là chiêu thức họ đã và đang rắp tâm thực hiện nhằm hủy hoại thanh danh, uy tín, vị thế của Bộ đội Cụ Hồ; làm suy giảm sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta, tước bỏ công cụ bạo lực sắc bén, chỗ dựa vững chắc nhất, tin cậy, trung thành nhất của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Chiêu thức nguy hiểm này được các thế lực thù địch ưu tiên khai thác, triệt để sử dụng nhằm tấn công trực diện để hạ bệ “thần tượng Hồ Chí Minh” thông qua mưu đồ “phi đảng hóa” Quân đội-một sự biến dạng đầy gian xảo của âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội đã xuất hiện cuối những năm 90 của thế kỷ 20 ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Về bản chất, “phi đảng hóa” hay “phi chính trị hóa” Quân đội chỉ là tên gọi khác nhau nhưng cùng mục đích là tách Quân đội ta ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Quân đội ta từ xa lạ đến xa lìa nhân dân, trở nên cô lập, bị vô hiệu hóa bởi mắc mưu “diễn biến hòa bình”.

Điều đó cho thấy, "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội là hai hiện tượng có chung bản chất, thể hiện sự công khai chống phá trắng trợn với tính chất nguy hại vô cùng to lớn của việc thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, hướng lái Quân đội ta chỉ “tuân theo pháp luật”, chỉ phục vụ Tổ quốc, không phục vụ Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cho Quân đội ta cũng giống như quân đội Liên Xô rơi vào tình trạng “lầm đường lạc lối”, mất sức chiến đấu, trở thành đội quân vô dụng, cho dù có đầy đủ vũ khí tối tân, hiện đại nhưng không thể bảo vệ được Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa, không thể bảo vệ thành quả cách mạng của Liên Xô.

Để thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta, các thế lực thù địch đã tìm mọi cách bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, đối lập phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ ngày nay với phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

Chúng rêu rao rằng, sau khi Cụ Hồ đi vào “thế giới vĩnh hằng”, “Đảng Cộng sản Việt Nam đã chiếm thế thượng phong”, trở nên “độc quyền, toàn trị”, thì theo đó, hình ảnh, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ cũng dần bị “biến dạng, méo mó, không còn thiêng liêng như trước đây”. Thậm chí có kẻ xuyên tạc rằng, ngày nay, Bộ đội Cụ Hồ “chỉ còn lại là cái bóng không hồn”, “một cái tên gọi hồi tưởng của quá khứ” vì Quân đội nhân dân Việt Nam “bị nền kinh thế thị trường nuốt chửng, lợi ích vật chất chi phối và chủ nghĩa cá nhân đã bao phủ bóng đen lên Bộ đội Cụ Hồ”(?!).

Những kẻ xấu đã “vơ đũa cả nắm”, lấy hiện tượng quy về bản chất, lấy ví dụ cụ thể để đơm đặt, thêu dệt thành sự việc phổ biến, cố tình thổi phồng, khoét sâu khuyết điểm của một số quân nhân cấp tá, cấp tướng bị xử lý hình sự do vi phạm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, để vu cáo, nói xấu Quân đội ta...

Giải quyết song hành hai nhiệm vụ “xây” và “chống” để giữ vững hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ

Với những chiêu thức nêu trên, các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta muốn thực hiện mục tiêu kép đó là: Làm suy yếu bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội ta; dọn đường cho âm mưu bạo loạn lật đổ, “cách mạng màu”, thực hiện “diễn biến hòa bình”; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Điều ảo tưởng của họ chỉ có thể diễn ra và đạt được mục đích khi họ thực hiện thành công thủ đoạn “phi đảng hóa”, "phi chính trị hóa" Quân đội, xuyên tạc, bôi đen phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng.

Hơn lúc nào hết, chúng ta cần ý thức sâu sắc sự cần thiết phải đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi đảng hóa”, "phi chính trị hóa" Quân đội ta. Bài học kinh nghiệm về xây dựng quân đội trên thế giới kể từ khi chủ nghĩa xã hội hiện thực sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu từ những năm 90 của thế kỷ 20 luôn nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta hãy đề cao cảnh giác, không cho phép các thế lực thù địch thực hiện âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc hình ảnh, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ dưới mọi hình thức; không được phép để xảy ra hiện tượng “phi đảng hóa”, "phi chính trị hóa" Quân đội trước mọi tình huống.  

Việc đấu tranh, làm thất bại âm mưu "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch nhất thiết phải gắn chặt với việc bền bỉ giữ vững, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới. Điều đó đặt ra vô cùng cấp bách, cần thiết đối với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam; đặc biệt quan tâm hơn nữa nhiệm vụ xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị.

Đây là nhiệm vụ “xây” trong mối quan hệ mật thiết với “chống”, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự khẳng định “còn Đảng còn mình”, “còn Bộ đội Cụ Hồ là còn chân lý, niềm tin và lẽ phải”, bởi nó liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ, lợi ích quốc gia, dân tộc và uy tín, vị thế, danh dự Bộ đội Cụ Hồ.

Đây cũng là một trong những yêu cầu, nhiệm vụ bức thiết hàng đầu của công tác tham mưu, đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng; học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; thực hiện hiệu quả Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, góp phần đưa Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới” được hiện thực hóa trong cuộc sống. 

Có thể nói rằng, “xây” đi đôi với “chống” vừa là áp lực, đồng thời là động lực để Quân đội ta hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Kết quả thực hiện nhiệm vụ này được quy định bởi chất lượng, hiệu quả phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và đấu tranh phòng, chống "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội trong tình hình mới. Sự non kém của mặt này sẽ làm suy giảm mặt kia và ngược lại.

Cho nên, giữ gìn, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và đấu tranh phòng, chống "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội là hai nhiệm vụ song hành, chung một mục tiêu, làm cho Quân đội ta luôn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đó là cái gốc vững chắc nhất, vũ khí sắc bén nhất, tạo nên sức mạnh nội sinh vô cùng mạnh mẽ để Quân đội ta bách chiến, bách thắng trong thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, nhất là những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp trong tình hình mới.

Thiếu tướng, PGS, TS NGUYỄN BÁ DƯƠNG

Theo Báo Quân đội Nhân dân