Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2023

Sáng mãi đường lối quốc phòng toàn dân của Đảng

 Lợi dụng những diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình quân sự, an ninh mới đây trên thế giới, nhất là tranh chấp, xung đột trên Biển Đông, các thế lực thù địch (TLTĐ) đã tung ra những quan điểm sai trái, xuyên tạc, phủ nhận đường lối quốc phòng toàn dân (QPTD) của Đảng. Cả lý luận và thực tiễn đã cho thấy, đường lối QPTD do Đảng ta xác lập từ trước đến nay là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

Nhận diện luận điệu, bản chất quan điểm sai trái, thù địch

  Từ khi có Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) của nhân dân ta luôn thu được những thành tựu rực rỡ, tô thắm lịch sử hào hùng của dân tộc, chẳng những được cả thế giới ca ngợi, mà kẻ thù đều phải nể phục. Nhân dân ta không chỉ giành được độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ do cha ông để lại, mà còn xây dựng đất nước giàu mạnh, “chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”. Nguyên nhân của mọi thắng lợi đó là do có một Đảng Cộng sản Việt Nam chân chính và cách mạng lãnh đạo, với đường lối xây dựng và BVTQ đúng đắn, nhất là đường lối QPTD, chiến tranh nhân dân BVTQ; được hết thảy mọi tầng lớp nhân dân tin tưởng và đi theo, bạn bè quốc tế hết lòng ủng hộ.

Thấy được nguồn gốc tạo nên sức mạnh và thành tựu vĩ đại đó, cay cú với thành quả của đất nước và nhân dân ta xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng, các TLTĐ đã tung ra những luận điệu như: Đường lối quốc phòng và chiến tranh nhân dân là “sự khai thác, hoang phí, tận dụng” sức dân cho “lợi ích của Đảng”, nguyên nhân của mâu thuẫn, bất hòa giai cấp, tầng lớp nhân dân, nguồn gốc của chia rẽ dân tộc, chia cắt lãnh thổ, xung đột, chiến tranh hai miền Nam - Bắc trước đây...; đó là đường lối quốc phòng “không phù hợp với Việt Nam”; làm “suy yếu” khả năng quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền, biển đảo; quốc phòng, an ninh là việc riêng của nhà nước, LLVT,  phải “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội, xây dựng quân đội “chuyên nghiệp”, “nhà nghề”, liên minh quân sự…

Thực chất đó là những lời man trá, tráo trở, “đổi trắng thay đen” lịch sử cách mạng quốc phòng Việt Nam, sự xuyên tạc lịch sử, lật sử, phủ nhận thành tựu QPTD, BVTQ dưới sự lãnh đạo của Đảng. Mục đích của nó: Về tư tưởng, nhằm tạo nên sự nhận thức mơ hồ, sai lệch, thay đổi niềm tin của nhân dân đối với đường lối QPTD của Đảng và sự nghiệp xây dựng nền QPTD của nhân dân ta. Về chính trị, nhằm lợi dụng ý chí, chiếm đoạt sức mạnh chính trị, tinh thần của nhân dân, thiết chế của Nhà nước để phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, thay đổi đường lối QPTD, thiết lập đường lối quốc phòng “chuyên nghiệp”, “hiện đại” - vì lợi ích của giai cấp tư sản, tư nhân, thế lực dân tộc cực đoan, đi ngược lại lợi ích của nhân dân lao động và toàn thể dân tộc. Về quân sự, sẽ dùng chính sức mạnh quân sự, vũ trang nhân dân để thủ tiêu Đảng Cộng sản và chế độ XHCN, thành quả cách mạng của nhân dân.

Đối tượng tác động chủ yếu của nó là bộ phận người thiếu hiểu biết về nền QPTD, nghĩa vụ, trách nhiệm BVTQ; con cháu người chế độ cũ; thành phần tiêu cực, bất mãn, cơ hội, vi phạm luật pháp…, nhất là bộ phận công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước, người có khả năng đưa ra khuyến nghị, sáng kiến pháp luật về quốc phòng, an ninh… Con đường chủ yếu của nó là tận dụng phương tiện truyền thông, cả truyền thống và hiện đại, nhất là internet, mạng xã hội… để thẩm thấu thông tin sai lạc, nuôi dưỡng tư tưởng, ý chí quốc phòng đối lập; lợi dụng các sự kiện lập pháp, pháp lý, sự cố về quốc phòng, an ninh để kích động tư tưởng, hành động chống đối nghĩa vụ quân sự, trách nhiệm quốc phòng, BVTQ của thanh niên, người dân, doanh nghiệp, tổ chức, cơ quan nhà nước… Bản chất của các luận điệu đó là âm mưu, thủ đoạn thâm độc của chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực quốc phòng, nhằm hướng lái nền quốc phòng Việt Nam theo tư tưởng, đường lối quốc phòng tư sản; phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước về quốc phòng, an ninh, xây dựng LLVT, nhất là với Quân đội nhân dân; triệt tiêu nguồn lực sức mạnh toàn dân BVTQ.

Nhận thức đúng đắn về đường lối quốc phòng toàn dân

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử hiện đại của dân tộc Việt Nam. Sứ mệnh lịch sử của Đảng chỉ nhằm một mục đích duy nhất là đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng đất nước giàu mạnh, tiến theo con đường XHCN. Ngoài lợi ích của nhân dân và của cả dân tộc, Đảng không có lợi ích nào khác. Vì vậy, đường lối chung của Đảng, nhất là đường lối quốc phòng đều là sự thể hiện ý chí, nguyện vọng, lợi ích của nhân dân và của cả dân tộc.

Đường lối quốc phòng toàn dân của Đảng về bản chất là sự kế thừa, vận dụng sáng tạo truyền thống văn hóa giữ nước, toàn dân đánh giặc của dân tộc, trên nền tảng lý luận Mác - Lênin về vũ trang toàn dân, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân và tinh hoa quốc phòng của nhân loại vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Đó không phải là một sự sao chép y nguyên, mà là sự kế thừa có chọn lọc, là sự vận dụng nhưng rất sáng tạo những tư tưởng quân sự, quốc phòng, BVTQ của dân tộc và thời đại trong cuộc đấu tranh chống thực dân, đế quốc, bành trướng xâm lược, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, cường quyền đã và đang nổi lên nhằm giải phóng đất nước khỏi ách ngoại xâm, BVTQ và xây dựng đất nước của nhân dân Việt Nam.

Từ thời các vua Hùng dựng nước đến các triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, dân tộc ta luôn đứng trước những thế lực ngoại xâm hùng mạnh gấp nhiều lần, trong điều kiện đất không rộng, người không đông, kinh tế kém phát triển… thì lấy đâu ra nhân lực và nguồn lực dồi dào để có quân đội thường trực hùng hậu. Thánh Gióng - biểu tượng của tráng sĩ, chiến sĩ chống ngoại xâm, nếu không có cha mẹ sinh ra, không có dân làng góp gạo thổi cơm, không có triều đình lo đúc, rèn ngựa, giáp, roi sắt cho… thì dù có tài giỏi đến mấy cũng làm sao có thể đánh tan được giặc Ân… Do vậy, “tận dân vi binh”, “cả nhà cha con đều là lính”, “cả nước chung sức, toàn dân đánh giặc”… là những tư tưởng quân sự, quốc phòng tiêu biểu, tinh hoa nhất của cha ông ta đã xác lập và được thực tiễn quốc phòng chứng minh là đúng đắn. Vậy, hà cớ gì mà lại đưa ra những lời lẽ phủ nhận những tư tưởng đó trong đường lối QPTD của Đảng.

Thời kỳ thực dân Pháp rồi đến đế quốc Mỹ và chư hầu xâm lược Việt Nam (1945 - 1975), dân số nước ta có khoảng 20-30 triệu người; nền kinh tế lạc hậu, không đồng nhất, đất nước bị chia cắt, chiến tranh tàn phá khắp nơi; trong khi thế lực ngoại xâm không chỉ quân đông, vũ khí hiện đại, tiềm lực quân sự dồi dào, được cả thế giới tư bản hậu thuẫn, “trang bị đến tận răng”… nếu nhân dân ta không dựa vào đường lối xây dựng QPTD, chủ trương toàn dân đánh giặc của Đảng, không kế thừa, vận dụng sáng tạo tư tưởng, lý luận tiến bộ của thời đại - Học thuyết Mác - Lênin về BVTQ XHCN, vũ trang toàn dân, không nhờ vào sự ủng hộ của bạn bè, nhân dân, chính phủ tiến bộ thế giới, đặc biệt là huy động hết sức mạnh tiềm tàng của toàn thể dân tộc Việt Nam… thì làm sao có thể đánh đuổi được thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai.

Sau năm 1975, tuy đất nước đã thống nhất, non sông liền một dải, nhưng thực sự nền kinh tế đã kiệt quệ, cơ sở hạ tầng bị cuộc chiến 21 năm tàn phá nặng nề, nhân dân còn thiếu đói, tàn dư của chế độ cũ, thế lực phản động nổi dậy chống phá ở nhiều nơi; chủ nghĩa đế quốc, bành trướng, dân tộc cực đoan cấu kết với nhau, bao vây, cấm vận, tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt nước ta; nguồn viện trợ của các nước XHCN bị thu hẹp, chấm dứt sau khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Cũng từ năm 1975, nhân dân cả nước ta lại phải đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lược mới của bè lũ diệt chủng Polpot câu kết với thế lực bành trướng gây ra suốt nhiều năm ròng rã… Thử hỏi, nếu không có đường lối QPTD, nếu nhân dân không tham gia vào nền QPTD… thì liệu có được một Tổ quốc hoàn toàn độc lập, thống nhất và giàu mạnh như ngày hôm nay hay không? Quả thực, chỉ có sự tham gia của toàn dân vào sự nghiệp quốc phòng thì mới có được một đất nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi nhân dân cả nước thực hiện QPTD, tham gia chống Mỹ, cứu nước từ năm 1966.

Ngày nay, tuy thế và lực của cách mạng nước ta, trong đó có tiềm lực quân sự, quốc phòng đã lớn mạnh hơn nhiều nhờ thành tựu của hơn 35 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, nhưng so với tiềm lực của các thế lực ở khu vực và trên thế giới có tham vọng về chủ quyền lãnh thổ, biển đảo, chia cắt, thôn tính, cướp đoạt lợi ích quốc gia - dân tộc… thì còn vô cùng nhỏ bé. Đặc biệt là trước những “mưu ma chước quỷ” của các TLTĐ của đối tượng có mưu đồ chống phá nền độc lập dân tộc, con đường phát triển của nhân dân Việt Nam… thì việc tiếp tục thực hiện đường lối QPTD, tham gia xây dựng nền QPTD là lẽ tự nhiên của mọi người dân Việt Nam, không thể tranh cãi.

Toàn dân tích cực tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân

Để làm thất bại những mưu đồ phủ nhận đường lối QPTD của Đảng, con đường đúng đắn và hiệu quả nhất chính là tiếp tục đẩy mạnh “Phong trào toàn dân BVTQ”, tham gia xây dựng nền QPTD. Cụ thể là:

Nâng cao nhận thức của nhân dân về đường lối QPTD. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, hệ thống tuyên giáo, tuyên huấn đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về đường lối QPTD - tổng thể phương hướng, nhiệm vụ, nguyên tắc, phương châm chỉ đạo, chủ trương chiến lược của Đảng, Nhà nước về xây dựng nền QPTD; bản chất “vì dân, do dân, của dân”, tính chất toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự cường, ngày càng hiện đại của nền quốc phòng; sự kết hợp chặt chẽ mọi lĩnh vực của đất nước, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước, do nhân dân làm chủ, nhằm giữ vững hòa bình, ổn định, phát triển bền vững đất nước, sẵn sàng đánh bại mọi hành động xâm lược, bạo loạn lật đổ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Nội dung quan trọng là xây dựng nền QPTD vững mạnh toàn diện, bao gồm: Xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng, xác lập, thực thi đúng đắn cơ chế lãnh đạo và quản lý quốc phòng. Xây dựng tiềm lực chính trị tinh thần là cơ bản, thực hành tư tưởng “người trước, súng sau”, lấy con người làm trung tâm của công cuộc giữ nước; xây dựng tiềm lực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ là nền tảng; xây dựng tiềm lực quân sự, nâng cao khả năng sức mạnh chiến đấu của quân đội, dân quân tự vệ và khả năng huy động nhân lực, vật lực phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng.

Xây dựng nền QPTD không chỉ đã được thực tiễn lịch sử dân tộc chứng minh là hoàn toàn đúng đắn, khai thác và phát huy sức mạnh toàn dân BVTQ, là phát huy giá trị giữ nước đặc sắc, niềm tự hào của nhân dân Việt Nam, cái mà không phải quốc gia - dân tộc nào cũng có thể có được; mà còn là vũ khí vô địch của nhân dân ta khiến mọi mưu đồ phá hoại nền quốc phòng, dã tâm thôn tính, xâm lược đều phải thất bại; công cụ phục vụ đắc lực cho sự nghiệp giữ vững hòa bình, bảo vệ công cuộc xây dựng đất nước của nhân dân ta ngày nay. 

Kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh tư tưởng, lý luận với đấu tranh hành chính -  pháp lý chống “diễn biến hòa bình”, ngăn ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về quốc phòng. Đi liền với tích cực vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các luận điệu sai trái về quốc phòng, phủ nhận đường lối QPTD của Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực báo chí, tuyên truyền, phòng chống tác động về nhận thức, tư tưởng của chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực quốc phòng; cả hệ thống chính trị cần tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng ngừa thủ đoạn thâm nhập, tình báo, gián điệp, “câu nhử” từ bên ngoài. Thực hiện nghiêm quy trình của công tác cán bộ, phòng ngừa thủ đoạn “chui sâu, leo cao” của các phần tử thoái hóa, biến chất, phản động; ngăn ngừa mầm mống sai lệch, phản động về quốc phòng, mưu đồ hướng lái quốc phòng Việt Nam chệch khỏi đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước từ hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp, nhất là cái gọi là “kiến nghị”, “sáng kiến pháp luật” về quốc phòng.

Nâng cao trách nhiệm, nghĩa vụ BVTQ của hệ thống chính trị và toàn dân. Mọi cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị phải thực hiện hết nghĩa vụ và trách nhiệm quốc phòng theo pháp luật quy định. Mọi thành phần kinh tế, doanh nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội, Mặt trận Tổ quốc… bằng nhiều hình thức, biện pháp cụ thể thực hiện nghĩa vụ, tham gia sâu rộng vào các hoạt động quốc phòng. Mọi tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, vùng miền, ở trong hay ngoài nước nhiệt tình tham gia thực hiện đầy đủ các quyền lợi và nghĩa vụ BVTQ, làm cho “Phong trào toàn dân BVTQ” ngày càng sinh động và hiệu quả hơn. Nhờ sự tham gia của toàn dân, toàn diện của các lĩnh vực của đất nước, thì chẳng những ý chí tự lực, tự cường về quốc phòng của nước ta được nâng lên, mà còn sẽ nhận được sự giúp đỡ về nhiều mặt của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp quốc phòng của nước ta.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh, xây dựng LLVT nhân dân. Trong mọi tình huống về kinh tế, xã hội, an ninh, nhất là về quốc phòng, đều phải kiên quyết giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân. Phương thức cơ bản nhất không chỉ là khẳng định sự đúng đắn của các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước về quốc phòng, mà còn là vừa phòng ngừa những nguy cơ sai lầm về đường lối, thay đổi bản chất quốc phòng “của dân, do dân, vì dân”; vừa tăng cường cụ thể hóa, hiện thực hóa đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng. Kiên trì và kiên quyết triển khai thực hiện nghiêm những chủ trương, chính sách về quốc phòng mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra; thể chế hóa, cụ thể hóa hệ thống pháp luật về quốc phòng trong đời sống của xã hội, làm cơ sở nâng cao ý thức chính trị, trách nhiệm pháp lý về quốc phòng cho xã hội và toàn dân thực hiện.

Huy động sức mạnh của cả nước và toàn dân xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, làm nòng cốt xây dựng nền QPTD. Quân đội ta là “Quân đội nhân dân”, chiến đấu hy sinh vì lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Để thực hiện đường lối, chủ trương xây dựng Quân đội trong thời kỳ mới của Đảng, không chỉ nhờ vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, mà còn phải trông cậy vào toàn dân, sức mạnh nhân dân mọi miền đất nước. Mọi thành phần, lực lượng, binh chủng cấu thành của Quân đội, không chỉ phải nỗ lực hết hình giương cao ngọn cờ “Quyết chiến, quyết thắng”, “tự lực, tự cường”, nâng cao bản lĩnh, khả năng và trình độ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu trong hoàn cảnh mới của đất nước, thế giới, mà còn phải nhờ cậy vào sự giúp đỡ của toàn dân và cả nước. Ý thức, trách nhiệm, những hành động cụ thể, thường xuyên, hằng ngày của nhân dân, nhất là thanh niên và các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể tham gia ủng hộ và xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh chính là con đường đúng đắn nhất mà nhân dân ta đang rèn đúc nên công cụ, “vũ khí” cho nền QPTD của mình.

Quốc phòng toàn dân vừa là đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, vừa là ý chí, nguyện vọng, hành động chính đáng của nhân dân ta. Đường lối QPTD của Đảng mãi mãi là ngọn cờ dẫn đường, chỉ lối cho toàn dân ta xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu./. 

Đại tá, PGS. TS Nguyễn Văn Quang

Dangcongsan.vn

 

                   Nhận diện, đấu tranh với chính sách ngoại giao của Việt Nam


Xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước nói chung về ngoại giao nói riêng là một trong những âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực, thù địch, phản động. Bài viết: “Trì hoãn dân chủ hóa đất nước: thêm một tội ác của đảng CSVN” của Đào Tăng Dực đăng trên “Baotiengdan” là một trong những số đó.

 

Trong bài viết, Đào Tăng Dực dùng những ngôn từ hết sức xấc xược, phản động, bôi nhọ, vu khống, xúc phạm đến Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lịch sử dân tộc. Y cho rằng: “Sách lược ngoại giao nổi bật của CSVN là đu dây giữa các cường quốc. Khi xưa giữa Nga và Tàu. Bây giờ giữa Tàu và Hoa Kỳ. Vì đu dây là quốc sách nên hoàn toàn không có sự sáng tạo để tìm con đường riêng mà chỉ còn bắt chước như bầy khỉ vậy”. Chính vì thế mà Đảng ta trở nên “độc tài, vị kỷ và bảo thủ”, đã “trì hoãn tiến trình dân chủ hóa đất nước” hay “gieo đau thương và tai họa cho quá nhiều thế hệ dân tộc suốt 7 thập niên”. Luận điệu trên hoàn toàn phản động, xuyên tạc chính sách ngoại giao của Việt Nam, đặc biệt với các nước lớn, mục đích cuối cùng là phủ nhận, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà thôi.

 

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã xây dựng nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”: “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam.

 

Trong thời kỳ đổi mới, với tinh thần Việt Nam đã và đang thực sự “là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”, ngoại giao “cây tre Việt Nam” đã đạt được nhiều kết quả, thành tích rất tốt đẹp. Từ phá thế bị bao vây, cấm vận, chúng ta đã tạo dựng và củng cố ngày càng vững chắc cục diện đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, thuận lợi cho công cuộc đổi mới. Hiện nay, Việt Nam đã mở rộng và nâng tầm ngoại giao với tất cả các nước láng giềng, các nước lớn, và bạn bè truyền thống. Nhờ đó tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của quốc tế. Cho đến nay, “nước ta đã có quan hệ ngoại giao với 189 nước trong tổng số 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, trong đó 3 nước có “quan hệ đặc biệt”, 17 nước “đối tác chiến lược” và 13 nước “đối tác toàn diện” và là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC, ASEM, WTO. Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân và đối ngoại của các ngành, lĩnh vực, địa phương, doanh nghiệp ngày càng mở rộng, chủ động, tích cực và đi vào chiều sâu, góp phần củng cố chính trị, quốc phòng, an ninh; kinh tế, văn hóa – xã hội được đẩy mạnh, qua đó tăng cường sự tin cậy chính trị và đan xen lợi ích với các đối tác. Hiện nay, Việt Nam đã ký 15 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có 3 FTA thế hệ mới có tiêu chuẩn rất cao. Đối ngoại đã giữ vai trò tiên phong trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

 

Phát triển quan hệ với các nước lớn là một trong những thành tựu nổi bật của đối ngoại Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Quan điểm của Đảng ta trong quan hệ với các nước lớn là tạo lập cân bằng, một mặt thúc đẩy quá trình cải thiện, mở rộng và phát triển quan hệ với từng nước lớn, mặt khác vẫn tiếp tục giữ vững độc lập, thống nhất và định hướng xã hội chủ nghĩa, không để các nước lớn áp đặt hoặc lôi kéo vào những tập hợp lực lượng gây bất lợi trong quan hệ đối ngoại, đặc biệt trong quan hệ với các nước lớn khác.

 

Với phương châm chỉ đạo: “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và bốn tốt: “láng giềng tốt, đồng chí tốt, bạn bè tốt, đối tác tốt” quan hệ Việt – Trung ngày càng phát triển đi vào chiều sâu. Ngoài quan hệ ngoại giao nhà nước, quan hệ giữa hai đảng cộng sản cầm quyền và giữa các đoàn thể chính trị – xã hội không ngừng phát triển. Hợp tác kinh tế thương mại giữa hai nước được đẩy mạnh. Với Mỹ, Việt Nam chủ động thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan hệ hợp tác, coi đây là bước đi cần thiết để thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa. Kể từ khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao (7/1995), quan hệ Việt – Mỹ đã có những bước tiến quan trọng, hai nước xác lập quan hệ Đối tác toàn diện vào tháng 7/2013. Với Liên bang Nga, trong những năm qua, quan hệ Việt Nam – Liên bang Nga không ngừng được củng cố và phát triển, đi vào chiều sâu, hiệu quả, có độ tin cậy cao về chính trị. Hợp tác kinh tế, thương mại giữa hai nước phát triển năng động. Kim ngạch thương mại hai chiều giữa hai nước không ngừng tăng…

 

Thực tiễn đó đã khẳng định, sau hơn 35 năm đổi mới: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Điều này cũng bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc chính sách ngoại giao của Việt Nam của Đào Tăng Dực và đồng bọn./.

Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi

  

Đây là nhận định minh triết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của lý luận được Người viết trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (năm 1947). Lý luận nói chung và LLCT nói riêng trong tư tưởng Hồ Chí Minh là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận; rồi lại đem nó chứng minh với thực tế mới thực sự chắc chắn, chân chính.

Nhiều lần Bác căn dặn mọi người, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên khắc phục tình trạng kém lý luận, khinh lý luận và cũng đừng rơi vào lý luận suông. Những lời chỉ dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh liên quan đến LLCT thật gần gũi, dễ đi vào lòng người bởi chính Bác là tấm gương sáng về học tập, nghiên cứu và vận dụng LLCT để hậu thế noi theo. Người đã bôn ba khắp năm châu bốn biển tìm hiểu thực tế, tiếp xúc với bao học thuyết chính trị mới tìm ra con đường giải phóng dân tộc đúng đắn.

Trở lại thời điểm đầu thế kỷ XX, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, các phong trào yêu nước, từ lập trường Cần Vương đến lập trường tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm của lịch sử đều lần lượt thất bại. Chỉ đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp xúc với lý luận cách mạng của thời đại là Chủ nghĩa Mác-Lênin, Người mới nhận ra con đường cách mạng Việt Nam phải đi, đó là tiến hành cách mạng vô sản giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Với tư duy độc lập, sáng tạo không rơi vào lý luận suông, không áp dụng lý luận cứng nhắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã nhiều lần vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đặc thù Việt Nam; đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập, thống nhất đất nước, mang lại đời sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Ngày nay, chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Đảng ta kiên trì lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Cho nên việc học tập, nghiên cứu LLCT là để hiểu sâu sắc, đầy đủ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước là nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên, người lao động có tư tưởng tiến bộ. Chỉ có trang bị đầy đủ về LLCT mới có thể tạo ra hành động cách mạng tích cực, hiệu quả như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Lý luận sở dĩ quan trọng là vì nó dạy ta hành động”.

Như vậy, việc học tập LLCT trước tiên là để cán bộ, đảng viên nâng cao bản lĩnh chính trị, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Chỉ có nghiên cứu, học tập LLCT thực chất, với động cơ tích cực, trong sáng mới giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên có tư duy khoa học, có phương pháp làm việc biện chứng; từ đó vận dụng sáng tạo vào thực tiễn, hoàn thành công việc được giao phó.

Với tầm quan trọng của LLCT giải thích vì sao trong các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị nhiều năm qua luôn nhấn mạnh phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng LLCT. Đồng thời, nhận định biểu hiện nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập LLCT, lười học tập LLCT là một trong những biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị./. (X.T)

Vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước

 

Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của Nhân dân Việt Nam, là sự lựa chọn đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Ý chí, khát vọng của Nhân dân luôn là điều kiện căn cốt, là động lực chính yếu để thực hiện thắng lợi mục tiêu của mỗi quốc gia, dân tộc. Tùy theo từng thời kỳ, giai đoạn mà ý chí, khát vọng ấy sẽ được các nhà lãnh đạo, quản lý đất nước cụ thể hóa bằng những chủ trương, đường lối khác nhau.

Tại Việt Nam, khát vọng phát triển đất nước được Đảng, Nhà nước đề ra trong giai đoạn hiện nay chính là hướng tới quốc gia phồn vinh và hạnh phúc. Để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước, cần huy động nhiều nguồn lực khác nhau, trong đó, quan trọng nhất vẫn là sức mạnh từ lòng tin của nhân dân - chủ thể của quá trình phát triển. Bài viết tập trung làm rõ vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước được Đảng ta nêu ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”.

Một bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu được đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trình bày trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII về các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, đó là “trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”[1].      

Truyền thống trọng dân, lấy dân là gốc là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc, được Đảng ta kế thừa và phát huy, và là tiền đề để Đảng ta khẳng định vai trò, vị trí của Nhân dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Cách mạng Việt Nam là sự nghiệp vì Nhân dân. Điều đó được khẳng định xuyên suốt qua các giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tiếp liền sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cách mạng xã hội chủ nghĩa thực hiện nhiệm vụ xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, đỉnh cao là xã hội cộng sản chủ nghĩa trên đất nước ta. Các mục tiêu vì Nhân dân của giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân được kế thừa thực hiện và phát triển theo hướng vươn tới mức độ cao nhất trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nói cách khác, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tiếp tục khẳng định và thực hiện mục tiêu vì Nhân dân đến đích cao nhất mà cách mạng Việt Nam đặt ra.

Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã được bổ sung thêm “dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đây vừa là kết quả của tổng kết từ thực tiễn vừa là xuất phát từ yêu cầu thực tiễn. Bởi lẽ, nhân dân là trung tâm thì quan trọng là nhân dân có toàn quyền quyết định. Trong đó có quyền giám sát, quyền thụ hưởng thành quả của công cuộc đổi mới.

Tổng Bí thư đã khẳng định, xã hội xã hội chủ nghĩa với giá trị cốt lõi, bền vững và tốt đẹp mà nhân loại hướng tới là: một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội; một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn; sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai; “chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ do một thiểu số giàu có. Phải chăng những mong ước tốt đẹp đó chính là những giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội và cũng chính là mục tiêu, là con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn và đang kiên định, kiên trì theo đuổi”[2]. Đồng chí tiếp tục khẳng định: “Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam”.[3] Như vây, vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân trong xây dựng hệ thống chính trị được Đảng ta và đồng chí Tổng Bí thư tiếp tục khẳng định và phát huy.

Có thể thấy rằng quan điểm phát triển này đã thể hiện cách tiếp cận quan niệm Nhân dân đi vào nội hàm, trả lời cho câu hỏi Nhân dân có gì (vị trí, vai trò), khác với cách tiếp cận ngoại diên nêu trên trả lời cho câu hỏi Nhân dân gồm những ai. Ở cách tiếp cận này, vị trí, vai trò của Nhân dân được lấy làm tiêu chí để quan niệm. Với logic ấy, đặt trong mối quan hệ với chế độ chính trị, sự nghiệp chính trị, hệ thống chính trị, rộng hơn nữa là với xã hội, với đất nước, Nhân dân là chủ, là đối tượng lãnh đạo và phục vụ. Những ai được xem là đối tượng để lãnh đạo, lấy làm mục tiêu phục vụ thì đó là Nhân dân. Quan điểm phát triển này cũng cho thấy, đối tượng hướng đến cuối cùng không phải là hệ thống chính trị (Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội)  mà hướng đến Nhân dân như là mục tiêu thường xuyên và tối thượng. Giải phóng Nhân dân, giúp Nhân dân phát triển toàn diện, phát huy tối đa sức mạnh của Nhân dân, đưa Nhân dân lên địa vị làm chủ vận mệnh của chính mình, làm chủ chế độ, làm chủ sự nghiệp cách mạng, làm chủ xã hội là lý tưởng chính trị của sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo. Ở mọi giai đoạn của sự nghiệp cách mạng (cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cách mạng xã hội chủ nghĩa), mọi cấp độ của tổ chức chính trị (trung ương đến cơ sở); từ nhận thức đến chủ trương, quan điểm, nghị quyết, cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, tôn chỉ cũng như đường hướng hoạt động của Mặt trận và đoàn thể; từ phong cách đến phương pháp, đạo đức, văn hóa chính trị của người cán bộ, đảng viên, tất cả không được giây phút nào xao lãng mục đích nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của Nhân dân.

Nhằm củng cố, tăng cường lòng tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí, quyết tâm và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc với sức mạnh thời đại theo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, tại Hội nghị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng ngày 16/8/2021, đồng chí Tổng bí thư đề nghị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên càn “năng động, sáng tạo, đổi mới mạnh mẽ hơn nữa; thiết thực, hiệu quả cao hơn nữa, góp phần tập hợp ngày càng đông đảo các tầng lớp nhân dân trong khối đại đoàn kết dân tộc; tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Nhân dân với Đảng và chính quyền, tạo thành sức mạnh to lớn, vô dịch để xây dựng Tổ quốc ta ngày càng cường thịnh, Nhân dân ta ngày càng hạnh phúc; Đất nước ta ngày càng phát triển, phồn vinh”.

Phát triển văn hóa là một trong những vấn đề trọng tâm, nội dung nổi bật trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Phát biểu tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày 24/11/2021, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”[4]. Đồng chí phân tích sâu sắc quan điểm của Đảng ta và khẳng định, trọng tâm xây dựng và phát triển văn hóa là xây dựng con người có nhân cách và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; chú trọng mối quan hệ giữa văn hóa và chính trị, văn hóa và kinh tế; xây dựng văn hóa trong Đảng và trong hệ thống chính trị; xây dựng văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đặc biệt là đạo đức công vụ, chú trọng sự nêu gương của cán bộ, đảng viên… “chủ thể xây dựng và phát triển văn hóa là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân là chủ thể sáng tạo; đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ đóng vai trò quan trọng”[5]. Có thể thấy rằng, vai trò chủ thể sáng tạo văn hóa của Nhân dân được Đảng ta và đồng chí Tổng Bí thư khẳng định. Nhân dân vừa là chủ thể vừa là đối tượng của việc tạo dựng thể chế bảo đảm công bằng về cơ hội và hưởng thụ về văn hóa.

Vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân trong chiến lược phát triển kinh tế được đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh khi khái quát một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là “phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển”[6]. Đồng chí nhấn mạnh: Điều đó có nghĩa là, không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trái lại, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội. Chính những nội dung đó đã thể hiện rõ nhất Nhân dân Việt Nam là chủ thể, là trung tâm, mục tiêu phục vụ của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam.

Trong bài viết “Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng vững bước dưới lá cờ vinh quang của Đảng”, Tổng Bí thư tiếp tục nêu rõ vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Đồng chí nhấn mạnh cần “phát huy tốt vai trò nòng cốt của Quân đội trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân;..; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[7].

Ngoài các chiến lược xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc nêu trên, vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân còn được thể hiện trong chính sách và hoạt động đối ngoại. Đó là quan điểm xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Những quan điểm về vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chính là sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng trong công cuộc đổi mới đất nước, thể hiện sự tiếp nối truyền thống “lấy dân là gốc” của dân tộc Việt Nam.

Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định, phát triển và làm sâu sắc hơn nữa quan điểm “dân là gốc”, trong đó vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước được đặc biệt đề cao. Thấm nhuần và thực hành nhuần nhuyễn các nội dung cụ thể được khẳng định tại các Văn kiện Đại hội sẽ khơi dậy sức mạnh và tiềm năng to lớn trong Nhân dân, quy tụ được lòng dân chung sức đồng lòng với Đảng, Nhà nước thực hiện khát vọng phát triển đất nước thịnh vượng và hạnh phúc.


[1]Đảng Cộng sản Việt Nam (2021): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.27-28

[2] Nguyễn Phú Trọng (2022): Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.21-22

[3]Nguyễn Phú Trọng (2022), Sđd, tr.28

[4]Nguyễn Phú Trọng (2022), Sđd, tr. 163.

[5]Nguyễn Phú Trọng (2022), Sđd, tr.165

[6]Nguyễn Phú Trọng (2022), Sđd, tr. 27

[7]Nguyễn Phú Trọng (2022), Sđd, tr. 447

PGS.TS Lâm Quốc Tuấn
ThS Nguyễn Thị Phương Chi
Viện Xây dựng Đảng - Học viện CTQG Hồ Chí Minh

Dangcongsan.vn

Đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối quốc phòng toàn dân

 

Đường lối quốc phòng toàn dân (QPTD) là sự nhận thức nhất quán của Đảng ta nhằm xây dựng nền QPTD vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, thời gian gần đây các phần tử cơ hội chính trị và các thế lực thù địch tung ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD một cách lạc lõng. Vì vậy, nhận diện, đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD là nhiệm vụ cấp bách trong tình hình hiện nay.

Âm mưu thâm độc

Mục đích xuyên suốt của các thế lực thù địch là xuyên tạc, phủ nhận bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc; phủ nhận tính chất “tự vệ chân chính” trong đường lối QPTD của Đảng ta; hướng lái Việt Nam theo quỹ đạo của chính sách quốc phòng tư sản. 

Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD trước hết xuất phát từ các thế lực thù địch, phản động nước ngoài. Chúng vừa trực tiếp tấn công, xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD bằng các cơ quan, tổ chức của mình, vừa gián tiếp nuôi dưỡng, ủng hộ, bảo kê các tổ chức, cá nhân phản động ở trong và ngoài nước.

Thứ hai là các tổ chức, cá nhân phản động người Việt Nam ở nước ngoài, chủ yếu là số ngụy quân, ngụy quyền. Chúng vừa tập hợp lực lượng, sử dụng chiêu bài tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD; vừa móc nối, kích động các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị trong nước cản trở, phá hoại các dự án kinh tế kết hợp quốc phòng. Thứ ba là đối tượng cơ hội, bất mãn chính trị ở trong nước với bản chất “gió chiều nào xoay chiều ấy”, khi cách mạng gặp khó khăn, thử thách, họ quay sang chống Đảng và xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD.

Nội dung các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD thể hiện ở nhiều khía cạnh, màu sắc, tính chất, mức độ khác nhau. Chúng cho rằng, Đảng ta tuyệt đối hóa vị trí, vai trò nền QPTD và mâu thuẫn trong chính nhận thức của mình. Chúng đã viện dẫn Văn kiện Đại hội VIII trước đây: “Trong khi đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta không một chút lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, luôn luôn coi trọng quốc phòng, an ninh, coi đó là nhiệm vụ chiến lược gắn bó chặt chẽ”. Bên cạnh đó, chúng cắt cúp nhận định về xu thế trong quan hệ quốc tế theo Văn kiện Đại hội XIII: “Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn” là không phù hợp, cho nên không cần khẳng định vị trí của QPTD nữa (!)

Chúng xuyên tạc, phủ nhận các đặc trưng cơ bản nền QPTD, coi chủ trương xây dựng nền QPTD của Việt Nam là “đe dọa hòa bình các nước trong khu vực”. Ở thái cực khác, chúng “khuyên” Việt Nam từ bỏ “4 không” trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam. Chúng phủ nhận nền QPTD ở nước ta “không phải vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành”, “không đếm xỉa đến lợi ích chung của dân tộc”, mà “vì lợi ích của Đảng Cộng sản Việt Nam”(!). Nguy hiểm hơn, chúng phủ nhận sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng nền QPTD, tức là phủ nhận tính chính danh, chính pháp của hoạt động trọng yếu này.

Tác hại khôn lường

Phương thức, thủ đoạn của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD luôn được thể hiện tinh vi, thâm hiểm với nhiều chiêu thức. Chúng vừa vu khống, bóp méo, cắt xén sự thật và nhận thức về đường lối QPTD; vừa so sánh, đối lập cực đoan giữa đường lối QPTD của Việt Nam với các nước khác theo chiều hướng khen, chê khác nhau, nhưng tất cả đều đi đến mục đích xuyên tạc, phủ nhận bản chất đường lối đó.

Về phương tiện, rất nhiều nhóm, tổ chức, diễn đàn khác ở nước ngoài triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin hiện đại, internet và hệ thống mạng xã hội để chống phá. Điển hình là các đài phát thanh của người Việt như: Sài Gòn Radio, Việt Nam Califonia, Diễn đàn dân chủ, Việt Nam tự do (ở Mỹ); các báo, tạp chí: Hồn Việt, Quê mẹ, Công luận (ở Pháp); Độc lập, Dân chủ và phát triển, Cánh én (ở Đức); các trang mạng điện tử và các tài khoản mạng xã hội như: Việt Tân, Đàn chim Việt, Dân chủ Việt Nam, Dân làm báo, Quan làm báo...

Các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD đã để lại những hậu quả khôn lường. Đó là sự lệch lạc, suy giảm nhận thức, phai nhạt niềm tin chính trị và lung lạc ý chí của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân vào sự nghiệp cách mạng; ảnh hưởng tiêu cực đến nhiệm vụ xây dựng tiềm lực quốc phòng, lực lượng quốc phòng và thế trận QPTD. Không những vậy, sự xuyên tạc đó còn làm rạn nứt sự thống nhất, đồng thuận trong Đảng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tăng cường sức mạnh niềm tin về đường lối quốc phòng hòa bình, tự vệ chính nghĩa

Rõ ràng, sự xuyên tạc nêu trên của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã cố tình lờ đi một sự thật: Đặc trưng cơ bản nhất của nền QPTD là “hòa bình và tự vệ”, là thể hiện sự khác nhau về bản chất trong xây dựng nền quốc phòng của những quốc gia có độc lập chủ quyền đi theo con đường xã hội chủ nghĩa với các nước đế quốc. Việt Nam xây dựng nền QPTD vững mạnh là để tự vệ, chống lại thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đó chính là nền quốc phòng vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành, tiếp nối truyền thống, kinh nghiệm của dân tộc ta trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước.

Chính vì đó, chúng ta cần xác định cuộc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD của Đảng ta hiện nay phải gắn chặt với thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; đồng thời gắn với đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị.

Để góp phần đấu tranh, làm thất bại âm mưu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD của các thế lực thù địch, chúng ta cần chú trọng thực hiện một số giải pháp chủ yếu. Trước hết cần quan tâm nghiên cứu, làm rõ bản chất khoa học và cách mạng của đường lối, chính sách quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta. Đó là đường lối, chính sách quốc phòng tự vệ, chính nghĩa, trân trọng giá trị của độc lập, thống nhất, toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ và khát vọng được sống trong hòa bình của toàn thể dân tộc và nhân dân Việt Nam.

Hai là, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho toàn dân; giữ gìn, phát huy các chuẩn mực văn hóa của Bộ đội Cụ Hồ và bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam; chủ động, tăng cường thông tin sâu rộng với bạn bè quốc tế về mục đích, bản chất đường lối, chính sách QPTD hòa bình, tự vệ chính nghĩa của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Ba là, tiếp tục nhận diện, vạch rõ tính chất sai trái, phản khoa học, phản động của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD; kết hợp giữa “xây” và “chống”, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên.

Bốn là, tiếp tục chăm lo xây dựng nền QPTD vững mạnh, vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không ngừng củng cố thế trận lòng dân vững chắc, tăng cường sức mạnh niềm tin của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây chính là thành trì, nền tảng chắc chắn nhất để chúng ta chung sức đồng lòng góp phần hiện thực hóa di nguyện cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.  

Trung tướng, PGS, TS NGUYỄN VĂN BẠO

Qdnd.vn

“Bệnh giấu khuyết điểm” - chữa từ căn nguyên mới triệt để, hiệu quả!

 

 “Bệnh giấu khuyết điểm” xem ra vẫn khá phổ biến trong nhiều tổ chức của hệ thống chính trị và cán bộ, đảng viên, do chúng ta chưa chữa từ căn nguyên!

Sở dĩ khẳng định như vậy vì Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ban hành từ tháng 10-2016 đã thẳng thắn chỉ rõ những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; đồng thời yêu cầu toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi, trong đó có “bệnh thành tích", che giấu khuyết điểm, thiếu thành khẩn...

Thế nhưng, hơn 5 năm trôi qua, “bệnh giấu khuyết điểm” xem ra vẫn khá phổ biến trong nhiều tổ chức của hệ thống chính trị và cán bộ, đảng viên, do chúng ta chưa chữa từ căn nguyên!

Thiết nghĩ, những ví dụ, bằng chứng, biểu hiện, cũng như hậu quả nghiêm trọng của “bệnh giấu khuyết điểm”-hầu hết chúng ta đều biết, bởi nếu không ở trong cuộc, trực tiếp chứng kiến thì cũng đã được đọc, được nghe hàng vạn bài nói, bài viết về bệnh này. Tiếp tục liệt kê ra đây lại mắc khuyết điểm viết dài, viết lại, kiểu “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”!

Nhưng có điều nguy hại đặc biệt mà “bệnh giấu khuyết điểm” gây ra cần thiết phải nhắc lại, đó là: Gây mất đoàn kết nội bộ, mất niềm tin nghiêm trọng-một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến hủy hoại uy tín, sức mạnh của tổ chức cũng như từng cá nhân, thậm chí sụp đổ cả chế độ!

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (năm 1947): “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng”... Bài học về sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô và Nhà nước Liên bang Cộng hòa XHCN Xô-viết do nguyên nhân sâu xa là mất dân chủ, “bệnh thành tích”, lãnh đạo chỉ thích khen nịnh dẫn đến xa rời thực tiễn, những yếu kém không được khắc phục, gây khủng khoảng, mất đoàn kết và cán bộ, đảng viên, quần chúng bức xúc; cùng bài học thành công của sự nghiệp đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của Đảng với phương châm nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, từ đó mới sáng rõ những việc cần làm ngay, được nhân dân đồng lòng ủng hộ... vẫn còn nguyên giá trị.

Vậy phải làm gì để chữa trị “bệnh giấu khuyết điểm”?

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác Hồ đã chỉ rõ: Phải thật thà phê bình và tự phê bình, kiên quyết thực hành kỷ luật; “Nơi nào sai lầm, ai sai lầm thì lập tức sửa chữa. Kiên quyết chống thói nể nang và che giấu”; “Kiểm soát khéo bao nhiêu, khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa, kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”...

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) và nhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định của Đảng cũng đã yêu cầu toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải thực hiện nghiêm túc, đồng bộ các nhóm giải pháp. Tuy nhiên, có thể khẳng định, chính vì nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thực sự làm nghiêm, chưa vào cuộc một cách quyết liệt, chưa có biện pháp hữu hiệu nên “bệnh giấu khuyết điểm” vẫn kéo dài dai dẳng.

Cần nhìn thẳng vào sự thật: “Bệnh giấu khuyết điểm” và thích khen nịnh là bản tính của con người, là yếu tố tâm lý khách quan từ ngàn xưa, ở khắp nơi (thậm chí cổ nhân còn khuyên dạy: “Đẹp đẽ phô ra, xấu xa đậy lại”). Do đó, muốn chữa “bệnh giấu khuyết điểm” thì phải điều trị từ nguyên nhân gốc, trước hết, người mắc bệnh này phải muốn chữa và quyết tâm chữa (ở đây là người đứng đầu tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị các cấp trong hệ thống chính trị, từng cán bộ, đảng viên).

Nhưng thực tiễn đang tồn tại nghịch lý là rất nhiều cán bộ, đảng viên không muốn chữa “bệnh giấu khuyết điểm”. Lý do thật đơn giản: Tự nhận vi phạm, khuyết điểm thì sẽ thiệt nhiều thứ, như mất thành tích, bị trừ điểm thi đua, ảnh hưởng tới các quyền lợi của tập thể, cá nhân.

Thậm chí, việc tự nhận khuyết điểm còn bị nhiều người chê là dại dột, “chưa khảo đã xưng”, “tự bôi mỡ vào người cho kiến đốt”! Không ít trường hợp còn bị cán bộ cấp trên lấy làm ví dụ đi “bêu dương” khắp nơi, nhắc đi nhắc lại mãi. Vì thế, nhiều người, nhiều tập thể đã rút ra “bài học”: Chẳng dại gì “lạy ông tôi ở bụi này”!

Bởi vậy, thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá của cấp ủy, người đứng đầu: Thực sự quý trọng đức tính thẳng thắn, trung thực, tự giác nhận khuyết điểm là yếu tố tiên quyết để tuyên chiến với “bệnh giấu khuyết điểm”.

Cùng với đó, phải có điểm thưởng cho những tập thể, cá nhân trung thực, tự giác nhận khuyết điểm nhằm khắc phục nghịch lý “không muốn chữa bệnh giấu khuyết điểm” nêu trên, mà việc nên làm ngay là chỉnh sửa quy chế thi đua-khen thưởng theo hướng quy định rõ điểm thưởng, điểm phạt, bảo đảm không ai chịu thiệt khi thành thật, tự giác nhận khuyết điểm và quyết tâm sửa chữa. Đây chính là liều thuốc đặc hiệu để chữa từ nguyên nhân gốc, trị dứt điểm “bệnh giấu khuyết điểm” nguy hại.

Đảng ta đang khuyến khích và đã có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Đặc biệt, Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28-7-2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng đã xác định rõ nguyên tắc: Công tác kiểm tra, giám sát phải kịp thời phát hiện nhân tố mới, tích cực để phát huy, phải bảo vệ cái đúng, bảo vệ người tốt, cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung; phải chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên ngay từ khi còn mới manh nha, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng...

Thực hiện chủ trương trên, những bất cập, nghịch lý là căn nguyên dẫn đến “bệnh giấu khuyết điểm” cần sớm được các cơ quan có thẩm quyền xem xét, kiên quyết chỉ đạo khắc phục triệt để. 

Theo TTXVN

 

 NGUYỄN VĂN ĐÀI  LUẬN ĐIỆU PHẢN ĐỘNG


Nguyễn Văn Đài đã đăng trên trang DBureau CTM Media – Âu Châu bài viết có nội dung sai trái, thù địch, xuyên tạc về tình hình tư tưởng chính tri của đội ngũ cán bộ, đảng viên, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Với luận điệu hết sức phản động Nguyễn Văn Đài cho rằng “Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn coi những quan chức CSVN mà có tư tưởng thỏa hiệp với người dân là những quan chức tự diễn biến, tự chuyển hóa, có đường lối theo xu hướng dân túy. Và những quan chức này phải bị loại trừ ra khỏi chế độ độc tài, độc đảng CSVN”. Qua đó, làm cho cán bộ, đảng viên, một bộ phận quần chúng nhân dân hoài nghi, bi quan, dao động, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

 

Cần thấy rõ, Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của Nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Nhà nước Việt Nam là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, mọi cán bộ, đảng viên đều gắn bó mật thiết với Nhân dân, vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ trung thành của Nhân dân.

 

Thời gian vừa qua, một bộ phận cán bộ, đảng viên do thiếu rèn luyện, tu dưỡng, do lòng tham, cộng với thiếu sự kiểm soát, kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng, dẫn đến tự đánh mất mình trước những cám dỗ quyền lực, tiền bạc, vật chất làm hoen ố danh dự người cộng sản, những cán bộ này đã bị xử lý  nghiêm khắc để làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh hơn, giữ vững niềm tin trong Nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyên xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, dân thụ hưởng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đồng thời, kiên quyết xử lý những cán bộ quan liêu, tham nhũng, suy thoái, xa dân, vi phạm kỷ luật, không tôn trọng lợi ích của Nhân dân.

 

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng công cuộc phòng chống tham nhũng, suy thoái, xử lý những cán bộ vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân chưa bao giờ diễn ra quyết liệt như hiện nay, thể hiện ở chủ trương: Không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không kể cán bộ đương chức hay đã nghỉ hưu.

 

Thực tiễn đã khẳng định, từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến việc bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa “hồng” vừa “chuyên”, có đủ phẩm chất, năng lực, trí tuệ đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước chứ không đơn thuần chỉ là giải quyết vấn đề suy thoái mất niềm tin của Nhân dân. Đảng đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp quan trọng như: Chiến lược cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước tại Hội nghị Trung ương 3 khoá VIII (6/1997); Nghị quyết số 39-NQ/TƯ, ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; Nghị quyết số 26-NQ/TƯ ngày 19/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI, XII, XIII về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng,… Đến nay, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã không ngừng lớn mạnh, trưởng thành, phát triển toàn diện, từng bước đáp ứng tốt yêu cầu đổi mới, hội nhập của đất nước.

 

Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Nhà nước Việt Nam đã luôn đặt sự hài lòng của nhân dân lên hàng đầu, bảo vệ quyền lợi của nhân dân, giám sát việc thực hiện chính sách của Nhà nước và giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến lợi ích của người dân, phát triển mạnh mẽ công nghệ thông tin, sử dụng công nghệ để tăng cường tính minh bạch, tạo ra một môi trường thông tin rộng rãi, đa dạng để người dân có thể tiếp cận và hiểu rõ hơn về các chính sách và quyết định của Nhà nước, tăng cường sự đoàn kết và sự gắn bó giữa Nhà nước và nhân dân, tạo ra một môi trường hòa bình, ổn định và phát triển bền vững cho đất nước. Nhà nước Việt Nam luôn đảm bảo quyền lợi và an ninh của người dân thông qua hệ thống pháp luật và các cơ quan chức năng; cung cấp dịch vụ công cộng, như giáo dục, y tế, giao thông, viễn thông và hệ thống các dịch vụ công; có những chính sách hỗ trợ việc làm, chính sách bảo vệ người lao động, chính sách phát triển nông thôn và chính sách phát triển kinh tế – xã hội các vùng miền khó khăn. Điều này đã giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân và đảm bảo quyền tiếp cận các dịch vụ cơ bản cho tất cả mọi người; giúp cho mọi người dân có điều kiện phát triển và cải thiện chất lượng cuộc sống của mình, chứ không phải là Nhà nước, chế độ độc tài như luận điệu phản động của Nguyễn Văn Đài.

 

Tóm lại, những luận điệu phản động nêu ra trong bài viết của Nguyễn Văn Đài đã bộc lộ dã tâm thâm độc, xuyên tạc sự thật về công tác cán bộ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm gây hoang mang dao động, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, giảm lòng tin của Nhân dân với Đảng và chế độ. Do vậy, chúng ta cần hết sức cảnh giác, vạch trần âm mưu, thủ đoạn của Y.

Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng không phải là “sự chuyên quyền”

 

Là Người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ - nguyên tắc cơ bản nhất trong tổ chức và hoạt động của Đảng, để Đảng luôn là một tổ chức thống nhất về ý chí và hành động; đồng thời, phát huy được sức mạnh của mỗi cá nhân và của tập thể vì lợi ích chung của sự nghiệp cách mạng. Trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm, giữ vững và tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc này là yêu cầu cấp bách, thường xuyên, lâu dài để nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng.

TẬP TRUNG DÂN CHỦ LÀ MỘT NGUYÊN TẮC CĂN BẢN CỦA MỘT ĐẢNG CÁCH MẠNG CHÂN CHÍNH

Khi nói về cách tổ chức của Liên đoàn những người cộng sản - chính đảng cách mạng đầu tiên của giai cấp công nhân, Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Bản thân tổ chức cũng hoàn toàn dân chủ, với những người lãnh đạo được bầu ra và luôn luôn có thể bị bãi miễn”(1). Sau này, V.I.Lênin cũng nhấn mạnh, “chế độ tập trung dân chủ, một mặt, thật khác xa chế độ tập trung quan liêu chủ nghĩa, và, mặt khác, thật khác xa chủ nghĩa vô chính phủ”(2). Điều đó cũng có nghĩa là, “không có gì sai lầm bằng việc lẫn lộn chế độ tập trung dân chủ với chủ nghĩa quan liêu và với lối rập khuôn máy móc”(3). Thực tế, lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng cho thấy, là liên minh tự nguyện của những người cùng chung chí hướng, cùng đồng chí, đồng lòng đấu tranh để xây dựng chủ nghĩa xã hội/một chế độ xã hội tự do, dân chủ, công bằng vì con người và cho con người, tất yếu Đảng Cộng sản - bộ phận tiên phong của giai cấp công nhân phải được tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật và thống nhất, sinh hoạt và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Đảng Cộng sản phải là một tổ chức thống nhất về ý chí và hành động, không dung thứ sự tồn tại của các phe nhóm, bè phái; lấy tự phê bình và phê bình làm quy luật phát triển của Đảng.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nguyên tắc tập trung dân chủ được hiểu giản dị là, "tập thể lãnh đạo là dân chủ, cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung"(4); và theo đó, “lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc. Phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc. Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau”(5). Cho nên, tập trung dân chủ là nguyên tắc rường cột chỉ đạo toàn bộ, xuyên suốt quá trình xây dựng, tổ chức, sinh hoạt và hoạt động lãnh đạo của một Đảng Cộng sản nói chung, Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng; đồng thời, chi phối các nguyên tắc khác, để xây dựng Đảng thành một tổ chức thống nhất, chặt chẽ, kỷ luật; bảo đảm Đảng luôn thống nhất trong tư tưởng và hành động chứ không phải là một câu lạc bộ.

Thực tế cũng cho thấy, tập trung dân chủ là một nguyên tắc căn bản (trong tổ chức và hoạt động) của Đảng, để phân biệt một chính Đảng Mácxít Lêninnit với một đảng phái chính trị khác. Tập trung và dân chủ là hai mặt không mâu thuẫn với nhau mà luôn thống nhất biện chứng, không thể tách rời, vì tập trung không trên cơ sở dân chủ sẽ thành tập trung quan liêu, độc tài; còn dân chủ đúng đắn phải dựa trên cơ sở tập trung, dân chủ mà tách rời tập trung sẽ thành vô chính phủ. Tập trung được thực hiện trên cơ sở dân chủ, hỗ trợ, bảo đảm để dân chủ được kiểm soát trong khuôn khổ, chứ không phải là tập trung độc đoán, chuyên quyền. Tập trung là để toàn thể đảng viên tư tưởng và hành động đều thống nhất, tránh tình trạng "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược". Còn dân chủ được thực hiện và là bảo đảm của tập trung, giúp cho tập trung được thực hiện linh hoạt, hiệu quả, để tránh dân chủ theo kiểu tùy tiện, phân tán, vô tổ chức, hình thức. Dân chủ nghĩa là mọi cán bộ, đảng viên đều có quyền tham gia vào việc quyết định công việc của Đảng (được bày tỏ chính kiến, thông tin, thảo luận, tranh luận, bảo lưu ý kiến trong tổ chức) để bàn bạc và đi đến thống nhất về quan điểm, chủ trương… không chỉ trong xây dựng nghị quyết, đưa nghị quyết vào cuộc sống mà còn thể hiện rõ trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện. Tuy nhiên, khi tổ chức đảng đã có nghị quyết thì tất cả đảng viên đều phải nói và làm theo nghị quyết.

Được xây dựng, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc một Đảng Mácxít Lêninnit chân chính, Đảng Cộng sản Việt Nam lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản; trong đó, thiểu số phục tùng đa số (nội dung cốt lõi, đặc trưng của dân chủ trong Đảng), cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức; các tổ chức đảng trong toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc, Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Trên thực tế, xuất phát từ bản chất giai cấp công nhân của Đảng; từ yêu cầu, nhiệm vụ lịch sử của Đảng; từ kinh nghiệm của các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế, suốt quá trình xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định và kiên trì thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ - coi đó là nguyên tắc số một, bất di bất dịch. Trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn, Đảng "luôn luôn nắm vững lãnh đạo tập thể là nguyên tắc lãnh đạo cao nhất của Đảng, đồng thời kết hợp với phân công phụ trách. Đảng chống mọi hiện tượng phân tán, cục bộ, địa phương chủ nghĩa, tự do vô kỷ luật cũng như chống mọi hiện tượng tập trung quan liêu, sự vụ, gia trưởng, độc đoán, coi thường tập thể, coi thường cấp dưới”(6) để thống nhất trong tư tưởng và hành động; để “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người”(7) như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn.

Theo đó, các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương đều "thực hiện chế độ tập thể lãnh đạo đi đôi với phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu”(8); đồng thời, luôn có cơ chế để nguyên tắc tập trung dân chủ được thực hiện nghiêm trên tinh thần "thực hiện triệt để nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong cấp uỷ. Tạo mọi điều kiện cần thiết để mỗi cấp uỷ viên có thể tham gia đầy đủ vào việc bàn bạc, quyết định các chủ trương; định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cụ thể của từng người”(9), nhằm "tránh lối cá nhân độc đoán chuyên quyền" hoặc "tránh lối ỷ lại vào tập thể, sợ trách nhiệm" mà không dám quyết đoán khi cần phải ra quyết định. Đồng thời, việc phát triển và mở rộng dân chủ trong Đảng luôn đi đôi với tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của Đảng và giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật Đảng.

Dân chủ càng phát triển thì tập trung càng vững chắc, sức mạnh của Đảng càng được khẳng định và vì thế, nguyên tắc tập trung dân chủ cũng chính là biểu hiện của tính tiền phong, chiến đấu của Đảng. Vì thế, bất cứ quan điểm/luận điệu nào cho rằng tập trung và dân chủ là hai mặt đối lập; cho rằng, nếu thực hiện tập trung sẽ tất yếu dẫn đến thu hẹp dân chủ, triệt tiêu dân chủ và ngược lại, nếu muốn thực hiện dân chủ, ắt phải từ bỏ tập trung thì đều là trái với nguyên tắc tập trung dân chủ của chủ nghĩa Mác - Lênin, đều là phản động. Chính vì thế, việc xuyên tạc bản chất nguyên tắc tập trung dân chủ nói chung, việc cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ nói riêng là sự "chuyên quyền của một nhóm quyền lực trong Đảng" là một trong các thủ đoạn chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, nhằm từng bước hạ thấp vị thế, uy tín, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và hệ thống chính trị như đã hiến định tại Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

THỰC HIỆN TẬP TRUNG DÂN CHỦ KHÔNG PHẢI LÀ SỰ ĐỘC QUYỀN CỦA "NHÓM QUYỀN LỰC"

Đảng Cộng sản Việt Nam "là một khối thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện lãnh đạo tập thể và cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình, thực hiện dân chủ đầy đủ và kỷ luật chặt chẽ trong sinh hoạt đảng”(10). Sức mạnh tổ chức to lớn của Đảng là ở sự thực hiện đầy đủ nguyên tắc này. Tình trạng tập trung quan liêu, gia trưởng độc đoán, không tôn trọng ý kiến cấp dưới hay không phát huy trí tuệ tập thể dễ dẫn đến những quyết định sai lầm hoặc tình trạng cục bộ, vô kỷ luật gây hậu quả tai hại… đều làm suy yếu sự đoàn kết trong Đảng, đều làm cho sự lãnh đạo của Đảng kém hiệu lực. Vì thế, mọi cán bộ, đảng viên đều phải nêu cao tinh thần gương mẫu thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng.

Song trên thực tế, nguyên tắc tập trung dân chủ luôn là mục tiêu công kích, xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội, xét lại và nhũng người nhân danh dân chủ, mượn danh dân chủ để xuyên tạc, công kích, hòng phá hoại các Đảng Cộng sản nói chung, Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng. Các nhà "ảo dân chủ", "ngộ dân chủ" còn suy diễn rằng, trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, thì nếu đặt tập trung ở phía trước và dân chủ ở phía sau, thì có nghĩa là tập trung chính là mục đích, còn dân chủ chỉ là phương tiện. Vì thế, dân chủ chỉ là hình thức, nửa vời, là "bánh vẽ"… Đây chính là kiểu lập luận có chủ đích của những người nhân danh dân chủ, khoác áo dân chủ để quy chụp, xuyên tạc.

Dù nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động cuả một Đảng Mácxít Lêninnit, nhưng thực tế cũng cho thấy, nguyên tắc này không phải lúc nào và ở nơi đâu cũng được thực hiện một cách nghiêm túc. Lịch sử đã chứng kiến nguyên tắc này bị vô hiệu hóa trong quá trình tiến hành cải cách, cải tổ của Đảng Cộng sản Liên Xô và các Đảng Cộng sản ở các nước Đông Âu những thập niên trước. Việc từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ là một trong những sai lầm "không thể cứu vãn" khiến cho các Đảng này tan rã, mất vai trò lãnh đạo xã hội. Việc Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô M.Goócbachốp vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ khi quyết định giải tán Ban Chấp hành Trung ương Đảng… làm cho Đảng Cộng sản Liên Xô tan vỡ là một bài học xương máu.

Rút kinh nghiệm sâu sắc bài học của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Đảng Cộng sản Việt Nam nghiêm ngặt thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động; gắn mở rộng dân chủ đi đôi với củng cố, tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong Đảng.

Trong toàn Đảng, những vấn đề cơ bản, quan trọng (chủ trương, nghị quyết của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị về thực hiện nhiệm vụ chính trị; công tác cán bộ, công tác nhân sự cấp ủy, cơ quan…) đều phải được dân chủ thảo luận trong tập thể cấp ủy/lãnh đạo cơ quan/tổ chức đảng từ cao đến thấp theo phạm vi, quyền hạn được xác định. Quyết định của cấp ủy được quyết định theo đa số và ý kiến thiểu số vẫn được bảo lưu để trình cấp trên xem xét, nhưng khi nghị quyết đã ban hành, thì mọi đảng viên đều phải đồng lòng nói và làm theo nghị quyết. Trong toàn Đảng, mọi cấp uỷ đều thực hiện sự lãnh đạo tập thể (được bàn bạc và quyết định tập thể) đi đôi với tăng cường trách nhiệm cá nhân; "mọi cấp uỷ viên có quyền và có trách nhiệm phát biểu ý kiến, tranh luận thẳng thắn, tham gia các quyết định của cấp uỷ. Chống mọi biểu hiện độc đoán, gia trưởng, áp đặt ý kiến cá nhân, hoặc nể nang, né tránh”(11).

Trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện, Đảng xác định tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; trong đó, "tập thể lãnh đạo không phủ nhận trách nhiệm cá nhân, trái lại phải trên cơ sở phát huy đầy đủ trách nhiệm cá nhân. Mọi cá nhân trên cương vị của mình phải chủ động đóng góp ý kiến với tập thể để tập thể có được quyết định chính xác, và dám chịu trách nhiệm trong việc chấp hành các nghị quyết của tập thể, dám tự phê bình và thành khẩn nhận khuyết điểm của mình trong việc chấp hành các nghị quyết ấy”(12). Đồng thời, mọi cấp ủy từ Trung ương đến địa phương đều quán triệt sâu sắc rằng, bất cứ người đứng đầu nào cũng không được lợi dụng/lạm dụng quyền lực của mình (được bầu/ được trao) để mưu cầu lợi ích cá nhân/nhóm lợi ích và "bất cứ người lãnh đạo nào cũng không được tự đặt mình ra ngoài tổ chức, tự cho mình quyền nói và làm khác quyết định của tập thể. Cấp dưới, dù cho người đứng đầu là ủy viên Trung ương, cũng không thể tự cho mình quyền không thi hành hoặc làm trái chỉ thị của cấp trên. Tăng cường sự lãnh đạo tập thể, mở rộng sinh hoạt dân chủ”(13).

Vì vậy, mọi hiện tượng, biểu hiện “bằng mặt nhưng không bằng lòng”, "nói một đằng nhưng làm một nẻo", "nói trong hội nghị khác nhưng phản ánh lên cấp trên khác" hoặc lợi dụng tập trung dân chủ vì mục đích không chính đáng… đều là những hạn chế cần phải khắc phục trong quá trình thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; đều là trái với nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Những hạn chế này vừa không khuyến khích người đứng đầu nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, lại vừa tạo kẽ hở cho cách làm việc tắc trách, trì trệ hoặc lạm dụng quyền lực một cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá nhân; đồng thời, cũng dễ tạo kẽ hở cho các phần tử phản động, cơ hội xuyên tạc, công kích, chống phá Đảng.

Thực tế ở Việt Nam, việc mở rộng sinh hoạt dân chủ trong Đảng, nâng cao chất lượng sinh hoạt của các cấp ủy, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát gắn liền với việc không ngừng hoàn thiện, thực hiện tốt hơn, có hiệu quả hơn nguyên tắc tập trung dân chủ; tiếp tục xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa lãnh đạo tập trung và phát huy dân chủ, bảo đảm để nguyên tắc tập trung dân chủ không chỉ được thực hiện nghiêm trong Đảng mà đã và đang trở thành nguyên tắc quản lý của một xã hội văn minh, hiện đại, nhằm xây dựng đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, phát triển bền vững.

Trong những năm qua, dân chủ xã hội chủ nghĩa đã ngày càng trở thành hiện thực sinh động, nhất là trong hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được thực thi; nhân dân là người làm chủ xã hội, được thụ hưởng những thành quả của mình tạo ra đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(14)…

Cùng với thời gian, chế độ dân chủ, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân ở Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn gắn với kỷ luật, kỷ cương; được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm và được phổ biến sâu rộng đến mọi người dân. Việc thực hành dân chủ trong Đảng có ý nghĩa quyết định đối với phát triển dân chủ trong tổ chức, hoạt động của cả hệ thống chính trị gắn với dân chủ hóa đời sống xã hội, bởi dân chủ tạo sự đồng thuận xã hội và đồng thuận xã hội tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng vào bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục nhất quán mục tiêu xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Gần đây nhất, bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ngày 16/5/2021 cũng đã tiếp tục khẳng định và làm rõ: Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung, ở Việt Nam nói riêng. Dân chủ vừa là bản chất vừa là động lực; đồng thời, cũng chính là mục tiêu của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân kiên định xây dựng trong suốt 9 thập niên qua. Đó là sự thật đã được kiểm chứng bởi lịch sử Việt Nam hiện đại; bởi sự tin tưởng, ủng hộ, đi theo của các tầng lớp nhân dân; bởi sự ghi nhận của các tổ chức quốc tế. Lịch sử cách mạng Việt Nam là minh chứng khẳng định rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, “nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ. Các cơ quan chính quyền là thống nhất, tập trung. Từ hội đồng nhân dân và ủy ban kháng chiến hành chính xã đến Quốc hội và Chính phủ Trung ương, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương. Thế là vừa dân chủ vừa tập trung”(15).

Vì thế, có thể khẳng định chắc chắn rằng: Nghiêm ngặt thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, đoàn kết, thống nhất trong tư tưởng và hành động; đảm bảo lãnh đạo và tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. Nguyên tắc tập trung dân chủ chắc chắn không phải là sự chuyên quyền, độc đoán, mất dân chủ như các thế lực thù địch xuyên tạc, thêu dệt, cho nên, bất cứ sự buông lỏng nào trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ cũng sẽ dẫn đến tình trạng vô chính phủ, tạo ra phe phái, lực lượng đối lập với Đảng, phá hoại sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng! Vì thế, những luận điệu phản động cho rằng thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là nhằm mục đích "bảo vệ vị trí độc tài" của Đảng và "thao túng quyền lực" của một nhóm người trong Đảng; việc Đảng thực hành tập trung dân chủ trong Đảng và trong xã hội chỉ là sự "ảo tưởng" "mị dân"… đều là sự xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, hoạt động của Đảng nói riêng, cần phải bác bỏ!.

TS. Văn Thị Thanh Mai 
ThS. Văn Thị Thanh Hương

------

(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Tuyển tập, Nxb. Sự thật, H, 1984, t.6, tr.339.

(2) (3) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.36, tr.185, 186

(4) (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2011, t.5, tr.620, 620

(6) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2002, t.21, tr.781

(7) (14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.17, 232.

(8) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2016, tr.191

(9) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2004, t.37, tr.629

(10) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2007, t.51, tr.254

(11) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2007, t.50, tr.507

(12) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2004, t.37, tr.839

(13) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.47, tr.470

(15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.263-264.

Tuyengiao.vn

 

           CÓ PHẢI DÂN CHỦ LÀ BẢN CHẤT CỦA CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA


Dưới chiêu bài dân chủ, các thế lực thù địch tiếp tục tuyên truyền luận điệu sai trái, chống phá chế độ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, gây mất ổn định về chính trị tư tưởng, lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Trên Bloger của “Luatkhoa. org” Vũ Hoàng Anh có bài viết: “Bàn về Dân chủ”, cho rằng dưới sự cai trị của độc tài cộng sản Việt Nam trở thành xã hội phi dân chủ; kỳ thị các dân tộc thiểu số. Thực tế, Vũ Hoàng Anh đang cố tình không hiểu và xuyên tạc tình hình dân chủ và chính sách dân tộc ở Việt Nam.

 

Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, dân chủ có nghĩa dân là chủ và người dân làm chủ. Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định: dân chủ ở Việt Nam là dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đây là bản chất của chế độ chính trị do Đảng lãnh đạo, dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Hiến pháp năm 2013 quy định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Đảng, Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Nội dung cốt lõi của dân chủ xã hội chủ nghĩa là tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền làm chủ của nhân dân, gắn với trách nhiệm và nghĩa vụ công dân; được vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở.

 

Thực tiễn chứng minh rằng, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mối, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đốì với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Thực hiện dân chủ không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rôì nội bộ, làm mất ổn định chính trị, xã hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân.

 

Thứ hai, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Nhà nước thực hiện chính sách về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số. Đảng ta khẳng định: Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa xã hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số là sự nghiệp chung của nhân dân cả nước, của nhân dân các dân tộc không phân biệt là dân tộc đa số hay thiểu số. Vì lợi ích trực tiếp của nhân dân các dân tộc thiểu số, đồng thời vì lợi ích chung của cả nước, các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ là một trong những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng. Chính sách dân tộc thể hiện mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Thực hiện chính sách dân tộc là trách nhiệm chính trị cả hệ thống chính trị, toàn xã hội. Vì vậy, phải tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc; có những chính sách đặc thù giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt đại đoàn kết toàn dân tộc.

 

Báo cáo Hạnh phúc Toàn cầu của Liên Hợp Quốc công bố ngày 20/3/2023 xếp Việt Nam đứng thứ 65/150 trong bảng xếp hạng, tăng 12 bậc so với năm 2022. Sự tiến bộ của dân chủ xã hội chủ nghĩa, cùng chính sách đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam được quốc tế công nhận và đánh giá cao chính là chân lý, thực tế mà các thế lực thù địch không thể xuyên tạc hay hoài nghi./.

 

THỦ ĐOẠN “ĐÒI QUYỀN TỰ DO INTERNET” ĐỂ CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM


Cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng tại Việt Nam đã bước vào giai đoạn mới, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc xây dựng một xã hội minh bạch và công bằng nhưng với tâm địa đen tối, các đối tượng chống đối Đảng, nhân dân Việt Nam núp sau các tổ chức xã hội độc lập và công dân tự do đã đăng trên facebook: “Đảng Việt tân” với tiêu đề “Bản lên tiếng về quyền tự do Internet”. Nội dung của bài viết đưa ra những nhận định xuyên tạc, quy chụp, vu khống trắng trợn Đảng, Nhà nước Việt Nam và xuyên tạc công cuộc phòng chống tham nhũng, bằng những nhận định sai lệch rằng: “tranh giành quyền lực”, “cướp bóc của quan chức”… bóp méo, bôi đen việc thực thi pháp luật, tạo cớ kích động “công dân sử dụng Internet, các blogger, các facebooker, các chủ trang nhân quyền liên kết thành mạng lưới”,… tiến tới việc thúc đẩy toàn dân Việt Nam đứng lên giải thể chế độ… Thủ đoạn này đã cho thấy dã tâm nham hiểm của các tổ chức xã hội độc lập và các công dân tự do nên cần được vạch trần và bác bỏ.

 

1. Mọi công dân Việt Nam đều có quyền tiếp cận và sử dụng Internet và các phương tiện thông tin đại chúng.

 

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ những năm gần đây, mạng xã hội đã trở nên phổ biến với cuộc sống hàng ngày của hầu hết người Việt Nam. Việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận, báo chí: Hiện nay, về cơ bản pháp luật trong nước đã tương thích với pháp luật quốc tế, đầy đủ và đồng bộ, từ Hiến pháp, luật, đến nghị định, tiêu biểu là một số văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Báo chí năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP, ngày 15/7/2013 của Chính phủ về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng. Ngoài ra, việc triển khai thi hành các văn bản quy phạm pháp luật cũng được tiến hành một cách nghiêm túc. Đến năm 2022, Việt Nam có 127 cơ quan báo; 670 cơ quan tạp chí (có 327 tạp chí lý luận chính trị và khoa học, 72 tạp chí văn học nghệ thuật); 72 cơ quan đài phát thanh, truyền hình. Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến 2023, lượng người dùng Internet tại Việt Nam đạt hơn 72 triệu người (73%) và hiện là quốc gia có lượng người dùng Internet cao thứ 12 trên thế giới; số thuê bao điện thoại di động sử dụng smartphone 94,2 triệu, riêng số người dùng mạng xã hội hiện nay có 76,95 triệu người, tương đương với 78,1% dân số. Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo đảm tốt các quyền đó của con người và được quy định ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 “Công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng và tự do cư trú đi lại trong nước và ra nước ngoài …”; Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin…”.

2. Không nước nào dung túng cho hoạt động lợi dụng Internet để chống phá đất nước, nhân dân mình.

Tự do thông tin, tự do Internet, tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người cần được tôn trọng và bảo đảm. Tuy nhiên, ở bất kỳ quốc gia nào, tự do thông tin, tự do Internet, tự do ngôn luận cũng phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật, nhằm tránh bị lợi dụng, gây phương hại đến quyền, lợi ích của quốc gia, cộng đồng xã hội và các cá nhân. Vì thế, không chỉ ở Việt Nam mà các nước trên thế giới cũng ban hành các điều luật để kiểm soát những thông tin được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng và trên các trang mạng xã hội, qua đó hạn chế sự lan tràn, phát tán những thông tin giả mạo và độc hại.

 

Việc các thế lực thù địch, phản động và một số đối tượng bất mãn lợi dụng mạng Internet tiến hành chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa; xuyên tạc, thổi phồng, bóp méo các vấn đề bức xúc trong xã hội; tạo dựng thông tin sai sự thật, nhằm làm nhiễu loạn truyền thông, gây hoài nghi trong quần chúng, từng bước tạo bất ổn trong xã hội tiến tới hình thành các xu hướng phản kháng chống chính quyền Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vi phạm pháp luật và bị xử lý nghiêm minh là hoàn toàn xác đáng.

 

Như vậy, có thể khẳng định “Bản lên tiếng về quyền tự do Internet” là bài viết đưa ra là những nhận định, đánh giá sai sự thật và hết sức phi lý về tự do Internet ở Việt Nam, quy chụp, vu khống trắng trợn Đảng, Nhà nước Việt Nam… Thủ đoạn này đã cho thấy dã tâm nham hiểm, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam của các tổ chức xã hội độc lập và các công dân tự do. Mọi người dân Việt Nam cần nêu cao cảnh giác và đấu tranh bác bỏ những thông tin xấu độc, sai sự thật về tự do Internet được phát tán trên mạng xã hội hiện nay./.