Chủ Nhật, 17 tháng 9, 2023

 

Soi xem mình được mấy “dám”?

Chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ Quân đội theo tinh thần "7 dám" là quan điểm chỉ đạo được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương nhấn mạnh tại Hội nghị Quân ủy Trung ương 6 tháng đầu năm 2023. Quán triệt, thực hiện tinh thần “7 dám” vừa là giải pháp rất quan trọng xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội, vừa góp phần tích cực đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ...

Gắn vào thực tiễn “xây” và “chống”

Tinh thần “7 dám” của cán bộ Quân đội trong tình hình mới được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương khái quát, gồm: "Dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung”. Gắn vào thực tiễn công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đấu tranh phòng, chống tiêu cực, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chúng ta thấy rõ: “7 dám” vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp của công tác bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ Quân đội.

Nội hàm của cán bộ “7 dám” là sự cụ thể hóa những đặc trưng, truyền thống tốt đẹp về phẩm chất đạo đức, giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ, là sự phát triển tư duy lý luận, đặt ra những yêu cầu mới ngày càng cao đối với phẩm chất, năng lực cán bộ Quân đội trong giai đoạn mới. Khẳng định những vấn đề có tính nguyên tắc này để thấy rõ hơn, sự phát triển của đời sống xã hội là quy luật vận động không ngừng. Với vai trò là lực lượng nòng cốt, chủ lực trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng...

Quân đội ta phải đặt ra yêu cầu, tiêu chí và giải pháp ngày càng cao trong xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ. Khi cán bộ hội tụ đầy đủ phẩm chất, năng lực theo tinh thần “7 dám”, các cơ quan, đơn vị các cấp trong Quân đội sẽ có nền tảng tinh thần vững chắc, tạo động lực mạnh mẽ để cán bộ, chiến sĩ khai mở tiềm năng, năng lực, phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ.

Để hiện thực hóa tinh thần “7 dám”, Tổng Bí thư yêu cầu Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và các cấp ủy đảng trong Quân đội phải đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh, đủ đức, đủ tài, có uy tín cao; cấp trên phải làm gương cho cấp dưới, chỉ huy phải mẫu mực trước toàn đơn vị. Trong Quân đội, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm...

Thực tiễn quá trình thực hiện nhiệm vụ ở các đơn vị Quân đội trong thời gian qua, bên cạnh những thành tựu to lớn, những thành tích nổi bật đã đạt được, đáng lưu ý là ở một số đơn vị, trong một số thời điểm còn để xảy ra những vụ việc nghiêm trọng. Một bộ phận cán bộ, cấp ủy, người chỉ huy vẫn còn "bệnh thành tích", giấu giếm khuyết điểm; xử lý một số vi phạm, vụ việc phức tạp, nhạy cảm chưa kịp thời, triệt để... Những hạn chế, khuyết điểm này trong một số trường hợp nhất định không chỉ ảnh hưởng đến tư tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ; chất lượng, hiệu quả huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị... mà còn là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng không gian mạng thực hiện các chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc, kích động, chống phá Quân đội...

Quán triệt phương châm “xây” và “chống”, “lấy xây để chống” trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống theo quan điểm của Đảng, chúng ta càng thấy rõ tính cấp thiết của việc củng cố, bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ Quân đội theo tinh thần “7 dám”. Đó cũng là căn cứ để cấp ủy, chỉ huy các cấp đẩy mạnh thực hiện phê bình, tự phê bình; đề ra các chỉ tiêu, nội dung, giải pháp đấu tranh, thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương “về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”.

Soi xem mình được mấy “dám”?
Ảnh minh họa: TTXVN 

 

Soi rọi vào chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên

Từ thực tiễn hiệu quả thực hiện nhiệm vụ đã được Quân ủy Trung ương sơ kết, đánh giá tại Hội nghị Quân ủy Trung ương 6 tháng đầu năm 2023, chúng ta thấy: Để xảy ra những biểu hiện tiêu cực, yếu kém ở đơn vị, nguyên nhân trực tiếp đều bắt nguồn từ phẩm chất, năng lực, phương pháp làm việc, tác phong công tác của đội ngũ cán bộ, nhất là cấp ủy, người chỉ huy các cấp.

Nhìn rộng ra và sâu hơn, chúng ta thấy, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với tinh thần kiên trì, quyết liệt, không có vùng cấm... trong những năm qua đã đưa ra ánh sáng công lý hàng loạt cán bộ suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Trong những vụ việc, vụ án được dư luận xã hội quan tâm đặc biệt, có không ít cán bộ cấp cao trong Quân đội. Để dẫn đến tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân trực tiếp, cơ bản và căn cốt nhất vẫn là do phẩm chất của cán bộ, đảng viên.

Lấy tinh thần “7 dám” soi rọi vào từng cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao, chúng ta càng thấy rõ, nếu thiếu hoặc coi nhẹ các tiêu chí đó, cán bộ không những không hoàn thành nhiệm vụ mà còn dễ sa vào chủ nghĩa cá nhân, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Chẳng hạn, khi đơn vị có hiện tượng tiêu cực, vi phạm kỷ luật nghiêm trọng nhưng cán bộ báo cáo không trung thực, tìm cách bao biện, che giấu khuyết điểm... thì đó là thiếu tinh thần “dám nghĩ”, “dám làm”, “dám chịu trách nhiệm”...

Cán bộ thấy đồng chí của mình sai nhưng im lặng, né tránh, làm ngơ... thì đó là biểu hiện không “dám nói”, không “dám hành động vì lợi ích chung”. Che giấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích để được khen thưởng, thực dụng, chỉ lo vun vén cho quyền lợi cá nhân, luồn lách tìm cơ hội thăng tiến thì đó là những biểu hiện coi nhẹ đổi mới sáng tạo, không “dám đương đầu với khó khăn, thử thách”...

Các tiêu chí, nội hàm của cán bộ “7 dám” có mối quan hệ biện chứng, bổ trợ, tác động qua lại lẫn nhau. Thiếu đi một “dám” sẽ tác động, ảnh hưởng đến những phẩm chất còn lại. Thiếu càng nhiều “dám” hoặc làm sai lệch nội hàm, bản chất của những tiêu chí đó đều là những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, là một bước ngắn dẫn đến tiêu cực, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Trong bối cảnh toàn quân ta đang nỗ lực tập trung triển khai, thực hiện các mục tiêu, nội dung, giải pháp đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, việc bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ theo tinh thần “7 dám” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, tổ chức đảng các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đang đẩy mạnh thực hiện đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thực chất các chương trình, kế hoạch xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Kiên quyết phòng, chống chủ nghĩa cá nhân theo các nghị quyết, chỉ thị, kết luận... của Đảng và Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương. Với phương châm kết hợp chặt chẽ “xây” và “chống”, “lấy xây để chống” theo quan điểm của Đảng; cấp ủy, tổ chức đảng các cơ quan, đơn vị cần bổ sung vào nghị quyết lãnh đạo, chương trình hành động, tổ chức học tập, quán triệt đầy đủ, sâu sắc tinh thần “7 dám”.

Cần coi đây là một trong những căn cứ quan trọng để thực hiện thường xuyên phê bình, tự phê bình. Mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người chỉ huy, bí thư, cấp ủy các cấp cần nêu gương, nghiêm túc đánh giá bản thân trên cương vị, chức trách được giao xem mình được mấy “dám”? Những cái “dám” nào mình còn thiếu, hoặc lâu nay vì nhiều lý do, chưa thực sự coi trọng thì có kế hoạch khắc phục, rèn luyện, phấn đấu. Soi xem mình được mấy “dám” sẽ có căn cứ để đánh giá bản thân có hay không thái độ bàng quan, cầu an, “mũ ni che tai”, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai né tránh đấu tranh, nói xấu, tìm kẽ hở của đồng chí, đồng đội để xoi mói, nịnh bợ, tâng công, cầu vinh, vụ lợi... Soi xem, nếu thấy những thứ ấy đang đè nặng hoặc lởn vởn trong tư duy, nếp nghĩ của mình thì hãy tự sửa, tự gột rửa.

Quân đội ta mạnh ở tính đoàn kết, thống nhất, tự giác, nghiêm minh. Bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ theo tinh thần “7 dám” không chỉ là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong một thời điểm mà cần lấy đó làm “cẩm nang” thường xuyên, gắn kết với các hình thức, phương thức giáo dục khác để đẩy mạnh tự giáo dục, tự tu dưỡng, tự rèn luyện. Chỉ khi cán bộ thực sự “dám” đối diện với những thói hư, tật xấu, khuyết điểm... của bản thân thì mới có động lực để “dám” cống hiến, hy sinh vì tập thể, vì đơn vị, vì sự nghiệp xây dựng Quân đội. Đó cũng là cách để ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện tiêu cực, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Quân đội.

 

Sự phi lý của luận điệu “Không thể có độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam”

Chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế là chính sách nhất quán trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Những thành tựu to lớn trong hội nhập quốc tế nói riêng, trong công cuộc đổi mới của Việt Nam nói chung chính là những luận cứ xác đáng, hữu hiệu để bác bỏ luận điệu “Không thể có độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam”.

Sự phi lý của một luận điệu

Độc lập, tự chủ là ý chí sắt đá được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, trở thành giá trị cốt lõi thiêng liêng trong truyền thống quý báu của dân tộc ta. Chính vì thế, độc lập, tự chủ là vấn đề mang tính nguyên tắc, nhất quán trong hệ thống các quan điểm của Đảng ta, có tầm quan trọng đặc biệt và có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Trong điều kiện của thế giới hiện nay, Đảng ta đã xác định hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế là phương châm chỉ đạo và tổ chức thực hiện; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế với giữ vững độc lập, tự chủ đất nước là một trong những mối quan hệ quan trọng đặc biệt cần giải quyết trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, với bản chất thâm độc, các thế lực thù địch cho rằng, chính sách đối ngoại giữ vững độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế của Đảng Cộng sản Việt Nam là hão huyền, phi thực tế. Chúng cho rằng "không thể có độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế được"; "đã độc lập, tự chủ thì không thể hội nhập quốc tế và ngược lại, đã hội nhập quốc tế thì không thể có độc lập, tự chủ". Đồng thời, chúng còn cho rằng thể chế chính trị của Việt Nam là khác biệt, không phù hợp với chuẩn mực chung của quốc tế, với một đảng duy nhất cầm quyền càng không thể hội nhập quốc tế.

Toàn cầu hóa là tất yếu khách quan kéo theo quá trình cả thế giới theo dòng thời cuộc hội nhập quốc tế. Đó cũng là quá trình nước nào cũng phải tìm mọi cách thức để tự bảo vệ mình. Vậy nên hội nhập quốc tế là xu thế khách quan thì việc mỗi nước phải giữ được tố chất của mình cũng là một nhu cầu và nhiệm vụ tất yếu. Nhưng nếu xem xét một cách sâu xa hơn thì có thể thấy ngay được luận điệu “Không thể có độc lập tự chủ trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam” thực chất là sự hằn học của thế lực thù địch. Chúng ta có đủ luận cứ về lý luận và chứng cứ về thực tiễn để bác bỏ hoàn toàn luận điệu phi lý này.

Sự phi lý của luận điệu “Không thể có độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam”
 Ảnh minh họa: tapchicongsan

Hiệu quả hội nhập quốc tế hiện diện trên mọi mặt đời sống xã hội

Sau hơn 30 năm thực hiện “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, từ nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn, Đảng ta đã xác nhận nhiều mối quan hệ đan xen nhau rất phức tạp đòi hỏi phải xử lý đúng đắn, hiệu quả, trong đó có mối quan hệ “giữa độc lập tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế”.

Trong Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, Đảng ta đã chỉ rõ mục tiêu của hội nhập quốc tế là: “Củng cố môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa các điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quảng bá hình ảnh Việt Nam, bảo toàn và phát huy bản sắc dân tộc, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước; góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.

Quan điểm và chủ trương của Đảng nêu bật việc chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sẽ tạo ra cơ hội, tiền đề để giữ độc lập, tự chủ trên mọi mặt đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, văn hóa, đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Quán triệt và xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế trong công tác đối ngoại, những năm qua, chúng ta đã thu được những thành quả khả quan.

Trong lĩnh vực chính trị. Chúng ta đã đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thực chất: Chủ động tham gia phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN và Liên hợp quốc. Hội nhập quốc tế về chính trị được thực hiện tương đối nhanh, sâu rộng và thực chất cả trong kênh song phương và đa phương. Hội nhập song phương tạo tiền đề để Việt Nam phát huy vai trò trên diễn đàn đa phương, qua đó tạo thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng hơn.

Hội nhập khu vực và hội nhập toàn cầu đã góp phần cải thiện đáng kể tiềm lực trong nước, nâng cao vị thế địa chiến lược của Việt Nam tại khu vực Đông Nam Á, Đông Á, châu Á-Thái Bình Dương và trên phạm vi toàn cầu. Từ một quốc gia hội nhập sau, Việt Nam đã trở thành nhân tố tích cực tham gia tiến trình hội nhập khu vực, chủ động đề xuất những sáng kiến, thúc đẩy các liên kết. Việt Nam cũng tích cực hội nhập sâu rộng vào trật tự kinh tế, chính trị toàn cầu, trở thành thành viên có trách nhiệm và uy tín trên cộng đồng quốc tế.

Trong lĩnh vực kinh tế. Chúng ta đã xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư quốc tế, mở rộng thị trường, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học-công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến; khai thác hiệu quả các thỏa thuận được ký kết, đặc biệt là các khu vực mậu dịch tự do song phương và đa phương.

Theo Tổng cục Thống kê, tính đến năm 2022, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt 732,5 tỷ USD, xuất siêu 11,2 tỷ USD. Đầu tư vào Việt Nam đã đăng ký hơn 400 tỷ USD, năm 2022 đạt 22,4 tỷ USD, tăng 13,5% so với năm trước. Việt Nam được xếp vào nhóm 15 quốc gia thu hút FDI hàng đầu thế giới. Hiện nay cộng đồng tài trợ quốc tế hoạt động thường xuyên ở nước ta đã lên tới hơn 50 nhà tài trợ, bao gồm 28 nhà tài trợ song phương và hơn 20 nhà tài trợ đa phương.

Ngoài ra, nước ta còn nhận được vốn ODA từ hơn 600 tổ chức phi chính phủ quốc tế. Thành công của hội nhập kinh tế quốc tế góp phần tăng cường nguồn lực, tạo điều kiện vật chất-kỹ thuật thuận lợi cho việc bảo vệ độc lập, tự chủ của đất nước, tạo nền tảng để hội nhập về chính trị và hội nhập các lĩnh vực khác. Kinh tế đất nước phát triển, sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên là nhân tố quan trọng để giữ vững độc lập, tự chủ của đất nước.

Trong lĩnh vực văn hóa-xã hội. Đến nay, Việt Nam đã ký hơn 100 thỏa thuận, điều ước quốc tế song phương có nội dung văn hóa. Hội nhập văn hóa xã hội đi vào chiều sâu đã thu hút bạn bè quốc tế đến với Việt Nam ngày càng nhiều hơn.

Từ thành công của hội nhập trong lĩnh vực này đưa tới việc hình thành nhiều dự án, nhiều công trình văn hóa ngay tại Việt Nam với quy mô ngày càng được mở rộng, tạo điều kiện để nhân dân ta có cơ hội tiếp cận và thưởng thức những giá trị văn hóa tiêu biểu của nhiều quốc gia trên thế giới, từ đó thúc đẩy tiềm năng sáng tạo của nhân dân và khuyến khích giao lưu với cộng đồng quốc tế. Nguồn lực và động lực về văn hóa-xã hội được tăng cường sẽ là yếu tố quan trọng để chúng ta giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, để ánh sáng văn hóa Việt Nam là ngôi sao lấp lánh trên bầu trời văn hóa các dân tộc trên thế giới.

Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Hội nhập trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh là một trong những nhiệm vụ quan trọng để phục vụ và hỗ trợ cho chính sách chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện của Đảng và Nhà nước ta, vừa phục vụ cho sự nghiệp phát triển của đất nước, vừa bảo vệ độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia trong bối cảnh môi trường quốc phòng, an ninh trên thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp. Việt Nam đã từng bước mở rộng hợp tác quốc phòng, an ninh với các nước lớn và các nước trong khu vực, đã có quan hệ quốc phòng chính thức với gần 70 nước, đặt văn phòng tùy viên quân sự tại hơn 30 nước và có hơn 40 nước có văn phòng tùy viên quân sự tại Việt Nam. Việt Nam cũng đã tham gia tích cực vào các diễn đàn an ninh, quốc phòng khu vực và từng bước tham gia vào những hoạt động hợp tác quốc tế về an ninh, quân sự toàn cầu.

Tiếp tục kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

Tình hình thế giới ngày càng có những biến động phức tạp, nhanh chóng, khó lường, trong khi hội nhập là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh dẫn tới những thách thức to lớn trong quá trình bảo vệ độc lập, tự chủ, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc. Trước những vấn đề mới đặt ra, Đảng ta đã xác định rõ những nguyên tắc, phương châm, mục tiêu, nhiệm vụ và phương hướng lớn cho quá trình hội nhập quốc tế.

Để bảo vệ, giữ vững độc lập, tự chủ trong quá trình hội nhập quốc tế, trước hết cần xác định rõ và luôn kiên định lợi ích quốc gia là mục tiêu cao nhất trong quá trình hội nhập quốc tế. Tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia về chính trị-đối ngoại, kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc phòng, an ninh. Nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia là yếu tố quyết định thành công của quá trình hội nhập quốc tế.

Đó là sức mạnh được tạo nên từ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, của khối đoàn kết toàn dân tộc và của văn hóa, con người Việt Nam; sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc.

Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, cần chủ động phát hiện, ngăn chặn “từ sớm, từ xa” các nguy cơ đối với đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước. Phòng, chống một cách chủ động mọi âm mưu, hoạt động lợi dụng hội nhập quốc tế để chuyển hóa nội bộ; phát hiện ngăn chặn kịp thời các đối tác nước ngoài lợi dụng các kẽ hở về luật pháp và sơ hở, yếu kém của ta để gây sức ép, trốn thuế, thao túng thị trường trong nước; đấu tranh với các loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia như rửa tiền, buôn lậu, sản xuất và tiêu dùng hàng giả, gian lận thương mại, tín dụng đen, tội phạm sử dụng công nghệ cao.

Tăng cường quản lý hoạt động trên mạng xã hội và internet, có biện pháp ngăn chặn các thế lực thù địch xâm nhập vào những mạng nội bộ gây thiệt hại về kinh tế, phá hoại tư tưởng. Ngăn chặn việc nhập các ấn phẩm văn hóa độc hại từ bên ngoài để bảo đảm an ninh văn hóa.

Cùng với đó, cần nâng cao năng lực dự báo tình hình quốc tế, khu vực phục vụ đắc lực yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế. Đổi mới tư duy, nghiên cứu có chiều sâu, nhạy bén bám sát tình hình để có những dự báo xác đáng. Tập trung nghiên cứu những biến động mới của tình hình thế giới, khu vực, những điều chỉnh chiến lược và chính sách của các nước lớn, những mối quan hệ giữa các nước lớn. Nghiên cứu đánh giá và xác định đúng đắn quan hệ đối tác, đối tượng trong từng tình huống cụ thể để có những ứng phó phù hợp, hiệu quả.

Giải pháp có ý nghĩa căn cơ là tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị-xã hội và phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ trong quá trình hội nhập quốc tế. Đảng ta đã xác định nâng cao bản lĩnh chính trị và trí tuệ của Đảng, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênintư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng và phát triển sáng tạo trong thực tiễn hoạt động của Đảng.

Có thể khẳng định rằng, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế là chính sách nhất quán trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, nhằm góp phần hiện thực hóa phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trong những năm đổi mới vừa qua, chúng ta đã thể hiện nhất quán và từng bước cụ thể hóa nội dung của chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế cho từng giai đoạn, phù hợp với bối cảnh tình hình thế giới và khu vực. Những thành tựu to lớn trong hội nhập quốc tế nói riêng, trong công cuộc đổi mới của Việt Nam nói chung chính là những luận cứ, bằng chứng xác đáng nhất để bác bỏ những luận điệu sai trái, thù địch về vấn đề này.

 Sáng 12/9, Học viện Quốc phòng long trọng tổ chức Lễ Khai giảng năm học 2023 - 2024.

Đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân; Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh dự, chủ trì Lễ Khai giảng.

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng phát biểu Khai giảng năm học 2023 – 2024 tại Học viện Quốc phòng

Cùng dự Lễ Khai giảng có các đại biểu: Đại tướng, Tiến sĩ Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng;

Đồng chí Lê Khánh Hải, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước;

Đồng chí Hoàng Đăng Quang, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương;

Đồng chí PGS, TS Hoàng Minh Sơn, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT;

Đồng chí Trung tướng Nguyễn Trọng Bình, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam;

Đồng chí PGS, TS Vũ Thanh Sơn, Cục trưởng Cục Đào tạo bồi dưỡng cán bộ, Ban Tổ chức Trung ương.

Về phía Học viện Quốc phòng có các đồng chí: Thượng tướng, PGS.TS Trần Việt Khoa, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Giám đốc Học viện.

Thượng tướng Lương Đình Hồng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Học viện cùng các đồng chí trong Thường vụ Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện.

Tham dự Lễ Khai giảng năm học 2023 – 2024 còn có đông đủ cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ Học viện Quốc phòng.

Thượng tướng, PGS.TS Trần Việt Khoa, Ủy viên BCHTW Đảng, Ủy viên QUTW, Giám đốc Học viện trình bày diễn văn khai giảng

Năm học 2023 – 2024, Học viện Quốc phòng được giao mở 15 lớp cho 10 đối tượng đào tạo; trong diễn văn khai giảng, Thượng tướng, PGS.TS Trần Việt Khoa, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Giám đốc Học viện Quốc phòng nêu rõ: “Mỗi khóa học có chương trình, nội dung, yêu cầu khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, tham mưu cấp chiến dịch – chiến lược, cán bộ nghiên cứu khoa học quân sự có thế giới quan, phương pháp luận khoa học, nắm vững những kiến thức cơ bản về khoa học xã hội nhân văn quân sự; đường lối chính trị, quốc phòng, an ninh; nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở đó nâng cao bản lĩnh chính trị, tuyệt đối trung thành với mục tiêu lý tưởng của Đảng, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; quán triệt sâu sắc quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng vào lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi chức trách được phân công; có khả năng phân tích, nhận định, đánh giá tình hình; góp phần tham gia hoạch định những vấn đề chiến lược trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, quân sự và hợp tác quốc tế”.

Để góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học, đồng chí Giám đốc Học viện yêu cầu đẩy nhanh tiến độ xây dựng hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành, tổ chức huấn luyện – đào tạo, nghiên cứu khoa học, xây dựng Học viện vững mạnh toàn diện, chính quy, tiên tiến, mẫu mực tiêu biểu, ngang tầm khu vực và quốc tế. Đối với mỗi đồng chí học viên, cần xác định rõ mục tiêu, yêu cầu của khóa học, nhận rõ niềm vinh dự, tự hào và trách nhiệm khi được tham gia học tập, nghiên cứu, rèn luyện tại Học viện Quốc phòng, từ đó cùng nhau xây dựng môi trường học tập thân thiện, hiện đại, nhân văn; chủ động, tích cực, khắc phục khó khăn, tận dụng thời gian, phát huy tính sáng tạo trong học tập, nâng cao kiến thức, năng lực, bản lĩnh chính trị; tự học tập, nghiên cứu, rèn luyện, hoàn thành tốt nội dung, chương trình của từng môn học, khóa học.

Đại biểu dự Lễ Khai giảng

Phát biểu tại Lễ Khai giảng, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đánh giá cao, biểu dương những nỗ lực phấn đấu không ngừng và nhiệt liệt chúc mừng những thành tích xuất sắc của Học viện Quốc phòng trong thời gian qua. Đồng thời, đồng chí cũng yêu cầu Học viện cần tiếp tục chủ động, tích cực, sáng tạo đi đầu trong thực hiện chủ trương chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị mà Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo. Phát huy thành tích trong những năm qua, tiếp tục đổi mới có tính đột phá về chương trình, nội dung giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học phù hợp với chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, nâng cao chất lượng, hiệu qủa công tác huấn luyện – đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Chú trọng đổi mới công tác huấn luyện đào tạo, nhất là đổi mới chương trình đào tạo cán bộ chiến dịch – chiến lược của Quân đội, bồi dưỡng kiến thức QPAN cho cán bộ diện Trung ương quản lý bảo đảm sát nhiệm vụ QPAN của đất nước, sự phát triển của Quân đội, phù hợp với đối tượng tác chiến và phương thức chiến tranh trên thế giới hiện nay. Học viện Quốc phòng phải là đầu tàu về đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo góp phần tích cực vào xây dựng đội ngũ cán bộ của Quân đội, cán bộ cấp chiến lược của Đảng, Nhà nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.  

Chủ tịch nước và các đại biểu tham quan Thư viện Học viện Quốc phòng

Phát huy truyền thống Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ đổi mới và những thành tích đã đạt được trong những năm qua cùng với quyết tâm chính trị cao, sự đoàn kết, thống nhất và nỗ lực phấn đấu không ngừng của đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ toàn Học viện, chúng ta tin tưởng năm học 2023 - 2024 sẽ gặt hái được nhiều thành công.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 17 THÁNG 9 NĂM 1945!

         “Chúng ta không sợ có khuyết điểm, chúng ta chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi, chúng ta phải lấy lòng “chí công vô tư”!
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà”, đề ngày 17 tháng 9 năm 1945, viết tại Hà Nội, Người lấy danh nghĩa của một đồng chí già, mục đích là để san sẻ ít kinh nghiệm với các đồng chí quê mình. Thư gồm 4 mục nhỏ, đánh số rõ ràng nhằm chuyển tải 4 nội dung:
- Một là, ý nghĩa rất to lớn của cuộc cách mạng dân tộc;
- Hai là, lý giải vì sao cuộc cách mạng thắng lợi;
- Ba là, sự nghiệp kiến thiết xây dựng xã hội mới sau khi giành chính quyền;
- Phần thứ tư, dài nhất, đậm nhất cuối thư, Người nêu những khó khăn cần giải quyết, phải vừa làm vừa học, cái chính là theo cho đúng chính sách của Chính phủ ban hành.
Chính sách của Chính phủ ngay sau giành chính quyền, theo Người rút lại chỉ trong có 2 chuyện: Củng cố đoàn kết và sửa chữa khuyết điểm. Sức mạnh đoàn kết dân tộc, ai cũng rõ rồi, nhưng nêu rõ ra và yêu cầu sửa chữa những khuyết điểm trên nhiều phương diện chủ yếu của cán bộ, đảng viên lúc bấy giờ thì không phải ai cũng quán triệt. Những khuyết điểm đó, cụ thể ra là thói bao biện, hẹp hòi; lạm dụng hình phạt; kỷ luật không nghiêm; một số việc làm xấu xa như lên mặt làm quan cách mạng, độc đoán, dùng phép công để báo thù tư… Tất cả khiến dân chúng hoang mang, nền đoàn kết bị lung lay, uy tín của Chính phủ và đoàn thể bị ảnh hưởng xấu. Giành được chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn nhiều - nhận thức sâu sắc quy luật này, Bác kêu gọi đồng chí, đồng bào ở tỉnh nhà phải lập tức sửa đổi ngay.
Thông điệp trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà” đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị lịch sử của một giai đoạn hào hùng và ý nghĩa thời sự đối với việc tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của cán bộ, đảng viên các cấp trong thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ 4 khóa XII của Đảng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo, rèn luyện, thấu triệt lời dạy của Bác và được cụ thể hóa trong mọi mặt công tác, đặc biệt là trong chiến đấu. Sau mỗi trận đánh, mỗi nhiệm vụ, cấp ủy, chỉ huy các cấp đều lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức rút kinh nghiệm nghiêm túc, đã có nhiều Hội nghị chỉnh huấn cấp toàn quân. Thông qua việc mở rộng dân chủ, đề cao trách nhiệm trong tự phê bình và phê bình đã làm rõ nguyên nhân, rút ra những kinh nghiệm quý để Quân đội ta càng đánh, càng mạnh, càng đánh, càng thắng, lập nên những chiến công vẻ vang, tô thắm truyền thống “quyết chiến, quyết thắng” và phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” xứng đáng với sự tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân./.
Môi trường ST.

CÁN BỘ CẦN “BIẾT LÃNH ĐẠO” ĐỂ LÀM “ĐẦY TỚ” NHÂN DÂN!

     Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền… Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Ý nghĩa sâu xa của lời căn dặn đó chính là, để hoàn thành sứ mệnh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng con người, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải “biết lãnh đạo” để đi tới mục tiêu cao cả đó, để xứng đáng là “Người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Người đã chỉ dẫn: “muốn cho mọi người làm tròn nhiệm vụ, cán bộ Đảng và chính quyền cần biết lãnh đạo”. Theo Hồ Chí Minh, các cán bộ biết lãnh đạo tức là họ phải đáp ứng được một số yêu cầu cơ bản sau:
Thứ nhất, cán bộ cần phải nắm vững mục đích (mục tiêu) và phương thức (phương pháp) trong lãnh đạo. Đây là vấn đề đặc biệt cần thiết đối với mỗi cán bộ trong lãnh đạo, bởi mục tiêu và phương pháp là các vấn đề cơ bản của lãnh đạo. Không nắm vững lý luận khoa học sẽ không thể đề ra được phương pháp lãnh đạo khoa học và hiệu quả. Ngược lại, không có phương pháp đúng sẽ không đạt được mục tiêu trong lãnh đạo. Lâu nay, trong lãnh đạo, nhiều cán bộ đã chỉ chú ý đề ra các mục tiêu (nói thì “nhiều” “hay”), mà không quan tâm đến đề ra các phương pháp thực hiện (làm thì “ít”, “dở”). Thực tế nhiều năm qua cho thấy, cán bộ ta còn nhiều khuyết điểm trong lãnh đạo, nhưng không muốn sửa chữa, không dám nhận trách nhiệm, là do họ đã không biết lãnh đạo. Cán bộ biết lãnh đạo rất cần phải nói ít, làm nhiều, tức cần phải nắm vững, đề ra các mục tiêu, phương pháp đúng đắn, hiệu quả trong lãnh đạo.

Thứ hai, cán bộ cần phải nắm vững “dân là chủ” (dân chủ) và “dân làm chủ” (thực hành dân chủ) trong lãnh đạo. Đây là phương châm rất quan trọng đối với mỗi cán bộ trong lãnh đạo, bởi dân là chủ (với ý nghĩa là mục tiêu) và dân làm chủ (với ý nghĩa là phương pháp) là các vấn đề cơ bản nhất trong lãnh đạo để xây dựng một xã hội dân chủ như Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp năm 2013 đã nêu rõ. Không xây dựng được các mục tiêu dân chủ sẽ không đề ra được các phương pháp dân chủ. Ngược lại, không thực hiện các phương pháp dân chủ sẽ không đạt được các mục tiêu dân chủ. Lãnh đạo dân chủ tức là cán bộ phải kết hợp giữa đạo đức và pháp luật, đặc biệt coi trọng tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục, biến quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước thành hành động tự giác của nhân dân. Ví như đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân cần phải được hiểu là chống lại các quan điểm có đặc tính cá nhân vị kỷ (vụ lợi), các hành vi có biểu hiện đặc điểm cá nhân ích kỷ (tư lợi), chứ không phải chống lại các quan điểm, hành vi vì quyền lợi chính đáng, có quan điểm nhân văn của cá nhân. Hồ Chí Minh phân tích rằng: “Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu”.

Thứ ba, cán bộ cần phải biết đi đầu, gương mẫu (tiên phong) trong lãnh đạo. Theo Hồ Chí Minh: “Lãnh đạo được hay không, là do đặc tính cách mạng, chứ không phải do số người nhiều ít của giai cấp”. Nghĩa là, hoạt động lãnh đạo là không phụ thuộc vào nhiều người hay ít người lãnh đạo, mà phụ thuộc vào tính gương mẫu (chất lượng) của các cán bộ lãnh đạo. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “nói giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo, thì cụ thể là phải gương mẫu trong sản xuất, gương mẫu trong đời sống”. Một người lãnh đạo mà không gương mẫu, không tiên phong về tư tưởng, đạo đức, lối sống thì người đó không biết lãnh đạo. Những người có tư tưởng, quan điểm “bảo thủ”, “kiêu ngạo”, “lệch lạc”, những người có hành vi “giả dối”, thiếu trung thực, thiếu trách nhiệm, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, đều là những người không biết lãnh đạo.

Thứ tư, cán bộ cần phải có tinh thần trách nhiệm trong lãnh đạo. Mỗi cán bộ cần phải nhận thức đúng đắn cách làm việc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong nguyên tắc tập trung dân chủ. Hồ Chí Minh cho rằng, lãnh đạo theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thì tập thể lãnh đạo (cơ quan lãnh đạo) là muốn nói tới các đại hội Đảng, Quốc hội, Hội đồng nhân dân; còn cá nhân phụ trách hay cá nhân lãnh đạo (người lãnh đạo) là muốn nói tới các thành viên, ủy viên trong các cơ quan Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp. Tập thể hay cá nhân lãnh đạo đều phải tuân thủ nguyên tắc: “quyền hạn gắn với trách nhiệm” trước Tổ quốc và nhân dân. Tinh thần trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong lãnh đạo cần phải gắn chặt với ba nội dung cơ bản: nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng và làm tròn nhiệm vụ. Trong ba nội dung này thì việc nắm vững chính sách được coi như nắm vững phương pháp lãnh đạo dân chủ; việc làm đúng đường lối quần chúng được coi như việc xác định rõ mục tiêu lãnh đạo dân chủ; còn làm tròn nhiệm vụ được coi như vừa xác định rõ mục tiêu (tiêu chí) lãnh đạo dân chủ, vừa đề ra phương pháp (phương thức) lãnh đạo dân chủ của tập thể, mỗi cán bộ. Quyền hạn cần phải gắn với trách nhiệm; cương vị lãnh đạo càng cao thì trách nhiệm trước Tổ quốc, nhân dân càng nặng nề. Cán bộ cần phải nhận thức rõ rằng, làm lãnh đạo là để “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”, chứ không phải để “làm quan phát tài”.

Thứ năm, cán bộ cần phải có nghệ thuật lãnh đạo. Cán bộ phải biết lãnh đạo một cách mềm dẻo, linh hoạt, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Phương pháp lãnh đạo này đối lập với phương pháp lãnh đạo theo kiểu “mệnh lệnh” trong thời kỳ nền kinh tế chỉ huy, bao cấp, hoặc trong chiến tranh. Theo Người, lãnh đạo theo phương pháp mệnh lệnh, là “làm việc theo cách quan liêu”, tức sử dụng quyền lực “cứng”, khó thuyết phục đối tượng lãnh đạo, mặc dù cán bộ vẫn có thể “làm tròn nhiệm vụ”, nhưng nhìn về tổng thể, thực chất thì lại thất bại. “Làm theo cách quan liêu đó, thì dân oán. Dân oán, dù tạm thời nay có chút thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất bại”. Nếu cán bộ sử dụng phương pháp lãnh đạo khéo léo sẽ mang lại nhiều hiệu quả, mang tính “hai chiều”, tức có tính phản biện. Hồ Chí Minh coi phương pháp lãnh đạo khéo léo tương tự như “làm việc theo cách dân chủ”, sử dụng quyền lực “mềm”. Người nói: “Khi tuyên truyền chính sách của Đảng, cán bộ phải dùng cách thuyết phục chứ không được dùng mệnh lệnh”. Một tập thể lãnh đạo khéo thể hiện ở sự sáng suốt, tôn trọng các quan điểm, chính kiến khác nhau nhằm tạo sự đồng thuận, đoàn kết. Cá nhân lãnh đạo khéo thể hiện ở việc khéo tổ chức, khéo thuyết phục, khéo sử dụng cán bộ, khéo kiểm tra, kiểm soát trong thực hiện các công việc. Khéo lãnh đạo là đối lập với “thủ đoạn chính trị”.

Việc giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện để cán bộ biết lãnh đạo theo tư tưởng Hồ Chí Minh chính là cách thiết thực để góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu cao cả “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” ở Việt Nam./.
Theo Tạp chí Xây dựng Đảng.
Môi trường ST.

ÔNG CHA TA ĐÁNH GIẶC: ĐẠI TƯỚNG VĂN TIẾN DŨNG VÀ TRẬN ĐÁNH NỞ HOA TRONG LÒNG ĐỊCH!

         Trận đánh nở hoa trong lòng địch do Đại tướng Văn Tiến Dũng chỉ đạo ở thị xã Thái Bình (nay là TP Thái Bình) là trận chia lửa với Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, buộc Đại tướng Na-va, Tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương phải điều quân ở Lào và quân tiếp tế cho Điện Biên Phủ về giữ các thành phố, tỉnh lỵ ở duyên hải và đồng bằng Bắc bộ.
Đại tướng Văn Tiến Dũng, gương mặt chữ điền, trông thật hiền. Nếu ông không mang hàm đại tướng thì hẳn chẳng ai nghĩ ông là nhà chỉ huy quân sự tài giỏi. Tính ông điềm đạm, ít nói. Các cấp chỉ huy trực tiếp dưới quyền ông, chưa thấy ông nổi nóng bao giờ. Hồi ông còn sống, khi tôi nhắc đến trận đánh mà ông gọi là xa xưa, ông cười tủm tỉm bảo:

- Thái Bình cũng như các thành phố, thị xã duyên hải ở đồng bằng Bắc bộ. Đánh vào không khó lắm. Nhưng rút lui làm sao cho an toàn lực lượng mới là khó. Vô cùng khó. Chỉ sai một ly, đi một dặm. Tuy địch ở chỗ mình tiến công đã bị tiêu diệt, nhưng lực lượng xung quanh hãy còn đông. Nó như cái ao bèo tấm. Nơi mình vừa tiêu diệt lực lượng địch thì bị khuyết, bị giãn ra. Nhưng chỉ sau ít phút, bèo ở xung quanh sẽ lập tức dồn vào, khỏa lấp. Do vậy lực lượng ta thoát chỗ nào đi đâu, đi hướng nào cũng chạm địch. Quân địch rất đông còn quân ta rất mỏng. Lực lượng không cân sức. Đánh trực diện, đánh công khai là dễ bị chúng tiêu diệt lắm.

Đại tướng đã có mấy năm làm sư ông trụ trì từ một ngôi chùa dưới huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông cũ để hoạt động cách mạng, bắt rễ với các tổ chức Đảng, do vậy khi vào thị xã Thái Bình tổ trinh sát của ông đã đóng giả sư thầy. Phải chọn được đường vào và đường ra thuận tiện nhất. Phải đánh dấu kỹ từng đoạn đường để anh em khỏi lạc, nhất là lúc rút ra. Phải nắm thật chắc lực lượng địch, người và phương tiện chiến tranh. Tóm lại là phải chuẩn bị kỹ lưỡng trước trận đánh và sau trận đánh.

Được cơ sở cho biết vợ tên tỉnh trưởng rất mộ đạo, rằm tháng Giêng thường đi lễ chùa cầu cho chồng qua hạn sao Kế Đô. Đồng chí Thịnh, dáng người nhỏ bé, gương mặt như con gái, chả có râu ria, học được thuật tướng số, đóng giả sư thầy. Dĩ nhiên đầu cũng cạo trọc. Sư Thịnh lân la đến gần dinh tỉnh trưởng. Đúng lúc vợ tên tỉnh trưởng đi lễ về. Chị ta vừa bước xuống nhà sư vờ đi qua. Chị ta chắp tay mô Phật. Nhà chùa đáp lễ. Rồi bảo:

- Ông nhà sắp có hạn nặng đấy.

Người vợ tỉnh trưởng hốt hoảng hỏi:

- Bạch thầy giải hạn ở đâu ạ?

- Tín chủ ở đâu cúng ở đó.

- Ở trong dinh tỉnh trưởng ạ.

- Thì cúng ở dinh.

Sư thầy đưa một số sư vãi đến cúng. Họ là bộ đội chủ lực thuộc đại đoàn Đồng Bằng và dân quân, du kích của cơ sở vào dinh tỉnh trưởng cúng giải hạn. Do đó họ đã trinh sát rõ đường đi lối lại trong dinh, phòng ở, phòng ngủ của tỉnh trưởng, các vọng gác. Tiếng tăm họ đồn sang chi khu quân sự. Họ cũng được mời sang làm lễ hộ.

Trở lại chuyện Đại đoàn Đồng Bằng. Trinh sát kỹ. Nắm lực lượng chắc. Đánh nhất định thắng. Nhưng rút ra như thế nào cho an toàn. Đó là bài toán không đơn giản đối với Đại đoàn trưởng Văn Tiến Dũng. Rút tại chỗ không an toàn. Lấy đâu ra hầm hào giấu hết hàng đại đội, tiểu đoàn quân. Địch càn quét sẽ lộ ra. Tỏa ra hai bên bờ sông Thái Bình cũng không an toàn. Thể nào địch cũng nghi và lùng sục. Chỉ còn cách rút ra cửa sông rồi tản vào bãi sú, bãi mía ven biển. Làm thế nào rút ra cửa sông vẫn an toàn lực lượng?

Đại đoàn trưởng Văn Tiến Dũng cho bộ đội bí mật thu gom những cây chuối ở hai bên bờ sông Thái Bình. Thời ấy, bèo tây còn trôi đầy mặt sông từng đám. Cây chuối ghép thành từng mảng. Mảng trên chồng lên mảng dưới. Có bè đến ba mảng chồng lên nhau. Ở khe mỗi cây chuối giáp nhau là bèo tây. Phải ghép khéo để cánh bèo không bị nát, rễ bèo thò hết xuống nước, mới không bị héo. Nhìn mảng chuối chỉ thấy những bèo là bèo. Ai cũng nghĩ đó là mảng bèo chứ không phải là cây chuối. Mỗi mảng có bao nhiêu người thì làm bấy nhiêu lỗ thông hơi. Để chắc chắn, Đại đoàn trưởng cho bộ đội ném lựu đạn, bắn các loại đạn vào mảng chuỗi hai tầng xem sức công phá của chúng đến đâu, bèo tây bị nát có lộ mảng chuối không? Và rốt cuộc bộ đội có an toàn không?

Mọi việc chuẩn bị cho trận đánh thật chu đáo. Đánh chắc. Thắng chắc. Rút quân an toàn.

Đùng giờ G. Đại đoàn trưởng hạ lệnh tiến công. Địch quá bất ngờ. Dinh tỉnh trưởng và chi khu đều nhanh chóng bị xóa sổ.

Khi quân ta rút lui an toàn xuống dưới các bè mảng bèo tây, địch mới hoàn hồn. Chúng điều động các đơn vị ở lân cận lùng sục hai bên bờ sông, vãi đạn vào các đám bèo tây và không bỏ sót một nhà nào trong thị xã. Chúng nghi nhà nào cũng có một vài căn hầm ẩn nấp của quân đội Việt Minh nên mới có khả năng “xuất quỷ nhập thần” như vậy.

Trong khi đó, những đám bèo tây vẫn lững lờ cuốn theo dòng nước về hạ nguồn. Tàu chiến địch đỗ ngoài cửa biển chiếu đèn pha sáng rực nhìn rõ từng cánh hoa bèo. Đèn sáng đến mấy cũng không thể nhìn rõ mảng chuối. Dù cánh bèo dập nát mà vẫn che kín mảng. Càng ra tới cửa biển, càng gần tàu địch, càng vào quá tầm bắn của địch ở trên tàu. Chúng cũng không dám thả lựu đạn, sợ tàu bị dính mảng mất an toàn.

Đêm cuối tháng. Trời tối đen. Đèn pha địch dù sáng đến mấy vẫn chỉ có thể chiếu được một phía lên thượng nguồn. Còn ba phía vẫn chìm trong bóng tối. Bộ đội thận trọng và lặng lẽ tản vào bãi sú và bò vào bãi mía rút dần về cơ sở an toàn tuyệt đối./.
Theo Báo QĐND.
Yêu nước ST.

 

Đâu phải hứa suông!

       Mấy hôm nay dư luận lại nóng lên câu chuyện tiền lương cho giáo viên. Họ nói là đã từ lâu rồi, không ít giáo viên trông chờ vào lời hứa tăng lương. Vậy mà kết quả là nhiều giáo viên không còn niềm tin vào những lời hứa nữa, đành phải xin nghỉ việc, tìm nghề khác có thể sống được bằng lương.

Cuối tuần, nhóm bạn hưu trí đàm đạo ở nhà ông Bình.

- Bây giờ người ta toàn hứa lấy lệ thôi các ông ạ. Hứa để cho người khác tin, rồi làm hay không cũng không ai biết, không ai hay. Thế có phải là “mị dân” không? - Ông Bình lên tiếng.

Ông Trung ngạc nhiên:

- Có chuyện gì mà ông nói sâu xa thế?

- Thì ông xem, mấy hôm nay dư luận lại nóng lên câu chuyện tiền lương cho giáo viên. Họ nói là đã từ lâu rồi, không ít giáo viên trông chờ vào lời hứa tăng lương. Vậy mà kết quả là nhiều giáo viên không còn niềm tin vào những lời hứa nữa, đành phải xin nghỉ việc, tìm nghề khác có thể sống được bằng lương.

- Vậy là “hứa suông”, “hứa cho có” à? Mà trên mạng xã hội còn có mấy diễn đàn đang bàn luận sôi nổi, thậm chí kêu gọi tập hợp ý kiến, nguyện vọng của giáo viên.

Ông Trung vừa nói vừa đưa điện thoại cho mọi người xem. Trên một số trang Facebook đăng tải thư ngỏ, thư hiến kế của một số giáo viên, hoặc những video clip thể hiện ý kiến về chuyện lương và phụ cấp, rồi so sánh chất lượng sống của giáo viên ở nước ta với nước này, nước kia...

Lúc này, ông Kiên là giáo viên nghỉ hưu mới lên tiếng:

- Các ông nói như vậy là hoàn toàn sai rồi. Tôi cũng đồng ý với hai ông là việc hứa mà không thực hiện thì không tốt. Nhưng nói đi thì cũng phải nghĩ lại cho thấu đáo. Ngành giáo dục có số lượng công chức, viên chức rất lớn. Chỉ một điều chỉnh nhỏ về bảng lương của giáo viên cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc bảo đảm của ngân sách. Mà tăng lương cho giáo viên đòi hỏi sự chuẩn bị, thảo luận kỹ của Quốc hội, Chính phủ. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng chỉ chuẩn bị các phương án, đề xuất, kiến nghị chứ không tự quyết được.

Thấy mọi người có vẻ trầm ngâm, ông Kiên tiếp lời:

- Các ông nói là nhiều người đứng đầu ngành khi nhậm chức hứa theo kiểu “mị dân”, “gieo niềm tin” là nói theo các trang mạng phản động, xuyên tạc. Các ông xem những ý kiến trang đó đăng tải là của giáo viên ở trường nào, hay của những kẻ tự xưng, những người bất mãn. Sao các ông không nhớ đến những ý kiến tâm huyết, mang tính xây dựng như tại cuộc gặp mặt trực tuyến giữa Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo với đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý, nhân viên ngành giáo dục mới đây? Đó sẽ là cơ sở để giải bài toán khó này. Khi “tư lệnh ngành” trăn trở, Chính phủ đang tìm cách tháo gỡ khó khăn, các ông không ủng hộ thì thôi, lại nghe lời xuyên tạc, rồi suy diễn, phát ngôn như vậy là vô tình tiếp tay cho các thế lực thù địch chống phá.

Nghe đến đấy, ông Trung gật gù đồng tình, còn ông Bình thì chân thành:

- Chúng tôi hiểu bản chất vấn đề rồi. Cũng mong sao không chỉ người đứng đầu mà ai cũng “nói lời phải giữ lấy lời” để không bị các phần tử phản động, bất mãn lợi dụng chống phá!

Thứ Bảy, 16 tháng 9, 2023

ĐIỀU TRA XỬ LÝ MAU MAU.


Rà soát chung cư mini.
Tiếp theo rồi sẽ làm gì nữa đây.
Quá tầng có phá đi ngay?
Thiếu phòng cháy, đến ngày nào sẽ xong?

Nói ra thật quả dài dòng
Nghiêm khâu cấp phép là xong việc này
Thanh tra, quản lý nhẹ tay
Phong bì một chút dày dày lại thôi.

Cháy nhà mặt chuột rụng rơi
Còn dân thì cứ tự bơi với đời
8B Lê Trực một thời.
Xây xong, phá dỡ, di dời, tốn công.

Ăn như hổ, nói như rồng
Còn nhiều sai phạm dân mong tỏ tường
Xử lý nghiêm để làm gương
Chủ nhà đã bắt, còn quận, phường đâu?

Điều tra, xử lý mau mau
Để cho nguôi bớt nỗi đau dân tình.
Gửi nguyện cầu các vong linh.
Sớm siêu thoát, độ chúng sinh an lành.

Adidaphat 🙏🙏🙏



TỪ TRƯƠNG VĨNH KÝ ĐẾN NGÔ BẢO CHÂU NHÂN DÂN VIỆT NAM CHẲNG ĐƯỢC HƯỞNG LỢI GÌ NGOÀI HƯ DANH HÃO

     Tuy rằng được báo chí và giới học giả Việt Nam tung hô hết mực hết lời, nhưng thực tế là không có bao nhiêu người Việt Nam biết Trương Vĩnh Ký và Ngô Bảo Châu là ai. Thậm chí, hỏi chính Ngô Bảo Châu rằng Trương Vĩnh Ký là ai thì ông ta cũng có thể không hề biết. Với những người không quan tâm đến lịch sử thì rõ ràng Trương Vĩnh Ký là cái tên vô danh và còn không nổi tiếng bằng Ngô Bảo Châu, và dĩ nhiên, chả có mấy người biết ông ta là Ai? Ở đâu? Sống trong giai đoạn lịch sử nào? Đã đóng góp được gì cho đất nước, cho dân tộc?

Những ngày qua, trên khắp các mặt báo, giới báo chí và giới học giả Việt Nam đang hết lời ca ngợi, tung hô Trương Vĩnh Ký như là một con người siêu phàm, một nhân cách vĩ đại, một nhà văn hóa lớn. Họ dùng các cụm từ hết sức mỹ miều để tô son điểm phấn, đánh bóng tên tuổi cho ông ta như: "Người thầy, nhà văn hóa lớn của dân tộc".

Nhưng thật trớ trêu thay, sự thật nghiệt ngã là trong bia miệng dân gian hàng trăm năm qua và trong sử sách được lưu truyền cho đến ngày nay thì người ta chỉ biết đến Trương Vĩnh Ký là một kẻ phản nước hại dân, tội đồ dân tộc, kẻ đã ôm chân thực dân Pháp mà bán rẻ dân tộc mình. Những thứ của Trương Vĩnh Ký mà giới báo chí và giới học giả Việt Nam đang đánh giá cực kỳ cao và hết lời ca ngợi, tung hô như các tác phẩm báo chí, các tác phẩm văn hóa để đời, khả năng thông thạo 27 thứ ngôn ngữ, có công rất lớn, là người đầu tiên đưa chữ quốc ngữ lên mặt báo Việt, v.v... là những thứ mà nhân dân Việt Nam chưa bao giờ được thừa hưởng bất kỳ thứ lợi lạc, lợi ích gì từ điều đó.

Trương Vĩnh Ký dù có thông thạo 27 thứ ngôn ngữ (không ai chứng minh được), hay thông thạo đến ba vạn chín nghìn thứ ngôn ngữ thì cuộc đời và sự nghiệp của Trương Vĩnh Ký cũng chỉ là để phục vụ cho lợi ích của thực dân Pháp khi đô hộ, xâm lược Việt Nam, song song với sự nghiệp "vinh thân phì gia" của ông ta mà thôi, nhân dân Việt Nam không được thừa hưởng bất cứ thứ lợi lạc, lợi ích gì từ ông ta.

Đối với các tác phẩm văn hóa của Trương Vĩnh Ký cũng vậy, nhân dân Việt Nam không hề được thừa hưởng bất cứ thứ lợi ích, lợi lạc gì từ tư tưởng và thành quả văn hóa đó.Việc này cũng giống như Việt Nam ngày nay, tuy có hàng vạn GS, PGS, TS, PTS nhưng phần lớn trong số họ không mang được bất cứ thứ lợi lộc gì cho đất nước, cho dân tộc mà thực chất những học hàm học vị đó của họ chỉ để phục vụ cho lợi ích cá nhân về vị trí, chỗ ngồi và bổng lộc của họ mà thôi.Đó là chưa kể trong số này có không ít những kẻ còn đang tâm phản nước hại dân, đục khoét quốc gia, bán danh theo giặc như Nguyễn Quang A, Chu Hảo, cùng 72 kẻ trí thức cấp tiến phản đảng đòi bỏ điều 4 Hiến pháp Nước CHXHCN VN, v.v...

Quay trở lại với Ngô Bảo Châu. Điểm chung giữa Ngô Bảo Châu và Trương Vĩnh Ký: dù là người có tài năng xuất chúng nhưng những tài năng đó lại là để phục vụ cho nước Pháp, cho ngoại bang chứ không phục vụ cho Tổ quốc VN và dân tộc VN. Tài năng nhưng thất đức.Vậy thì mớ lý thuyết đó, thứ tài năng đó có tác dụng gì đối với dân tộc VN?

Không có tác dụng gì cả. Nhân dân VN không cần thứ hư danh xa rời thực tiễn đời sống ấy của họ nên chẳng cần phải biết họ là ai.

Tóm lại, qua tất cả những hiện tượng đã và đang diễn ra những ngày qua, chúng ta chợt nhận ra rằng: giới trí thức, giới học giả, giới báo chí, thậm chí cả giới chính trị gia VN ngày nay, có vẻ như họ đang tư duy bằng một thứ tư duy hỗn độn, đảo điên theo chủ nghĩa siêu hình, ảo tưởng, xa rời thực tiễn đời sống.

Từ Trương Vĩnh Ký cho tới Ngô Bảo Châu, đây chính là những thảm họa của đất nước, của dân tộc chứ không phải là niềm tự hào./.

Yêu nước ST.

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: VẤN ĐỀ XÃ HỘI HÓA, THƯƠNG MẠI HÓA SGK VÀ RỒI HỌ TIẾP TỤC NHỮNG CHIÊU TRÒ "HỌC SINH TÚY"?

PHẢI CHĂNG ĐÂY LÀ NHỮNG SỰ XUỐNG CẤP TRẦM TRỌNG ĐÃ ẢNH HƯỞNG XÔ LỆCH, LÀM GIẢM CHẤT LƯỢNG, PHÁT SINH SỰ YẾU KÉM TIÊU CỰC NHIỀU HƠN TRONG "SỰ NGHIỆP TRỒNG NGƯỜI"!
GD xuống cấp đến mức"người trong cuộc"lại phá những nguyên tắc, phương thức sư phạm, đào tạo dành cho học sinh. "Giáo viên không nên kiểm tra bài cũ theo hình thức gọi tên bất chợt vào đầu giờ, khiến học sinh mang tâm lý sợ sệt, nặng nề khi đến lớp", ông Quốc nói.

Những thế hệ muôn thuở "Không thầy đố mày làm nên" liệu học hành sẽ ra sao? Các em sẽ sinh tâm lý chểnh mảng, lười nhác và nguy cơ tồn tại rất nhiều lỗ hổng kiến thức. Phương thức kiểm tra đầu giờ của thầy cô (có thể đặt câu hỏi để đánh giá học sinh trong những thời điểm khác), nó vốn là những phương pháp rất khoa học thực tiễn và nhất quyết trong phương pháp sư phạm dành cho người thầy, không thể bị đánh giá thấp, nhằm quản lý và nâng cao ý thức, khả năng hấp thụ kiến thức của sự học vấn. 

Chán ngấy, không nói thì ai cũng hiểu, chả buồn phải phân tích dài dòng về phương thức kiểm tra ngẫu nhiên khá nhẹ nhàng này, vì nó rất ưu điểm và khoa học nhằm định hình "một kỷ cương, đạo đức học tập"; sự thấu đáo trong đánh giá theo dõi kịp thời việc học, khả năng tiếp thu, ý thức học sinh để người thầy, cô từ đó có thể thực hiện nhiệm vụ tốt hơn, sâu sát và gần gũi học trò hơn trong việc tạo gửi niềm tin và vun vén truyền thụ những hạt ngọc quý giá tri thức. /.

Môi trường ST.