Thứ Ba, 19 tháng 9, 2023

  NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO, ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI

 

Trong khi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại tìm cách đưa ra những luận điệu sai trái, ngụy tạo để xuyên tạc, kích động chống phá.

 

Số tổ chức, đối tượng phản động, cơ hội chính trị đã tự gán cái mác “học giả”, “nhà phản biện” hay nhân danh “những người Việt Nam yêu nước”, “bảo vệ chủ quyền biển, đảo” để đả phá, cho rằng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về biển, đảo hiện nay đã lỗi thời, không còn phù hợp, từ đó đả kích rằng Việt Nam nếu tiếp tục giữ lập trường như hiện nay “sẽ không giữ được chủ quyền biển, đảo”!

 

Các thủ đoạn lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo để chống phá

 

Những năm qua, tại Biển Đông xảy ra một số vụ việc phức tạp, có lúc diễn biến căng thẳng, trong đó có các hành động gây hấn, xâm phạm chủ quyền biển đảo như: Vụ việc tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011 và 2012; vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông năm 2014; sự kiện tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc khảo sát trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam Biển Đông của Việt Nam (từ ngày 4/7/2019 đến ngày 24/10/2019); các hoạt động tập trận trên Biển Đông tại một số thời điểm…

 

Những sự việc này được các tổ chức, đối tượng phản động triệt để khai thác, nhào nặn, biến tấu thành những luận điệu xảo trá, vu cáo như “Việt Nam nhu nhược, hèn nhát”, “chính quyền Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”… Không những thế, các thế lực xấu còn vẽ ra “thuyết âm mưu” khi cho rằng Việt Nam cần phải liên minh quân sự với những nước lớn có thực lực kinh tế, quốc phòng - an ninh mạnh thì mới đủ sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia.

 

Đặc biệt, thông qua chiến lược xoay trục, đổi chiều sang châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ, việc Mỹ tăng cường hợp tác với các nước trong khối ASEAN, trong đó có Việt Nam, nhằm nâng tầm ảnh hưởng đối với khu vực Biển Đông cũng như duy trì thế cân bằng quyền lực của Mỹ tại vùng biển này… cũng trở thành chủ đề mà các thế lực thù địch vin vào để đả phá, công kích.

 

Nhiều bài viết phê phán rằng, Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự trói mình” vì tiềm lực kinh tế, quốc phòng - an ninh Việt Nam hiện nay là quá yếu, không thể ba không, bốn không mà xoay xở được; từ đó họ vẽ ra một viễn cảnh cần phải liên minh với Mỹ thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc…

 

Các tổ chức, đối tượng phản động lợi dụng những diễn biến phức tạp tại Biển Đông cũng như đường lối đối ngoại, hướng giải quyết các vụ việc của Việt Nam để tìm cách chế nhạo, tái diễn nhiều chiêu trò, luận điệu xuyên tạc, suy diễn, xem đó là “ngòi nổ” để phá hoại sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Đồng thời đưa ra các bài viết lấy danh nghĩa “phân tích khoa học” để nhằm kích động việc “chọn phe” trong các quan hệ đối ngoại của Việt Nam, cổ súy tư tưởng bài trừ nước này, theo nước kia; cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước cần phải vì phe này, phe kia để chủ quyền biển, đảo không bị xâm lấn…

 

Một số bài viết lợi dụng vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo để quy kết rằng, khi đất nước chỉ có một đảng thì không đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ đó hướng lái tư tưởng đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

 

Mặt khác, qua thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng, Nhà nước, trong đó có việc hỗ trợ ngư dân bám biển, nâng cao chất lượng cuộc sống nhưng bằng lối tư duy thù địch, chống phá, số đối tượng phản động lại đưa ra những lời lẽ hết sức vô lý, cho rằng “chỉ có ngư dân bảo vệ biển, không thấy chính quyền đâu”; vu cáo chính quyền “chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế, không lo bảo vệ biển, đảo, không lo cho dân”.

 

Họ vin vào tình hình ngư dân Việt Nam đánh bắt hải sản ở vùng biển của quốc gia khác, bị lực lượng bảo vệ pháp luật của các nước bắt giữ, xử lý để gieo rắc luận điệu “ngư dân bị bỏ rơi”! Một số bài viết lợi dụng tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển diễn biến phức tạp; việc các tàu công vụ của nước ngoài tiếp tục có hành vi xua đuổi, khống chế, thu giữ hải sản và ngư cụ của các tàu cá Việt Nam đang hoạt động bình thường ở ngoài khơi Biển Đông để đưa ra đánh giá phiến diện “lực lượng chuyên tránh thực thi pháp luật trên biển làm ngơ, không hoàn thành nhiệm vụ”.

 

Các đối tượng còn tiến hành phỏng vấn số chống đối, bất mãn gắn với cái mác là các “chuyên gia”, “nhà hoạch định” để đưa ra những so sánh khập khiễng, đánh giá sai lệch về năng lực, khả năng bảo vệ chủ quyền biển đảo của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, kích động việc “sử dụng vũ lực” của lực lượng vũ trang trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo; họ cho rằng trước những hành động gây hấn, xâm chiếm biển, đảo Tổ quốc, nếu không nổ súng là “nhu nhược, hèn nhát”!

 

Nguy hiểm hơn, các thế lực bên ngoài chỉ đạo, hỗ trợ kinh phí hoạt động; các đối tượng trong nước tích cực tập hợp lực lượng, thu thập tin tức để cung cấp cho bên ngoài tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc về tình hình Biển Đông và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

 

Lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo, các đối tượng chống phá thông qua các tài khoản mạng xã hội để đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc chống phá từ bên ngoài, tạo dựng lực lượng chống đối từ bên trong theo kiểu “nội công, ngoại kích” hòng gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta.

 

Nhận thức rõ về đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam

 

Biển, đảo là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cấu thành chủ quyền quốc gia, cửa ngõ giao lưu quốc tế, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Bảo vệ biển, đảo chính là bảo vệ một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc, giữ vững chủ quyền biển, đảo sẽ góp phần giữ vững chủ quyền của đất nước. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam là điều kiện, nội dung giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.

 

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”.

 

Đây là quan điểm, chủ trương thể hiện định hướng chiến lược để toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ vững chắc vùng biển, đảo của Tổ quốc. Chúng ta xác định, giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề lâu dài, do đó cần kiên trì hợp tác tìm kiếm biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, bảo vệ lợi ích chính đáng của Việt Nam, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các nước trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế.

 

Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, đó là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao...

 

Điều này đã được nêu rõ trong các nghị quyết của Đảng và được chứng minh qua việc giải quyết vấn đề Biển Đông của Việt Nam, với tinh thần thượng tôn pháp luật, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); kiềm chế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC).

 

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động, tích cực giải quyết từng bước những tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên quan nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hoà bình, an ninh khu vực, đồng thời tăng cường thế và lực của đất nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam đã ký nhiều văn bản với các nước liên quan đến biển, đảo.

 

Bên cạnh đó, Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên biển phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, phục vụ nhiệm vụ tập trung phát triển kinh tế, thúc đẩy quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, nâng tầm vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

 

Chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược.

 

Chúng ta không đi với nước này để chống lại nước kia; không thụ động chịu tác động hay sự lôi kéo của bất cứ nước lớn nào, nhất là tránh việc trở thành con bài trong tay các nước lớn. Chúng ta thực hiện đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển.

 

Do đó, cần nhận diện, đấu tranh với những chiêu trò suy diễn, phê phán đường lối đối ngoại, đường lối bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc, đòi hỏi phải “chọn phe” để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế.

 

Chúng ta quán triệt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong giải quyết vấn đề biển, đảo, trong đó chủ quyền biển, đảo là bất biến, sách lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo thì mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, sự biến động phức tạp của tình hình…

 

Những quan điểm trên chính là căn cứ chính trị, pháp lý quan trọng để chúng ta cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Mục đích của việc đấu tranh này là làm cho nhân dân Việt Nam hiểu rõ về lập trường, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề chủ quyền biển, đảo; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay; góp phần làm cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

 

 ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG TIK TOK CHO BỘ ĐỘI

Vấn nạn Tik Tok trong lực lượng vũ trang tới bây giờ là không mới. Hiện nay có rất nhiều người lan truyền hình ảnh kỉ luật trong Quân đội được đăng tải lên mạng xã hội Tik Tok những ý kiến bàn bạc đánh giá từ người dân ngoài quân đội. Và cũng có người gửi cho admin xem những video đó.

Việc quân nhân đăng tải những hình ảnh, cuộc sống, sinh hoạt trong quân đội quá nhiều rất nguy hiểm cho công tác huấn luyện. Trên thực tiễn cho thấy, trong các hoạt động quân sự của Ukraine và Nga đang diễn ra có rất nhiều trường hợp, quân đội Ukraine đăng video lên Tik Tok. Kết quả cuối cùng thì chúng ta cũng đã biết, báo chí cũng đã đăng tin rất nhiều.

Còn vấn đề kỉ luật trong quân đội, có câu "kỉ luật chính là sức mạnh của quân đội" quân đội là lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền biên giới. Nếu nhưng không áp dụng kỉ luật thì sẽ ra sao?. Khi chiến tranh xảy ra quân nhân không có tính kỉ luật, không được rèn rủa tôi luyện thì sẽ như thế nào? Đã là quân nhân chúng ta phải tuân thủ. Không riêng gì các tổ chức lực lượng vũ trang, trong các cơ quan đoàn thể, công ty, xí nghiệp công dân, người lao động khi tham gia sinh hoạt, học tập, lao động cũng cần tuân thủ tốt các quy định, nội quy mà cơ quan, doanh nghiệp đoàn thể đưa ra. Khi vi phạm sẽ bị xử phạt bằng nhiều hình thức cảnh cáo, biên bản, sa thải.... Đó là điều hiển nhiên không cần bàn cãi.

Việc sử dụng mạng xã hội như thế nào cho đúng, an toàn mới là vấn đề chúng ta cần phải xem xét trong thời đại công nghệ 4.0 này.

 

 HẾT LÒNG PHỤNG SỰ TỔ QUỐC, PHỤC VỤ NHÂN DÂN

Một trong những đặc trưng cơ bản về phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được nêu trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương là: “Có đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống trung thực, khiêm tốn, giản dị, chân thành, lạc quan; nói đi đôi với làm, luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân; không thỏa mãn với thành tích, không chùn bước trước khó khăn, hiểm nguy”.

Qua gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, phẩm chất cao đẹp ấy vẫn luôn được các cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta gìn giữ, phát huy, dù thời chiến hay thời bình.

Những người con của nhân dân mang sứ mệnh màu xanh áo lính đã đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người, cần mẫn hướng dẫn nhân dân phòng, chống dịch; đi chợ; thu hoạch nông sản; phục vụ trong khu cách ly; canh gác các chốt kiểm dịch; cứu chữa người bệnh; chăm sóc em bé mồ côi; mai táng đồng bào tử vong do dịch bệnh bằng tất cả tấm lòng và trái tim chan chứa tình người. Kể sao hết được những người cha, người mẹ suốt mấy tháng trời chỉ nghe thấy tiếng, chỉ nhìn thấy mặt con yêu thương qua điện thoại; không ít cán bộ, chiến sĩ đã không thể về đưa tiễn người thân đến nơi an nghỉ cuối cùng. Họ cũng sẵn sàng hoãn cưới vợ, cưới chồng, cưới con; không thể ở nhà lúc vợ trở dạ, sinh con... để hoàn thành mọi trọng trách mà nhân dân giao phó.

Đó chính là sự ghi nhận xứng đáng, sự đánh giá khách quan của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đúng với bản chất, truyền thống của Quân đội ta.

Trải qua các cuộc kháng chiến, nhiều người con đã hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; đã dũng cảm chiến đấu, xả thân, sẵn sàng “vì nhân dân quên mình”. Tiếp nối trách nhiệm, nghĩa vụ cao cả ấy, trong thời bình, Bộ đội Cụ Hồ đang ngày đêm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ vùng biển, vùng trời, vùng đất thiêng liêng của Tổ quốc, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo... và làm nghĩa vụ quốc tế. Quán triệt tinh thần Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương, mỗi cán bộ, chiến sĩ đã và đang tiếp tục phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, để trong gian khó, nguy nan, quân đội tiếp tục là chỗ dựa tin cậy của nhân dân, góp phần tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới./.

#Đỗ Hữu Tú ST

 

 

 

 

Thích

Bình luận

Chia sẻ



LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 20 THÁNG 9 NĂM 1951!

         “Cán bộ cần hoan nghênh ý kiến và những lời phê bình của dân, để sửa chữa sai lầm”!
Là lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong thư thăm hỏi các đại biểu và tất cả các cán bộ và nhân viên mậu dịch, Người viết ngày 20 tháng 9 năm 1951.
Đây là thời điểm nền kinh tế nước ta gặp rất nhiều khó khăn do chiến tranh kéo dài, hàng hoá, nhu yếu phẩm rất khan hiếm và được phân phối cho cán bộ và nhân dân theo chế độ tem phiếu thông qua hệ thống các cửa hàng mậu dịch Nhà nước. Do vậy, đã nẩy sinh rất nhiều bất cập, khó khăn cho cả phía cán bộ, nhân viên mậu dịch và nhân dân. Để khắc phục những hạn chế, yếu kém trên Bác Hồ đã gửi thư và căn dặn cán bộ, nhân viên ngành mậu dịch, theo Bác việc tự phê bình và tiếp thu phê bình đối với người cán bộ, đảng viên như việc rửa mặt hằng ngày. Cấp trên phê bình, chưa đủ. Đồng chí, đồng sự phê bình, chưa đủ. Phải hoan nghênh quần chúng phê bình nữa, thì sự phê bình mới hoàn toàn. Bởi lẽ, nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ là bản chất của Đảng và Nhà nước ta, cùng cơ chế: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” luôn được quan tâm xây dựng, bổ sung, hoàn thiện. Nhân dân cũng là lực lượng đông đảo, rộng khắp, họ thấy rõ, thấy đầy đủ những thiếu sót cần phải phê bình, góp ý cụ thể cho cán bộ, đảng viên. 
Trong cuộc đấu tranh chống các nguy cơ đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của đất nước hiện nay, một vũ khí không thể thiếu đó là công luận và tiếng nói của nhân dân. Học tập và làm theo Bác, những năm qua, Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội đã tạo môi trường, có các chủ trương, chính sách, cơ chế, pháp luật để nhân dân tham gia giám sát, phê bình cán bộ, đảng viên. Những ý kiến đóng góp của nhân dân đối với tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ “có chức, có quyền” là kênh thông tin quan trọng để họ vươn lên tự hoàn thiện bản thân, có trách nhiệm với công việc, là cơ sở đề ra chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật đúng đắn với lợi ích của đất nước và phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của nhân dân.
Thấu triệt lời Bác Hồ dạy, cấp uỷ, chỉ huy các cấp trong Quân đội luôn đề cao và duy trì nền nếp, không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên. Định kỳ sáu tháng, một năm, tổ chức đảng tổ chức để mỗi cán bộ, đảng viên trên cương vị, chức trách nhiệm vụ được giao thực hiện việc tự phê bình trước chi bộ, lấy ý kiến phê bình của các tổ chức quần chúng trong đơn vị; ý kiến nhận xét của cấp uỷ, chi bộ nơi cư trú theo đúng Quy định 76-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa VIII về việc đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với chi ủy, đảng ủy cơ sở và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú. Nội dung phê bình toàn diện trên các mặt tư tưởng chính trị, việc chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước; việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực; giữ gìn đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân và các quy định của địa phương, nơi cư trú. Tôn trọng ý kiến đóng góp của quần chúng, cán bộ, đảng viên phải nghiêm túc tiếp thu, nhận khuyết điểm, định rõ thời gian, biện pháp khắc phục sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao./.
Môi trường ST.

CÔNG AN HÀ NỘI QUYÊN GÓP 500 TRIỆU ĐỒNG ỦNG HỘ NẠN NHÂN VỤ CHÁY CHUNG CƯ MINI

 Sáng 18/9, tại trụ sở chính của Công an Thành phố Hà Nội và các đơn vị thuộc Công an Thành phố đã tổ chức lễ tưởng niệm các nạn nhân tử vong trong vụ cháy xảy ra ngày 12/9 tại phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội.

Sau phút tưởng niệm, thay mặt Ban Giám đốc và cán bộ chiến sỹ, Trung tướng Nguyễn Hải Trung - Giám đốc Công an Thành phố đã bày tỏ sự cảm thông sâu sắc, chia sẻ những đau thương, tổn thất và gửi lời chia buồn đến các gia đình người bị nạn. Giám đốc Công an Thành phố cho biết, trong những ngày qua, lực lượng Công an Thành phố đang tích cực điều tra, làm rõ nguyên nhân vụ cháy, cứu chữa người bị thương, đồng thời phối hợp với các ban ngành đoàn thể, kịp thời để giúp gia đình người bị nạn sớm vượt qua nỗi đau, ổn định tình hình, bảo đảm cuộc sống.
Cũng trong buổi lễ, với mong muốn giúp các gia đình nạn nhân vơi bớt khó khăn, đồng thời thể hiện nét đẹp văn hóa, tinh thần tương thân, tương ái, nhân văn, nghĩa tình, chung tay cùng cộng đồng của lực lượng Công an Thủ đô, Giám đốc Công an Thành phố đã phát động toàn thể cán bộ chiến sỹ trong Công an Thành phố quyên góp ủng hộ gia đình các nạn nhân tổng số tiền 500 triệu đồng./.
St

TRẢ LẠI TÊN CHO DI TÍCH

 Di tích được người ta gọi là "BIA QUỐC HỌC" thực ra là "ĐÀI CHIẾN SỸ VONG TRẬN" - Công trình này được Tòa Khâm sứ Pháp ở Trung Kỳ cho xây dựng vào năm 1920 để tưởng niệm những binh sỹ người Pháp và người Việt đã chiến đấu cho nước Pháp và tử trận trong Thế chiến thứ nhất (1914-1918).

Điều duy nhất có liên quan đến "Quốc học" là công trình này nằm ở phía đối diện Trường Quốc học Huế. Dân gian gọi nôm na, vắn tắt cho dễ nhớ đã đành, các cơ quan nhà nước, báo chí truyền thông cũng gọi là "Bia Quốc học" là sai hoàn toàn và không thể chấp nhận được. Dùng cách gọi như vậy người ta sẽ đánh giá đó là sự cẩu thả, tắc trách, thiếu kiến thức lịch sử... Thậm chí có thể gây bức xúc dư luận, nhiều người cho đây là sự "đánh tráo khái niệm". Chính vì vậy, cần trả lại đúng tên cho di tích này là: "ĐÀI CHIẾN SỸ VONG TRẬN".
Trên tinh thần tôn trọng lịch sử, công trình này là một di tích, có ý nghĩa nhân văn nhất định. TUY NHIÊN, để lấy đó làm điều tự hào, cần tôn vinh, quảng bá... thì cá nhân tôi thấy là không nên. Một trong vô vàn tội ác mà thực dân Pháp gây ra cho dân tộc ta là việc chúng bắt lính người Việt, gửi sang "làm bia đỡ đạn" tại chiến trường châu Âu trong thế chiến I - Tội ác này ngàn đời chúng ta không được phép lãng quên! Thiết nghĩ, Ban Tổ chức Chương trình "Đường lên đỉnh Olympia" và cơ quan chức năng của TT-Huế nên nghiên cứu, xem xét, lắng nghe dư luận để có sự điều chỉnh địa điểm tổ chức cầu truyền hình cho phù hợp./.
St

CHÍNH NGHĨA VÀ PHI NGHĨA

 Trong “Bình Ngô đại cáo”, Nguyễn Trãi đã viết,

Đem đại nghĩa thắng hung tàn
Lấy trí nhân thay cường bạo.
các quốc gia khác thế nào thì không biết, chứ ở nước Việt ta thì lão biết. Tất cả các cuộc xâm lăng vào nước ta đều đến từ những quốc gia có binh hùng tướng mạnh. Đương nhiên là thế, không ai lại đem một đội quân ốm yếu, nghèo nàn về trang bị mà đi xâm chiếm nước khác. Ấy thế mà, tất cả đều bại trận phải rúut quân về nước. Tướng bại trận phải chui vào ống đồng để lính khiêng về mới thoát chết như tên Thoát Hoan, quân thì đu càng máy bay mà chạy như cái thứ lính Việt Nam cộng hòa.
Đó là mệnh trời. Chính nghĩa là làm theo mệnh trời sẽ được trời phù hộ. Phi nghĩa là làm trái ý trời thì trời phạt. Chí lí lắm thay! Thực tế lắm thay!
Vào những năm 70 của thế kỷ trước, chúng ta phải đem quân đi chinh phạt kẻ phản loạn mang tên Khmer đỏ. Chẳng những chúng đem quân tàn sát đồng bào ta ở biên giới tây nam, chúng còn đối xử tàn bạo với chính nhân dân của chúng. Đó là chúng ta đã “đem đại nghĩa thắng hung tàn”.
Trường hợp của nước Nga ngày cũng như thế. Nếu không có các cuộc tàn sát 14 ngàn người gốc Nga ở miền đông, đặc biệt là vụ phóng hỏa trụ sở Công đoàn ở Odessa ngày 2/5/2014 đã thiêu chết 116 người, do chính quyền Kiev thực hiện, đó là một phần của cuộc cách mạng Maidan do Mỹ chỉ đạo và tổ chức thực hiện ở Ukraine (trực tiếp là bà Victoria Nuland, hiện giữ chức trợ lý ngoại giao Mỹ). Tiếp đó, chính quyền Ukraine đã xóa bỏ mọi thành quả của chế độ Xô Viết, cho phục hồi chủ nghĩa phát-xít. Đau nhất là kẻ thực hiện việc phục hồi chủ nghĩa phát-xít lại chính là người xuất thân từ dân tộc Do Thái đã một thời bị Đức quốc xã tàn sát hòng xóa bỏ dân tộc này trên trái đất. Hành động của chính quyền Kiev đúng là hung tàn mà người Nga phải dùng đại nghĩa để đánh bại chúng.
Rồi đây thế giới cũng phải thừa nhận, cuộc chiến mà Nga tiến hành ở Ukraine hiện nay là một hành động chính nghĩa. Cứ suy từ cuộc chiến mà Việt Nam đánh quâ Khmer đỏ cũng vậy. Chính chúng ta đã từng bị một số nước lên án là kẻ xâm lược, kể cả tổ chức Liên hợp quốc; rồi chúng ta cũng bị bao vây cấm vận, nhưng rồi sao? Nhân dân Campuchia đã ghi công cho quân đội nhân dân Việt Nam bằng một câu không gì đặc biệt hơn – “đội quân nhà Phật”.
Nước Pháp biến 14 quốc gia châu Phi thành thuộc địa kiểu mới, đó là một hành động phi nghĩa. Mặc dù hiện nay vị trí của nước Pháp vẫn còn ở đó bởi họ giàu, họ mạnh, song đã bắt đầu lung lay. Chấn động đang mạnh dần lên như những trận động đất, đế khi nó đạt đến đỉnh điểm thì chế độ thực dân mới mà Pháp (kể cả Anh và Mỹ) đang áp đặt ở đó sẽ bị sụp đổ.
Vì vậy, lão tin tưởng rằng, những quốc gia luôn hành động chính nghĩa, bao giờ cũng là người chiến thắng./.
St

CÂU CHUYỆN KỶ LUẬT: "OAI" THẾ LÀ SAI RỒI

 - Thấy Tâm về đến cổng, anh Hùng, chỉ huy trưởng đơn vị gọi ngay vào phòng. Vừa bước vào, giọng Tâm phấn khởi:

- Báo cáo chỉ huy trưởng, nhiệm vụ anh giao em đã hoàn thành!
- Không chỉ hoàn thành nhiệm vụ chỉ huy giao, cậu còn lập được thêm “thành tích lẫy lừng” nữa phải không?
- Dạ, có thành tích gì đâu ạ? À, thế là anh đã biết vụ em ra tay dạy cho mấy cậu nhóc mới lớn ở ngoài thị trấn một bài học rồi ạ?
Trước vẻ mặt hào hứng như muốn khoe “thành tích” của Tâm, anh Hùng nghiêm giọng:
- Chắc cậu vẫn chưa nhận thức được hành động sai lầm của mình đúng không? Bây giờ, cậu tường thuật lại câu chuyện sáng nay cho tôi nghe cụ thể từng chi tiết, nhất là diễn biến trong quán cà phê ở trung tâm thị trấn.
Nghe anh Hùng nói, Tâm hơi ngớ người một chút, rồi thành thật:
- Báo cáo anh, sáng nay, sau khi thực hiện xong nhiệm vụ, thấy còn sớm nên em có vào quán cà phê ở thị trấn ngồi uống nước. Lúc thanh toán tiền ra về thì thấy ở bàn bên có 3 cậu choai choai đang có hành vi khiếm nhã, trêu chọc thái quá một bạn nữ. "Nóng mắt" quá, em liền chạy sang, giật mạnh tay một cậu, rồi sau đó tiện tay tát trượt cậu bên cạnh một cái cảnh cáo. Thấy em ra đòn mau lẹ, dứt khoát và quát lên rất to, họ sợ và bỏ chạy hết. Chuyện chỉ có vậy thôi ạ.
Sau khi nghe Tâm kể xong, anh Hùng ôn tồn bảo:
- Cậu có tính nghĩa hiệp thế là tốt. Nhưng nên nhớ, mình là sĩ quan Quân đội, phải thân thiện, khéo léo, chuẩn mực khi quan hệ với nhân dân, tránh mọi xung đột xảy ra. Hôm nay, cậu đang mặc quân phục mà lại vào hàng quán trong giờ làm việc, không phải trong lúc cần thiết là đã vi phạm quy định của đơn vị. Hơn nữa, những thanh niên kia mới chỉ trêu đùa cô gái quá trớn, chưa phải tình huống nguy hiểm, cấp bách, cậu chưa nhắc nhở gì mà đã nhảy vào định đánh họ là sai. Nếu chẳng may gây thương tích, cậu còn bị xử lý hình sự đấy.
- Tại lúc đó em “nóng mắt” quá ạ! Với lại, em đang mặc quân phục nên nghĩ mình phải ra “oai” một chút cho đúng với hình ảnh bộ đội.
- Cậu ra “oai” kiểu đó là sai rồi! Nếu thấy hành động của họ thiếu chuẩn mực, xâm phạm thân thể người khác, cậu có thể can ngăn, nhắc nhở, phân tích cho họ hiểu chứ không được động tay, động chân như vậy. Cậu biết không, cậu thanh niên bị giật tay quá đà chính là con của ông Khang, trưởng bản đấy. Ông ấy vừa gọi điện thoại cho tôi, giọng rất bức xúc. Ông ấy đang đòi đưa người đến đơn vị để gặp cậu, làm rõ trắng đen đây này. Mà cũng may cho cậu là sau sự việc, cậu đi khỏi chỗ ấy ngay, chứ đám thanh niên đã gọi người quay lại để đánh cậu đấy.
Nghe chỉ huy nói, mặt Tâm ngây ra. Lúc này, Tâm mới nhận thức được sự nóng vội, thiếu bình tĩnh và khôn khéo trong xử lý tình huống của mình. Lát sau, Tâm mới định thần: “Tôi xin lỗi các đồng chí chỉ huy đơn vị và sẽ nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm sau vụ việc này. Đúng là tôi suy nghĩ đơn giản quá. Ngay bây giờ, tôi xin phép thủ trưởng cho tôi gọi điện, rồi đến nhà ông Khang trưởng bản để xin lỗi, mong ông ấy và con trai ông ấy thông cảm, bỏ qua cho hành động chưa phù hợp của tôi”./.
St

LẮNG NGHE NHỮNG CHỦ NHÂN TƯƠNG LAI

 Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước về Quyền trẻ em. Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để khẳng định các quyền của trẻ em và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, của gia đình, nhà trường và xã hội trong chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em như: Luật Trẻ em năm 2016, Luật Giáo dục năm 2019, Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em…

Theo các thống kê, hiện cả nước có hơn 25 triệu trẻ em; trong đó, 100% trẻ em dưới sáu tuổi được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, gần 100% trẻ em đến độ tuổi được đến trường, 95% trẻ em dưới một tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vaccine. Đời sống tinh thần, vui chơi giải trí, môi trường giao tiếp xã hội của trẻ em ngày càng phong phú, đa dạng, được các cấp, các ngành và cả xã hội quan tâm, chăm lo.
Mặc dù đạt nhiều kết quả quan trọng và khá toàn diện, nhưng công tác giáo dục, chăm sóc, bảo vệ trẻ em vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Nhiều trẻ em ở miền núi, vùng cao, vùng dân tộc thiểu số chưa được tiếp cận dịch vụ giáo dục, chăm sóc y tế chất lượng cao, chưa được bảo đảm tốt về dinh dưỡng. Trẻ em khuyết tật, trẻ mồ côi, trẻ không nơi nương tựa còn cần nhiều hơn nữa sự quan tâm của các cơ quan nhà nước và cộng đồng. Tình trạng trẻ bị bạo lực, xâm hại, tai nạn, thương tích còn xảy ra ở nhiều địa phương. Không ít trẻ em đang bị ảnh hưởng tiêu cực từ những thông tin trên mạng internet, thiếu các sân chơi lành mạnh, bổ ích, an toàn…
Nắm bắt thực trạng nêu trên, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội đồng Đội Trung ương đã phối hợp các cơ quan liên quan tổ chức Phiên họp giả định "Quốc hội trẻ em".
Phiên họp tại hội trường Diên Hồng lần đầu được triển khai với 263 đại biểu thiếu nhi tiêu biểu đóng vai đại biểu Quốc hội và những chức danh lãnh đạo chủ chốt của Quốc hội, Chính phủ. Các đại biểu "Quốc hội trẻ em" đã đề ra nhiều giải pháp không chỉ qua việc phát biểu ý kiến, mà còn trực tiếp tranh luận, giải trình và đặc biệt là thông qua Nghị quyết như một báo cáo kiến nghị của trẻ em đến thực trạng, giải pháp về hai nội dung của phiên họp là "Phòng, chống tai nạn thương tích, bạo lực, xâm hại trẻ em" và "Bảo vệ trẻ em tương tác lành mạnh, sáng tạo, trên môi trường mạng".
Cụ thể, có ý kiến đại biểu cho rằng, chính sự bất cẩn, thiếu quan tâm của gia đình là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tai nạn thương tích ở trẻ em. Không những vậy, nhiều bậc phụ huynh còn thiếu kiến thức, kỹ năng chăm sóc, giáo dục phù hợp nhưng lại xem nhẹ các vấn đề của con em, đã trực tiếp khơi "hố sâu" khoảng cách giữa cha mẹ và con, gây không ít ảnh hưởng tiêu cực mà tiêu biểu là khiến một bộ phận trẻ em tự ti, khép kín hơn, ngại giao tiếp.
Các đại biểu "Quốc hội trẻ em" đã đề ra nhiều giải pháp không chỉ qua việc phát biểu ý kiến, mà còn trực tiếp tranh luận, giải trình và đặc biệt là thông qua Nghị quyết như một báo cáo kiến nghị của trẻ em đến thực trạng, giải pháp về hai nội dung của phiên họp là "Phòng, chống tai nạn thương tích, bạo lực, xâm hại trẻ em" và "Bảo vệ trẻ em tương tác lành mạnh, sáng tạo, trên môi trường mạng".
Trong khi đó, việc trẻ em bị xâm hại, bắt nạt trên mạng internet hiện đã và đang hằng ngày để lại nhiều hậu quả nặng nề. Bởi, thay vì dần quên những ký ức không vui sau một thời gian, thì nỗi ám ảnh do bị xâm hại, bắt nạt trên môi trường mạng sẽ ngày càng gia tăng, thậm chí tạo tâm lý "không lối thoát" cho trẻ em…
Dù chỉ là một phiên họp giả định, nhưng những đề xuất, ý kiến xác đáng, được thể hiện với phong thái tự tin, chững chạc cùng suy nghĩ sâu sắc, chín chắn của các đại biểu "Quốc hội trẻ em" đã cho thấy sự cần thiết thúc đẩy việc tham gia sớm của trẻ em vào các hoạt động chính trị, xã hội, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích của trẻ em, hướng cho trẻ em trở thành những công dân có trách nhiệm với đất nước, xã hội và khả năng trở thành những nhà lãnh đạo trong tương lai.
Nghị quyết của Phiên họp giả định chính là cơ sở để thời gian tới, Quốc hội, Chính phủ và các ban, ngành, đoàn thể tham khảo, nghiên cứu, tiếp nhận, có sự chuẩn bị tốt hơn trong quá trình ban hành các chính sách pháp luật về các vấn đề có liên quan tới trẻ em./.
St

NHÌN THẲNG - NÓI THẬT: "TIẾN SĨ GÂY MÊ", "THẠC SĨ RU NGỦ"

 Đề cập đến vị thế của người thầy trong xã hội, đại thi hào Tagore (Ấn Độ) từng nói: “Giáo dục một người đàn ông được một người đàn ông, giáo dục một người đàn bà được một gia đình, giáo dục một người thầy được cả một xã hội”.

Ở Việt Nam, từ thế kỷ 18, nhà bác học lỗi lạc Lê Quý Đôn không những khẳng định “phi trí bất hưng” (nghĩa là đất nước mà không coi trọng trí thức, đề cao trí tuệ thì xã hội sẽ không hưng thịnh) mà ông còn chỉ ra một trong 5 nguy cơ có thể mất nước, trong đó có nguy cơ “trò không trọng thầy” (vì thầy không ra thầy).
Nhìn vào sức mạnh của một nền giáo dục, trước hết cần nhìn vào đội ngũ nhà giáo tinh hoa ở bậc đại học và sau đại học. Nói là tinh hoa vì đội ngũ này đa số có trình độ học vấn cao, giữ vai trò then chốt trong việc truyền bá, nâng tầm tri thức và làm giàu trí tuệ cho sinh viên, học viên - nguồn lực lao động chất lượng cao của đất nước.
Không thể phủ nhận sự lớn mạnh và những đóng góp của đội ngũ giảng viên đại học vào sự nghiệp đào tạo những năm qua, trong đó, thành công đáng kể là việc nâng tầm trình độ học vấn cho đội ngũ nhà giáo ở bậc học này. Theo thông tin của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại hội nghị triển khai nhiệm vụ năm học 2022 - 2023, cả nước có hơn 85.000 giảng viên đại học, trong đó 21.420 người có học vị tiến sĩ (chiếm 25,2%), 51.300 người có trình độ thạc sĩ (chiếm 60,35%).
Tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ tuy đã được cải thiện đáng kể nhưng theo nhận định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tỷ lệ này vẫn còn thấp so với khu vực và thế giới. Năm 2010, tỷ lệ giảng viên các trường đại học đạt trình độ tiến sĩ ở Malaysia và Ai Cập đã là hơn 70%, Sri Lanka năm 2015 là 55%; đấy là chưa dám so với các nước có nền giáo dục phát triển hàng đầu thế giới.
"Thiếu giảng viên có trình độ tiến sĩ, thạc sĩ thì chúng ta dần sẽ chuẩn hóa kiến thức cho họ. Nhưng một giảng viên giỏi còn hơn những người gắn mác tiến sĩ, thạc sĩ hào nhoáng mà lại là “tiến sĩ gây mê”, “thạc sĩ ru ngủ” khi đứng trên bục giảng". Một chuyên gia giáo dục từng bày tỏ thái độ nghiêm khắc như vậy khi nhận định về chất lượng giảng dạy của một bộ phận giảng viên bậc đại học hiện nay.
“Tiến sĩ gây mê” không phải là tiến sĩ chuyên ngành gây mê hồi sức, mà là người dạy sở hữu học vị tiến sĩ nhưng phương pháp giảng dạy thiếu sinh khí, thiếu hấp dẫn, thiếu thuyết phục khiến người học như bị lạc vào “cơn mê” rồi... ngủ gà ngủ gật trong lớp. Còn “thạc sĩ ru ngủ” cũng nhằm ám chỉ những giảng viên thiếu năng lực sư phạm, giảng bài tẻ nhạt, dài dòng, chẳng khác mấy cái kiểu... ru ngủ!
Tại sao vẫn còn một bộ phận giảng viên đại học là “tiến sĩ gây mê”, “thạc sĩ ru ngủ” sinh viên, học viên trên giảng đường? Sở dĩ tồn tại thực trạng này vì một số cơ sở đại học lựa chọn đầu vào học tiến sĩ, thạc sĩ còn dễ dãi, đào tạo quá “thông thoáng”. Mới đây, luận án tiến sĩ về phát triển môn cầu lông cho công chức, viên chức của một giảng viên trường đại học gây xôn xao dư luận, bị đánh giá không đạt, đã nói lên điều này. Trong khi đó, nhiều người theo nghề phấn trắng, bảng đen lại thiếu những tố chất cần thiết của một nhà sư phạm. Thực tế có những giảng viên sở hữu trình độ học vấn cao nhưng thiếu năng lực ngôn ngữ, thiếu khả năng sư phạm nên họ không thể chuyển tải được nội dung kiến thức một cách tốt nhất đến sinh viên, học viên.
Trên giảng đường đại học mà vẫn còn những “tiến sĩ gây mê”, “thạc sĩ ru ngủ” thì khó có thể hiện thực hóa được mục tiêu tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước, xã hội. Vậy nên, ngay từ bây giờ, các học viện, trường đại học cần sớm có biện pháp sàng lọc, thay thế một bộ phận giảng viên “tiến sĩ gây mê”, “thạc sĩ ru ngủ” để nền giáo dục đại học nước nhà có cơ hội bứt phá, phát triển và nhiều sinh viên, học viên không phải cám cảnh, ám ảnh với những buổi học có những ông thầy, bà giáo hay “gây mê”, “ru ngủ” họ trên giảng đường!./.
St

NÊU GƯƠNG TỪ TRONG NHÀ ĐẾN CƠ QUAN

 Vấn đề nêu gương vốn đã được nói đến rất nhiều lần, trong các văn kiện của Đảng, các lời dạy của Bác Hồ, các phát biểu của các đồng chí lãnh đạo… Cán bộ, đảng viên cũng nhiều người nhận thấy và khẳng định vai trò quan trọng của tính nêu gương. Nhưng có lẽ ai cũng thấy đây là việc không hề dễ dàng.

Trong tập sách Tấm gương Bác, ngọc quý của mọi nhà (Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 2018), TS. Nguyễn Văn Khoan nêu một trường hợp rất đáng suy nghĩ. Trong một lần thi kể chuyện về Bác Hồ, một cháu bé nêu chuyện về đôi tất rách gót của Bác, do Bác tự vá lại để đi… khiến cả hội trường cảm động. Một cựu chiến binh quen biết gia đình cháu đã hỏi: “Sao bố cháu không kể thay cháu chuyện này?”. Ban đầu, ít người hiểu được ý tứ sâu xa của câu hỏi. Sau đó mới biết rằng, bố mẹ cháu bé kia là cán bộ cơ quan nhà nước, nhưng ăn tiêu hoang phí quá đồng lương họ nhận được của nhà nước. Điều đó khiến người khác nghĩ ngợi đến việc liệu họ có buôn lậu, tham nhũng, nhận hối lộ hay tìm cách trục lợi bất chính khác không. Như vậy, câu chuyện cháu bé kể tuy hay nhưng với một số người, chuyện trong chính gia đình cháu thì lại không hay.
Câu chuyện cho ta thấy, việc nêu gương của người lớn, của cán bộ, đảng viên, của các vị lãnh đạo, trước hết phải thực hiện ngay gia đình mình, ngay trong cơ quan, đơn vị của mình. Người càng gương mẫu thì càng có uy tín; người càng lớn tuổi hoặc có vị trí càng cao thì càng phải gương mẫu.
Người làm cha mẹ hướng dẫn, dạy dỗ, động viên con cái phải trung thực, nói điều hay lẽ phải, giữ lời hứa nhưng liệu bản thân thường xuyên gian dối với người khác, với tổ chức, không cân nhắc mà nói những lời gây tổn thương cho người khác hoặc không giữ lời hứa với đồng nghiệp, với nhân dân; dạy con phải biết tiết kiệm, phải tôn trọng của cải, tài sản của mình và người khác nhưng phải chăng lại phung phí khi xài của công, sống xa hoa so với thu nhập từ công việc, tìm cách trục lợi từ chức vụ, quyền hạn của mình; dạy con biết tôn trọng người già, yêu quý trẻ nhỏ, người khuyết tật, biết thương người và quan tâm đến người khác nhưng có khi nào lại sẵn sàng chà đạp người nào có khả năng gây bất lợi cho lợi ích của bản thân (kể cả khi lợi ích đó sai trái), thượng đội hạ đạp, vô cảm hoặc chỉ thể hiện lòng nhân ái một cách hình thức; dạy con phải biết chăm chỉ, siêng năng, không ngừng học tập, nâng cao trình độ nhưng phải chăng bản thân lại tránh nặng tìm nhẹ, việc khó thì đổ cho người khác, việc có lợi thì tranh lấy, khuyết điểm thì né tránh, công lao thì vơ vào, lười học tập, nhất là học lý luận chính trị; dạy con phải biết sống thực chất, trong sáng, nhưng có khi nào bản thân chạy bằng cấp, chạy chức vụ, chạy thành tích, trong suy nghĩ và hành động thực dụng và vụ lợi.
Hay trong cơ quan, đơn vị thì yêu cầu cấp dưới, đề nghị người khác phải tuân thủ nguyên tắc, quy định, nội quy nhưng liệu bản thân có khi nào độc đoán, thiếu dân chủ, hễ có thể lách được quy định thì sẵn sàng không tuân thủ, giám sát người khác thực hiện yêu cầu nhưng bản thân thì tìm cách che đậy; đề nghị mọi người luôn nỗ lực, sáng tạo, đổi mới để nâng cao hiệu quả, năng suất làm việc nhưng có khi nào bản thân chỉ tỏ ra cố gắng, nghĩ và làm theo lối mòn, không dám đổi mới sợ không làm được hoặc sợ người khác vượt trội; đề nghị người khác phải thẳng thắn, trung thực trong tự phê bình và phê bình, có trách nhiệm với đơn vị, với tổ chức đảng nhưng phải chăng bản thân hay quanh co, ưu điểm thì nói rõ nhưng hạn chế thì né tránh, góp ý cho người khác thì chỉ nói mặt tốt với người mình thích, chỉ nói mặt nhược của người mình ghét; đề nghị quan tâm, tạo điều kiện cho cán bộ trẻ phấn đấu, chăm lo quyền lợi của mọi người trong đơn vị nhưng liệu bản thân lại sợ “măng lớn nhanh hơn tre”, lấy lợi ích làm chiêu bài để lôi kéo, tạo bè cánh; hô hào, đề nghị mọi người phải học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phải sống giản dị, trong sáng nhưng chắc gì bản thân đã thực sự học Bác, đã thể hiện sự chan hòa, khiêm tốn, lành mạnh…
Những điều chưa nêu gương đó đều là những hạn chế, khuyết điểm, thậm chí là biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, tư tưởng chính trị, vốn đã được nêu trong các văn kiện của Đảng, nhất là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và khóa XII về xây dựng Đảng. Chính vì sự thiếu nêu gương, thiếu tu dưỡng đó mà thời gian qua có nhiều cán bộ bị xử lý kỷ luật, bị truy cứu trách nhiệm hình sự…
Báo cáo của Ban Tổ chức Trung ương tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai kết luận và quy định của Trung ương về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã nêu rõ: từ năm 2016 - 2020, có 25.104 đảng viên suy thoái hoặc có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bị xử lý kỷ luật. Trong đó, 8.281 đảng viên bị kỷ luật do suy thoái về tư tưởng chính trị, nhiều nhất là “không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả...”. Bên cạnh đó, còn có 477 đảng viên “nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nói không đi đôi với làm, hứa nhiều, làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đường chức với lúc về nghỉ hưu”. Ngoài ra, còn có 2.216 đảng viên “gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên đầu tư công tràn lan, hiệu quả thấp hoặc không hiệu quả, mua sắm, sử dụng tài sản công vượt quy định; chi tiêu công quỹ tùy tiện, vô nguyên tắc. Sử dụng lãng phí nguồn nhân lực, phí phạm thời gian lao động”; 1.623 đảng viên tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn của kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực…
Phần lớn những đảng viên vi phạm bị xử lý nêu trên là cán bộ giữ chức vụ trong cơ quan, đơn vị, địa phương, có nhiều trường hợp là người đứng đầu. Như vậy, sự nêu gương của một bộ phận cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân còn chưa tốt. Liệu trong số đó có bao nhiêu người chưa thực sự nêu gương với chính con cái mình, với cán bộ cấp dưới của mình?
Từ đó có thể thấy, đặt ra vấn đề nêu gương thì trước hết phải nêu gương với người trong gia đình, nhất là với trẻ nhỏ, và nêu gương với cấp dưới trong đơn vị, nhất là quần chúng, người đang phấn đấu vào Đảng. Không nêu gương với người gần gũi thì e là rất khó nêu gương trước nhân dân. Mà không thể hiện được điều đó thì có thể chưa là một đảng viên trọn vẹn!./.
St

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHỮNG CẶP ĐÔI TIÊU BIỂU VÌ NƯỚC, VÌ DÂN THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH!

     Đây là những cặp đôi đã góp phần tạo lên lịch sử vẻ vang của Nước nhà, tất cả họ đều phấn đấu vì mục tiêu: hoà bình cho Tổ Quốc, mang hạnh phúc, ấm lo cho Nhân dân. Có những người trong họ ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ vì lí tưởng cao cả "giải phóng Dân tộc".
Đặc biệt hiện trong số các cặp đôi trên chỉ còn cặp đôi TBT Nguyễn Phú Trọng và Phu nhân sống rất giản dị, gần gũi với người Dân là tấm gương sáng để cán bộ, Đảng viên noi theo - chúc hai Ông Bà có nhiều sức khoẻ, sống lâu trăm tuổi, hạnh phúc tới đầu bạc răng long, để phục vụ Nhân dân nhiều hơn nữa, phục vụ Đất nước lâu hơn nữa. (*Từ trái qua phải, từ trên xuống dưới*)

1.💗Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Vợ - liệt sĩ Nguyễn Thị Quang Thái.
2.💗Tổng Bí Thư Lê Duẩn và phu nhân Nguyễn Thị Vân (tên thường gọi Nguyễn Thụy Nga).
3.💗Thủ tướng Phạm văn Đồng và phu nhân Phạm Thị Cúc.
4 💗Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và phu nhân Nguyễn Thị Cúc.
5.💗Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng và phu nhân Ngô Thị Mân./.
Yêu nước ST.

THƯỢNG TƯỚNG NGUYỄN CHÍ VỊNH - MỘT CUỘC ĐỜI TRẦM LẶNG VÀ RỰC RỠ

 Tôi bàng hoàng khi nghe tin Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, đã rời khỏi cõi thế sáng 14-9-2023. Trong cuộc đời làm báo 30 năm, tôi may mắn có duyên nhiều lần đi công tác với ông, đôi lần được ông chia sẻ những câu chuyện trong cuộc đời, tận mắt chứng kiến nhiều hoạt động của ông, cả trong nước và quốc tế. Nhớ ông là nhớ tới những chuyến đi.

Chàng sĩ quan trẻ với lời hứa: “Chưa nên người thì chưa về!”
Ông kể tôi nghe chuyến đi công tác nước ngoài đầu tiên của ông diễn ra ngay sau khi vừa tốt nghiệp Trường Sĩ quan Thông tin ở Nha Trang (Khánh Hòa). Chuyến đi nước ngoài này của ông kéo dài... 5 năm! Hồi đó, nghe nói về chuyện con em các cán bộ cao cấp được đãi ngộ, biệt đãi này nọ, ông rất khó chịu. Vốn ưa thử thách, mà không đâu có nhiều thử thách hơn ở chiến trường nên tốt nghiệp xong, ông lên gặp đồng chí Lê Đức Anh, khi ấy là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, tình nguyện xin đi chiến đấu giúp bạn ở Campuchia với lời hứa: “Chưa nên người thì chưa về!”.
Trước khi đi, thầy dạy ông ở Trường Sĩ quan Thông tin nói đại ý là con em cán bộ cao cấp sướng quen rồi thì cứ đi chiến trường khoảng 6 tháng, nếu thấy khổ quá, không chịu được thì xin về, người ta cho về ngay! Thế là ông ở lại chiến trường Campuchia liền 5 năm không về phép lần nào! Chị gái và anh rể ông phải lên gặp cấp trên, nhờ “vận động” ông về thăm nhà, chứ cứ đi biền biệt suốt, nhà không biết tin tức thế nào...
Chàng Trung úy Nguyễn Chí Vịnh đặt chân xuống sân bay Pochentong vào một ngày mùa hè năm 1984. Tình hình Campuchia khi ấy rất phức tạp, Khmer Đỏ đang chống phá ác liệt, tổ chức các hoạt động ám sát, phá hoại khắp nơi, kể cả ở Phnom Penh. Nói “đi nước ngoài” là cho vui chứ thực chất trong những năm tháng ấy, đó là một chiến trường khốc liệt, nơi sự sống và cái chết cách nhau chỉ trong gang tấc.
Những năm tháng lăn lộn chiến đấu ở Campuchia, từ người lính tới cương vị một sĩ quan tình báo đã mang lại cho ông những kinh nghiệm sống xương máu cùng năng lực làm việc hết mình vì mục tiêu chung. Ông lần lượt trải qua nhiều cương vị công tác khác nhau, từ sĩ quan tác chiến địa bàn cho đến các vị trí quản lý, lãnh đạo từ thấp đến cao. “Cả 4 đơn vị tình báo mà tôi từng chỉ huy, từ nhỏ tới lớn, đều được phong danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân”, một lần ông tự hào nói với tôi như thế.
Người “đối thoại” thông minh, kiên định
Khi đảm nhiệm cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng phụ trách công tác đối ngoại, ông đi công tác liên miên. Chúng tôi vẫn nói đùa với ông rằng ông đạt tiêu chuẩn phi công cấp 1 nếu tính theo số giờ bay! Ông trực tiếp tham gia chỉ đạo thúc đẩy thay đổi nhận thức về đối ngoại quốc phòng (ĐNQP), vừa bảo vệ toàn vẹn chủ quyền biên giới, lãnh thổ của Tổ quốc, vừa bảo đảm gìn giữ hòa bình, hữu nghị, xây dựng quan hệ hợp tác với các nước láng giềng, các nước trong khu vực cũng như trên thế giới. ĐNQP, theo ông, chính là chiếc “la bàn” giúp lãnh đạo cấp cao của đất nước có thể định hướng đúng đắn trên đại dương toàn cầu hóa, đưa Việt Nam hội nhập mạnh mẽ vào đời sống quốc tế.
Một trong những cơ chế đặc biệt trong hoạt động ĐNQP mà Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh luôn tham gia với vai trò nổi bật chính là cơ chế đối thoại chiến lược/chính sách quốc phòng cấp Thứ trưởng, là cấp làm việc sau cấp Bộ trưởng. Trong thời gian Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh làm việc, Việt Nam có cơ chế đối thoại chiến lược/chính sách quốc phòng cấp Thứ trưởng với hàng loạt quốc gia như: Lào, Campuchia, Trung Quốc, Liên bang Nga, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản..., riêng với Australia có đối thoại chiến lược ngoại giao-quốc phòng.
Các cuộc đối thoại này không chỉ diễn ra với các quốc gia có chung nhiều lợi ích với Việt Nam mà cả với những đối tác còn có những điểm bất đồng. Trong nhiều thời điểm, những tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ diễn biến hết sức phức tạp, gây ra những “điểm nóng” chứa đựng nhiều nguy cơ bùng phát tại nhiều khu vực, đe dọa hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới. Do đó, khi tiến hành đối thoại chiến lược/chính sách quốc phòng, người trưởng đoàn cần phải có bản lĩnh vững vàng, thông minh và hết sức nhạy bén trước những tình huống bất ngờ.
Rất nhiều lần, ở Bắc Kinh, Tokyo hay Washington, Seoul, Phnom Penh, tôi đã chứng kiến Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh có những phản ứng vô cùng chuẩn xác, mềm dẻo nhưng cũng luôn kiên định để hóa giải những tình huống phức tạp, bảo đảm duy trì môi trường hòa bình, tận dụng các điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững an ninh quốc gia, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, nâng cao vị thế của Quân đội và đất nước ở khu vực và trên thế giới.
Người thúc đẩy “lòng tin chiến lược”
Một hoạt động khác mà Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh tham gia và có những đóng góp hoặc thầm lặng, hoặc nổi bật là tại các diễn đàn quốc tế.
Năm 2013, ở Singapore diễn ra Đối thoại Shangri-La lần thứ 12, một diễn đàn mở, nơi quy tụ các nhà hoạch định chính sách, chiến lược gia, học giả, cựu quan chức chính phủ, nhà báo... từ khắp nơi trên thế giới để trao đổi các vấn đề liên quan đến an ninh, chính trị quốc tế. Ban tổ chức đã mời lãnh đạo Việt Nam phát biểu đề dẫn. Vào tối 31-5-2013, từ Đối thoại Shangri-La lần thứ 12, thế giới đã lắng nghe thông điệp từ lãnh đạo Việt Nam: Để duy trì hòa bình, an ninh khu vực một cách bền vững, các quốc gia trong khu vực cần phải xây dựng “lòng tin chiến lược”. Ít ai biết được rằng người đứng đằng sau, hình thành nên khái niệm “lòng tin chiến lược” ấy là Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh.
Có lần tôi đã hỏi ông, “lòng tin chiến lược” đó cụ thể là gì? Ông suy nghĩ giây lát rồi nói: “Đó là thông qua hợp tác để xây dựng lòng tin về mặt an ninh, quốc phòng ở cấp chiến lược, mà không phải chỉ trên lời nói. Sự hợp tác bắt đầu trên từng mặt, rồi từ kết quả hợp tác lại củng cố lòng tin để đi đến hợp tác sâu rộng hơn, trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực hơn. Muốn vậy, các nước, đặc biệt là các cường quốc, phải thực tâm hợp tác, thể hiện rõ quyết tâm, có đầu tư thích đáng, thực hiện cam kết đi đôi với hành động, lấy hành động trên thực tế để chứng minh cho trách nhiệm của mình”.
3 năm sau, năm 2016, tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 15, tôi chứng kiến Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, trưởng đoàn Việt Nam xử lý tình huống rất bình tĩnh ở đối thoại năm ấy!
Trên suốt quãng đường hơn hai trăm mét từ cửa phòng họp song phương với đoàn Trung Quốc ra tới đại sảnh khách sạn Shangri-La, các phóng viên quốc tế đã “ép” Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh cùng các thành viên đoàn trong một khối hỗn độn, di chuyển chậm chạp, với một rừng micro chĩa ra chỉ để được nghe quan điểm của người trưởng đoàn Việt Nam. Vừa di chuyển trong vòng vây của các phóng viên quốc tế, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh vừa điềm tĩnh trả lời, không từ chối bất cứ một câu hỏi nào, về quan điểm, lập trường nhất quán của Việt Nam đối với các vấn đề liên quan đến an ninh khu vực cũng như quốc tế. Đó là tất cả các quốc gia cần phải hợp tác và đấu tranh để giải quyết bất đồng, ngăn ngừa xung đột, tăng cường hợp tác cùng phát triển, xây dựng lòng tin, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau; đồng thời thẳng thắn đấu tranh để tìm ra tiếng nói chung, lợi ích chung trong giải quyết tranh chấp, bất đồng...
Với anh em, bạn bè hay những người giúp việc, ông là “anh Năm” thân thiết; với phóng viên các hãng thông tấn nước ngoài, ông là “tướng Vịnh”, người trong nhiều năm truyền đạt tiếng nói của Quân đội nhân dân Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế.
Làm việc không ngừng để cảm thấy mình hữu dụng
Trong những năm tháng đảm nhiệm cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng phụ trách đối ngoại, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh đã có những đóng góp to lớn nhằm thúc đẩy các hoạt động hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ để khắc phục hậu quả chiến tranh ở Việt Nam.
Vừa hoạt động ngoại giao chính thức, vừa vận dụng “ngoại giao nhân dân” qua các mối quan hệ với những nhân vật nổi bật trong chính giới Hoa Kỳ như Thượng nghị sĩ Patrick Leahy, Thượng nghị sĩ John McCain, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh đã đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện thành công dự án xử lý ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng, thúc đẩy dự án xử lý dioxin tại sân bay Biên Hòa. Ông cũng là người chỉ đạo thực hiện các hoạt động truyền thông làm cầu nối, là người thúc đẩy việc tìm kiếm thông tin và hài cốt các quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh, một trọng tâm trong chính sách ngoại giao của Việt Nam trong mối quan hệ với Hoa Kỳ...
Ông là người đóng góp nhiều công sức vào việc đề ra và thực hiện các sáng kiến ĐNQP nổi bật của Việt Nam, việc triển khai thành công cơ chế Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+), cũng như việc Việt Nam lần đầu tiên cử lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, qua đó khẳng định vai trò, vị thế của đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng vào các hoạt động mang tính khu vực và toàn cầu.
Giờ đây, khi ông đã ra đi, những công việc ấy vẫn được tiếp tục, mang lại lợi ích to lớn cho đất nước.
***
Có lần, ông nói với tôi về cảm giác kinh khủng khi vào buổi sáng, 10 giờ mới thức dậy và không biết phải làm gì, như người thừa, thấy mình không có ích cho ai cả. Bởi thế nên ông lựa chọn cuộc sống bận rộn để cảm thấy mình hữu dụng. Ngay cả khi đã nghỉ theo chế độ, bất chấp trong người mang trọng bệnh, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh vẫn lăn xả vào hoàn thành hai công việc có ý nghĩa lớn trong cuộc đời: Viết và xuất bản cuốn sách về người thầy của ông trong lĩnh vực hoạt động tình báo, Thiếu tướng Đặng Trần Đức; khai trương Bảo tàng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, người cha có nụ cười hiền của ông.
Ông sống một cuộc đời trầm lặng và rực rỡ. Là người làm công tác tình báo và từng ở cương vị cao nhất phụ trách tình báo quốc phòng, ông sống một cuộc đời khép kín, ít người biết đến. Là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng phụ trách công tác đối ngoại, ông đóng vai trò nổi bật trong các hoạt động ĐNQP hay tại các diễn đàn quốc tế. Dù ở cương vị nào, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh cũng làm việc không ngừng nghỉ để thực hiện những hoài bão, lý tưởng của ông, phục vụ Quân đội, phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước.
Giờ đây, ông có thể thanh thản nhẹ bước về miền mây trắng.
Nhớ thương ông, xin kính cẩn nghiêng mình tiễn biệt ông, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh!
St

TƯỞNG NHỚ 581 NĂM NGÀY MẤT NGƯỜI ANH HÙNG DÂN TỘC, DANH NHÂN VĂN HÓA THẾ GIỚI: NGUYỄN TRÃI (19/9/1442 - 19/9/2023)

 Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, sinh năm 1380 tại kinh thành Thăng Long. Thân phụ ông là Nguyễn Phi Khanh nguyên quán ở làng Chi Ngại (nay thuộc phường Cộng Hoà, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương), sau dời đến làng Ngọc Ổi (nay thuộc xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội); thân mẫu là Trần Thị Thái, con gái của quan Đại Tư đồ Trần Nguyên Đán.

Thuở nhỏ, Nguyễn Trãi sống với ông ngoại ở Thăng Long và Côn Sơn. Khi ông ngoại qua đời, ông về ở với cha tại Nhị Khê. Được ông ngoại và cha trực tiếp dạy dỗ, rèn luyện, Nguyễn Trãi sớm nổi tiếng tài đức và chí lớn. Năm 1400, ông đỗ Thái học sinh, năm sau ra nhận chức Ngự sử đài chánh trưởng dưới triều Hồ. Từ năm 1407, giặc Minh đô hộ, bóc lột nhân dân thảm khốc tột cùng trên đất nước ta. Căm phẫn quân thù, sục sôi tinh thần yêu nước, ông quyết nuôi ý chí cứu nước, cứu dân. Ông đến Lam Sơn tụ nghĩa, dâng Bình Ngô sách, dốc tâm huyết, một lòng thành giúp Vua Lê Lợi.
Ông trở thành linh hồn của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh, giải phóng đất nước ở thế kỷ XV. Kháng chiến thắng lợi, Nguyễn Trãi đã viết Bình Ngô Đại cáo - một bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ, tổng kết tài tình cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc.
Đất nước hòa bình, với ước vọng tham gia “duy tân đất nước, xây dựng nền thái bình muôn thuở…”, Nguyễn Trãi tiếp tục hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội dưới Triều Lê và đã có công lớn trong việc tạo ra nền tảng kinh tế - xã hội, sự hòa hợp giữa “nước và dân” - nguồn lực xây dựng đất nước Đại Việt vững mạnh. Ông là một nhà văn hoá lớn của Việt Nam và nhân loại đã có đóng góp to lớn vào sự phát triển của văn học và tư tưởng Việt Nam.
Ông là một trong 14 vị anh hùng dân tộc Việt Nam...
St




“CÁC VUA HÙNG ĐÃ CÓ CÔNG DỰNG NƯỚC, BÁC CHÁU TA PHẢI CÙNG NHAU GIỮ LẤY NƯỚC”

 Đây là lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong buổi nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên Phong (Sư đoàn 308, Quân đoàn 1) chuẩn bị về tiếp quản Thủ đô Hà Nội.

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Bác Hồ với Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận và các đoàn thể từ “Thủ đô gió ngàn” Việt Bắc trở về tiếp quản Thủ đô Hà Nội do chính quyền Pháp bàn giao theo Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954) về đình chiến ở Đông Dương. Sáng 19-9-1954, Bác Hồ đã gặp mặt, căn dặn và giao nhiệm vụ cho cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên Phong về tiếp quản Thủ đô tại Đền Giếng trong khu di tích Đền Hùng (thuộc núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ). Bác giảng giải nhiều điều và căn dặn: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
Làm theo lời Bác, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã vượt qua bao thử thách, cam go, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, ghi những mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Ngày nay, đất nước đang trên đà đổi mới và không ngừng phát triển; tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng nước ta. Khắc ghi lời Bác dạy năm xưa, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam và xây dựng thành công CNXH vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, trải qua gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam không ngừng lớn mạnh, lập nhiều chiến công hiển hách, xứng đáng là lực lượng nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây, cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN ngày nay. Quân đội luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân làm theo lời Bác dạy với quyết tâm và trách nhiệm chính trị cao, với tinh thần “quyết chiến, quyết thắng”, ý chí tự lực tự cường, chủ động, sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN như lời Bác căn dặn năm xưa./.
St