Thứ Năm, 21 tháng 9, 2023

ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

           Nhìn lại 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trên mọi lĩnh vực. Tuy nhiên hiện nay, các thế lực thù địch ráo riết, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, công kích nền tảng tư tưởng của Đảng ta, tìm mọi cách chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng hòng làm giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Chính vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch là cuộc chiến lâu dài, quyết liệt. Trong cuộc chiến đó, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải vào cuộc với quyết tâm và sự chủ động cao nhất. Thời đại công nghệ số 4.0 làm thay đổi tư duy, nhận thức, tư tưởng, tình cảm của con người với thế giới chung quanh. Con người tiếp cận với tri thức nhanh chóng hơn, mở ra khả năng tương tác; phương thức tác động của chính quyền với người dân đa dạng hơn, nhất là thông qua mạng xã hội. Từ những tiến bộ về khoa học và công nghệ sẽ xuất hiện nhiều hơn một số xu thế mang tính phổ quát bên cạnh những giá trị chung, truyền thống trong quan hệ xã hội ở các quốc gia nói chung với nhiều mức độ, đặc điểm khác nhau. Cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái thù địch hiện nay đối diện nhiều khó khăn, phức tạp do việc các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị triệt để lợi dụng công nghệ số để xuyên tạc, hướng lái, lan toả thông tin xấu độc với các thủ đoạn nguy hiểm. Những âm mưu, thủ đoạn phá hoại trong thời đại số

          Đó là xu thế dân chủ hóa đi đôi với cá thể hóa; xu thế đổi mới quản lý, quản trị quốc gia và trách nhiệm giải trình (chuyển đổi hệ thống hành chính mạnh mẽ sang chính phủ điện tử; phân cấp, phân quyền, minh bạch hóa thông tin; tăng cường nguồn lực cho bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả); xu thế tăng cường vai trò giám sát của người dân đối với hoạt động của bộ máy công quyền. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, các hoạt động phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn công nghệ số được các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị triệt để lợi dụng, thực hiện tinh vi và xảo quyệt, nguy hiểm hơn.

Tình hình mới đan xen giữa thời cơ và nguy cơ đòi hỏi phải có nhận thức mới có tính biện chứng, sâu sắc và khách quan. Nhận thức mới sẽ đưa đến những nhiệm vụ mới, lý luận mới, phương pháp đầy sức sáng tạo trong sự nghiệp bảo vệ ANQG nhằm tận dụng, khai thác những yếu tố thuận lợi và hạn chế những khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch, cơ quan tình báo nước ngoài đã triệt để lợi dụng bối cảnh tình hình và chính sách mở cửa, hội nhập sâu rộng của Việt Nam để tiến hành các hoạt động xâm phạm lợi ích, an ninh quốc gia của ta. 

Trong xu thế hội nhập, Việt Nam tham gia ngày càng sâu trong các kênh hợp tác song phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực, làm nảy sinh nhu cầu của các thế lực thù địch, cơ quan tình báo nước ngoài thu thập thông tin tình báo nhằm phục vụ thực hiện ý đồ chính trị với nước ta. Đồng thời cũng tạo ra môi trường mới, trong đó đối tác, đối tượng đan xen; đối phương nhiều điều kiện lợi dụng vỏ bọc “đối tác” để tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Điển hình như thông qua các hình thức hợp tác trong lĩnh vực kinh tế - thương mại, sử dụng các tổ chức bình phong để hoạt động tình báo; thông qua các hình thức hợp tác văn hóa, giáo dục, du lịch, nghiên cứu khoa học... để lôi kéo, tác động, hướng lái hoặc thu thập thông tin bí mật.

Bên cạnh đó, việc tăng cường hội nhập quốc tế còn kéo theo số lượng, quy mô các cơ quan, tổ chức và người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam, người Việt Nam ra nước ngoài tăng nhanh. Điều này cũng tạo ra điều kiện hết sức thuận lợi cho cơ quan tình báo nước ngoài trong việc đưa nhân viên tình báo, mạng lưới cơ sở, trang thiết bị kỹ thuật xâm nhập vào nội địa ta; cũng như có cơ sở xã hội, nguồn tuyển lựa cơ sở phong phú, rộng rãi trong số người Việt Nam đã và đang ra nước ngoài công tác, học tập, lao động...

Đổi mới hình thức đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Tình hình trên cho thấy, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong thời đại công nghệ số hiện nay là rất khó khăn, phức tạp. Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” được hình thành trên cơ sở tổng kết thực tiễn gần 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Nghị quyết số 35-NQ/TW nêu rõ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp, của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.

Đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị là một trong những nội dung trong 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 được Đảng ta xác định trong Văn kiện Đại hội XIII. Việc tăng cường, đẩy mạnh các biện pháp đấu tranh chống các luận điệu sai trái, xuyên tạc không chỉ nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ và sự ổn định của đất nước mà còn nhằm bảo vệ uy tín, hình ảnh Việt Nam trong bối cảnh hội nhập. Những âm mưu thủ đoạn đó thường được nhận diện như sau:
Thứ nhất, âm mưu, thủ đoạn hòng phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hiện nay, lợi dụng sự phát triển mạnh mẽ của Internet và các trang mạng xã hội, các thế lực thù địch đã đưa ra những thông tin xấu, độc nhằm kích thích sự nghi ngờ, phủ định sạch trơn những giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với những luận điệu xuyên tạc như: chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã lạc hậu, lỗi thời không còn phù hợp với thời đại hiện nay nữa và một đảng lấy tư tưởng, lý luận đã “lạc hậu, lỗi thời” thì không thể có cơ sở để lãnh đạo đất nước phát triển khi thực tế khách quan đã thay đổi
Các tin, bài viết chủ yếu tác động vào mặt tâm lý, kích động những nhóm đối tượng thiếu hiểu biết hoặc hiểu biết chưa đầy đủ để tạo sức mạnh chống phá. Chúng còn tập trung móc nối, lôi kéo mọi giai tầng xã hội, nhất là số thanh niên, cán bộ, đảng viên có dấu hiệu “tự chuyển hóa” và gần đây chúng có xu hướng móc nối vào số đối tượng có tiền án, nghiện hút, giang hồ mạng... để truyền bá "lối sống phương Tây", công kích, xuyên tạc về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
          Thứ hai, âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc phủ định các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
Với mục đích nhằm hạ thấp uy tín, kích động, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trên tất cả các lĩnh vực: từ con đường đi lên XHCN, về vai trò lãnh đạo của Đảng, về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hay các chính sách đối ngoại, an ninh quốc phòng… đều bị chúng âm mưu xuyên tạc, bóp méo.
Những luận điệu ngày càng tinh vi như: nền kinh tế thị trường là đi theo chủ nghĩa tư bản, định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ ngăn cản thị trường và xâm phạm tới các quy luật của thị trường làm cho nền kinh tế không thể phát triển hay chúng cho rằng quân đội và công an chỉ làm nhiệm vụ bảo vệ đất nước và an ninh, trật tự xã hội, không nên bị chi phối bởi chính trị, vì vậy cần phải “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang" hay liên tục đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội xhủ nghĩa Việt Nam. Thực chất, mục đích cuối cùng của chúng là phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối về mọi mặt của Đảng, phủ nhận những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà Đảng và nhân dân ta đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ đó làm cho nhân dân mất niềm tin vào Đảng và nhà nước, cuối cùng là tiến tới lật đổ chế độ ở nước ta.

Thứ ba, âm mưu, thủ đoạn phủ định giá trị lịch sử của dân tộc và những thành quả cách mạng, Với âm mưu này, chúng thường tập trung lấy một số thực tế lịch sử của một số nước khác áp đặt vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam, chúng cho rằng một số nước vẫn giành được độc lập, chủ quyền và phát triển mà không cần đến chiến tranh và lên án các cuộc chiến tranh ở Việt Nam là nội chiến, là làm cho người Việt Nam đánh người Việt Nam, đánh đồng những chiến sỹ cách mạng hy sinh vì chính nghĩa với những kẻ làm tay sai, bán nước. Xuyên tạc quan điểm hòa hợp dân tộc của Đảng ta.
Trong thời kỳ đổi mới, không ít thông tin phủ nhận thành quả công cuộc đổi mới, chỉ nhìn vào những hạn chế mà không thấy những giá trị, những thành quả mà Đảng và nhân dân ta đã nỗ lực phấn đấu đạt được trong hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới. Mặt khác, chúng lấy những thành công của một số nước để so sánh, chê bai, phủ nhận thành quả, phê phán những hạn chế, yếu kém của Việt Nam mà không đề cập những khó khăn của đất nước để cùng nhau nỗ lực và xây dựng. Để thực hiện âm mưu đó, các tổ chức phản động... tiếp tục tìm chọn, móc nối, lôi kéo công dân tham gia các tổ chức phản động và thực hiện các hoạt động chống phá ở trong và ngoài nước.

 

NHẬN DIỆN CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRONG VIỆC TẤN CÔNG VÀO NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG HIỆN NAY.

 

          Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đáu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. 

    Thứ nhất, là các lực lượng thù địch bao gồm cả những người nghiên cứu lý luận, thực tiễn ở các nước trong cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản. Ngay ở các nước Tư bản phát triển thì những nhà hoạt động chính trị thuộc giới cầm quyền có tư tưởng tư bản theo kiểu truyền thống và các nhà hoạt động chính trị thuộc giới cầm quyền có tư tưởng xã hội chủ nghĩa cũng đấu tranh lẫn nhau. Cuộc đấu tranh này không chỉ diễn ra ở dất nước chúng ta mà còn trên phạm vi thế giới.

          Thứ hai, là lực lượng cực đoan người Việt ở nước ngoài luôn lôi kéo, kết hợp với số chống đối, bất mãn ở trong nước lập ra các tổ chức như Việt Tân, Việt Nam phục quốc, Triều đại Việt…

          Thứ ba, là một số cán bộ, đảng viên (có những đảng viên đã từng giữ chức vụ trung, cao cấp trong bộ máy, hệ thống chính trị của nước ta) suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Lực lượng này len lỏi, phức tạp, không khó để nhận ra nhưng lại rất khó để đấu tranh. Đây là những người phản bội lại quá khứ, phản bội lại lý tưởng, và nguyên nhân của sự phản bội đó đôi khi lại bắt nguồn từ sự bất mãn, không đồng ý một số vấn đề cụ thể trong chính sách, ứng xử của những cơ quan, đơn vị nơi người đó công tác.

Một số nhiệm vụ, giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong Đảng

Thứ nhất, các thế lực thù địch, phản động tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm bác bỏ, phủ nhận chủ nghĩa Mác  - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng. Thủ đoạn mới của chúng là chuyển từ bôi nhọ bằng luận điệu “du nhập ngoại lai”, “nhập khẩu lý luận” sang đánh tráo, thay thế các khái niệm, thổi phồng cái gọi là “chủ thuyết phát triển mới”, đối lập chủ nghĩa Mác với chủ nghĩa Lê-nin, kêu gọi dùng “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế chủ nghĩa Mác  - Lê-nin mà cố tình lờ đi một sự thật hiển nhiên, rõ ràng rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn cụ thể của Việt Nam. Chúng trích dẫn một cách cắt xén, nửa vời những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đan cài gài bẫy bằng những quan điểm giả danh mác-xít, làm cho người đọc mất phương hướng, lẫn lộn, không phân biệt được đúng - sai. Chúng rêu rao rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam, giới lý luận và các nhà khoa học của ta đã dịch sai, hiểu sai quan điểm của C.  Mác, Ph.  Ăng-ghen; đồng thời, chúng diễn giải lại theo cách hiểu xuyên tạc, méo mó, hòng làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Cùng với việc công kích trực tiếp vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng còn đẩy mạnh tuyên truyền, cổ xúy du nhập các trào lưu tư tưởng cực đoanchủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân tộc cực đoan từ bên ngoài, kết hợp với kích động chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa bè phái, chủ nghĩa hưởng lạc từ bên trong, nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong hệ thống chính trị và xã hội.

Thứ hai, các thế lực thù địch, phản động phủ nhận, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa bằng các luận điệu xuyên tạc như: Đảng tự cho mình đứng trên tất cả; Đảng cầm quyền phi chính danh, không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Chúng xuyên tạc các sự kiện lịch sử của cách mạng Việt Nam; cổ xúy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, đòi từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang; phủ nhận kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi tách biệt, đối lập “kinh tế thị trường” với “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Chúng còn cho rằng chế độ hiện nay mắc “lỗi hệ thống”, đòi cải cách thể chế chính trị theo hướng đa nguyên, đa đảng, thực hiện “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự” theo tiêu chí phương Tây, với âm mưu không gì khác ngoài việc chống phá sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta.

Thứ ba, các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc tình hình đất nước, rêu rao cái gọi là “khủng hoảng toàn diện”, “tình thế hiểm nghèo”, khoét sâu các vấn đề xã hội, tôn giáo, dân tộc, nhân quyền, đất đai,... nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các thủ đoạn thường được chúng sử dụng là: kích động đòi đất, đòi nơi thờ tự vô lối, đòi thực hành tôn giáo trái pháp luật; kích động giáo dân, đồng bào dân tộc thiểu số tụ tập biểu tình. Chúng kích động, “hà hơi tiếp sức” cho những kẻ nhân danh “lòng yêu nước” để biểu tình gây rối trật tự, trị an. Đặc biệt, trong thời gian qua, các đối tượng chống đối triệt để lợi dụng các vụ án phức tạp, nhạy cảm để kích động, xuyên tạc, quy kết, vu cáo Đảng, Nhà nước yếu kém, đả kích các cơ quan tư pháp, kích động “bất tuân dân sự” trong xã hội.

 

 

THỦ TƯỞNG MỜI BILL GATES TƯ VẤN ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

Thủ tướng Phạm Minh Chính mời tỷ phú Bill Gates tư vấn chiến lược khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo cho Việt Nam.

Đề nghị này được Thủ tướng đưa ra tại cuộc gặp với Nhà sáng lập Tập đoàn Microsoft Bill Gates chiều 20/9, nhằm góp phần giúp Việt Nam phát triển mạnh mẽ và bền vững trong giai đoạn hiện nay. Lãnh đạo Chính phủ cũng mong muốn Bill Gates truyền cảm hứng, tạo động lực cho thế hệ trẻ Việt Nam về đổi mới sáng tạo.

Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết Việt Nam đang ưu tiên thúc đẩy phát triển dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, trong đó có phát triển chuỗi sản xuất, cung ứng chip bán dẫn. Ông đề nghị Bill Gates thông qua các quỹ tiếp tục hỗ trợ, ủng hộ hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ, ứng phó biến đổi khí hậu, thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển năng lượng tái tạo và nâng cao năng lực y tế, giáo dục.

Nhà sáng lập Tập đoàn Microsoft Bill Gates cho biết luôn quan tâm, theo sát và đánh giá cao những thành tựu phát triển của Việt Nam thời gian qua, đặc biệt về kinh tế, y tế, ứng phó đại dịch Covid-19. Ông khẳng định Việt Nam rất quan trọng trong chính sách phát triển của Microsoft và các quỹ.

Ông nói sẽ tiếp tục thúc đẩy các hoạt động hợp tác và hỗ trợ Việt Nam, tập trung vào lĩnh vực vệ sinh, nước sạch, môi trường; lĩnh vực y tế, nhất là phòng chống lao phổi; lĩnh vực AI và các mô hình giáo dục tiên tiến. Ông cũng cho biết sẽ có thông điệp nhân dịp Việt Nam khai trương cơ sở của Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia.

Quỹ Gates Foundations do Bill Gates làm chủ tịch, tập trung vào các hoạt động gồm phát triển nông nghiệp, dịch vụ tài chính cho người nghèo, nước sạch và vệ sinh môi trường, giáo dục toàn cầu, sức khỏe và dinh dưỡng. Quỹ còn thực hiện các hoạt động trong mảng y tế công cộng và sức khỏe toàn dân, tập trung các bệnh truyền nhiễm, phổ biến và các bệnh khu vực nhiệt đới.

Ngoài quỹ này, Bill Gates đã thành lập công ty Energy Breakthrough Venture (EBV) và Gates Ventures nhằm thúc đẩy đổi mới về năng lượng bền vững, giảm phát thải khí nhà kính. EBV đầu tư vào nhiều công ty khởi nghiệp đang cố gắng thương mại hóa các công nghệ mới. Còn Gates Ventures, một tổ chức tư vấn về các vấn đề sức khỏe và phát triển toàn cầu cũng như danh mục đầu tư công nghệ.

Tại Việt Nam, Microsoft Corporations đã có nhiều hoạt động và đóng góp cụ thể cho mảng công nghệ trong nhiều năm qua. Về y tế, một trong những hoạt động nổi bật của Bill Gates là đóng góp trong Quỹ Y tế toàn cầu cho hỗ trợ chương trình chống lao, phổi, sốt rét và HIV của Việt Nam thời gian qua. Quỹ Gates cũng hỗ trợ các hoạt động sử dụng công nghệ để chống biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Phát huy vai trò, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thời kỳ mới

 

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, dưới tác động tiêu cực của tình hình thế giới đến đời sống xã hội đất nước ta như: Xung đột Nga - Ukraine, dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, chủ nghĩa dân tộc, dân túy, tự do mới, dịch bệnh… và những nảy sinh từ mặt trái của kinh tế thị trường đặt ra cho Đảng, Nhà nước ta nhiều vấn đề mới, hệ trọng cần phải giải quyết. Trong khi đó, các thế lực thù địch vẫn tăng cường liên kết với những phần tử cơ hội chính trị, không ngừng xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng xuyên tạc giá trị, tính khoa học, cách mạng của học thuyết Mác - Lênin, nền tảng tư tưởng của Đảng về chủ nghĩa xã hội. Chúng xuyên tạc mục tiêu, lý tưởng con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Đồng thời, đưa ra các kiến nghị nhiều hình thức vào những dịp Đại hội Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp... đòi đổi mới chính trị theo hình thức đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thực chất là đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng còn lợi dụng vào những khó khăn tồn tại, hạn chế, thiếu sót, sơ hở trong đời sống xã hội, nhất là các vấn đề y tế, giáo dục, giao thông vận tải, tài nguyên môi trường…, gây hoang mang, dao động trong quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước và chính quyền địa phương, thậm chí dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái về tư tưởng chính trị trong chính đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), Đảng cảnh báo: “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc câu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”.

Nghị quyết số 35-NQ/TW khẳng định: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.

Vì vậy, để đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, ngoài việc xác định đúng nội dung, phương thức đấu tranh, thì cần đặc biệt quan tâm đến đối tượng tham gia vào cuộc đấu tranh này mà chủ thể đầu tiên, trước hết và cốt lõi là Đảng Cộng sản Việt Nam, mà cụ thể là các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên của Đảng.

Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền từ Trung ương đến cơ sở cần phải phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo việc quán triệt cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức sâu sắc và đầy đủ, kiên định và tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; gắn với đổi mới tư duy, vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước, của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị. Tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, nhất là các nghị quyết về xây dựng Đảng. Cấp ủy các cấp phải nêu cao trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý tư tưởng; chủ động nhận diện, làm rõ các luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới. Chủ động, kịp thời cung cấp các thông tin chính thống để định hướng dư luận; nâng cao khả năng “tự bảo vệ” của mỗi cán bộ, đảng viên viên và quần chúng trước những tác động và ảnh hưởng xấu từ bên ngoài, nhất là âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động.

Tăng cường tuyên truyền, giáo dục truyền thống yêu nước, lý tưởng cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân ta. Thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 9/2/2018, của Ban Bí thư (khóa XII) “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay. Chủ động, sáng tạo thông qua nhiều hình thức tuyên truyền phong phú, sáng tạo, giúp cán bộ, đảng viên và quần chúng hiểu và nắm vững hơn nữa bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thấy rõ bản chất phản động của các thế lực thù địch, phản cách mạng. Chú trọng việc biểu dương, nêu gương các điển hình tiên tiến, các mô hình, tập thể, cá nhân tiêu biểu, có sức lan tỏa trong xã hội. Bảo đảm sự thống nhất về ý chí và hành động, sự đoàn kết trong Đảng.

Chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện và thực hiện tốt hơn nữa các chính sách, pháp luật liên quan đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Điển hỉnh như việc và Nhà nước đã và đang hoàn thiện nền dân chủ XHCN, thực hiện tốt quy chế, pháp lệnh dân chủ ở cơ sở; quan tâm thực hiện đúng quyền con người theo các công ước quốc tế và Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam. Quan tâm chăm lo, thực hiện tốt chính sách tôn giáo, dân tộc nhằm tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng gắn liền với đoàn kết toàn dân tộc.

Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, càng cần phải nhận thức rõ hơn về nền tảng tư tưởng của Đảng, nhận thức công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng là nhiệm vụ thường xuyên, thiết yếu để điều chỉnh thái độ đấu tranh tự giác, kiên quyết, tích cực hơn. Nếu như Đảng coi trọng công tác giáo dục tư tưởng, lý luận cho đội ngũ thì bản thân mỗi đồng chí cán bộ, đảng viên cần không ngừng tu dưỡng, học tập lý luận, nâng cao lập trường tư tưởng, nắm vững Cương lĩnh, đường lối, cùng các chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước. Thực tế quá trình xây dựng và phát triển của mình, Đảng ta đã vững vàng đi qua bao gian khổ, thử thách bởi Đảng có đội ngũ cán bộ, đảng viên trung thành, tinh nhuệ, được giáo dục, rèn luyện cả trong lý luận và thực tiễn.

Mỗi đồng chí cán bộ, đảng viên cần nhận thức đúng đắn sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên trước hết là do bản thân các đồng chí đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện, lập trường tư tưởng không vững vàng trước những tác động từ bên ngoài. Chỉ khi nhận thức đầy đủ về mục tiêu, lý tưởng của mình, hiểu được chân lý “Còn Đảng là còn mình” để từng bước khắc phục, đấu tranh với những biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng, xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng, lười học tập, sợ học lý luận, lười suy nghĩ, để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đối với quần chúng Nhân dân, hơn khi nào hết, chúng ta cần khơi dậy tinh thần yêu nước và tinh thần trách nhiệm bảo vệ Đảng, bảo vệ Đất nước của mỗi người dân. Lịch sử dân tộc đã chứng minh, “Lòng dân” chính là “Vận nước”, chỉ khi có được sự đồng tình, ủng hộ của Nhân dân, thì sự nghiệp đấu tranh cách mạng của dân tộc ta mới giành được những chiến công vĩ đại trước những kẻ thù to lớn nhất. Trong cuộc chiến giữa thời bình nhằm chống lại âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, chúng ta phải làm cho dân hiểu, dân tin, dân ủng hộ thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm. Mỗi cấp ủy, chính quyền từ Trung ương đến địa phương cần ra sức lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, quan tâm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho quần chúng Nhân dân; tiếp tục tạo cơ chế và điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Trên cơ sở đó, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động trong tình hình mới để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, đưa đất nước ta phát triển phồn vinh, hạnh phúc./.

 

Quan điểm của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

 

Kế thừa những thành tựu lý luận vĩ đại của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và của dân tộc ta. Bàn về những thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Về phần chúng tôi, chính là do cố gắng vận dụng những lời dạy của Lênin, nhưng vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay, mà chúng tôi đã chiến đấu và giành được những thắng lợi to lớn như đồng chí đã biết… chúng tôi giành được những thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác - Lênin”.

Ngược dòng lịch sử, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) tháng 2/1930 dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Đảng đã xác định mục tiêu lãnh đạo nhân dân tiến hành giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong hơn 92 năm, qua mười ba lần Đại hội Đảng đã cho thấy Đảng luôn kiên trì, kiên định với nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; luôn kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ.

Ngay từ những năm 30 của thế kỷ XX, Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội xét lại Trotsky và những phần tử Trotskyist phá hoại phong trào cách mạng vô sản thế giới nói chung và phong trào cách mạng Việt Nam nói riêng. Khi thế giới xuất hiện chủ nghĩa cơ hội, xét lại chống lại chủ nghĩa Mác cũng như phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Hội nghị lần thứ chín của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) tháng 12/1963 đã thảo luận và thông qua nghị quyết về “tình hình thế giới và nhiệm vụ quốc tế của Đảng”. Nghị quyết phân tích đặc điểm tình hình thế giới, nội dung và tính chất của thời đại, về chiến lược và sách lược, phương pháp đấu tranh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và nêu rõ trách nhiệm của Đảng phải bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, chống chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh, chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa biệt phái trong phong trào cộng sản quốc tế. Đảng cũng đồng thời chỉ rõ một số cán bộ, đảng viên đã nhận thức và hành động trái với quan điểm của Đảng, có người được cử đi học và tìm cách ở lại nước ngoài và rời bỏ Đảng. Số đó tuy rất ít nhưng đã ảnh hưởng nghiêm trong đến uy tín của Đảng. Do đó, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định, đánh giá những biểu hiện tiêu cực trong nội bộ Đảng kể từ khi chúng còn manh nha để kịp thời nhắc nhở, cảnh tỉnh và điều chỉnh đội ngũ cán bộ, đảng viên; trên tinh thần đó, khẳng định sự trung thành và kiên định trong việc đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đến cuối thập niên 80, đầu thập niên 90, chế độ chủ nghĩa xã hội tại Liên Xô - thành trì của chủ nghĩa xã hội hiện thực rơi vào khủng hoảng và sụp đổ kéo theo sự tan rã của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Nhận thấy những diễn biến tiêu cực của các Đảng Cộng sản và các nước xã hội chủ nghĩa, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Đảng khẳng định, tính chất của công cuộc đổi mới ở Việt Nam không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội cùng những bước đi và biện pháp thích hợp và “Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn luôn là nền tảng tư tưởng của Đảng ta, chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”. Điều này cho thấy bản lĩnh và quyết tâm rất lớn của Đảng trong việc kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, bất chấp mọi sự chống phá của các thế lực thù địch.

Tháng 8/1989, Hội nghị Trung ương 7 (khóa VI) của Đảng ban hành Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về công tác tư tưởng trước tình hình trong nước và quốc tế hiện nay”. Trung ương đã nhận định về những sai lầm trong cải tổ, cải cách của một số đảng. Đặc biệt, với việc nhìn nhận những thất bại của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu khi buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Nghị quyết Trung ương 7 nhấn mạnh: “Chủ nghĩa đế quốc chưa bao giờ từ bỏ mục tiêu của chúng là xoá bỏ chủ nghĩa xã hội và xoá bỏ các phong trào cách mạng. Chúng chỉ điều chỉnh sách lược và phương pháp thực hiện mục tiêu đó mà thôi” và “Hệ tư tưởng chỉ đạo sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa là chủ nghĩa Mác - Lênin. Đảng ta luôn luôn trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, quán triệt bản chất cách mạng và khoa học của nó, vận dụng một cách sáng tạo vào điều kiện nước ta”.

Từ chỗ Đảng ta khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin là “cái cốt của Đảng”, “cái gốc của Đảng” trở thành “nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng” và đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (năm 1991), Đảng bổ sung tư tưởng Hồ Chí Minh vào nền tảng tư tưởng của Đảng trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” và khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng, kể từ đây, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chính thức giữ vai trò chủ đạo trong đời sống xã hội.

 

Tuy nhiên, các thế lực thù địch trong và ngoài nước vẫn ráo riết thực hiện âm mưu và thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” hòng xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, thủ tiêu chế độ XHCN ở Việt Nam. Vì thế, trong mỗi tiến trình lãnh đạo đất nước, Đảng tiếp tục ban hành những chỉ đạo cụ thể nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch như: Nghị quyết số 01-NQ/TW ngày 28/3/1992 “Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay”; Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 18/2/1995 “Về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay”. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII diễn ra tháng 01/1994, Đảng nhận định “Diễn biến hòa bình” là một trong bốn nguy cơ lớn đối với con đường phát triển của cách mạng Việt Nam. Đến Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Đảng vạch rõ những âm mưu thâm độc của các lực lượng thù địch khi thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, nhất là trên mặt trận văn hóa - tư tưởng, nhằm mục đích xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tại Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII), Đảng ta chỉ rõ đã có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên “nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Lỗ hổng đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để đẩy mạnh xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đại hội XII của Đảng (01/2016), Đảng ta tiếp tục khẳng định: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ trọng yếu, có ý nghĩa sống còn trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ Nhân dân và chế độ XHCN. Đặc biệt, sự ra đời của Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” đưa việc lãnh đạo đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lên một tầm nhiệm vụ trọng yếu. Nghị quyết xác định rõ: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Và đến Đại hội lần thứ XIII của Đảng, vấn đề bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng được đặt lên hàng đầu trong quan điểm chỉ đạo của Đảng: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dân tộc ta đã giành được độc lập, thống nhất đất nước và tiến hành công cuộc đổi mới thu được những thành tựu làm thay đổi căn bản đời sống xã hội, được nhân dân và bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Song, chính những thắng lợi vẻ vang đó trong suốt hành trình hơn 93 năm xây dựng và trưởng thành của Đảng cũng đồng thời là cái gai trong mắt các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, thôi thúc chúng càng điên cuồng chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng không ngừng ráo riết thực hiện các âm mưu diễn biến hòa bình nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, chuyển hóa chế độ chính trị và xóa bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Chủ nghĩa Mác - Lênin với vấn đề bảo vệ Đảng, đấu tranh phê phán các trào lưu, quan điểm sai trái

 

Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống quan điểm, học thuyết khoa học do C.Mác - Ph.Ăngghen đặt nền móng vào đầu thế kỷ XIX, được V.I. Lênin kế tục, phát triển từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Đây là một học thuyết khoa học, cách mạng và nhân văn, bởi nó phơi bày bản chất cùng những mâu thuẫn cố hữu tồn tại trong chế độ tư bản chủ nghĩa, đồng thời chỉ rõ lực lượng, con đường, phương pháp nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Vì thế, ngay từ khi ra đời, Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn bị hệ thống tư bản chủ nghĩa phê phán quyết liệt trên cả phương diện chính trị, lý luận và thực tiễn. Giai cấp tư sản đã sớm nhận ra chủ nghĩa Mác - Lênin là nguy cơ đe dọa sự tồn tại của chúng. C.Mác và Ph.Ăngghen trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đã ví sự lo sợ của giai cấp tư sản về chủ nghĩa cộng sản như “bóng ma ám ảnh châu Âu”, buộc chúng phải tìm mọi phương cách cũng như thủ đoạn để ngăn chặn và chống phá quyết liệt.

Đồng thời, thông qua các tác phẩm của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm chủ quan của phái Hegel trẻ, kiên trì đấu tranh chống lại quan điểm cơ hội của phái Bakunin, Proudhon, Lassalle và nhiều quan điểm tư sản khác. Hai ông nhiều lần khẳng định, học thuyết của các ông không đội trời chung với chủ nghĩa giáo điều, bảo thủ, với quan điểm duy tâm, siêu hình, cơ hội và xét lại. Trong tác phẩm “Tư bản”, C.Mác - Ph.Ăngghen phê phán các quan điểm duy tâm, siêu hình đã phản ảnh sai lầm về tiến trình phát triển của lịch sử cũng như những lý luận biện hộ cho sự tồn tại tất yếu, vĩnh hằng của chủ nghĩa tư bản. Đến tác phẩm “Ludwig Feuerbach và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”, Ăngghen đã đấu tranh với những quan điểm triết học duy tâm, siêu hình của Feuerbach trong việc giải quyết những vấn đề cơ bản của triết học. Ông chỉ rõ tính lịch sử và sự hạn chế của triết học Hegel, Feuerbach và nêu rõ những nguyên lý của triết học mác xít để khẳng định sự ưu việt, tiến bộ của thế giới quan vô sản... Đặc biệt, tiêu biểu trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ Chủ nghĩa Mác là tác phẩm “Chống Duhring”. Duhring là nhà tư tưởng đại diện cho chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản phản động, ông ta nhận mình là một người cộng sản xong lại không ngừng đả kích Mác, Chủ nghĩa Mác là cũ rích, phi khoa học, là sự nhắc lại của chủ nghĩa Hegel và làm mới chủ nghĩa Feuerbach. Bằng việc phát hiện ra bản chất phản động, phản khoa học trong quan điểm của Duhring, Ăngghen đã thể hiện tiếng nói kiên quyết và triệt để trong việc phủ định, công kích các quan điểm sai trái của hắn, từ đó, góp phần bảo vệ và phát triển chân lý khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác. Có thể nói, thông qua quá trình phủ định các quan điểm thù địch, đấu tranh trên mặt trận tư tưởng - lý luận mà các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đã bảo vệ và làm cho Chủ nghĩa Mác càng ăn sâu, bám rễ vào đời sống xã hội với sức lan tỏa và ảnh hưởng mạnh mẽ.

Đến lượt V.I.Lênin, trong điều kiện lịch sử mới của nước Nga Xô viết, khi các quan điểm sai trái chủ yếu tập trung vào việc cản trở sự phát triển của phong trào công nhân và cách mạng vô sản. Nhận diện được âm mưu, thủ đoạn đó, Lênin đã dựa trên thế giới quan, phương pháp luận của Mác - Ăngghen và thành tựu của khoa học tự nhiên để chỉ ra sự vô căn cứ của chủ nghĩa duy tâm, phương pháp tư duy siêu hình của phái dân túy. Ông đấu tranh với quan điểm trực diện phê phán chủ nghĩa Mác, chống sự biến tướng của chủ nghĩa duy tâm tôn giáo, chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán và những quan điểm giả danh Mác. Ông đã phê phán kịch liệt những quan điểm cơ hội, xét lại của E.Bernstein, K.Kautsky..., đấu tranh với những quan điểm sai lầm của G.V.Plekhanov, N.I.Bukharin, L.Trotsky... Khi chủ nghĩa tư bản chuyển sang chủ nghĩa đế quốc, hàng loạt quan điểm phủ nhận chủ nghĩa Mác hình thành, cho rằng chủ nghĩa Mác lỗi thời, không còn phù hợp. Lênin đã đấu tranh, làm rõ sự sai lầm và vô căn cứ của chúng, làm rõ bản chất của chủ nghĩa đế quốc vẫn là chủ nghĩa tư bản nhưng biểu hiện ở giai đoạn, trình độ cao hơn. Vì vậy, nó không thoát khỏi quy luật diệt vong. Với tác phẩm “Cách mạng vô sản và tên phản bội Kautsky”, Lênin đã vạch trần sự phản bội về mặt lợi ích của Kautsky đối với giai cấp công nhân, quan điểm phủ nhận chuyên chính vô sản cũng như bóp méo chủ nghĩa Mác của hắn, từ đó khẳng định vai trò và giá trị của nền chuyên chính vô sản đối với tuyệt đại đa số nhân dân lao động...

Cách mạng Tháng Mười Nga thành công năm 1917 đã đánh dấu thắng lợi vinh quang và vĩ đại của việc hiện thực hóa chủ nghĩa Mác, đưa lý luận của Mác - Ăngghen trở thành hiện thực ở Nga. Đồng chí V.I.Lênin đã trở thành tấm gương sáng ngời về đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác. Ông khẳng định: Một cuộc cách mạng không biết tự vệ mình là cuộc cách mạng tự sát. Có thể thấy rằng, quá trình đấu tranh với các quan điểm sai trái, trào lưu phi vô sản của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin cũng là quá trình đào sâu, làm rõ và khẳng định giá trị nhân văn, khoa học, chân chính, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, để từ đó, phát triển nó trong lòng hiện thực xã hội. Các giá trị bền vững trong tư tưởng, quan điểm và phương pháp của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã và vẫn đang là lý luận và phương pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới; soi tỏ nhiệm vụ giải phóng con người khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột, bất công. Trong quá trình đó, các thế hệ cách mạng trên toàn thế giới, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam cần phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ sự nghiệp cách mạng của giai cấp và dân tộc, trong đó có cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

 

GIỮ VỮNG MÔI TRƯỜNG HÒA BÌNH, ỔN ĐỊNH ĐỂ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

 

Việt Nam là một đất nước đã phải trải qua nhiều mất mát đau thương bởi chiến tranh trong quá khứ. Giải đất “hình tia chớp” của chúng ta đã từng “sáng chắn bão giông, chiều ngăn nắng lửa, hơn ai hết, chúng ta thấu hiểu tình cảnh “nước mất, nhà tan”, thân phận của người dân như “con sâu, cái kiến”, chịu kiếp nô lệ của chủ nghĩa thực dân. Từng chứng kiến nỗi đau tột cùng và sự mất mát to lớn của chiến tranh, bởi vậy chúng ta luôn yêu chuộng hòa bình và khao khát được sống trong độc lập, tự do. Thẳm sâu trong mỗi người dân Việt Nam, chúng ta luôn ý thức được việc phải kiên quyết giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước song khi đã cố gắng, đã kiềm chế, khi kẻ thù đã “buộc ta ôm cây súng” thì “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập”. Đó là quyết tâm được thể hiện trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm 1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Hỡi đồng bào toàn quốc! Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Đó cũng là quyết tâm được thể hiện trong Lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, hiệu triệu toàn dân đồng tâm, nhất trí, vượt qua mọi khó khăn, thách thức đánh thắng giặc Mỹ xâm lược khi chúng mở rộng chiến tranh bằng không quân đánh phá miền Bắc năm 1966. Ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quan điểm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước vẫn là xuyên suốt, nhất quán. Tại Đại hội XII, trên cơ sở phân tích, đánh giá khách quan bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong nước, vấn đề môi trường hòa bình đã được Đảng ta đề cập một cách tổng quát, toàn diện, sâu sắc. Đảng đã đưa vấn đề “giữ vững môi trường hòa bình, ổn định” là một trong các mục tiêu trọng yếu trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Lần đầu tiên quan điểm này được chính thức đưa vào văn kiện, trở thành một thành tố (thành tố thứ tư) trong chủ đề của Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng. Với quan điểm này, việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định được xác định là điều kiện tiên quyết bảo đảm huy động cao nhất mọi nguồn lực để xây dựng, phát triển đất nước, nhanh, bền vững. Đến Đại hội XIII, trước bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong nước ngày càng diễn biến phức tạp, chủ nghĩa dân túy, dân tộc cực đoan, thực dụng, cường quyền nước lớn trong quan hệ quốc tế gia tăng; tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa các quốc gia; sự can dự, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn với các không gian chiến lược mới (như: không gian mạng, không gian vũ trụ, lòng đất, lòng biển...); các loại hình tác chiến mới đặt ra những thách thức mới.., Đảng ta tiếp tục khẳng định phải “giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã bổ sung và nhấn mạnh đến vấn đề như “chủ động phòng ngừa là chính”, xác định “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”; “ Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế ”; “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển”..vv. Điều đó khẳng định tư tưởng nhất quán, sự nhạy bén, sáng tạo của Đảng ta; đồng thời, khẳng định tầm quan trọng của việc “giữ vững môi trường hòa bình, ổn định” trong điều kiện mới. Theo quan điểm của Đảng, muốn giữ được tình hình đất nước hòa bình, ổn định về mọi mặt thì cùng với xây dựng phải tiến hành đấu tranh, đấu tranh kiên quyết song phải mềm dẻo và linh hoạt. Xét ở góc độ quốc phòng, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính là bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, vùng đất, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và cuộc sống của nhân dân. Giữ vững môi trường hòa bình có nghĩa là tiến hành mọi biện pháp thích hợp để đất nước không xảy ra chiến tranh. Nhận thức đó có ý nghĩa rất quan trọng trong ứng xử, giải quyết các tình huống về quốc phòng, an ninh.

NỘI HÀM CỦA HÒA BÌNH, ỔN ĐỊNH ĐỂ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

 

Hòa bình là trạng thái an bình, yên vui của một đất nước. Đất nước hòa bình là đất nước không có chiến tranh, không có khủng bố, cướp bóc. Có hòa bình, đất nước sẽ có điều kiện để chăm lo phát triển kinh tế, xã hội, giáo dục và an sinh xã hội, người dân được sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Hòa bình là khát vọng của loài người, là mong ước ngàn đời của mọi đất nước, mọi dân tộc. Trái ngược với hòa bình là chiến tranh, là chết chóc, kiệt quệ, nghèo đói và mất mát.

 Hòa bình và môi trường hòa bình gắn kết chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể nhưng không đồng nhất, có sự khác nhau về phạm vi. Nói đến hòa bình là nói đến trạng thái của một đất nước không có chiến tranh, còn nói đến môi trường hòa bình là muốn nói đến không gian đất nước diễn ra các hoạt động xây dựng và bảo vệ trạng thái đó. Nội hàm của môi trường hòa bình cần được hiểu là toàn bộ những điều kiện về tự nhiên, xã hội có quan hệ đến sự tồn tại, phát triển của con người và chế độ chính trị của đất nước.

Hòa bình cũng không đồng nghĩa với sự ổn định. Một đất nước có hòa bình chưa chắc đã có sự ổn định. Sự ổn định trước hết được thể hiện ở trạng thái an toàn, không có những biến động lớn hoặc những thay đổi trên các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, trong đó quan trọng nhất là ổn định về chính trị. Ổn định về chính trị là cốt lõi, rường cột, nền tảng, quyết định sự ổn định của các lĩnh vực khác, là điều kiện tiên quyết để xây dựng và phát triển đất nước. Ổn định về chính trị phụ thuộc vào cả nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài, trong đó yếu tố bên ngoài nhiều khi gây ra những hệ lụy rất phức tạp, song suy cho cùng, nhân tố bên trong vẫn là chủ yếu. Cốt lõi của yếu tố bên trong là mục tiêu, lơị ích của đảng cầm quyền, là việc “yên dân”, là tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, là sự đồng thuận xã hội và niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước. Những yếu tố bên ngoài tác động vào, chủ yếu là sự chi phối của các nước lớn, sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Cần phải hiểu rằng, hòa bình không phải chỉ là giữ cho đất nước không để xảy ra chiến tranh mà còn phải là bảo đảm cho môi trường đất nước thực sự ổn định. Nghĩa là, phải loại bỏ mọi mầm mống, nguy cơ dẫn đến những bất ổn như xuyên tạc chống phá đảng lãnh đạo, xét lại lịch sử, âm mưu thủ đoạn xâm chiếm chủ quyền lãnh thổ, gây rối, bạo loạn, xung đột vũ trang hoặc chiến tranh xâm lược...vv. Hòa bình và ổn định có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, có giữ vững hòa bình thì mới tạo được sự ổn định và ngược lại, có ổn định thì nền hòa bình mới bền vững và mới có điều kiện để xây dựng phát triển đất nước. Một đất nước không giữ được môi trường hòa bình, để mất ổn định về chính trị sẽ thực sự thảm họa. Nó không chỉ trực tiếp ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của mỗi quốc gia mà còn làm cho “huynh đệ tương tàn”, lòng dân ly tán, là nguồn cội của nghèo đói, bất hạnh, chết chóc và đau thương; là nơi giao tranh, đấu đá của các phe nhóm, nơi ngã giá, chi phối, mặc cả của các thế lực bên ngoài, nơi khởi nguồn của những dòng người chạy tỵ nạn…và người gánh chịu hậu quả nặng nề nhất vẫn chính là nhân dân, là những người lao động trong xã hội. Bài học của Afghanistan, I-rắc, Nam Sudan, Lybia, Syria…đã nói lên điều đó.

Một số thành tựu đạt được trên con đường đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 

Hơn 93 năm kể từ khi có Đảng và hơn 77 năm kể từ sau cách mạng tháng Tám thành công, 37 năm đổi mới, mở của  Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu:

Một là, chúng ta đã xây dựng được một xã hội có nền kinh tế tăng trưởng ổn định, bền vững. Giai đoạn 1986 - 1990, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đạt được những thành tựu bước đầu quan trọng 4,4%/năm. Giai đoạn 1991 - 2019, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt hơn 6,9%/năm; quy mô nền kinh tế năm 2019 tăng 27,24 lần so với năm 1991. Chỉ số xếp hạng về quy mô GDP được cải thiện từ vị trí thứ 76 thế giới năm 1991 đã tăng lên thứ 44 năm 2019. Năm 2020, trong đại dịch Covid-19, kinh tế toàn cầu suy giảm mạnh (Mỹ giảm 32,9%, khu vực Eurozone -12,1%, Nga -8,5%, Hàn Quốc -3,3%, Xinh-ga-po -13,2%, Ma-lai-xi-a -17,1%...) song GDP của Việt Nam vẫn đạt 2, 91%, thuộc tốp cao nhất thế giới. Quy mô GDP của Việt Nam ước đạt 340,6 tỷ USD, vượt Singapore 337,5 tỷ USD, Ma-lai-xi-a 336,3 tỷ USD. Sau thời gian 2 năm 2020-2021 tập trung thực hiện mục tiêu kép "vừa phòng, chống dịch, vừa phát triển kinh tế", năm 2022 vừa qua kinh tế Việt Nam đã có bước phục hồi mạnh mẽ, đạt kết quả tích cực và tương đối toàn diện. Theo đó, GDP năm 2022 của Việt Nam tăng 8,02%, đạt mức tăng cao nhất kể từ năm 2011 do nền kinh tế đã khôi phục trở lại.

Hiện tại, Việt Nam được OECD dự báo tăng trưởng kinh tế dẫn đầu các nền kinh tế mới nổi châu Á. Các cân đối lớn luôn được đảm bảo, nền tảng vĩ mô ổn định, đặc biệt là trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều khó khăn, bất ổn, nhiều nền kinh tế suy giảm tăng trưởng. Trong điều kiện đã phải trải qua gần 100 năm chống đế quốc, thực dân, mới chỉ có khoảng 40 năm hòa bình thống nhất, đất nước và con người Việt Nam vẫn ngày càng “thay da đổi thịt”, không ngừng tăng trưởng và phát triển một cách toàn diện. Thử hỏi trên thế giới này có được mấy dân tộc trải qua lịch sử hào hùng như vậy?

Hai là, xây dựng một xã hội thực sự coi trọng con người, con người được quan tâm, chăm lo phát triển toàn diện. Một xã hội lấy dân làm gốc, thực sự bình đẳng, có nhiều chính sách về bảo đảm việc làm và quyền lợi người lao động. Với những nỗ lực không ngừng, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua. Trong giáo dục - đào tạo, từ một đất nước có hơn 95% người mù chữ, sau 78 năm đã hoàn thành phổ cập tiểu học vượt trước 15 năm so với thời hạn của Mục tiêu Thiên niên kỷ (năm 2000). Tỷ lệ người biết chữ độ tuổi 15 - 60 là 97,65%. Trên lĩnh vực giảm nghèo, tỷ lệ nghèo trên đầu người (tính theo chi tiêu thu nhập) giảm từ trên 70% năm 1990 xuống còn 9,35% năm 2022. Việt Nam đã "hoàn thành sớm hơn 10 năm so với mục tiêu kế hoạch toàn cầu của Liên Hợp quốc đã đề ra, trở thành điểm sáng, được quốc tế vinh danh và phát động làm theo. Trong công tác chăm sóc sức khỏe - y tế, năm 2022, Việt Nam có tỉ lệ 11 bác sĩ trên 10 nghìn dân; số giường bệnh trên 10 nghìn dân là 31 giường bệnh; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng nhanh từ 60,9% (2010) lên 92,03% (2022).

Ba là, xây dựng một xã hội nhân văn, ưu việt, được thể hiện xuyên suốt từ khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với đại dịch Covid - 19, trong khi nhiều nước để được khám chữa bệnh nhân dân phải mất rất nhiều tiền, nhưng ở VN, Đảng và Chính phủ luôn quan tâm chăm lo, tổ chức cách ly, khám chữa bệnh miễn phí. Hình ảnh bộ đội nhường doanh trại, ân cần, tận tâm chăm sóc những người con xa xứ. Hình ảnh trong lũ lụt bão giông, cả nước hướng về miền trung, lá rách ít đùm lá rách nhiều, bộ đội sẵn sàng hy sinh cứu giúp đồng bào, nắn cả dòng chảy Rào Trăng để tìm kiếm thi thể nạn nhân…, tự nó đã khẳng định thực chất sự ưu việt của chế độ.

Bốn là, một đất nước an bình, an ninh, an toàn, thứ đã trở thành mộng ước xa xỉ đối với lãnh đạo và công dân của nhiều quốc gia.

Tất cả những điều kể trên đều đã khẳng định con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là hoàn toàn đúng đắn và sáng suốt. Kiên định con đường đi lên CNXH là một tất yếu lịch sử, là sự kiên định con đường thực tiễn mà nhân dân ta đang đi, kiên định mục tiêu thực hiện mà chúng ta đang hướng tới, là tiếp nối thành quả cách mạng của Đảng, của nhân dân ta và nâng lên tầm cao mới phù hợp với điều kiện lịch sử. Các thế lực thù địch càng điên cuồng chống phá, chúng càng bộc lộ rõ bản chất phản động và giã tâm đen tối, càng hiện nguyên hình là kẻ thù của Nhân dân ta.

Sự chống phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trên không gian mạng

 

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn của Nhân dân. Nhân dân là cội nguồn sức mạnh, là chủ thể quyết định vận mệnh của dân tộc. Sự lựa chọn độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Đảng, nhà nước và nhân dân ta hoàn toàn đúng đắn, dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn tin cậy, phù hợp với ước nguyện, khát vọng của nhân dân ta.

Trong bối cảnh ấy, gần đây trên một số blog, trang Facebook, kênh Youtube hải ngoại như BBC Việt ngữ, Đài Á châu tự do RFA, VOA Tiếng Việt, Tổ chức Việt Tân, thoibao.de… trâng tráo cho rằng: Chủ nghĩa Cộng sản theo mô thức Mác-Lê đã hoàn tất xong vai trò lịch sử của nó. Có những kẻ tỏ vẻ thông thái: “Vì sao đến giờ này mà Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn kiên định mục tiêu, lý tưởng CNXH?”, “Chủ nghĩa xã hội tồn tại vì một mục đích duy nhất: quyền lực cho những kẻ thống trị”; thậm chí có những đối tượng như Nguyễn Văn Đài, Bùi Thanh Hiếu, Thái Văn Đường còn lên giọng dạy đời “Con đường XHCN mà nhân dân Việt Nam đang đi là trái với quá trình lịch sử - tự nhiên” và “ĐCSVN còn coi đi lên CNXH làm mục tiêu thì đại hội nào cũng sẽ giống đại hội nào”. Ở trong nước, lợi dụng tự do dân chủ, thông qua Internet, mạng xã hội, một số đối tượng như Nguyễn Lân Thắng, Mạc Văn Trang, Nguyễn Quang A đã lộ rõ quan điểm sai trái, phản động dưới dạng những “tâm thư”, “kiến nghị”, “thư ngỏ” kiểu như : “Thật không may cho VN đã lựa chọn con đường XHCN nên đã để di họa, cho đến tận ngày hôm nay vẫn chưa thể khắc phục được”; “Đảng đã dẫn dắt dân tộc đi theo đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội”; Không nên xác định mục tiêu của Đảng là thực hiện thành công Chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là Chủ nghĩa Cộng sản”; “ Đảng phải kiến tạo con đường mới. Sai lầm hiện nay là do Đảng ta vẫn “sử dụng con đường cũ” để đi đến “mục tiêu mới”.

Chống phá về mục tiêu, con đường đi lên CNXH đã trở thành thuộc tính cố hữu, xuyên suốt của các thế lực thù địch, phản động. Sự chống phá đó càng được đẩy lên trên KGM mỗi khi đất nước chúng ta tổ chức các sự kiện chính trị lớn. Chúng thiết lập các Website, Blog, tài khoản Facebook, Youtube, mở các diễn đàn, các buổi livestream…phát tán các thông tin, tài liệu, hình ảnh, video clip có nội dung xấu độc để chống phá; đăng tải thông tin thật giả lẫn lộn để đả kích, phủ nhận truyền thống cách mạng từ đó tuyên truyền, kích động, lôi kéo gây hoang mang trong dư luận xã hội. Đây thực chất là những luận điệu phản khoa học, giả dối, phi lý và phản động. Mục đích của những kẻ tung ra luận điều này rất rõ ràng là muốn xóa bỏ CNXH, thay đổi thể chế chính trị, hướng lái nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa; bên cạnh đó là làm cho quần chúng nhân dân hoài nghi, bi quan, dao động, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên CNXH mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.

Chúng ta đều đã biết, Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn của dân tộc Việt Nam. Từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các phong trào từ “Cần Vương”, “Khởi nghĩa Yên Thế”, “Đông Du…” đã liên tiếp nổ ra. Dù tràn đầy lòng yêu nước, đức hy sinh, nhưng các cuộc khởi nghĩa, các phong trào đó, các tầng lớp, giai cấp từ nông dân, tiểu tư sản, phong kiến...đến tư sản dân tộc đều đã vào cuộc thử sức và thất bại. Thực tiễn lịch sử đã khảo nghiệm và khẳng định duy nhất chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Từ khi có Đảng, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.  

Một số giải pháp đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng

 

Một là, chú trọng tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân để nhìn nhận và có trách nhiệm, ý thức trước mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, các dấu hiệu “tự diễn biến, tự chuyển hóa”. Đây là một giải pháp rất quan trọng, thường xuyên, cơ bản, lâu dài để mỗi cán bộ, đảng viên dù công tác ở cương vị nào cũng nêu cao trách nhiệm và nâng cao cảnh giác, bảo đảm “giữ vững bên trong là chính”. Trên cơ sở có nhận thức đúng, có bản lĩnh chính trị vững vàng thì sẽ tự miễn dịch trước các luận điệu chống phá của các thế lực thù địch.

Hai là, tổ chức tuyên truyền bằng nhiều nội dung, hình thức, trong đó tập trung tuyên truyền về âm mưu, phương thức, thủ đoạn đưa thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng của các loại đối tượng làm chuyển biến nhận thức trong cán bộ, đảng viên và nhân dân để mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân khi tham gia, tương tác, chia sẻ bình luận, hưởng ứng, bài viết trên các trang mạng xã hội có trách nhiệm trước bản thân, trước pháp luật. Chia sẻ nhiều bài viết tích cực, nhất là của thế hệ trẻ hôm nay, của cha ông ta trong cuộc chiến đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, với phương châm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”.

Ba là, tiếp tục triển khai có hiệu quả Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 16/9/2013 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về tăng cường công tác đảm bảo an toàn thông tin mạng, Chỉ thị số 15/CT-TTg, ngày 17/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác đảm bảo an ninh và an toàn thông tin mạng trong tình hình mới và Thông báo số 17/TB-VPTW ngày 23/8/2016 của Thường trực Ban Bí thư về biện pháp cấp bách bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng; nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tiếp tục quán triệt và tổ chức triển khai thật tốt Nghị quyết này, xem đây là sự định hướng chiến lược quan trọng trong việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bốn là, phát huy vai trò của các cơ quan chuyên môn trong việc kiểm soát, ngăn chặn nội dung xấu độc trên không gian mạng, cùng với đó là chế tài của pháp luật, kịp thời xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm, kiên quyết đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Kịp thời sơ, tổng kết, khen thưởng những tập thể, cá nhân có những đóng góp tích cực trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các luận điệu xuyên tạc, thù địch trên không gian mạng.

 

Không gian mạng và cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Trong những năm qua Đảng, Nhà nước đã rất quan tâm và nhìn nhận ra những mặt tích cực và tiêu cực trên không gian mạng, trong các văn kiện của Đảng đều đưa ra dự báo và yêu cầu phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành, các cơ quan có liên quan cần chủ động dự báo được tình huống, không bị động và đề ra giải pháp hiệu quả trong đấu tranh làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Điều chúng ta cần nhận thấy hiện nay, đó là tỷ lệ thế hệ trẻ của Việt Nam, thậm chí những cháu nhỏ lên 5 tuổi đã biết tí tách sử dụng điện thoại ngày càng nhiều. Việc kiểm soát nội dung của các trang mạng của chúng ta còn tồn tại những hạn chế, bất cập cùng với chế tài chưa đủ mạnh dẫn đến một số nội dung chưa kiểm soát được. Trong khi đó không ít các bậc phụ huynh, cha mẹ còn dễ dãi trong việc cho con trẻ sử dụng điện thoại, nên không kiểm soát được những tiêu cực từ các trang mạng xã hội tác động vào thế hệ trẻ của chúng ta hôm nay. Các thế lực thù địch coi việc tập trung thổi luồng tư tưởng làm xấu thế hệ trẻ, chúng xác định đây là lực lượng trước mắt, trực tiếp, lâu dài để làm chuyển hóa hệ tư tưởng, dẫn đến tự chuyển hóa, tự diễn biến ở Việt Nam.

Đảng ta đã xác định, cuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch thực chất là cuộc đấu tranh giữa hai ý thức hệ xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; là cuộc đấu tranh lâu dài, phức tạp, ngày càng diễn ra quyết liệt. Trong các văn kiện đại hội ở thời kỳ đổi mới, Đảng đều nhấn mạnh nhiệm vụ đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, đấu tranh bảo vệ Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng.

Đảng đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết nêu rõ các quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp lớn. Một trong những văn bản quan trọng là Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X), ngày 01/8/2007 “Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới”. Nghị quyết chỉ rõ: “Triển khai đồng bộ, chủ động cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, phản bác các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo, chống phá Đảng, Nhà nước ta, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” thực hiện đa nguyên chính trị, hình thành lực lượng đối lập, gây bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch, thường xuyên cảnh giác, chủ động phòng chống nguy cơ tự diễn biến, tự chuyển hóa ở cả Trung ương, các ngành, các cấp”. Nghị quyết Trung ương 9, (khóa X), ngày 02/2/2009 “Về một số nhiệm vụ, giải pháp lớn nhằm tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng” cũng đã nhấn mạnh: “Chủ động phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển, hóa” và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, bác bỏ luận điệu tuyên truyền phản động, làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng”. Đến Đại hội XI, Đảng ta một lần nữa khẳng định: “Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên”. Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị khoá XII ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Như vậy, việc đấu tranh trên không gian mạng, giữ vững trận địa tư tưởng, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng là nhiệm vụ quan trọng và hết sức cấp thiết. Nhằm chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu lợi dụng không gian mạng đưa thông tin xấu độc, giả mạo chống phá cách mạng Việt Nam, cán bộ, đảng viên cần hạn chế thấp nhất tác động ảnh hưởng tiêu cực của các nhóm thành phần lợi dụng không gian mạng.

Không gian mạng và sự lợi dụng chống phá của các thế lực thù địch

 

Không gian mạng (Facebook, Zalo, Youtube, Instagram, Linkedin, Tiktok, Google…) đang phát triển mạnh mẽ, tạo ra nhiều lợi ích đối với các quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, do có tính mở, với đặc trưng tự do, đa dạng, bình đẳng, nhiều khi bị xóa nhòa ranh giới giữa thực và ảo, vì vậy không gian mạng mang đến không ít thách thức đối với việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng đã và đang trở thành công cụ hàng đầu để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá, chuyển hóa chính trị, khủng bố. Đây thực sự là một mặt trận quan trọng và không thể buông lỏng. Đấu tranh tư tưởng trên không gian mạng hiện nay là vấn đề khách quan, nhiệm vụ trọng yếu, đòi hỏi các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên và nhân dân phải luôn nhận thức đầy đủ những thách thức và yêu cầu của nhiệm vụ, xây dựng bản lĩnh, trách nhiệm và quyết tâm cao, góp phần giữ vững nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng trong tình hình mới.

          Trên thế giới, một số nước kiểm soát không gian mạng rất tốt. Cụ thể như ở Trung Quốc, các trang mạng xã hội muốn triển khai ở Trung Quốc phải có máy chủ đặt tại đó, các thuê bao, tài khoản…phải đúng quy định của pháp luật, người dân phải đủ tuổi, có địa chỉ rõ ràng…mới được sử dụng tài khoản, cùng với đó là các chế tài mà Trung Quốc đặt ra cho các trang mạng xã hội muốn triển khai trên đất nước của họ, do vậy Trung Quốc đã kiểm soát rất tốt nội dung, tài khoản …trên không gian mạng.

Tại Việt Nam, với dân số khoảng 95 triệu người, tỷ lệ người sử dụng internet chiếm hơn 65% (đứng thứ 16 thế giới về số lượng người sử dụng internet), trong đó có khoảng 94% người dùng với mục đích sử dụng mạng xã hội. Các mạng xã hội được người dùng Việt Nam sử dụng phổ biến là Facebook, Zalo, Youtube, Instagram, Tiktok..., nhiều nhất là mạng xã hội Facebook với gần 60 triệu người dùng (đứng thứ 7 thế giới). Nhận thức được điều này, các thế lực thù địch đã không ngừng tuyên truyền những quan điểm sai trái thông qua con đường mạng xã hội. Bọn chúng tấn công, đả kích trực diện nền tảng tư tưởng của Đảng, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, mục tiêu, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những thành tựu to lớn của nhân dân dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đã đạt được trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế. Thúc đẩy và làm sâu sắc hơn quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân để thông qua đối tượng này trực tiếp phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào mục tiêu, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Về hình thức tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch, phản động chủ yếu qua các phương tiện truyền thông, internet, blog, mạng xã hội, duy trì sử dụng hàng chục đài phát thanh chương trình Việt ngữ, hàng trăm báo, tạp chí, nhà xuất bản tiếng Việt, hàng ngàn website, blog... để liên tục phát tán những thông tin xấu, độc, xuyên tạc, chống phá gây tác động xấu đến tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân.