Chủ Nhật, 24 tháng 9, 2023

Không được phép can thiệp, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đất nước và nhân dân Việt Nam


Những năm qua, phần lớn tổ chức phi chính phủ (NGO) trong nước và nước ngoài ở Việt Nam đã phát huy tốt vai trò của mình trong hoạt động hợp tác hỗ trợ phát triển, viện trợ nhân đạo phi lợi nhuận cùng các mục tiêu đúng đắn, hướng đến lợi ích cộng đồng. Dẫu vậy vẫn còn hiện tượng một số NGO thực hiện những hoạt động thiếu thiện chí, không phù hợp với lợi ích Việt Nam, thậm chí có dấu hiệu vi phạm pháp luật và phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc... Những hành động đáng phê phán nêu trên cần bị lên án và ngăn chặn kịp thời.

Ðến thời điểm hiện tại, Việt Nam có 388 tổ chức phi chính phủ nước ngoài đăng ký giấy phép và hoạt động thường xuyên. Tính riêng trong năm 2022, các tổ chức này đã viện trợ cho Việt Nam hơn 223,7 triệu USD cũng như tham gia hỗ trợ nhiều dự án liên quan đến văn hóa, giáo dục, thực thi các hiệp định thương mại quốc tế và công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Bên cạnh đó, nhiều tổ chức phi chính phủ nước ngoài cũng thường xuyên phối hợp với các cơ quan đối tác, các tổ chức phi chính phủ và tổ chức của Việt Nam để xây dựng những chương trình thiết thực, có ý nghĩa nhân văn. Những đóng góp này càng trở nên đáng quý hơn trong bối cảnh nguồn hỗ trợ chính thức (ODA) từ các quốc gia phát triển giảm mạnh vì nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan. Ðồng nghĩa các NGO ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ Việt Nam hoàn thành các định hướng phát triển kinh tế-xã hội, nhất là với những thành tựu mà các bên đã đạt được về chống biến đổi khí hậu, hỗ trợ cộng đồng có hoàn cảnh khó khăn, nhóm yếu thế và dân tộc thiểu số, nâng cao quyền cho phụ nữ và trẻ em gái.

Dẫu vậy trong bức tranh chứa nhiều điểm sáng ấy xuất hiện những điều đáng lo ngại, đó là việc một số tổ chức phi chính phủ đang lợi dụng việc tổ chức, thực hiện, tham gia, tài trợ các dự án phi lợi nhuận để cổ súy các hoạt động không phù hợp với lợi ích quốc gia, có dấu hiệu vi phạm pháp luật, trái với đạo đức xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.

Nổi lên trong thời gian qua là hiện tượng nhân danh hợp tác quốc tế về xây dựng pháp luật, cải cách tư pháp, giáo dục, y tế, nhất là liên quan đến lĩnh vực bảo vệ quyền của người dân tộc thiểu số, người lao động, đất đai, môi trường... một số NGO tìm cách can thiệp các công việc nội bộ của Việt Nam, đưa ra những thông tin, đánh giá thiếu khách quan nhằm mục đích gây hoang mang dư luận, dấy lên những nghi kị, mất đoàn kết dân tộc, có tính chất chia rẽ vùng miền, làm suy giảm lòng tin của người dân đối với Ðảng và Nhà nước.

Hiện tượng nêu trên đang có xu hướng diễn biến phức tạp khi một số tổ chức phi chính phủ nước ngoài lợi dụng hoạt động tài trợ nhằm lôi kéo các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ ngoài công lập tham gia vào các dự án có nguy cơ xâm phạm an ninh và trật tự, an toàn xã hội của đất nước. Thông qua phương thức đặt hàng nghiên cứu, họ hướng lái một số cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ, tiến hành nghiên cứu và công bố hàng loạt báo cáo, khảo sát chứa nhiều nội dung tiêu cực, phiến diện, bôi đen tình hình đất nước và con người Việt Nam.

Trên danh nghĩa bảo trợ các nhóm mục tiêu (phụ nữ, trẻ em gái, người dân tộc thiểu số, nhóm dễ bị tổn thương), một số tổ chức phi chính phủ nước ngoài khuyến khích thành lập các câu lạc bộ, hội, nhóm với những tên gọi như "nhóm cộng đồng nòng cốt", "nhóm đồng đẳng viên", "nhóm tự quản", "nhóm công nhân nòng cốt", đồng thời lôi kéo một số tổ chức xã hội Việt Nam không đủ điều kiện theo quy định pháp luật, tự ứng cử vào Nhóm tư vấn trong nước (DAG) Việt Nam. Từ đây, họ vận động những nhóm đối tượng này đưa ra các yêu sách vô lý vào quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật và xây dựng Nhà nước pháp quyền sau khi Việt Nam ký kết Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) với Liên minh châu Âu.

Thời gian qua các hội nhóm thiếu thiện chí này tổ chức nhiều tọa đàm, khóa học, buổi tập huấn lồng ghép nội dung xuyên tạc Hiệp định EVFTA, Bộ luật Lao động 2019, phủ nhận vai trò, chức năng, nhiệm vụ của công đoàn cơ sở trong việc giải quyết quyền lợi chính đáng, khó khăn, khúc mắc giữa người lao động với doanh nghiệp.

Song song đó, các tổ chức phi chính phủ thiếu thiện chí tiếp tục đẩy mạnh nhiều hoạt động có dấu hiệu vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội trong bối cảnh Việt Nam tiến hành hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Họ đưa ra luận điệu xuyên tạc rằng "ở Việt Nam có dân tộc bản địa", từ đó đòi hỏi "quyền dân tộc tự quyết", "đòi thành lập khu tự trị". Thậm chí, website của một trung tâm tư vấn quản lý và phát triển văn hóa cộng đồng còn công khai đưa ra nhận định gây chia rẽ rằng: "Với sở hữu toàn dân về đất đai, và Nhà nước thống nhất quản lý, thì về mặt kỹ thuật, không có vùng đất nào thuộc sở hữu tư nhân. Do đó, các khu vực rộng lớn, màu mỡ, giàu tài nguyên vốn do người dân tộc thiểu số và bản địa sử dụng có thể bị chuyển sang phục vụ mục đích phát triển".

Phát ngôn thiếu trách nhiệm, các đối tượng cố tình phủ nhận một sự thật là do bối cảnh và điều kiện lịch sử để lại, 54 dân tộc cư trú xen kẽ trên đất nước Việt Nam từ lâu đời, không có dân tộc nào sinh sống hoàn toàn tách biệt riêng về mặt địa lý. Thêm vào đó, dân tộc Kinh và 53 dân tộc anh em luôn có sự đoàn kết, gắn bó mật thiết trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước. Không chỉ vậy, tinh thần đại đoàn kết dân tộc luôn được Ðảng và Nhà nước Việt Nam xác định là đường lối chiến lược, là cội nguồn sức mạnh, có ý nghĩa quyết định với thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Tuy vậy một số hội, nhóm chống phá vẫn vin vào việc bảo tồn văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số, cố tình đánh đồng việc bảo lưu các hủ tục lạc hậu với việc thực hành văn hóa truyền thống. Trên cơ sở đó, họ lập luận Nhà nước phải tôn trọng, bảo vệ, hỗ trợ vật chất hoặc khung pháp lý để cá nhân thực hành quyền văn hóa, bất kể đó là hủ tục tổ chức đám tang tốn kém, kéo dài, mất vệ sinh; tục tảo hôn; tục bắt vợ... gây bức xúc trong cộng đồng.

Thậm chí, dù được hoạt động tự do trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam và nhận được sự giúp đỡ tận tình từ các cơ quan chức năng cùng đối tác nhưng đại diện của một vài tổ chức phi chính phủ vẫn có những nhận xét, đánh giá sai lệch về tình hình chính trị-xã hội Việt Nam. Ðáng chú ý, thành viên hội đồng quản trị tại một trung tâm quốc tế về luật phi lợi nhuận đang hoạt động chính thức tại Việt Nam đã đưa ra nhận định vu cáo rằng: "Việt Nam bắt đầu sử dụng luật thuế và bộ luật hình sự để bỏ tù các nhà lãnh đạo xã hội dân sự với tội danh trốn thuế, tuyên truyền chống nhà nước và lợi dụng các quyền tự do dân chủ (...). Các nhà chức trách sử dụng luật hiện hành để thực hiện việc đàn áp của họ, nhưng cũng thực hiện các bước để thắt chặt khuôn khổ pháp lý, trong đó có các tổ chức phi chính phủ hoạt động". Song chính người này phải thừa nhận "cho đến nay, chưa có tổ chức nước ngoài nào bị đình chỉ hoặc đóng cửa".

Cần khẳng định rằng trong nhiều năm qua, để phát huy vai trò của các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước đối với sự phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam, Ðảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, từng bước hoàn thiện khung pháp lý về đăng ký và quản lý hoạt động của loại hình hoạt động này.

Biểu hiện cụ thể nhất chính là việc gia tăng thời hạn đăng ký văn phòng đại diện của tổ chức phi chính phủ nước ngoài lên đến 5 năm; giảm thời gian trong quá trình xử lý và cấp Giấy đăng ký, gia hạn Giấy đăng ký, sửa đổi bổ sung, cấp lại Giấy đăng ký hoạt động (quy định cụ thể tại Chương III Ðiều kiện, trình tự, thủ tục cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, cấp lại giấy đăng ký, Nghị định số 58/2022/NÐ-CP về Ðăng ký và quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam). Chính phủ Việt Nam cũng cung cấp 7 mẫu đơn, báo cáo để thuận tiện cho công việc hành chính của các NGO nước ngoài tại Việt Nam.

Chính phủ cùng Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị Việt Nam (VUFO) và các cơ quan đối tác tại Việt Nam cũng đã có nhiều hỗ trợ với các hoạt động của các tổ chức phi chính phủ.

Ðó là lý do khiến nhiều tổ chức như Medical and Scientific Aid for Vietnam, Laos and Cambodia tiếp tục sứ mệnh của mình dù chiến tranh đã kết thúc nhiều năm (MSAVLC - tổ chức Viện trợ khoa học và y tế cho Việt Nam, Lào, Campuchia được thành lập từ năm 1965 chuyên khám, chữa bệnh cho nạn nhân thường dân trong chiến tranh). Ngoài ra, có thể kể đến những cái tên như Làng trẻ em SOS, tổ chức Vietnam, les Enfants de la Dioxine tại Việt Nam (VNED - Vì trẻ em chất độc da cam/dioxin Việt Nam), Orbis International (NGO nước ngoài chuyên hoạt động trong lĩnh vực chăm sóc và phẫu thuật về mắt cho trẻ em), v.v.

Là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam luôn trân trọng mọi nguồn lực hỗ trợ ở trong và ngoài nước phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Ðồng thời Việt Nam sẵn sàng tiếp nhận những kiến nghị khách quan, chính xác của đại diện các tổ chức phi chính phủ nhằm tìm ra những giải pháp tốt nhất giúp các tổ chức này hoạt động có hiệu quả trong khuôn khổ pháp luật. Tuy nhiên, Việt Nam không chấp nhận các phát ngôn, chương trình hành động của những tổ chức phi chính phủ đi ngược lại mục đích, cam kết ban đầu, cố ý vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích của đất nước, của nhân dân Việt Nam./.

                                                                                      QUANG MINH 

Việt Nam quan tâm, bảo đảm quyền của các dân tộc

 

Nhiều năm qua, Việt Nam luôn là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, đồng thời thực hiện nghiêm túc các nội dung của Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD). Việt Nam đã bốn lần bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia thực thi Công ước CERD. Năm 2023, Việt Nam tiếp tục xây dựng Báo cáo quốc gia CERD 5, qua đó khẳng định những thành tựu trong công tác nhân quyền nói chung và bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số nói riêng.

Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD) được thông qua và để ngỏ cho các quốc gia ký, phê chuẩn theo Nghị quyết số 2106 A (XX) ngày 21/12/1965 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc. Công ước CERD ra đời với mục tiêu lên án, tiến tới xóa bỏ nạn phân biệt chủng tộc, đồng thời xác lập nghĩa vụ cho các quốc gia thành viên phải áp dụng mọi biện pháp cần thiết và không trì hoãn các chính sách nhằm loại trừ các hình thức phân biệt dựa trên chủng tộc, mầu da, dòng dõi, dân tộc hoặc gốc người thiểu số.

Trong phần mở đầu, Công ước CERD khẳng định: “Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và có quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng để chống lại bất kỳ sự phân biệt đối xử hay bất kỳ sự kích động phân biệt đối xử nào”; đồng thời chỉ rõ: “Các quốc gia thành viên cam kết sẽ cấm và xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức và đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật của tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, màu da, nguồn gốc quốc gia hay sắc tộc” (Điều 5).

Nội dung của Công ước CERD có nhiều điểm tương đồng chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Việt Nam. Ngay từ khi mới khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) tại bản Hiến pháp năm 1946 được Quốc hội thông qua đã xây dựng trên các nguyên tắc: Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo; bảo đảm các quyền tự do dân chủ; thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.

Trên cơ sở đó, Hiến pháp 1946 khẳng định: Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa (Điều thứ 6); tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình (Điều thứ 7); ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung (Điều thứ 8).

Trải qua các giai đoạn lịch sử, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam ngày càng hoàn thiện, trong đó việc xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm và bảo đảm tính thực thi. Tại Điều 5 Hiến pháp năm 2013 xác định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.

Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình.

Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”. Đồng thời, các quy định về bình đẳng, không phân biệt chủng tộc được tiếp tục cụ thể hóa trong các văn bản luật, các chính sách, mục tiêu quốc gia,… và triển khai đồng bộ ở mọi lĩnh vực nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm dân tộc thiểu số phát triển bình đẳng trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

Chính sự tương đồng về quan điểm, mục tiêu bảo vệ quyền con người nói chung, xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc nói riêng nên từ năm 1982, Việt Nam đã gia nhập Công ước CERD. Từ đó đến nay, Việt Nam luôn thực hiện nghiêm túc các nội dung của Công ước CERD; tích cực triển khai thực hiện nhiều chủ trương, chính sách nhằm bảo đảm, thúc đẩy quyền của đồng bào dân tộc thiểu số.

Trong các năm 1983, 1993, 2000 và 2012, Việt Nam đã bốn lần bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia thực thi Công ước CERD. Điều này cho thấy những nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong thực hiện Công ước CERD, đặc biệt là việc bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số như xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, bình đẳng giới…

Năm 2023, Việt Nam tiếp tục xây dựng Báo cáo quốc gia CERD 5 gửi đến Ủy ban Công ước và được xếp lịch bảo vệ tại kỳ họp thứ 111 của Ủy ban (dự kiến tháng 11 và 12/2023). Thông tin về Báo cáo quốc gia CERD 5, bà Trần Chi Mai - Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế, Ủy ban Dân tộc cho biết báo cáo được xây dựng toàn diện trên cơ sở ý kiến đóng góp của các cơ quan Nhà nước ở Trung ương và địa phương, các cơ quan Đảng, Quốc hội, các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và người dân.

Cụ thể trong Báo cáo CERD 5 tập trung thể hiện kết quả Việt Nam thực thi Công ước CERD từ năm 2013-2019, tập trung vào các nội dung: Hệ thống pháp luật Việt Nam và các thiết chế bảo đảm, thúc đẩy quyền của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam; định nghĩa phân biệt chủng tộc và đánh giá sự phù hợp của định nghĩa phân biệt chủng tộc trong các điều luật của Việt Nam; vai trò quan trọng của công tác dân tộc và thực hiện các chính sách dân tộc trong việc xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; kết quả thực hiện các cam kết cấm và xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức và bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam; các biện pháp bảo đảm cho người dân tộc thiểu số ở Việt Nam không phải chịu bất cứ hành động phân biệt chủng tộc.

Với những nội dung nêu trên, có thể khẳng định Báo cáo quốc gia CERD 5 sẽ cung cấp cho cộng đồng quốc tế một bức tranh khá toàn cảnh về vấn đề chống phân biệt chủng tộc ở Việt Nam, từ những biện pháp lập pháp, hành chính, tư pháp cũng như các biện pháp khác mà Việt Nam đã xây dựng, triển khai cho đến kết quả tổ chức thực hiện các biện pháp đó trong giai đoạn từ năm 2013 đến 2019 nhằm bảo vệ quyền con người, chống các hành vi kỳ thị, phân biệt về chủng tộc tập trung vào người dân tộc thiểu số ở Việt Nam.

Báo cáo CERD 5 được trình bày và bảo vệ tại Ủy ban Công ước sẽ là cơ hội để Việt Nam tuyên truyền về những thành tựu bảo vệ nhân quyền nói chung và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với người dân tộc thiểu số nói riêng. Với một quốc gia có tới 53/54 là dân tộc thiểu số thì việc bảo đảm quyền cho đồng bào dân tộc thiểu số có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Đồng thời cũng qua Báo cáo CERD 5, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam thuận hòa, đoàn kết, gắn bó, đề cao ý thức tuân thủ pháp luật sẽ được lan tỏa đến cộng đồng quốc tế, nhằm tăng cường sự hiểu biết và thúc đẩy các quan hệ hợp tác. Từ hiện thực sinh động, thuyết phục này sẽ góp phần bác bỏ những luận điệu vu cáo, xuyên tạc của các thế lực thù địch, thiếu thiện chí đối với Việt Nam, nhất là trong vấn đề thực hiện các chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số.

Đáng buồn là thời gian qua, trên một số diễn đàn mạng xã hội và trong một bộ phận dân cư vẫn xuất hiện những quan điểm, ý kiến lạc lõng, sai sự thật về cái gọi là “kỳ thị dân tộc”, “phân biệt đối xử với đồng bào dân tộc thiểu số” ở Việt Nam.

Nguy hiểm hơn, các đối tượng chống phá, thù địch thường xuyên lợi dụng những khó khăn trong cuộc sống của đồng bào, các tranh chấp, khiếu kiện, những vấn đề do lịch sử để lại,… coi đây là mục tiêu để tấn công, hòng khoét sâu những bất đồng, mâu thẫu, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan. Địa bàn được các đối tượng chống phá nhắm đến là khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Như ở khu vực Tây Bắc, các đối tượng chống phá dựng lên cái gọi là “Vương quốc Mông”, và đưa ra yêu sách về “quyền tự trị”.

Còn ở Tây Nguyên, các đối tượng rêu rao “Tây Nguyên là của người Thượng”, “người Kinh cướp đất của đồng bào trên chính quê hương của mình” từ đó kích động “đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên phải liên kết lại đuổi người Kinh về xuôi”. Tương tự ở Tây Nam Bộ, các đối tượng kích động người dân tộc Khmer ly khai thành lập “Nhà nước Khơme Krôm độc lập”.

Song song đó, các đối tượng còn lôi kéo, dụ dỗ, tổ chức các hoạt động như vượt biên trái phép, di dân tự do, hòng làm cho đời sống của đồng bào mất ổn định; từ đó rêu rao Việt Nam phân biệt chủng tộc, vi phạm nhân quyền, kêu gọi sự can thiệp của các tổ chức quốc tế. Không khó để nhận diện âm mưu của các đối tượng chống phá, thù địch này là hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất lòng tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước, kích động bạo loạn, lật đổ chế độ.

Thực tế này cho thấy các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu, thủ đoạn chống phá núp dưới chiêu bài kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc hết sức tinh vi, thâm độc, khó lường. Đặc biệt, việc kích động, chống phá trên không gian mạng được chúng triệt để khai thác để tỏa “chân rết” đi đến các vùng miền, xâm nhập vào các cộng đồng người dân tộc thiểu số, tác động theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, hết sức nguy hiểm.

Thực tế này đòi hỏi các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, cũng như các tổ chức đoàn thể cần tiếp tục thực hiện tốt các chính sách dân tộc, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là đồng bào khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các đối tượng có hành vi chống phá, kích động phân biệt chủng tộc.

Người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số cần nâng cao tinh thần cảnh giác, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, không tin, nghe theo sự lôi kéo, dụ dỗ của người khác để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Mỗi người dân cần phát huy tinh thần trách nhiệm, kịp thời phát hiện những biểu hiện tiêu cực trong cộng đồng để báo cáo tới cơ quan chức năng làm rõ.

Sự phối hợp đồng bộ của cả hệ thống chính trị và người dân sẽ tạo khối đoàn kết gắn bó chặt chẽ, hiệu quả, giúp ngăn chặn hiệu quả và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các đối tượng xấu./.

                                                                               HÀ NHÂN 

Nguồn lực văn hóa trong phát triển đất nước thời kỳ mới


Trong thời kỳ mới, cần có những giải pháp đồng bộ để phát huy nguồn lực văn hóa, tạo bước đột phá để đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc.

NGUỒN LỰC VĂN HÓA ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC BỀN VỮNG

Văn hóa luôn gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Vì thế văn hóa được xác định lànguồn lực nội sinhquan trọng của sự phát triển. Phát huy sức mạnh “mềm” của văn hóa nhằm tạo ra nguồn lực văn hóa để phát triển đất nước là yêu cầu cấp thiết trong thời kỳ mới.

Nguồn lực văn hóa là tổng hòa các yếu tố văn hóa tác động đến hoạt động phát triển đất nước. Nguồn lực văn hóa có sức mạnh vừa hữu hình, vừa vô hình, có cả yếu tố bên trong, yếu tố bên ngoài... tất cả đều nhằm mục tiêu thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội theo hướng vì con người, vì hạnh phúc của con người và cộng đồng xã hội. Nguồn lực văn hóa tổng hòa các yếu tố: Con người, các quan hệ văn hóa và các sản phẩm văn hóa.

Con người là nguồn lực cốt lõi nhất trong nguồn lực văn hóa. Nguồn lực con người là tổng hòa về phẩm chất, năng lực và trình độ, trong đó, sức khỏe, tri thức, trí tuệ, năng lực, kỹ năng, lao động, đạo đức, ý chí... làm nên động lực tinh thần của con người trong hoạt động kinh tế và đời sống, tạo nên chất lượng sống, sự hài lòng và hạnh phúc của họ. Trong những phẩm chất đó đặc biệt chú ý là ý thức tự tôn dân tộc, tinh thần độc lập, tự cường - nền tảng tinh thần, yếu tố cấu thành phẩm chất của con người Việt Nam, đây là nội dung rất quan trọng của văn hóa Việt Nam. Vì thế, cần phát huy truyền thống hiếu học, khả năng trí tuệ và khơi dậy khát vọng phát triển của người Việt Nam để tạo ra động lực và sức mạnh nội sinh thúc đẩy sự phát triển của đất nước.

Các quan hệ văn hóa trong nguồn lực văn hóa là sức mạnh văn hóa của một cộng đồng, giúp cho cộng đồng đó phát triển bền vững.Các quan hệ văn hóa bao gồm: Hệ thống pháp luật, hệ giá trị và chuẩn mực xã hội, quy tắc ứng xử của các thành viên trong mối quan hệ cộng đồng, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với công việc, các mối quan hệ đó được “văn hóa hóa” trong hoạt động sống, tạo ra môi trường thuận lợi để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Các sản phẩm văn hóa là yếu tố trong nguồn lực văn hóa, bao gồm: Văn hóa ẩm thực, văn hóa cư trú, văn hóa giải trí, nghệ thuật, hệ thống di sản văn hóa, thị hiếu thẩm mỹ, uy tín, thương hiệu, các biểu tượng, phong tục, lễ hội... thể hiện bản sắc văn hóa của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc. Các sản phẩm văn hóa cần khai thác và phát huy giá trị, vai trò để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của văn hóa, nguồn lực văn hóa trong phát triển đất nước, ngay từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên năm 1930 của Đảng ta đã đề cập đến phát triển văn hóa của dân tộc. Trong Đề cương văn hóa Việt Nam, năm 1943, Đảng ta đã coi văn hóa là một trong ba mặt trận và chủ trương phát triển văn hóa theo hướng: Dân tộc - Khoa học - Đại chúng. Đảng đã phát huy vai trò của văn hóa, tạo ra một luồng sinh khí mới tập hợp mọi tầng lớp nhân dân để giành độc lập dân tộc, lập nên Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Ngay sau khi giành độc lập dân tộc, Đảng ta chủ trương: “Văn hóa hóa kháng chiến, kháng chiến hóa văn hóa” và “xây dựng đời sống mới”. Văn hóa Việt Nam tiếp tục trở thành động lực tinh thần để huy động mọi nguồn lực cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu năm 1954.

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Đảng ta quyết tâm thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giành độc lập, thống nhất nước nhà. Văn hóa và truyền thống dân tộc đã góp phần thôi thúc hàng triệu trái tim, phát huy mọi nguồn lực để vừa xây dựng, phát triển nền văn hóa mới, con người mới, vừa kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đã dốc lòng, dốc sức giành Đại thắng, thu giang sơn về một mối vào Mùa xuân năm 1975.

Sau hơn 35 năm đổi mới đến nay, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận về xây dựng, phát triển văn hóa, con người trong thời kỳ mới: Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII; Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII; Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (năm 1991); Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011); Nghị quyết số 33 của Hội nghị Trung ương 9 khóa XI (năm 2014); Kết luận số 76-KL/TƯ của Bộ Chính trị khóa XII về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TƯ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”... Những chủ trương đó đã góp phần to lớn đưa đất nước ta đạt được nhiều thành tựu có ý nghĩa lịch sử trên các lĩnh vực, để “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Trong bối cảnh hiện nay, Đảng ta xác định: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”. Theo đó, cần kết hợp động lực kinh tế với động lực tinh thần,thực hiện hài hòa lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội; phong trào quần chúng xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu phát triển văn hóa, con người toàn diện; con người là chủ thể, giữ vị trí trung tâm, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình xây dựng xã hội tiến bộ, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc. “Văn hóa là hồn cốt của dân tộc, là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

PHÁT HUY NGUỒN LỰC VĂN HÓA TRONG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC THỜI KỲ MỚI

Đảng ta xác định: “Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, luật pháp, kỷ cương... biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển”(4). Việc kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội là điều kiện quyết định cho sự phát triển bền vững đất nước. Để phát huy nguồn lực văn hóa trong phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc thời kỳ mới, cần quan tâm hơn nữa đến từng yếu tố trong tổng thể nguồn lực đó, cụ thể là:

Thứ nhất, không ngừng coi trọng, phát huynguồn lực con người.

Phải thực sự coi con người là trung tâm, là chủ thể trong phát triểnđất nước phồn vinh, hạnh phúcvà của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới. Cần khơi dậy và phát huy tiềm năng sáng tạo; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để phát triển đất nước. Trong đó, khơi dậy mạnh mẽ hơn nữa tinh thần yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc, tinh thần độc lập, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết, khát vọng phát triển của toàn dân tộc. Phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh và tinh thần cống hiến, tạo nguồn lực nội sinh và động lực đột phá để thực hiện thành công mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.

Mỗi con người trong cộng đồng là một chủ thể mang sức mạnh và tiềm năng văn hóa. Bằng trình độ và kỹ năng hoạt động, các chủ thể mang tiềm năng văn hóa sẽ không ngừng sáng tạo ra các giá trị mới, thúc đẩy xã hội phát triển, từng bước đạt đến tiến bộ xã hội. Hoạt động của các chủ thể văn hóa có trí tuệ cao, nhân cách lớn sẽ đem lại nhiều giá trị lớn cho xã hội và cộng đồng. Hoạt động đó càng có giá trị quan trọng đối với tiến bộ xã hội, tác động mạnh mẽ tới sự phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, tiến bộ xã hội làm cho con người ngày càng phát triển cả về tài năng, trí tuệ và hoàn thiện nhân cách.

Giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ phải thực sự trở thành động lực then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Muốn vậy, phải coi trọng việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, Nguồn nhân lực có trình độ, chất lượng cao đó không chỉ đóng góp to lớn vào sự phát triển của đất nước bằng năng lực tham mưu, lãnh đạo, quản lý, hạch toán, kinh doanh, xây dựng văn hóa... mà còn là những người giữ vững bản lĩnh, đạo lý, ý chí, khát vọng phát triển; biết khơi dậy tiềm năng, biến các giá trị văn hóa trở thành sức mạnh nội sinh...

Bên cạnh đó, cần khai thác và phát huy nguồn “tài nguyên” sáng tạo của mọi cộng đồng cư dân; chú trọng giáo dục, bồi dưỡng các chủ thể văn hóa, nhất là thế hệ trẻ theo mẫu hình con người Việt Nam thời kỳ mới: Vững vàng về chính trị, kiên định lập trường cách mạng, giàu lòng yêu nước; có lòng tự hào, tâm huyết; có bản lĩnh và tinh thần chủ động, khát vọng đổi mới sáng tạo, tự cường, ý chí vươn lên, sống thủy chung; đoàn kết, có nghĩa, có tình, giàu tình thương và lòng vị tha, trọng đạo lý, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, thanh lịch, văn minh, hiện đại.

Thứ hai, phát huy các quan hệ văn hóa.

1) Quan tâm hơn nữa đến việc xây dựng văn hóa ứng xử lành mạnh trong xã hội, phát huy những giá trị tích cực về thuần phong, mỹ tục của gia đình và xã hội; nêu cao tinh thần tương thân, tương ái, đoàn kết; trọng tình nghĩa, trọng công lý và đạo lý xã hội. Kết hợp hài hòa tính tích cực cá nhân và tính tích cực xã hội; đề cao trách nhiệm cá nhân với bản thân, gia đình và xã hội để tạo ra văn hóa ứng xử văn minh, lành mạnh, nhất là trong các cơ quan công quyền, trong cộng đồng, trên không gian mạng...

2) Không ngừngxây dựng Đảng và hệ thống chính trị về văn hóa và đạo đức tiêu biểu cho giá trị văn hóa, con người Việt Nam. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp chủ động triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, chương trình, kế hoạch đi vào chiều sâu; tăng cường phối hợp giữa các cấp, các ngành chặt chẽ, đồng bộ để nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý văn hóa; chủ động đưa phong trào xây dựng đời sống văn hóa cơ sở phát triển thường xuyên, đều khắp và vững chắc. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp không ngừng chủ động, đề cao vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, xây dựng con người có nếp sống văn hóa, văn minh; đồng thời kiên quyết đấu tranh phòng, chống lãng phí, tham nhũng, tiêu cực, để Đảng và hệ thống chính trị của chúng ta thật sự “là đạo đức, là văn minh” đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong thời kỳ mới.

3) Đẩy mạnh hơn nữa công tác tư tưởng, chú trọng tính kịp thời, tính chính xác và tính thuyết phục, góp phần định hướng dư luận xã hội. Đổi mới hơn nữa công tác lãnh đạo, chỉ đạo tuyên truyền, triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, chương trình, kế hoạch của Trung ương; thường xuyên kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện. Trong đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp chú trọng triển khai thực hiện có hiệu quả chương trình hành động xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới một cách cụ thể, đồng bộ, toàn diện và hiệu quả. Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, kịp thời giải đáp một cách khoa học, làm sáng tỏ những vấn đề mới, khó, phức tạp về phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong giai đoạn mới.

4) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước về phát triển văn hóa. Tăng cường tính chủ động trongthể chế hóa đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng thành luật pháp và các chính sách cụ thể, khả thi về phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn mới. Rà soát, bổ sung hệ thống văn bản pháp luật, nhất là cơ chế, chính sách phát triển các nguồn lực văn hóa phù hợp với thực tiễn của Việt Nam. Đẩy mạnh công tác sắp xếp lại tổ chức bộ máy quản lý văn hóa từ Trung ương đến cơ sở. Coi trọng yếu tố văn hóa trong quy hoạch đô thị...

5) Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách về giáo dục - đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, nhất là đối với đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; thực sự coi đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho con người, cho sự phát triển. Hoàn chỉnh các văn bản pháp luật về văn hóa, nghệ thuật, thông tin trong điều kiện mới; ban hành các chính sách khuyến khích sáng tạo văn hóa và nâng mức đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân. Không ngừng bổ sung, hoàn thiện chính sách phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ và tôn vinh nguồn nhân lực cao trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; tạo điều kiện cho sáng tạo văn hóa, nghệ thuật. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ ở cơ sở và cán bộ làm công tác văn hóa. Nâng cao năng lực tham mưu, đề xuất, quản lý các hoạt động văn hóa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội...

6) Kết hợp chặt chẽ xây dựng môi trường văn hóa số với nền kinh tế số, xã hội số. Tạo cơ chế phối hợp, liên kết đồng bộ trong phát triển ở mỗi ngành, lĩnh vực; có cơ chế phù hợp để huy động xã hội hóa đầu tư cho các dự án thuộc lĩnh vực văn hóa, thể thao; mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế, xúc tiến văn hóa du lịch; quan tâm đúng mức việc tổ chức các sự kiện chính trị, giao lưu, hợp tác giữa các tỉnh, thành phố trong nước với bạn bè quốc tế về văn hóa. Xây dựng và hoàn thiện thị trường văn hóa, góp phần giải quyết mối quan hệ “văn hóa trong kinh tế” và “kinh tế trong văn hóa”...

7)Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong sự nghiệp phát triển văn hóa và con người Việt Nam, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh là chủ yếu. Chú trọng xây dựng môi trường văn hóa đạo đức lành mạnh gắn với các phong trào và danh hiệu văn hóa...

8) Không ngừng đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa. Tổ chức đấu tranh chặt chẽ, đồng bộ từ Trung ương tới cơ sở; tích cực, chủ động ngăn chặn, phản bác cái xấu, cái ác, cái lạc hậu, phi văn hóa, phản văn hóa; tăng cường quản lý để hạn chế sự xâm nhập của các sản phẩm “gắn mác văn hóa” nhưng có nội dung độc hại, ảnh hưởng xấu đến lối sống, mỹ tục, tập quán và những truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam.

Thứ ba, đẩy mạnh phát triển các sản phẩm văn hóa.

Cần phát huy vai trò các ngành nghề truyền thống, thủ công mỹ nghệ, kinh nghiệm dân gian, trí tuệ và tri thức khoa học trong phát triển các sản phẩm văn hóa.Thúc đẩy các nguồn lực văn hóa liên kết với nhau thành véctơ tổng hợp tạo động lực phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa toàn diện và đồng bộ. Trong đó chú trọng khai thác những yếu tố công nghệ, kỹ năng, thông tin, truyền thống nghề nghiệp, tài năng... của các chuyên gia, nhà khoa học và những người lao động có tay nghề cao. Phát triển toàn diện và đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, môi trường văn hóa, đời sống văn hóa; bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; nâng cao chất lượng, hiệu quả sáng tạo các giá trị văn hóa mới...

Phát huy các di sản văn hóa - thông qua các di sản một cách có văn hóa, tức là “văn hóa hóa” lĩnh vực kinh tế và gia tăng giá trị kinh tế trong hoạt động văn hóa từ các di sản văn hóa. Quan tâm phát triển du lịch trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn; các công trình văn hóa, hoạt động văn hóa, môi trường văn hóa phải trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn và được bảo tồn, khai thác một cách hợp lý.../.

                                        Đại tá, PGS. TS. DƯƠNG QUANG HIỂN

                                                  Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

NHẬN DIỆN MỘT SỐ LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH PHỦ NHẬN NHỮNG THÀNH TỰU PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC CỦA VIỆT NAM TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI


Những quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc nhữngthành tựu trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay tập trung trên những điểm sau:

Một là, xuyên tạc, phủ nhận những kết quả to lớn trong phát triển kinh tế của Việt Nam qua gần 40 năm đổi mới.

Không khó để nhận ra âm mưu chống phá của các phần tử chống đối với chiến thuật “mưa dầm thấm lâu”, “thay đổi thường xuyên, liên tục”, chúng luôn coi nhẹ, phủ nhận sạch trơn những thành tựu của công cuộc đổi mới; tuyên truyền những luận điệu xuyên tạc, trái với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ta; kết hợp chống phá đường lối chính trị với chống phá trên lĩnh vực kinh tế với phương thức “lấy kinh tế để chuyển hóa chính trị”.

Dựa vào những phương tiện truyền thông là các đài phát thanh, trang mạng phản động ở ngoài nước,các thế lực thù địch thường xuyên đăng tải các bài viết với nội dung xuyên tạc và bịa đặt trắng trợn về chính sách kinh tế của Việt Nam. Chúng vu cáo kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam là “sự lắp ghép khiên cưỡng”, “đầu Ngô mình Sở”. Chúng còn rêu rao rằng “đường lối phát triển kinh tế của Đảng ta là chủ quan, duy ý chí, thiếu khoa học” và giờ đây đang gặp rất nhiều khó khăn từ những tác động tiêu cực của KTTT như: tình trạng phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư; năng lực quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước còn một số yếu kém...

Hai là, xuyên tạc, chống phá những thành tựu trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Lợi dụng những hạn chế trong công tác xây dựng Đảng, nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, chúng cáo buộc Đảng ta đã thoái hóa, biến chất, không còn là Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập! Ngoài ra, các thế lực thù địch còn sử dụng chiêu bài "nội công, ngoại kích", bài xích Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là sự lựa chọn sai lầm, là chủ thuyết “lạc đường”, "đi ngược lại với xu thế phát triển của nhân loại"!

Ba là, xuyên tạc, phủ nhận những kết quả của Việt Nam trong thực hiện dân chủ, nhân quyền.

Thời gian qua, các phần tử cơ hội chính trị và chống đối cho rằng “ở Việt Nam không có dân chủ vì thực hiện chế độ nhất nguyên, nhất Đảng”. Chúng lợi dụng những khó khăn về các mặt của đời sống xã hội Việt Nam trong công cuộc đổi mới, những thiếu sót trong việc thực hiện chính sách pháp luật, chính sách xã hội... để vu cáo Đảng và Nhà nước Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp những cá nhân “bất đồng chính kiến, quan điểm”, "Việt Nam thiếu tự do, không có dân chủ, hạn chế quyền của công dân". Chúng bóp méo chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về dân tộc, tôn giáo... chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc với mưu đồ kích động mâu thuẫn, kích động biểu tình, bạo loạn “bất tuân dân sự”, gây mất trật tự an ninh chính trị và an toàn xã hội.

Có thể nhận thấy, các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch tấn công vào hầu hết các lĩnh vực trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của nước ta nhằm xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu to lớn của Việt Nam trong gần 40 năm đổi mới đất nước.

                                                                               Lê Thanh