Chủ Nhật, 24 tháng 9, 2023

“QUẦN CHÚNG KHÔNG PHẢI LÀ MỘT NGƯỜI”, “TỒN TẠI KHÔNG PHẢI LÀ HẠN CHẾ”

 Không nên sử dụng “tồn tại” thay cho khuyết điểm, yếu kém hoặc khó khăn… Bởi, “tồn tại” là tồn tại, khuyết điểm là khuyết điểm. Không thể dùng “tồn tại” để làm “nhẹ đi” “giảm đi” hay “sang hơn” trong nói và viết.

Cách đây ít lâu, tôi được dự hội nghị sơ kết công tác Đảng giữa năm của một doanh nghiệp. Trong báo cáo sơ kết, tôi đặc biệt chú ý tới một số từ và cụm từ được sử dụng trong văn bản, xin trích dẫn lại:
- “Nhờ có sự định hướng, chỉ đạo sâu sát của đồng chí Giám đốc, nên Ban Chấp hành Đảng ủy Công ty đã tích cực, kịp thời triển khai những chủ trương phù hợp với đặc thù công tác Đảng trong doanh nghiệp...”.
- “6 tháng qua, đã có 24 quần chúng công nhân ưu tú được vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng”.
- “Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác Đảng của Công ty vẫn còn một số tồn tại...”.
Ba đoạn trích dẫn “nguyên văn” trên, nếu đọc lướt và không để ý, chắc chắn không ít người sẽ thấy bình thường và rất quen, không có gì phải “bàn cãi”. Tuy nhiên, dưới góc độ tổ chức Đảng và “ngôn ngữ học” thì rõ ràng là những từ và cụm từ này chưa đúng, chưa chuẩn.
1. Nội dung thứ nhất sai hoàn toàn về vai trò lãnh đạo. Đó là, “đồng chí Giám đốc”, dù đứng đầu về mặt tổ chức chính quyền, cũng không thể định hướng và chỉ đạo đối với Đảng ủy. Kể cả trong trường hợp Giám đốc kiêm Bí thư Đảng ủy, thì những nội dung chỉ đạo, lãnh đạo, xây dựng chủ trương, kế hoạch liên quan đến công tác Đảng cũng phải là “sản phẩm” của tập thể Đảng ủy và Đảng bộ. Nếu lấy quyền giám đốc để chi phối công tác Đảng thì không chỉ sai về mặt nguyên tắc, mà còn cho thấy, tập thể Đảng ủy ở đơn vị đó không phát huy được hiệu quả hoạt động, thậm chí là thất bại về vai trò lãnh đạo của Đảng. Mặc dù, trên thực tế, vẫn còn hiện tượng, ở không ít nơi, tổ chức Đảng, đảng ủy hoặc chi ủy chỉ mang tính hình thức, khi người đứng đầu về mặt tổ chức chính quyền “thao túng” toàn bộ hoạt động liên quan đến công tác Đảng. Tuy nhiên, đây lại là câu chuyện khác, xin không bàn ở bài viết này.
2. Cũng trong trích dẫn thứ nhất, việc sử dụng cụm từ “Ban Chấp hành Đảng ủy Công ty” là sai về nghĩa. Lâu nay chúng ta vẫn nói hoặc viết “Đảng ủy”, “Chi ủy” (hoặc có thể gọi chung là “cấp ủy Đảng”) là cách “nói tắt”, viết rút gọn của “Ban Chấp hành Đảng bộ”, “Ban Chấp hành Chi bộ”. Do đó, chỉ có “Đảng ủy cơ quan A” hoặc “Ban Chấp hành Đảng bộ Công ty X” chứ không có “Ban Chấp hành Đảng ủy cơ quan A” hay “Ban Chấp hành Chi ủy tổ dân phố X”.
Mặc dù những “lỗi cơ bản” nêu trên đã được nhắc đến rất nhiều, nhưng đâu đó chúng ta vẫn bắt gặp, hoặc là trên văn bản, hoặc là trong “văn nói”. Đáng quan ngại là không chỉ với đảng viên, mà không ít đồng chí tham gia cấp ủy cũng chưa “sạch nước cản” về những “vấn đề sơ đẳng” này.
3. Trong trích dẫn thứ hai. Với cách viết “…đã có 24 quần chúng công nhân ưu tú…”, thì việc sử dụng cụm từ “24 quần chúng” để thay thế cho “24 người”, “24 cá nhân” hay “24 công nhân” là không chuẩn. Điều này gần như xảy ra phổ biến trong nhiều báo cáo, bài viết, bài nói hiện nay - khi nhắc đến kết quả của công tác phát triển đảng viên.
Nếu “hiểu nôm na” thì có thể coi, trong văn cảnh trên, “quần chúng” là cá nhân một ai đó chưa được kết nạp Đảng - chưa là đảng viên (mà vẫn đang là “quần chúng nhân dân”). Vậy, nếu “suy diễn” ngược lại, chẳng lẽ đảng viên lại không phải là nhân dân, đứng ngoài quần chúng nhân dân (!).
Vì vậy, cần hiểu đúng “quần chúng” có nghĩa là đám đông, là nhiều người. Về mặt danh từ, “quần chúng” là tất cả những người dân trong xã hội (khi nói “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” thì cũng đồng nghĩa “cách mạng là sự nghiệp của toàn dân”). Nếu xét ở khía cạnh “trong Đảng”, “ngoài Đảng” thì “quần chúng” cũng nhằm nói đến số đông - nhiều người (chưa là đảng viên), chứ không phải một người, một cá nhân. Cho nên, thay vì nói hoặc viết “6 tháng qua, Chi bộ đã kết nạp được được 3 quần chúng vào Đảng” thì nên nói hoặc viết “… đã kết nạp được 3 người vào Đảng” (hoặc “3 đoàn viên”, “3 chuyên viên”, “3 công nhân”…). Tương tự, khi nhận xét một cá nhân trong diện “cảm tình Đảng” thì nên nói là “Anh Nguyễn Văn A…”, chứ không nên để là “Quần chúng Nguyễn Văn A…”.
4. Sử dụng từ “tồn tại” trong trích dẫn “…công tác Đảng của Công ty vẫn còn một số tồn tại...” là không đúng về mặt ý nghĩa. Mặc dù từ này đã và đang được dùng với “tần suất cao” trong nhiều bài viết, hội nghị, hội thảo đánh giá về một hoạt động của một tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương nào đó, nhưng về mặt khoa học thì “tồn tại” không thể đồng nghĩa với hạn chế, yếu kém, khuyết điểm như nhiều người đang hiểu.
Khi nói hoặc viết: “Bên cạnh những kết quả vượt bật, công tác thi đua của cơ quan vẫn còn những tồn tại…”, “Trong thời gian tới, một số tồn tại cần khắc phục là…”, “Cần nhìn thẳng vào sự thật để chỉ ra những tồn tại, khuyết điểm…”,v.v.. là chúng ta đang mặc nhiên hiểu sai, coi “tồn tại” là cái yếu kém, cái tiêu cực, cái chưa tốt..., và, “khắc phục hạn chế, sửa chữa khuyết điểm” cũng là “khắc phục, sửa chữa tồn tại” (!?).
“Tồn tại” là danh từ trong triết học chỉ tất cả những gì đang có, đang hiện hữu mà chúng ta có thể thấy được hoặc không thấy được bằng giác quan. Nói khác đi là “tồn tại” - tức những thứ đã xuất hiện - nằm ngoài ý thức chủ quan và tư tưởng của con người (chúng ta muốn hay không muốn thì “tồn tại” vẫn… tồn tại). Có những thứ “tồn tại” có thể nhìn thấy, nghe thấy, chạm đến và cảm nhận được (Ví dụ như: đất, nước, không khí, âm thanh…). Có những thứ “tồn tại” nằm ngoài giác quan thông thường của chúng ta (ví dụ như: sóng từ trường, những ngôi sao cách trái đất hàng trăm năm ánh sáng…). Và có những “tồn tại” mà nhiều khi người ta cố tình không thấy nhưng nó vẫn đang hiện hữu (Ví dụ như: Những thành tựu, kết quả to lớn trong sự nghiệp đổi mới của đất nước ta đã và đang tồn tại, diễn ra ở tất cả mọi lĩnh vực đời sống xã hội, nhưng có những kẻ lại cố tình không thấy, cố tình xuyên tạc và phủ nhận nó)…
Với ý nghĩa như vậy, cần khắc phục, không nên sử dụng “tồn tại” thay cho khuyết điểm, yếu kém hoặc khó khăn… Bởi, “tồn tại” là tồn tại, khuyết điểm là khuyết điểm. Không thể dùng “tồn tại” để làm “nhẹ đi” “giảm đi” hay “sang hơn” trong nói và viết./.
St

KHẮC PHỤC HẠN CHẾ TRONG PHÒNG NGỪA THAM NHŨNG

 Việc thực hiện một số biện pháp phòng ngừa tham nhũng còn có những hạn chế và đều là những hạn chế không mới, đã tồn tại kéo dài qua nhiều năm nhưng chưa có nhiều chuyển biến. Đây là nhận định của Ủy ban Tư pháp gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội khi thẩm tra Báo cáo của Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng năm 2023.

Có thể nói, việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng trong năm 2023 đã có những chuyển biến tích cực. Cụ thể, việc kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn được tăng cường với 60.458 người kê khai tài sản, thu nhập lần đầu, 655.299 người đã được công khai bản kê khai tài sản, thu nhập. Qua kiểm soát tài sản, thu nhập đã kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các trường hợp kê khai không trung thực, kể cả đối tượng là lãnh đạo quản lý cấp cao như Bí thư Tỉnh ủy, Giám đốc sở... ở các địa phương. Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng được duy trì. Đặc biệt, việc xử lý trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng tiếp tục được chú trọng; năm 2023, có 39 người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu bị xử lý vì để xảy ra hành vi tham nhũng.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động ở một số cơ quan, tổ chức, đơn vị chưa có nhiều cải thiện, nhất là ở địa phương. Qua kiểm tra đã phát hiện 77 đơn vị vi phạm việc thực hiện công khai, minh bạch. Báo cáo về Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam - PAPI năm 2022 cũng cho thấy, chưa có nhiều chuyển biến tích cực ở khía cạnh công khai, minh bạch trong việc ra quyết định ở địa phương, công khai, minh bạch trong quản lý, sử dụng đất đai. Mức độ công khai thông tin về kế hoạch sử dụng đất thường niên cho thấy, năm 2022 chỉ có 49% trong số 704 quận, huyện thực hiện công khai kế hoạch đất đai hàng năm; chất lượng phổ biến thông tin về kế hoạch sử dụng đất trên cổng thông tin điện tử của chính quyền địa phương chưa đạt yêu cầu về công khai thông tin, thiếu rõ ràng, thiếu giải trình cụ thể.
Thực tế cho thấy, việc thiếu minh bạch trong các khâu thực hiện giải quyết thủ tục hành chính là một trong những nguyên nhân có thể dẫn đến tham nhũng, tiêu cực, tuy vậy, điều này hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu. Việc kết nối, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trong giải quyết thủ tục hành chính còn bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập, có nơi, có lúc gây phiền hà cho người dân.
Đây là tồn tại, điểm nghẽn đã từng xuất hiện nhiều lần trong các kỳ báo cáo về công tác phòng chống tham nhũng thời gian qua. Do đó, đúng như nhận định của Ủy ban Tư pháp khi cho rằng những hạn chế này đều là những hạn chế không mới, đã tồn tại kéo dài qua nhiều năm nhưng chưa có nhiều chuyển biến. Câu hỏi đặt ra là, vì sao những hạn chế cố hữu này vẫn chưa có biện pháp giải quyết triệt để?
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, nhất là người đứng đầu một số cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực còn bộc lộ nhiều thiếu sót, chưa thực sự quan tâm đến công tác phòng ngừa. Việc quản lý cán bộ, công chức, viên chức còn lỏng lẻo. Trong khi đó, năng lực, trình độ chuyên môn, đạo đức công vụ của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức chưa đáp ứng yêu cầu. Có tình trạng đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm không dám lên tiếng chống tham nhũng, tiêu cực. Việc ban hành một số văn bản hướng dẫn thi hành luật còn tồn tại, hạn chế, tạo ra các điều kiện, thủ tục hành chính bất hợp lý, các đối tượng có thể bị lợi dụng để tham nhũng, tiêu cực.
Để nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tham nhũng, yêu cầu đầu tiên phải làm cho tốt công tác phòng ngừa. Phòng ngừa tốt sẽ ngăn chặn được tham nhũng, tiêu cực xảy ra; ngăn chặn được thiệt hại tài sản của Nhà nước, bảo vệ được đội ngũ cán bộ. Theo đó, cần siết chặt kỷ luật, kỷ cương công vụ; gắn trách nhiệm của người đứng đầu với công tác phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, tập trung vào các lĩnh vực quản lý tài sản công, đấu thầu, đ.ấ.u g.i.á, tài chính, ngân hàng, chứng khoán, trái phiếu... Cùng với đó, xử lý nghiêm minh trách nhiệm cá nhân khi để xảy ra tiêu cực, tham nhũng do buông lỏng quản lý. Có như vậy mới không còn tình trạng một số biện pháp phòng ngừa tham nhũng "đã tồn tại kéo dài qua nhiều năm nhưng chưa có nhiều chuyển biến"./.
St

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TRONG 35 NĂM ĐỔI MỚI

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “gia đình là hạt nhân của xã hội”. Người nêu ra và làm rõ các khái niệm về gia đình Việt Nam với nghĩa hẹp và nghĩa rộng, nghĩa cũ và nghĩa mới. Vận dụng tư tưởng của Người, trong 35 năm (1986-2021) thực hiện đường lối đổi mới, Đảng đã từng bước đề ra chủ trương xây dựng gia đình Việt Nam có cuộc sống no ấm, hạnh phúc, tiến bộ và văn minh. Đó cũng chính là mục tiêu của cách mạng Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra ngay từ năm 1930, đó là: “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”.

1. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về gia đình Việt Nam
Quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam gắn liền với truyền thống xây dựng và phát triển gia đình no ấm, hạnh phúc. Gia đình Việt Nam chính là một trong những cơ sở nền tảng để xây dựng nên con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập và lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam đánh giá rất cao vai trò của gia đình trong mối quan hệ với xã hội, với cách mạng, với đất nước. Người cho rằng: “Gia đình là hạt nhân của xã hội.”; “Hạt nhân của xã hội là gia đình”3 và phân tích làm rõ khái niệm gia đình: “Gia đình có nghĩa cũ và nghĩa mới, nghĩa hẹp và nghĩa rộng. “Gia” là nhà. “Đình” là sân. Theo nghĩa cũ thì gia đình chỉ giới hạn hẹp hòi trong một cái nhà, cái sân. Nghĩa là chỉ lo cho cha mẹ, vợ con trong nhà mình ấm no yên ổn, ngoài ra ai nghèo khổ mặc ai. Như thế là ích kỷ, không tốt. Theo nghĩa mới thì gia đình rộng rãi hơn, tốt đẹp hơn. Thí dụ, những người cùng lao động trong một nhà máy, trong một cơ quan, trong một hợp tác xã... đều phải đoàn kết và thương yêu nhau như anh em trong một gia đình. Rộng ra nữa là đồng bào cả nước đều là anh em trong một đại gia đình...
Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng.
Rộng hơn nữa, chúng ta có đại gia đình xã hội chủ nghĩa:
Lọ là thân thích ruột rà,
Công nông thế giới đều là anh em”.
Người cho rằng “Mỗi người chúng ta có hai gia đình: Gia đình riêng, nhỏ, và đại gia đình là Tổ quốc”. Người cách mạng phải sẵn sàng hy sinh gia đình nhỏ (gia đình riêng) cho gia đình lớn (Tổ quốc): “Gia đình to (là cả nước) và gia đình nhỏ: cái nào nặng, cái nào nhẹ? Người cách mạng chọn gia đình to. Vì người cách mạng biết nếu gia đình to bị áp bức, bóc lột thì gia đình nhỏ sẽ suy sụp, không phát triển được. Vì vậy, không thể bo bo giữ gia đình nhỏ mà không nghĩ đến gia đình to. Đấy là cách hiểu xa thấy rộng. Phải hy sinh cái nhỏ cho cái lớn. Phải hy sinh cái riêng cho cái chung. Chữ tình, chữ hiếu, cũng phải hiểu một cách rộng và hiểu như thế mới là đúng. Giữa lợi ích riêng và lợi ích chung phải chọn lấy một. Mà phải chọn cái ích chung... Nếu phải hy sinh gia đình nhỏ cho gia đình lớn cũng phải làm. Phải dứt khoát, tuyệt đối không được chọn gia đình nhỏ. Có một số cán bộ không yên tâm công tác là vì không hiểu cái đó. Phải hy sinh cái riêng, cái nhỏ để phục vụ cái chung, cái to” . Vì mục tiêu cuối cùng của cách mạng Việt Nam là giành độc lập dân tộc và xây dựng một xã hội mới - xã hội chủ nghĩa, mọi người dân đều có cuộc sống no ấm, tự do, hạnh phúc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Đến chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản, gia đình chung đã có hạnh phúc thì gia đình riêng cũng có hạnh phúc”. Còn trường hợp giành được “tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì”. Người nhấn mạnh: “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”. Đối với cá nhân mình, Người tự nhận rằng, “Bác tuy không có gia đình riêng, nhưng Bác có một đại gia đình rất lớn, đó là giai cấp công nhân toàn thế giới, là nhân dân Việt Nam”.
Với quan điểm trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở Đảng, Chính phủ, các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể quần chúng cần phải chăm lo xây dựng gia đình Việt Nam cả theo nghĩa hẹp, nghĩa rộng và nghĩa mới.
Để có cơ sở vững chắc cho việc xây dựng gia đình nhỏ của mỗi người được hạnh phúc, Quốc hội đã xây dựng Luật Hôn nhân và Gia đình. Ngày 10-10-1959, nói chuyện tại Hội nghị Cán bộ thảo luận dự thảo luật này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh “Rất quan tâm đến gia đình là đúng và nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình. Chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý hạt nhân cho tốt”. Người cho rằng, trong xây dựng gia đình Việt Nam theo nghĩa hẹp, nghĩa rộng và nghĩa mới cần phải giải phóng phụ nữ vì phụ nữ chiếm phân nửa xã hội: “Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa”. Người nhấn mạnh việc Quốc hội thông qua Luật Hôn nhân và Gia đình “là một cuộc cách mạng”. Luật Hôn nhân và Gia đình “nhằm giải phóng phụ nữ, tức là giải phóng phân nửa xã hội. Giải phóng người đàn bà, đồng thời phải tiêu diệt tư tưởng phong kiến, tư tưởng tư sản trong người đàn ông”. Việc thực hiện tốt Luật Hôn nhân và Gia đình “gia đình sẽ có hạnh phúc, và sẽ góp phần vào việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thống nhất nước nhà, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.
Người nhắc nhở chị em phụ nữ cần phải chủ động tự giải phóng mình: “Về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh”. Muốn thuận vợ, thuận chồng, muốn gia đình hạnh phúc thì nam nữ kết hôn phải thực sự yêu đương nhau.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, để xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho mỗi gia đình Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng “Cuộc đấu tranh giành thống nhất đất nước hiện nay của đồng bào miền Nam và miền Bắc cũng là để cho gia đình chúng ta sum họp”. Người nhắc nhở mọi gia đình Việt Nam đoàn kết thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai ở miền Nam: “Mọi gia đình đều đoàn kết cộng lại thành xã hội đại đoàn kết. Đại đoàn kết là sức mạnh vô địch của nhân dân ta trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và trong sự nghiệp đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà”.
Báo cáo tại Hội nghị Chính trị đặc biệt, ngày 27-3-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Xã hội miền Bắc ngày nay là xã hội của những người lao động làm chủ tập thể, nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống mới cho mình và cho con cháu muôn đời mai sau. Xã hội miền Bắc ngày nay là một đại gia đình gồm mọi tầng lớp nhân dân, mọi dân tộc anh em thân ái đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, đồng cam cộng khổ, phấn đấu cho lợi ích chung của Tổ quốc. Chế độ ta là chế độ mới, nhân dân ta đang trau dồi đạo đức mới, đạo đức xã hội chủ nghĩa của những người lao động “ta vì mọi người, mọi người vì ta”. Trong khi xây dựng cái mới, chúng ta phát triển những đức tính tốt đẹp của tổ tiên ta và học tập những gương tốt của nhân dân các nước anh em”.
2. Sự vận dụng của Đảng trong xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, hạnh phúc, tiến bộ và văn minh
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng kể từ khi ra đời (năm 1930) đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Trong công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay, kế thừa và phát triển quan điểm của Hồ Chí Minh về Gia đình là hạt nhân của xã hội; Hạt nhân của xã hội là gia đình, Đại hội VI (1986) của Đảng xác định: “Gia đình là tế bào của xã hội, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, con người mới”; “Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng cần đề ra phương hướng, chính sách và có biện pháp tổ chức thực hiện về xây dựng gia đình văn hóa mới, bảo đảm hạnh phúc gia đình”. Thực hiện những căn dặn của Người: “Đã là đại gia đình, thì sự săn sóc, dạy dỗ cũng không chỉ nhằm làm cho con cháu mình khỏe và ngoan, mà phải cố gắng giúp đỡ cho tất cả các cháu đều ngoan và khỏe”. Đại hội VI của Đảng khẳng định: “Nâng cao trình độ tự giác xây dựng những quan hệ tình cảm, đạo đức trong từng gia đình, bảo đảm sinh đẻ có kế hoạch và nuôi dạy con ngoan, tổ chức tốt cuộc sống vật chất, văn hóa của gia đình”.
Về văn hóa, Đại hội VII (1991) của Đảng nêu rõ: “Xây dựng gia đình văn hóa mới có ý nghĩa rất quan trọng trong tình hình hiện nay, góp phần phát triển lực lượng sản xuất, ổn định và cải thiện đời sống, thực hiện kế hoạch hóa dân số, giữ gìn và phát huy những truyền thống đạo đức, văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp người. Kết hợp và phát huy vai trò của xã hội, các đoàn thể, nhà trường, tập thể lao động và tập thể dân cư trong việc chăm lo bồi dưỡng tình đồng chí, đồng đội, hình thành nhân cách con người mới và nền văn hóa mới”. Đại hội VII thông qua Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nêu rõ 6 đặc trưng của CNXH, trong đó nêu rõ: “Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách. Các chính sách của Nhà nước phải chú ý tới xây dựng gia đình no ấm, hòa thuận, tiến bộ. Nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp người. Đơn vị sản xuất, công tác, học tập, chiến đấu phải là môi trường xây dựng phong cách lao động có kỷ luật, có kỹ thuật, có năng suất và hiệu quả cao, nơi thể hiện tình bạn, tình đồng chí, đồng đội, hình thành nhân cách con người mới và nền văn hóa mới”.
Vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của gia đình đối sự phát triển nền kinh tế - xã hội đất nước, Đại hội VI của Đảng chủ trương khuyến khích phát triển kinh tế gia đình. Năm 1988, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW “Về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” xác định hộ gia đình là đơn vị kinh tế: “Các đơn vị quốc doanh, tập thể có trách nhiệm tạo điều kiện, hướng dẫn, giúp đỡ cho kinh tế gia đình phát triển”. Đây là quan điểm mới, tạo điều kiện để gia đình có nền tảng kinh tế làm cơ sở để xây dựng cuộc sống no ấm, hạnh phúc. Đến Đại hội VII (1991) của Đảng, kinh tế gia đình tiếp tục được khẳng định “Phát triển mạnh kinh tế gia đình bằng nhiều hình thức”. Đặc biệt, ngày 21-2-2005, Ban Bí thư Trung ương ra Chỉ thị số 49-CT/TW “Về xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” đã chỉ rõ: “Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ gia đình; nhân rộng các mô hình kinh tế hộ tiên tiến; bảo đảm kết quả bền vững của chương trình xoá đói, giảm nghèo và tạo việc làm, nhất là ở các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, quan tâm đặc biệt tới các gia đình có công với cách mạng, gia đình là nạn nhân của chiến tranh”.
Vận dụng và phát triển quan điểm của Hồ Chí Minh “Hạt nhân của xã hội là gia đình... muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý hạt nhân cho tốt”, sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đại hội VIII (1996) của Đảng xác định: “Phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng, ngày 16-7-1998, Ban Chấp hành Trung ương ra Nghị quyết số 03-NQ/TW (Nghị quyết HNTƯ 5) “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” xác định: “Gìn giữ và phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Nêu cao vai trò gương mẫu của các bậc cha mẹ. Coi trọng xây dựng gia đình văn hóa. Xây dựng mối quan hệ khăng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội”.
Thực hiện quan điểm của Hồ Chí Minh: nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, Đại hội IX (2001) của Đảng nêu rõ trách nhiệm của gia đình trong việc giáo dục phát triển nhân cách, lối sống của các thành viên trong gia đình: “Nêu cao trách nhiệm của gia đình trong việc xây dựng và bồi dưỡng các thành viên của mình có lối sống văn hoá, làm cho gia đình thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã hội”. Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 21-2-2005, của Ban Bí thư Trung ương “Về xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” (Chỉ thị đầu tiên của Đảng chuyên bàn về xây dựng gia đình Việt Nam), nêu rõ gia đình là “nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”; “Trải qua nhiều thế hệ, gia đình việt Nam được hình thành và phát triển với những chuẩn mực giá trị tốt đẹp góp phần xây dựng bản sắc văn học dân tộc. Những giá trị truyền thống quý báu như lòng yêu nước, yêu quê hương, yêu thương đùm bọc lẫn nhau, thủy chung, hiếu nghĩa, hiếu học, cần cù và sáng tạo trong lao động, bất khuất, kiên cường vượt qua mọi khó khăn, thử thách đã được gia đình Việt Nam gìn giữ, vun đắp và phát huy trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước”. Trên cơ sở đánh giá khái quát về gia đình Việt Nam, Chỉ thị xác định các nhiệm vụ xây dựng gia đình đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới, trong đó xác định rõ đầu tư cho gia đình là đầu tư cho phát triển bền vững.
Triển khai thực hiện những chủ trương trên của Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể đã ban hành nhiều chính sách, biện pháp thực hiện. Trong đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 72/2001/QĐ-TTg lấy ngày 28-6 hằng năm làm “Ngày Gia đình Việt Nam”, nhằm đề cao trách nhiệm của lãnh đạo các ngành, các cấp, các đoàn thể và tổ chức xã hội cùng toàn thể các gia đình thường xuyên quan tâm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc, đẩy mạnh công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Về tổ chức, ngày 11-11-2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 94/2002/NĐ-CP Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Dân số, gia đình và trẻ em nêu rõ đây là cơ quan ngang bộ của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về dân số, gia đình và trẻ em.
Đảng không ngừng chú trọng thực hiện quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng gia đình Việt Nam gắn với phải giải phóng phụ nữ, vì không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa nhân loại, là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa. Gia đình có trách nhiệm với các thành viên và với xã hội; Nhà nước và xã hội có trách nhiệm bảo vệ sự ổn định và phát triển của gia đình. Xây dựng gia đình phải luôn gắn với sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác gia đình, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên; chủ động rà soát, đánh giá tình hình gia đình tại địa phương, xây dựng và triển khai các kế hoạch, đề án cá thể giải quyết những khó khăn, thách thức về gia đình và công tác gia đình. Giáo dục và vận động mọi gia đình tự nguyện tự giác, tích cực thực hiện nếp sống văn minh. Kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam gắn với xây dựng những giá trị tiên tiến của gia đình trong xã hội phát triển. Các ban, ngành, đoàn thể, cộng đồng và gia đình tham gia tích cực xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hoá, khu phố văn hoá, cụm dân cư văn hoá. Xây dựng và triển khai chiến lược và chương trình mục tiêu về công tác gia đình...
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ, gia đình hạnh phúc sẽ góp phần vào việc xây dựng chủ nghĩa xã hội được Đảng kế thừa và phát triển trong thực tiễn. Vận dụng quan điểm của Người, Đại hội X (2006) của Đảng xác định: “Phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đại hội XI (2011) của Đảng chỉ ra rằng: “Sớm có chiến lược quốc gia về xây dựng gia đình Việt Nam, góp phần giữ gìn và phát triển những giá trị truyền thống của văn hoá, con người Việt Nam, nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ. Đúc kết và xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”; “Quan tâm chăm sóc sức khỏe, tạo điều kiện để người cao tuổi hưởng thụ văn hóa, được tiếp cận thông tin, sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc. Phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống, lao động, học tập của người cao tuổi trong xã hội và gia đình. Tiếp tục xây dựng gia đình “ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu thảo hiền, vợ chồng hòa thuận, anh chị em đoàn kết, thương yêu nhau”; giúp đỡ người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa”. Đại hội thông qua Cương lĩnh Xây dựng đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) trong đó nêu rõ: “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách. Đơn vị sản xuất, công tác, học tập, chiến đấu phải là môi trường rèn luyện phong cách làm việc có kỷ luật, có kỹ thuật, có năng suất và hiệu quả cao, bồi đắp tình bạn, tình đồng chí, đồng đội, hình thành nhân cách con người và nền văn hóa Việt Nam”. Thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 3-1-2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 02/2013/NĐ-CP “quy định về công tác gia đình”, nêu rõ: Công tác gia đình là hoạt động của các cơ quan, tổ chức nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, ngày 9-6-2014, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW (Nghị quyết HNTƯ 9 khóa XI) “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, xác định: “Thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam, xây dựng gia đình thực sự là nơi hình thành, nuôi dưỡng nhân cách văn hóa và giáo dục nếp sống cho con người. Phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh. Xây dựng và nhân rộng các mô hình gia đình văn hóa tiêu biểu, có nền nếp, ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo, vợ chồng hòa thuận, anh chị em đoàn kết, thương yêu nhau”. Đại hội XII (2016) của Đảng đề ra nhiệm vụ: “Thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam. Phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh” và khẳng định lại những nội dung xây dựng gia đình Việt Nam được nêu ra tại Đại hội XI của Đảng.
Sau 35 năm (1986-2021) thực hiện đường lối đổi mới với quan điểm của Đảng: gia đình là tế bào của xã hội, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, con người mới, công tác xây dựng gia đình Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần vào những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới. Tuy nhiên, công tác xây dựng gia đình Việt Nam có cuộc sống ấm no, hạnh phúc vẫn còn có những hạn chế, đặc biệt là bệnh thành tích trong xây dựng gia đình văn hóa. Trước thực tế đó, Đại hội XIII (2021) của Đảng chỉ rõ cần phải khắc phục bệnh thành tích, bệnh hình thức trong xây dựng gia đình Việt Nam. Đồng thời, tập trung “phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới”; “thực hiện các chuẩn mực văn hóa gia đình Việt Nam ấm no, hạnh phúc, tiến bộ và văn minh”. Trong quá trình đó, “đề cao vai trò của gia đình trong nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ”; “Tiếp tục xây dựng gia đình kiểu mẫu “ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu thảo hiền, vợ chồng hòa thuận, anh chị em đoàn kết, thương yêu nhau”; “Kính trọng, bảo vệ và chăm sóc người cao tuổi. Bảo trợ, giúp đỡ người cao tuổi gặp khó khăn, cô đơn không nơi nương tựa”.
Thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 30-12-2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2238/QĐ-TTg “Phê duyệt Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2030”. Quyết định nêu rõ: “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển bền vững; là trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn xã hội”; “Phát huy vai trò của gia đình nhằm tạo môi trường giáo dục sớm, góp phần xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, phát triển toàn diện, trở thành trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Mục tiêu chung của chiến lược này là: “Xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, là hạt nhân, tế bào lành mạnh của xã hội, tổ ấm của mỗi người; là nơi nuôi dưỡng, bồi đắp nhân cách, lối sống tôn trọng đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc; phát huy, nhân rộng các giá trị tốt đẹp góp phần thúc đẩy phát triển bền vững đất nước”.
Những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về xây dựng gia đình Việt Nam đã được các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức đoàn thể triển khai thực hiện đạt kết quảquan trọng. Đến giữa năm 2021, công tác xây dựng gia đình Việt nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Ban Bí thư Trung ương đã nhận định rằng “Các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể đã xác định công tác xây dựng gia đình là một trong những nội dung quan trọng trong chương trình công tác. Nhiều gia đình đã tiếp cận được những dịch vụ xã hội cơ bản, chất lượng cuộc sống ngày càng nâng cao. Kinh tế hộ gia đình đã đóng vai trò quan trọng trong thu nhập quốc dân; nhiều hộ gia đình đã nỗ lực vươn lên làm giàu chính đáng. Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và chăm sóc người cao tuổi trong gia đình được coi trọng và có nhiều tiến bộ. Bình đẳng giới, quyền trẻ em, vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội ngày càng được đề cao. Chăm lo, vun đắp, xây dựng, giữ gìn hạnh phúc gia đình là giá trị cao đẹp mà mỗi người Việt Nam luôn quan tâm thực hiện và hướng tới. Các giá trị chung thủy, yêu thương, chia sẻ và bình đẳng trong hôn nhân luôn được coi trọng... Những thành tựu của công tác xây dựng gia đình đã góp phần tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng, phát triển văn hóa và con người Việt Nam; thực hiện thành công Mục tiêu Thiên niên kỷ về chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh”.
Kinh tế hộ gia đình đã đóng vai trò quan trọng tại các địa phương; nhiều hộ gia đình đã nỗ lực vươn lên làm giàu chính đáng. Công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và chăm sóc người cao tuổi trong gia đình được coi trọng. Bình đẳng giới, quyền trẻ em, vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội ngày càng được đề cao. Các giá trị chung thủy, yêu thương, chia sẻ và bình đẳng trong hôn nhân được các gia đình coi trọng. Những thành tựu của công tác xây dựng gia đình đã góp phần tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng, phát triển văn hóa và con người Việt Nam; thực hiện thành công Mục tiêu Thiên niên kỷ về chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh.
Gia đình là hạt nhân của xã hội, tồn tại và phát triển trong suốt quá trình ra đời và phát triển của dân tộc Việt Nam. Trong quá trình đó, khái niệm về gia đình được mở rộng, đó là gia đình nhỏ - gia đình hạt nhân và gia đình lớn mang tầm quốc, gia dân tộc. Trải qua các quá trình lịch sử, gia đình Việt Nam đã hun đúc nên nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm tới vấn đề gia đình Việt Nam. Người đã phân tích làm rõ các khái niệm về gia đình và mối quan hệ giữa các hình thức gia đình đó nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho tất cả mọi người, mọi gia đình của quốc gia dân tộc Việt Nam. Vận dụng tư tưởng của Hồ Chí Minh, Đảng đã đề ra nhiều quan điểm, chủ trương phát huy vai rò của gia đình Việt Nam trong xây dựng và phát triển đất nước, trong đó, Đại hội XIII của Đảng xác định rõ hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới là xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, tiến bộ và văn minh. Với những quan điểm, chủ trương đó, công tác xây dựng gia đình Việt Nam từ trong thời kỳ đổi mới đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần vào những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới./.
St

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHO RẰNG “ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CƯỚP CHÍNH QUYỀN CỦA “ĐẾ QUỐC VIỆT NAM”, ĐƯA ĐẤT NƯỚC VÀO HAI CUỘC CHIẾN CHỐNG PHÁP, MỸ KHỐC LIỆT!

 Hiện nay trên không gian mạng xuất hiện những bài viết ca ngợi “Đế quốc Việt Nam”; các tổ chức phản động cho rằng “Ngày 7 tháng 4 năm 1945, Đế Quốc Việt nam được thành lập với Bảo Đại là vua và Trần Trọng Kim làm Thủ tướng Chính phủ lâm thời. Tuy thân Nhật, nhưng đây là một chính phủ mới được thành lập nhằm mục đích đón nhận nền độc lập được trao tay từ quân Nhật mà không phải qua chiến tranh đổ máu. Đây là nước đi vô cùng khôn khéo của vua Bảo Đại và Trần Trọng Kim. Nhưng tiếc thay, nó đã bị Cộng sản phá nát và dẫn đến hệ quả là xuất hiện 2 cuộc chiến thảm khốc sau này”.

Ý đồ rất rõ, họ muốn lái dư luận và đầu độc thế hệ trẻ, phủ nhận công lao của Đảng và nhân dân Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, thống nhất đất nước. Xuyên tạc sự thật lịch sử, bôi nhọ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đánh tráo khái niệm một cách tinh vi, xảo trá. Nhân kỷ niệm 78 năm Quốc khánh nước ta. Xin có đôi lời như sau:
ĐẾ QUỐC VIỆT NAM là cái tên mỹ miều và có vẻ hùng mạnh mà Đế Quốc Nhật đặt cho khi “trao trả độc lập” cho Việt Nam. Nó chỉ tồn tại trong vài tháng, từ tháng 3 đến tháng 8, 1945 thì bị chính quyền cách mạng khai tử vì bản chất phản động, tay sai của nó. Ngày 9/3/1945, Nhật “đảo chánh” Pháp và “trao trả độc lập” cho Việt Nam. Sau đó Bảo Đại và Trần Trọng Kim lần lượt được người Nhật đưa lên ngồi trên 2 chiếc ghế gọi là “Quốc trưởng” và “Thủ tướng”. Nhật đuổi Pháp chỉ để thực hiện mục đích là khai thác tài nguyên, bắt phu bắt lính phục vụ cho ý đồ thôn tính thế giới của chủ nghĩa Phát xít. Cái gọi là “Đế quốc Việt Nam” do một tay người Nhật dựng lên, do người Nhật quyết định để hợp thức hóa việc xâm lược nước ta. Các “bộ” được thành lập nhưng cái quan trọng nhất là quân đội thì “Đế quốc Việt Nam” lại không được Nhật cho phép thành lập; nghĩa là quân đội do người Nhật nắm để phục vụ ý đồ họ, chống lại dân tộc Việt Nam. Bảo Đại và Trần Trọng kim trơ mắt nhìn người Nhật tàn sát dân lành, cướp bóc, hãm hiếp, gây ra tội ác tày trời với nước ta.
Với chính sách bạo tàn và phi nhân tính, người Nhật bắt các tỉnh miền Bắc bỏ lúa để trồng đay, thu gom lúa gạo để chở về chính quốc đã gây ra cái chết oan nghiệt, đau thương của 2 triệu đồng bào miền Bắc và Bắc Trung bộ. Thái Bình là vựa lúa của miền Bắc nhưng dân Thái Bình chết do nạn đói 1945 lại cao nhất cả nước, tất cả cũng chỉ vì chính sách này. Bảo Đại và Trần Trọng Kim không dám lên tiếng khi mà các kho thóc của Nhật đầy ắp lúa gạo nhưng để nhân dân ta chết đói thảm thương. Người miền Bắc chỉ được cứu khi cách mạng tháng 8 diễn ra, Việt Minh phá kho thóc Nhật để cứu dân ta.
Dân thì chết đói thê thảm, Hoàng Đế Bảo Đại lại nói Việt Nam tin cậy vào Nhật, sẽ đem tài lực giúp cho Đế Quốc Đại Đông Á của Nhật, sẽ quyết chí đem hết tài sản đất nước Việt Nam “hợp tác” với Nhật. Vậy “Đế quốc Việt Nam” đã thực sự bán nước cho Nhật rồi còn gì.
“Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập và theo như lời tuyên ngôn chung của Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vượng chung. Vậy Chính phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc, quyết chí hợp tác với nước Nhật, đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như trên” (Bảo Đại, “Tuyên Ngôn Độc Lập” 11/3/1945).
Trần Trọng Kim thì tuyên bố: “Quốc dân phải gắng sức làm việc, chịu nhiều hy sinh hơn nữa và phải thành thực hợp tác với nước Đại Nhật Bản trong sự kiến thiết nền Đại Đông Á, vì cuộc thịnh vượng chung của Đại Đông Á có thành thì sự độc lập của nước ta mới không phải là giấc mộng thoáng qua”.
Hy sinh nhiều hơn nữa ư? 2 triệu nhân mạng của người Việt để đổi lấy một “chính phủ” bù nhìn, vô thưởng vô phạt ấy, và sẽ còn cao hơn nữa nếu như Nhật không bị đồng minh đánh bại. Khi đó, Bảo Đại và Trần Trọng Kim lại vinh thân phì gia trên không biết bao xương máu của nhân dân ta nữa.
Những có kẻ đổ lỗi cho sự sụp đổ của “ĐẾ QUỐC VIỆT NAM” là do Việt Minh cướp “chính quyền”, nếu không thì Việt Nam đã có độc lập và không có chiến tranh là những kẻ không hề có trái tim và khối óc! Việt minh đuổi Nhật giành chính quyền về tay nhân dân chứ không phải là từ Pháp hay “đế quốc Việt Nam” vì bản chất “đế quốc Việt Nam” chỉ là đám ôm gối người Nhật, có quyền hành gì đâu mà bảo là cướp? Tuyên Bố Cairo ngày 27/11/1943 của phe Đồng minh đã nói rõ : Sẽ không công nhận bất cứ chính phủ nào do Đế Quốc Nhật thành lập tại các lãnh thổ chiếm đóng. Như vậy, “ĐẾ QUỐC VIỆT NAM” của Hoàng Đế Bảo Đại và Chính phủ Trần Trọng Kim chắc chắn sẽ không có tư cách pháp lý nào để tồn tại và sẽ bị phe đồng minh giải thể khi Nhật đầu hàng.
Muốn lấy lại quyền làm chủ vận mệnh thực sự của dân tộc thì chắc chắn chỉ người Việt Nam mới giành và giữ được chính quyền của dân tộc mình. Cụ Hồ và Đảng ta không bao giờ muốn chiến tranh, gây đau thương, mất mát nên đã nhân nhượng khi Pháp trở lại Việt Nam. Nhưng “chúng ta càng nhân nhượng thì thực dân Pháp lại càng lấn tới, vì chúng muốn cướp nước ta một lần nữa” vì lý do đó nên người Việt “thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Đó là nguyên nhân để chúng ta phải chiến đấu với Pháp.
Mỹ thay Pháp để thực hiện chia cắt nước ta, vi phạm Hiệp định Giơnevơ và dựng lên cái gọi là “đệ nhất cộng hòa” của Diệm và “đệ nhị cộng hòa của Thiệu” để biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Đó là nguyên nhân mà cụ Hồ kêu gọi “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào!” Đó là cuộc chiến giữa một bên là nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với một bên là đế quốc Mỹ, chư hầu. VNCH cũng như Đế quốc Việt Nam về bản chất là giống nhau, chỉ khác một bên là tay sai của Nhật còn một bên là tay sai của Mỹ.
Từ những lẽ trên, có thể nói, luận điệu cho rằng: “Đế Quốc Việt nam được thành lập với Bảo Đại là vua và Trần Trọng Kim làm Thủ tướng Chính phủ lâm thời. Tuy thân Nhật, nhưng đây là một chính phủ mới được thành lập nhằm mục đích đón nhận nền độc lập được trao tay từ quân Nhật mà không phải qua chiến tranh đổ máu. Đây là nước đi vô cùng khôn khéo của vua Bảo Đại và Trần Trọng Kim. Nhưng tiếc thay, nó đã bị Cộng sản phá nát nà dẫn đến hệ quả là xuất hiện 2 cuộc chiến thảm khốc sau này” là luận điệu xuyên tạc lịch sử, mục đích cuối cùng là phủ nhận công lao to lớn của Đảng, của Bác Hồ Vĩ đại và của dân tộc Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đương nhiên những lập luận đó sẽ bị người Việt Nam bác bỏ vì nó vốn là sản phẩm của các thế lực thù địch.
Cách mạng tháng Tám thành công và thành quả vĩ đại mà nó mang đến chính là ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại của nhân dân Việt Nam anh hùng đã đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Từ đây đất nước ta đã đã dùng cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược; bảo vệ độc lập, tự do và phẩm giá của người Việt Nam. Đất nước ta rũ bùn đứng dậy sáng loà và có cơ đồ, vị thế, uy tín trên trường quốc tế như hôm nay đều nhờ trí tuệ, tâm huyết, máu xương của cha anh. Thời đại Hồ Chí Minh bất diệt! Lịch sử dân tộc đã chứng minh, những kẻ phản bội tổ quốc, đi ngược lợi ích của quốc gia, dân tộc như Bảo Đại, Trần Trọng Kim, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu...đều có kết cục chung là thảm bại. Hào khí Việt Nam sẽ nhấn chìm những kẻ bán nước cầu vinh./.
St

BỘ NỘI VỤ: XOÁ BỎ TỔ CHỨC HỘI THÁNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI MẸ TẠI VIỆT NAM

 Thời gian gần đây hoạt động của “Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ" (tên chính thức và đầy đủ là Hội thánh của Đức Chúa Trời Hiệp hội Truyền giáo Tin lành Thế giới, tên tiếng Anh là World mission society Church of God, do Ahn Sahng Hong sáng lập năm 1964 tại Hàn Quốc, hiện do bà Jang Gil Ja - “Đức Chúa Trời Mẹ” điều hành) tiếp tục diễn ra ở nhiều địa phương trong cả nước, gây bức xúc và phẫn nộ trong quần chúng nhân dân, vi phạm các quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, trái thuần phong mỹ tục.

Trước tình hình trên, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Vũ Chiến Thắng đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thống nhất nhận thức và tổ chức triển khai một số công tác đối với “Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ”. Trong đó, Thứ trưởng Vũ Chiến Thắng đề nghị các địa phương tăng cường công tác nắm tình hình, phát hiện kịp thời và kiên quyết đấu tranh, xóa bỏ về phương diện tổ chức đối với Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ tại Việt Nam (giải tán, thu hồi giấy phép đối với các nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung, không để tổ chức này tái nhóm, hình thành các tụ điểm hoạt động mới; không chấp thuận đăng ký hoạt động dưới mọi hình thức, bao gồm đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, thành lập tổ chức phi chính phủ, công ty, văn phòng đại diện, cửa hàng, câu lạc bộ, chương trình ngoại khóa...).
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật của Hội thánh này, gây ảnh hưởng tiêu cực cho người tin theo và xã hội, như hành vi xâm phạm trật tự, an toàn xã hội; xúc phạm, chia rẽ tín ngưỡng, tôn giáo; xúc phạm danh dự nhân phẩm của người khác; lợi dụng hoạt động tôn giáo để trục lợi... Các cơ quan, đơn vị theo chức năng, quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, mức độ vi phạm để xử lý nghiêm đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật, bao gồm hành vi trên không gian mạng.
Cùng với đó, tổ chức thông tin, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong các tổ chức tôn giáo về chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, nhất là các hoạt động vi phạm pháp luật, tác hại do Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ gây ra để nâng cao nhận thức, cảnh giác, đồng thuận xã hội, đồng thuận tôn giáo trong nhìn nhận, phê phán, phát giác, ngăn chặn, xử lý hoạt động vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội, đạo đức tôn giáo của Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ. Chú ý làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền ở cấp cơ sở.
Thứ trưởng Bộ Nội vụ cũng đề nghị cấp ủy, Mặt trận Tổ quốc và chỉ đạo chính quyền, đoàn thể các cấp, cơ sở giáo dục tại địa phương tăng cường công tác thông tin, quán triệt cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, đoàn viên, hội viên và tuyên truyền cho học sinh, sinh viên nhận thức rõ bản chất, hành vi, thủ đoạn, phương thức hoạt động của Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ để cảnh giác, không bị lôi kéo; xử lý theo quy chế, kỷ luật của cơ quan, đơn vị, tổ chức đối với người tham gia, đảm bảo đúng quy định của pháp luật./.
St

QUÂN ĐỘI XÂY DỰNG THẾ TRẬN BẢO VỆ VỮNG CHẮC NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 Nền tảng tư tưởng của Đảng có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định phương hướng chính trị, bản chất cách mạng của một Đảng chân chính. Bảo vệ nền tảng tư tưởng (NTTT) của Đảng là một tất yếu khách quan, một nhiệm vụ chính trị quan trọng của cách mạng Việt Nam trong tình hình mới. Vì vậy, Quân đội cần tiếp tục phát huy vai trò là lực lượng tiên phong, mũi nhọn trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ NTTT của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Quân đội chủ động, nhạy bén trong “cuộc chiến” bảo vệ chân lý, niềm tin vào Đảng
Quân đội ta do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục và rèn luyện, lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm NTTT, kim chỉ nam cho mọi hành động.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã khẳng định, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, tình huống khó khăn, phức tạp nào, Quân đội ta cũng luôn là trụ cột của Đảng, Nhà nước, chỗ dựa vững chắc của nhân dân. Đấu tranh bảo vệ NTTT của Đảng đã trở thành một nhiệm vụ chính trị quan trọng của Quân đội trong cả thời bình và thời chiến. Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, Quân đội luôn tiên phong, đi đầu trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ NTTT của Đảng; tiếp tục phát huy phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội và xã hội; vạch trần bản chất phản động, phản cách mạng của các quan điểm sai trái, xuyên tạc NTTT của Đảng, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
Những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, các cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh, bảo vệ NTTT của Đảng. Thế trận đấu tranh tư tưởng, lý luận trong Quân đội ngày càng vững chắc.
Công tác giáo dục chính trị được đặt lên hàng đầu, không ngừng đổi mới chương trình, nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục NTTT của Đảng, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, chiến sĩ về bản chất cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng.
Nghiên cứu, nhận diện và đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm sai trái, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Đảng, xuyên tạc, phủ nhận NTTT của Đảng. Đã tập trung luận giải có cơ sở khoa học, khẳng định những giá trị bền vững, tính đúng đắn, khoa học, cách mạng và sức sống bền vững của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.
Ban Chỉ đạo, cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương đã quán triệt sâu sắc nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương, tập trung triển khai các chủ trương, biện pháp đồng bộ, kịp thời, hiệu quả. Đã chủ động tham mưu với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương các chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước, giữ vững sự ổn định về chính trị, tư tưởng trong Quân đội.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Quân đội luôn gương mẫu thực hiện nhiệm vụ về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; chủ động, nhạy bén, tích cực đi đầu trong bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch”.
Không ai đứng ngoài cuộc và không để “khoảng trống” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Trong thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó dự báo; các thách thức an ninh phi truyền thống gia tăng, nhất là biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, tội phạm công nghệ cao; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân ta còn cam go và lâu dài, phức tạp; nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI đặt ra yêu cầu mới và cao hơn.
Để góp phần tăng cường bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, giải pháp hàng đầu là phải làm cho mọi tổ chức, lực lượng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội thấy rõ tầm quan trọng của nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ NTTT của Đảng hiện nay. Thấu hiểu sâu sắc đấu tranh tư tưởng, lý luận là một nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cả hệ thống chính trị; bảo vệ NTTT của Đảng là bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Phải làm cho các cấp ủy đảng, cán bộ chủ trì, mọi cán bộ, chiến sĩ Quân đội thấy rõ trách nhiệm, vinh dự của mình, phát huy phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới, thực sự là lực lượng nòng cốt, đi đầu trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận cũng như trong bảo vệ NTTT, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Không một ai, không một tổ chức, lực lượng nào được bàng quan, vô cảm, đứng ngoài cuộc mà phải tham gia một cách chủ động, sáng tạo vào cuộc đấu tranh này.
Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Vì vậy, vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, trực tiếp là của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cấp đối với nhiệm vụ này.
Bên cạnh lãnh đạo, chỉ đạo, học tập quán triệt Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị, cần coi trọng lãnh đạo thực hiện toàn diện các nội dung về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, áp dụng nhiều hình thức, biện pháp cụ thể, thiết thực, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện của từng cơ quan, đơn vị Quân đội.
Phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo 35 các cấp trong Quân đội; nâng cao trách nhiệm của cơ quan, bộ phận chuyên sâu giúp việc, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện kịp thời, hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ NTTT của Đảng. Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong Quân đội; chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các trường hợp chống đối, cơ hội, bất mãn, giữ vững sự ổn định chính trị trong Quân đội.
Để tiếp tục làm cho hệ tư tưởng của Đảng giữ vai trò chủ đạo, thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong đời sống văn hóa, chính trị-tinh thần của xã hội và Quân đội, đòi hỏi phải huy động các tổ chức, lực lượng của Quân đội tham gia.
Qua đó, giáo dục, tôi luyện cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội trở thành lực lượng chính trị vững mạnh, hùng hậu, sẵn sàng đảm đương các nhiệm vụ khó khăn, phức tạp hơn. Bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một cuộc đấu tranh trên lĩnh vực ý thức hệ, đấu tranh tư tưởng, lý luận phức tạp, lâu dài, nên cần phải quan tâm xây dựng và phát huy vai trò của lực lượng chuyên trách, nòng cốt, thiện chiến, đặc biệt tinh nhuệ về chính trị.
Theo đó, cần coi trọng xây dựng, phát huy vai trò của các nhà khoa học, nhà giáo, chuyên gia, các cơ quan nghiên cứu, học viện, nhà trường; các cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản; đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, nhà báo... trong Quân đội đối với nhiệm vụ tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Thiết lập thế trận chủ động, rộng khắp, liên hoàn, vững chắc trong Quân đội. Xác lập tổng thể các biện pháp, nguyên tắc, bố trí, triển khai và tổ chức các lực lượng cụ thể, từ nghiên cứu, giáo dục, tuyên truyền cơ bản, rộng khắp đến trực tiếp tác chiến, đấu tranh có trọng tâm, trọng điểm trên các phương tiện thông tin, truyền thông truyền thống và hiện đại của Quân đội và quốc gia, trên internet, mạng xã hội; bao phủ toàn bộ nội bộ Quân đội, không ngừng mở rộng trên phạm vi quốc gia và quốc tế; chủ động gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, “xây” là cơ bản, "chống" phải quyết liệt, hiệu quả; lấy cái đẹp dẹp cái xấu; không bỏ trống trận địa tư tưởng, bảo đảm ở đâu có bộ đội là ở đó có tuyên truyền giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng; mỗi đơn vị, mỗi cán bộ, chiến sĩ là một tấm gương sáng về truyền bá NTTT của Đảng.
Kết hợp chặt chẽ các biện pháp chính trị, tư tưởng và tổ chức đấu tranh phòng ngừa, bảo vệ chính trị nội bộ, giữ vững và tăng cường trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.
Trong thời đại công nghệ 4.0, cần tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện, ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo (AI) trong Quân đội, tận dụng truyền thông quốc gia, phục vụ có hiệu quả cho đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Không ngừng hoàn thiện các cơ chế, chính sách xây dựng, bồi dưỡng, sử dụng, bảo vệ con người và lực lượng Quân đội tham gia bảo vệ NTTT của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; bổ sung hoàn thiện các khung khổ pháp lý, quy định về khai thác, sử dụng internet, mạng xã hội, tài liệu, quản lý, kiểm soát, kiểm duyệt các hoạt động nghiên cứu khoa học, hội thảo, tuyên truyền, in ấn, xuất bản, phát hành trong Quân đội, bảo đảm thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ được giao.
Không ngừng đầu tư, đổi mới trang thiết bị công nghệ thông tin, truyền thông, sử dụng AI trong tăng cường bảo vệ NTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu tác chiến cả tập trung và rộng khắp trên không gian mạng, bảo đảm ngành tuyên huấn Quân đội là một binh chủng tác chiến tư tưởng hiện đại.
Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ nhằm góp phần tăng cường bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới là yêu cầu đòi hỏi khách quan, cấp bách, là trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng trong Quân đội. Trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ Quân đội cũng luôn nêu cao tinh thần, trách nhiệm chính trị, là lực lượng tin cậy, tiên phong bảo vệ vững chắc NTTT của Đảng, góp phần lan tỏa phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới./.
St


23/09/1954, QUÂN ĐỘI TA CHÍNH THỨC MANG TÊN "QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM"

 Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang Nhân dân Việt Nam, là đội quân từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu, “vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của Nhân dân”. Tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam là Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, được thành lập ngày 22/12/1944 theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội Nhân dân Việt Nam trải qua nhiều lần đổi tên: từ Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân đến Việt Nam Giải phóng quân, đến Vệ Quốc đoàn và Quân đội Quốc gia Việt Nam (Sắc lệnh số 71/SL ngày 22/5/1946).
Tại Công văn số 400-ttg ngày 23/9/1954 của Thủ tướng Chính phủ gửi các Bộ, các Ủy ban hành chính Liên khu và khu, các Đoàn thể với nội dung: “Quân đội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ nay gọi thống nhất là: “QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM”.
St


ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN THÀNH TỰU ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM


Thứ nhất, sau gần 40 năm đổi mới, kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, tạo nhiều dấu ấn nổi bật, đất nước phát triển nhanh và bền vững.      

Qua gần 40 năm đổi mới, nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN ở Việt Nam đã ngày càng được hoàn thiện và phát triển. Nhờ đó, "Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; lạm phát được kiểm soát ở mức 4%; các cân đối lớn của nền kinh tế nhìn chung được bảo đảm; thị trường tài chính - tiền tệ vẫn cơ bản ổn định". "Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã nhận định: Việt Nam là một điểm sáng "trong bức tranh xám màu" của kinh tế toàn cầu. Tăng trưởng kinh tế năm 2021 đạt 2,56%, trong khi nhiều nền kinh tế trên thế giới tăng trưởng âm; tăng trưởng kinh tế năm 2022 đạt 8,02%, cao hơn nhiều so với kế hoạch 6% - 6,5%, và là mức tăng cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới". Tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển của đất nước. "Thu nhập bình quân đầu người năm 2022 ước đạt 4,6 triệu đồng/người/tháng, tăng 9,5% so với năm 2021. Tỷ lệ nghèo tiếp cận đa chiều ước khoảng 3,6%, giảm 0,8 điểm phần trăm so với năm 2021; có 23,5% hộ gia đình nhận được sự trợ giúp từ các nguồn hỗ trợ khác nhau".

Nhờ những kết quả đã đạt được trong phát triển kinh tế mà niềm tin của nhân dân vào chế độ XHCN, vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ngày càng được nâng cao, xã hội ngày càng đồng thuận. Đây cũng là bằng chứng thuyết phục cho thấy sự lựa chọn con đường lối đổi mới của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn chứ không phải là sự “lạc đường” như các thế lực thù địch thường rêu rao! Những thành tựu mà Việt Nam đạt được về kinh tế, chính trị... trong công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là những luận cứ thực tiễn đầy thuyết phục để tấn công trực diện vào những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Thứ hai, những thành tựu nổi bật về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong công cuộc đổi mới góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng hiện nay.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Toàn bộ thành tựu và thiếu sót của công cuộc đổi mới gắn liền với trách nhiệm lãnh đạo và hoạt động của Đảng. Sự lãnh đạo và hoạt động của Đảng là một nhân tố quyết định tạo ra những thành tựu của đổi mới... Sự tiến bộ và trưởng thành của Đảng cũng là một thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới, thậm chí có thể nói là thành tựu quan trọng nhất của công cuộc đổi mới”. Điều này được ghi nhận trong chủ trương, quyết sách của Đảng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thông qua những nghị quyết chuyên đề đặc biệt về xây dựng Đảng như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, gắn với việc thực hiện Chỉ thị số 05 về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh"; Kết luận số 21-KL/TW về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm với nhiều điểm mới nổi bật...Từ đó, mỗi cán bộ, đảng viên có thể nhận thấy tinh thần nêu gương, thẳng thắn, lòng tự trọng, tính nghiêm túc trong công tác tự phê bình và phê bình, sửa chữa những khuyết điểm, khắc phục những hạn chế, "tự đổi mới", "tự chỉnh đốn", "tự soi", "tự sửa", để "nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, toàn diện" trong công cuộc đổi mới chứ không phải là cách làm "chắp vá", "giật gấu vá vai" như những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch thường rêu rao.

Qua mỗi nhiệm kỳ Đại hội Đảng, có thể nhận thấy chủ trương chỉ đạo công tác xây dựng Đảng, nhất là với việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí ngày càng đi vào thực chất. Tệ nạn tham nhũng được coi như là một loại “giặc nội xâm” cực kỳ nguy hiểm, luôn được Đảng ta xử lý khéo léo, chắc chắn và ráo riết! “Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng được lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện quyết liệt, toàn diện, đi vào chiều sâu, với quyết tâm chính trị rất cao, không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Vì vậy, rất nhiều vụ án tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng đã được đưa ra xử lý nghiêm minh, theo đúng các quy định của luật pháp; để lại những dấu ấn tốt đẹp, được nhân dân rất hoan nghênh, đồng tình cao, tạo hiệu ứng tích cực lan tỏa trong toàn xã hội, được cộng đồng quốc tế ghi nhận. "Trong 10 năm qua (2012 - 2022), đã xử lý kỷ luật 2.740 tổ chức đảng và hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó có hơn 190 cán bộ diện Trung ương quản lý (có 4 ủy viên Bộ Chính trị, nguyên ủy viên Bộ Chính trị; 36 ủy viên Trung ương, nguyên ủy viên Trung ương; hơn 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang". Kết quả này đã chứng tỏ năng lực lãnh đạo, bản lĩnh chính trị vững vàng của Đảng ta trong việc phát hiện, điều tra, xử lý dứt khoát tình trạng tham nhũng của đội ngũ cán bộ, đảng viên, với cả những người đã và đang giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo các cấp của Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị. Do đó, phải nhận thức rõ rằng công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng ta không phải là “một cuộc đấu đá nội bộ” mà là một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, để cho Đảng ta trong sạch hơn, bộ máy Nhà nước và cả hệ thống chính trị hoạt động hiệu quả hơn, để nhân dân ta luôn một lòng, một dạ sắt son tin yêu theo Đảng.

Thứ ba, Việt Nam là nước dân chủ, quyền tự do, dân chủ, nhân quyền của nhân dân luôn được tôn trọng và phát huy bằng chính sách hiệu quả, nhân văn, thể hiện bản chất ưu việt của chế độ XHCN.

Bảo đảm quyền dân chủ, quyền con người là mục tiêu, là động lực trong công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam, đã được ghi nhận trong Cương lĩnh, Nghị quyết, Hiến pháp và được pháp luật tôn trọng, bảo vệ. Gần 80 năm qua, Hiến pháp nước ta đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, phát triển (1946, 1959, 1980, 1992, 2013) nhằm xác lập vào bảo đảm cho việc thực thi, phát triển quyền dân chủ, quyền con người Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, tôn giáo, dân tộc... Đảng, Nhà nước luôn lấy “nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.

"Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, quy mô 14 tỷ USD (năm 1985), đến năm 2020 là 343 tỷ USD (tăng 24,5 lần)", "năm 2022 là 409 tỷ USD". Chỉ số Phát triển con người (HDI) của Việt Nam năm 2021 là 0,703, tăng hai bậc trong bảng xếp hạng toàn cầu, lên vị trí 115/191 quốc gia (Năm 2020 là 0,704, xếp thứ 110/189). Năm 2022, cả nước có "gần 29,8 triệu thẻ bảo hiểm xã hội/ sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát, tặng cho các đối tượng thụ hưởng... Đặc biệt, trong phòng, chống đại dịch Covid-19, truyền thống anh hùng, yêu nước, "thương người như thể thương thân" của dân tộc ta và tính ưu việt của chế độ ta lại được phát huy lên một tầm cao mới. Đây chính là những minh chứng thuyết phục nhất về quyền dân chủ, quyền con người được thực hiện ở Việt Nam. Việt Nam trở thành một trong những hình mẫu trên thế giới về chính sách ưu việt phát huy quyền làm chủ của nhân dân: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, là câu chuyện thành công truyền cảm hứng cho bạn bè năm châu và được các nước tiến bộ trên thế giới ghi nhận. Chính vì lẽ đó, mà Việt Nam được tín nhiệm bầu vào các cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc cũng như hoàn thành nhiều trọng trách quốc tế như: Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009 và 2020-2021, Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016, 2023-2025; Hội đồng Kinh tế-Xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016-2018… Những kết quả trên là sự thật mà không một thế lực phản động nào có thể đảo ngược, là sự khẳng định nhất quán rằng quyền dân chủ, quyền con người, quyền công dân đã và đang được bảo vệ vững chắc ở Việt Nam; cũng là ý kiến phản biện đanh thép nhất đối với những luận điệu phủ nhận về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Cho nên, mọi hoạt động đóng vai trò "quan tòa nhân quyền thế giới" theo các giá trị nhân quyền, dân chủ tư sản của một số nước tư bản phương Tây để áp đặt vào Việt Nam chỉ là ngụy biện, là muốn phá hoại thành tựu của công cuộc đổi mới ở Việt Nam theo phương châm "bẻ đũa từng que", là vì lợi ích của chúng chứ không phải vì sự tiến bộ và phát triển của Việt Nam.

Những thành tựu xây dựng đất nước trong công cuộc đổi mới của Việt Nam đã khẳng định sự lãnh đạo, chỉ đạo vững vàng, sáng suốt của Đảng, Nhà nước cùng sự đoàn kết nhất trí của cả hệ thống chính trị; phát huy các giá trị truyền thống và tinh thần đại đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường của toàn dân tộc; là uy tín, là sự tín nhiệm, đồng tình, ủng hộ tuyệt đối của cộng đồng quốc tế.

Thời gian tới, "với định hướng đúng đắn, khát vọng phát triển mạnh mẽ và quyết tâm chính trị cao, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhất định sẽ lập nên thành tựu phát triển mới vì một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, cùng tiến bước, sánh vai với các cường quốc năm châu, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và ước vọng của toàn dân tộc ta". Điều này vừa thể hiện quyết tâm, nỗ lực lớn của cả hệ thống chính trị, song đây tiếp tục là bằng chứng thuyết phục để đấu tranh phản bác có hiệu quả các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam.

                                                                               Hoàng Lộc