Thứ Hai, 25 tháng 9, 2023

BỔN CŨ SOẠN LẠI VỀ CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG "GIẶC NỘI XÂM" CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ NHÂN DÂN TA

 


Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng việc các cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng để tung ra luận điệu sai trái, xuyên tạc trên các phương tiện truyền thông xã hội.

Đặc biệt gần đây, khi cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, làm rõ những vụ án lớn như vụ án xảy ra tại Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao và một số bộ, ngành, địa phương (còn gọi là vụ án “chuyến bay giải cứu”), vụ Việt Á, các đối tượng rêu rao rằng, tham nhũng ở Việt Nam hiện đã trở thành “hệ thống”, bản chất và muốn chống không còn cách nào khác phải thay đổi cơ chế, phải “xóa bỏ chế độ”!

Nhiều bài viết vu cáo rằng, đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên là “đấu đá nội bộ, phe cánh”, “thanh trừng phe phái” nên “ai đen thì chết”! Họ cố tình bôi đen việc thực hiện công cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta, cho rằng việc bắt bớ nhiều, xử lý nhiều không làm ai run rợ, không hề có tính cảnh tỉnh, răn đe mà ngược lại, việc xử lý nhiều làm cho “tình hình thêm phức tạp, nghiêm trọng”! 

Description: Lại những luận điệu sai trái về cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm” -0

Một số bài viết lại quy kết rằng, cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng đang “làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế”. Họ cho rằng, cuộc chiến chống tham nhũng rộng khắp của Đảng Cộng sản Việt Nam đang khiến cho nhiều giao dịch kinh tế bị tê liệt, có thể ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, giảm xuất khẩu. Suy diễn việc chống tham nhũng làm tê liệt hoạt động kinh doanh, đặc biệt “nếu việc thực thi pháp luật bị cho là không rõ ràng và có động cơ chính trị”…

Một số bình luận vu cáo, chiến dịch chống tham nhũng của Việt Nam làm tê liệt chuỗi cung ứng đầu tư, làm “nhà đầu tư nước ngoài lo sợ”!. Họ lập luận rằng, chiến dịch chống tham nhũng ở Việt Nam đã làm tê liệt nhiều giao dịch thông thường trong nước, gây ra tình trạng thiếu hàng hóa thiết yếu và làm giảm niềm tin của nhà đầu tư vào một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất châu Á.

Các cá nhân, tổ chức chống phá Việt Nam đã chia sẻ những bài viết này lên các trang mạng xã hội, từ đó đi đến quy kết, xuyên tạc bản chất cuộc chiến chống tham nhũng, hạ uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tác động vào tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của người dân, nhất là đối với các doanh nhân, cán bộ trong bộ máy Nhà nước.

Thực tế, với sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt trong cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, trong đó có sự ủng hộ của nhân dân, cuộc chiến này đã có chuyển biến tích cực, rõ rệt và mang lại những thành quả quan trọng.

Với luận điệu “chống tham nhũng làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế” là hoàn toàn không có cơ sở. Cần phải nhìn nhận, tham nhũng tác động trực tiếp đến sự ổn định và phát triển đối với mọi mặt của đời sống xã hội. Hành vi này gây ra những hậu quả, tác hại to lớn trên các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, nhất là đối với kinh tế, tình trạng tham nhũng gây thất thoát nghiêm trọng tài sản công, bào mòn ngân sách nhà nước để làm lợi cho một số cá nhân, nhóm người tham nhũng. Tham nhũng còn đe dọa sự ổn định, an ninh xã hội, xâm hại các thể chế và giá trị dân chủ, các giá trị đạo đức, công lý. Nếu không kịp thời ngăn chặn, tham nhũng sẽ trở thành mối đe dọa đặc biệt nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội, đe dọa đến tồn vong của chế độ.

Thực tế, quan điểm trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước Việt Nam rất rõ ràng, những đối tượng tham nhũng thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Đồng thời, Nhà nước tạo điều kiện, khuyến khích mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội tích cực thúc đẩy các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thu hút đầu tư, tạo môi trường lành mạnh, trong sạch trong cả đầu tư công và môi trường đầu tư tư nhân.

Cần phải nhận thức rằng, tình trạng tham nhũng làm suy giảm các lực lượng cạnh tranh vốn có của thị trường, gây ra sự cản trở sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Tham nhũng làm cạn nguồn đầu tư nội địa, làm giảm đáng kể các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tham nhũng không chỉ gây trở ngại cho hoạt động kinh tế vĩ mô mà còn kìm hãm hoạt động của các hãng riêng lẻ. Chính cuộc chiến chống tham nhũng tại Việt Nam tạo động lực không ngừng cho đầu tư, phát triển kinh tế, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà đầu tư vào Việt Nam.

Thời gian qua, các thế lực chống phá Việt Nam luôn viện dẫn nhiều lý do để chỉ trích Việt Nam, khi cuộc chiến chống tham nhũng đang cho thấy hiệu quả rất tích cực thì họ cũng không muốn điều đó xảy ra. Những thông tin sai trái từ các cá nhân, tổ chức, trung tâm chống phá Việt Nam về cuộc chiến chống tham nhũng đòi hỏi người dân cần cảnh giác, không phụ họa, chia sẻ trên mạng xã hội. Với âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, trên diễn đàn mạng xã hội, một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí đã lợi dụng công cuộc chống tham nhũng, tiêu cực, chống suy thoái, biến chất của Đảng, Nhà nước ta để xuyên tạc, bóp méo, cho đó là “cuộc đấu tranh thanh trừng nội bộ giữa các phe phái và các nhóm lợi ích”, vu cáo Đảng, Nhà nước ta đang ở thế “lưỡng nan đối nghịch” với hàm ý chống tham nhũng nhưng không muốn thay đổi thể chế chính trị!

Lợi dụng một số vụ việc tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên được phát hiện trong thời gian gần đây, đặc biệt là liên quan đến vụ kit test Việt Á, vụ “chuyến bay giải cứu”, các cá nhân, tổ chức thù địch đã lấy hiện tượng làm bản chất, quy chụp rằng toàn bộ đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước “đang rơi vào tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, thoái hóa, biến chất”. Họ vu cáo rằng, đó là bản chất, là “căn bệnh nan y, kinh niên” của chế độ độc đảng cầm quyền.

Nhiều bài viết còn phủ nhận những kết quả về công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước ta khi cho rằng, Đảng, Nhà nước đã phát động chống tham nhũng, suy thoái nhưng đều thất bại, tệ nạn ngày càng gia tăng. Từ đó, số này đưa ra quan điểm, chỉ có thể chống được tham nhũng khi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập” để kiểm soát quyền lực, kêu gọi phải thay đổi thể chế thì mới có thể chống tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất.

Do đó, việc cho rằng, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất là “căn bệnh nan y”, chỉ xảy ra ở các quốc gia do Đảng Cộng sản lãnh đạo hay ở quốc gia do một đảng lãnh đạo, cầm quyền là hoàn toàn không đúng với thực tế, là sự quy chụp, suy diễn. Âm mưu của chúng là nhằm gây ra tình trạng nghi ngờ, hoang mang, gây lầm tưởng tham nhũng phức tạp là do chế độ một đảng lãnh đạo, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với chế độ. Đồng thời, thông qua đó, các đối tượng nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội, Nhà nước; gây tâm lý hoài nghi, dao động, thiếu niềm tin, kích động chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Để phòng, chống tham nhũng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, cần phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Đảng và Chính phủ; cần xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện rộng rãi trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; phải làm cho quần chúng nhân dân khinh ghét, xa lánh tham ô, lãng phí; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”; mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp với những biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội. Tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa của Đảng và chế độ ta”.

Do đó, việc kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta, xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng đặt ra. Điều này cũng xuất phát từ vị thế, uy tín của Đảng trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, từ đòi hỏi công tác xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, đủ sức chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam. Việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không làm cho nội bộ mất đoàn kết, không phải giữa các “phe cánh”, “đấu đá” mà góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi các Cương lĩnh, Điều lệ của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng; tăng cường đoàn kết, gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Chống tham nhũng cũng nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững, củng cốniềm tin vững chắc của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng./.

NGHỆ THUẬT CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG TRONG CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI

 Chiến thắng Biên giới Thu Đông 1950 là sự kiện quân sự quan trọng, đánh dấu bước ngoặt cơ bản, đưa cuộc kháng chiến chống Pháp chuyển sang giai đoạn phát triển mới; đồng thời để lại những kinh nghiệm quý, trong đó nổi bật là nghệ thuật chỉ đạo chiến lược sáng suốt, tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trải qua 4 năm lãnh đạo quân và dân ta kháng chiến, Đảng ta ngày càng dày dạn và trở thành một “Đảng kháng chiến” với nhãn quan chiến lược rất nhạy bén và sắc sảo. Đến năm 1950, Đảng khẳng định: Cuộc kháng chiến chống Pháp đang có những thuận lợi cho ta, bất lợi cho Pháp về tương quan so sánh lực lượng trên chiến trường, ta ngày càng trưởng thành, Pháp càng đánh càng lâm vào thế bị động. Trên cơ sở đó, Đảng nhận định: Năm 1950 là năm bản lề giữa hai giai đoạn chiến lược (cầm cự, tổng phản công), năm quyết định để ta vượt qua giai đoạn cầm cự, chuyển sang giai đoạn tổng phản công. Đó là cơ sở để Đảng quyết định mở Chiến dịch Biên giới và quyết tâm lãnh đạo, chỉ đạo quân và dân ta giành thắng lợi. Thực hiện quyết tâm chiến lược đó, Đảng chỉ đạo chuẩn bị chiến trường, nêu rõ: “Công việc chuẩn bị cần chú trọng đến củng cố và phát triển cơ sở chính trị và vũ trang, gây cơ sở du kích... điều tra địch tình, phá hoại kinh tế địch, chuẩn bị lương thực tiếp tế cho bộ đội đến đánh”. Đây là sự chỉ đạo chiến lược quan trọng của Đảng nhằm chuẩn bị chu đáo về các mặt trước khi bước vào giai đoạn tiến hành chiến dịch như kế hoạch đề ra.
Điểm nổi bật về sự chỉ đạo chiến lược của Đảng không chỉ phản ánh ở cấp chiến lược mà còn thể hiện nghệ thuật chuyển hóa chiến lược tài tình. Lúc đầu, Tổng Quân ủy đề nghị mở chiến dịch trên hướng Tây Bắc (cụ thể ở Lào Cai), vì coi đây là nơi địch yếu, sơ hở nhất và chuẩn bị chiến trường ở hướng Đông Bắc.
Nhưng sau đó xét so sánh giữa hai mặt trận, Thường vụ Trung ương Đảng quyết định chuyển hướng mở chiến dịch sang Đông Bắc và chọn tiến công vào tuyến biên giới khu vực Cao Bằng-Lạng Sơn, trong đó tập trung tiến công phòng tuyến địch trên đường số 4, đoạn Cao Bằng-Thất Khê. Chọn Cao Bằng-Lạng Sơn mở chiến dịch sẽ trực tiếp làm phá sản kế hoạch Revers của Pháp, nhằm phong tỏa biên giới Việt-Trung, ngăn chặn sự chi viện của cách mạng Trung Quốc cho cách mạng Việt Nam, bao vây, cô lập căn cứ địa Việt Bắc, tiêu diệt ta. Vì thế, Đảng ta đã sớm có tầm nhìn chiến lược, chuyển Đông Bắc thành hướng chiến lược, nếu ta giải phóng được vùng biên giới sẽ phá thế bao vây, cô lập của địch, mở thông đường giao lưu quốc tế, củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, tiến lên giành quyền chủ động về chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ.
Vấn đề chỉ đạo chiến lược của Đảng còn thể hiện lãnh đạo, chỉ huy thống nhất. Để trực tiếp lãnh đạo các lực lượng vũ trang và nhân dân thực hành chiến dịch, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định thành lập Đảng ủy Mặt trận Biên giới (25-7-1950) gồm 5 đồng chí, do đồng chí Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng làm Bí thư. Bộ chỉ huy chiến dịch do Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp tổ chức, chỉ huy. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh được chỉ định làm Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy chiến dịch; đồng chí Hoàng Văn Thái, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam làm Tham mưu trưởng. Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ quyết định những vấn đề mang tính chiến lược của chiến dịch mà Người còn lên đường ra mặt trận trực tiếp cùng Bộ chỉ huy chỉ đạo chiến dịch. Trước khi bộ đội ta đánh Đông Khê, trận then chốt mở màn chiến dịch (16 đến 18-9-1950), Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đài quan sát ở Nà Lạn, cách Đông Khê khoảng 11km về phía Đông, trực tiếp theo dõi trận đánh này. Nhờ sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và lãnh đạo, chỉ huy các cấp, các quyết định, chỉ thị của Trung ương Đảng lập tức đến với các lực lượng tham gia chiến dịch; đồng thời các vấn đề chỉ huy chiến lược cũng được thực hiện tập trung thống nhất trên toàn mặt trận.
Cùng với lãnh đạo, chỉ huy thống nhất, đề ra phương châm tác chiến chiến lược và quán triệt vận dụng thành công cũng là nét nổi bật trong Chiến dịch Biên giới. Để bảo đảm cho bộ đội ta thực hiện phương châm “đánh điểm, diệt viện” (đánh điểm chỉ là biện pháp, diệt viện mới là mục đích của ta), cần thống nhất phương châm tác chiến chiến lược trên toàn Mặt trận Biên giới. Lúc đầu, ý định của ta đánh địch ở Cao Bằng trước, sau đó đánh Đông Khê, nhưng qua nghiên cứu thực tế chiến trường, để bảo đảm chắc thắng, Đảng ủy Mặt trận đề nghị Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cho đánh Đông Khê trước và được chấp thuận.
Phương án tác chiến chiến lược được xác định: Tập trung lực lượng tiêu diệt cứ điểm Đông Khê trước để mở màn; tiếp đó tập trung lực lượng lớn hơn đánh quân ứng chiến, chuyển lực lượng xuống đánh Thất Khê và cuối cùng tiến công vào thị xã Cao Bằng. Quán triệt sâu sắc phương châm tác chiến, bộ đội ta đã đánh nhiều trận, trong đó điển hình là trận Đông Khê, trận then chốt mở màn chiến dịch thắng lợi, trận Cốc Xá-điểm cao 477 (từ ngày 5 đến 8-10-1950), trận then chốt quyết định tiêu diệt hai binh đoàn Le Page và Charton. Tiếp đó, từ ngày 9 đến 14-10-1950, ta chuyển sang tiến công, buộc địch lần lượt phải rút khỏi Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng, thị xã Lạng Sơn, Lạng Giang, Lộc Bình, Đình Lập, An Châu, kết thúc chiến dịch.
Nghệ thuật chỉ đạo chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Chiến dịch Biên giới thể hiện rất tài tình, sắc bén về nhận định tình hình và quyết định chính xác, chủ động chuyển hướng chỉ đạo chiến lược đúng đắn, kịp thời; tập trung lãnh đạo, chỉ huy thống nhất; xác định phương châm tác chiến chiến lược và quán triệt vận dụng thành công phương châm đó.

CẢNH GIÁC VỚI BỆNH CÔNG THẦN VÀ KIÊU NGẠO CỘNG SẢN

 Bệnh công thần, kiêu ngạo cộng sản là những thói hư tật xấu trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã từng được V.I Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo từ lâu. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn gương mẫu, tránh những căn bệnh ấy, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt cuộc đời, khi đương chức cũng như khi nghỉ hưu. Thế nhưng, vẫn có những người xao nhãng, để những căn bệnh ấy không chỉ làm méo mó hình ảnh, nhân cách, vinh quang của chính họ mà còn tạo ra dư luận xấu, ảnh hưởng đến niềm tin, tình cảm của nhân dân, đồng đội...

Họ đã và đang tự đánh mất chính mình
Chúng ta hẳn có nhớ một sự việc gần đây, từng có cựu Ủy viên Trung ương Đảng tuổi đời còn trẻ, tương lai đang rộng mở thì “dính chàm”, bị cách hết mọi chức vụ. Nguyên nhân do nhiều sai phạm, trong đó một phần do thói độc đoán, chuyên quyền, kiêu ngạo, không biết lắng nghe, không tôn trọng cả cấp trên và cấp dưới.
Lại có cán bộ cấp cao lúc nghỉ hưu vẫn không giữ được mình, có nhiều sai phạm ảnh hưởng đến thanh danh họ, như cựu quan chức mạt sát cảnh sát giao thông; cựu bộ trưởng đòi đặc quyền đặc lợi... Đáng buồn hơn, có cả cán bộ kinh qua rèn luyện, cống hiến, lập nhiều chiến công nhưng lúc nghỉ hưu lại thiếu tỉnh táo, nói và viết không đúng đường lối quan điểm của Đảng; tiếp xúc với nhiều đối tượng cơ hội chính trị, thậm chí cả đối tượng phản động, bị chúng lợi dụng, kích động, dẫn đến tán phát nhiều thông tin xấu, gây hoang mang, bức xúc trong dư luận. Trước góp ý chân thành của đồng chí đồng đội, những người này lại không tiếp thu, sửa chữa, cho rằng cách nghĩ, cách làm của họ mới là cấp tiến, là “trở về với nhân dân”.
Họ còn tham gia các cuộc tọa đàm, trao đổi, tham gia xuất bản những ấn phẩm do một vài hội, nhóm tổ chức gây ra những tranh cãi, bất đồng chính kiến làm bức xúc dư luận. Rồi còn tham gia ký các đơn, tâm thư, thỉnh nguyện tập thể có nội dung trái với đường lối, quan điểm của Đảng, không có lợi cho đất nước, quân đội nhưng họ lại được kẻ xấu tung hô, ngợi ca nên ngày càng mù quáng... Ngay trong lĩnh vực báo chí, truyền thông, văn hóa văn nghệ, nhiều năm qua, chúng ta không khỏi đau xót khi thấy có những nhà văn, nhà báo, nhà quản lý từng dạn dày kinh nghiệm, có tên tuổi nhưng khi nghỉ hưu đã đánh mất chính mình, đăng đàn nói, viết những điều sai trái, đi ngược với lý tưởng cả một đời theo đuổi. Có người còn tham gia thường xuyên viết bài, cộng tác cả cho những trang mạng phản động, có người bị kích động và bị lợi dụng để rồi xuất hiện trong những clip với nhiều nội dung sai sự thật, có cả thông tin xấu độc gây hoang mang dư luận. Có người để lại lời nói, việc làm thiếu trách nhiệm, tùy tiện đưa thông tin sai sự thật, xúc phạm danh dự, uy tín lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước, quân đội...
Những căn bệnh cần tránh của người cộng sản
Cuộc sống luôn cần sự phản biện đa chiều nhưng nếu sự chỉ trích đi kèm bệnh kiêu ngạo cộng sản và công thần thì hậu quả vô cùng nguy hiểm.
Năm 1919, nhà văn Maxim Gorki đã viết thư đề nghị V.I Lênin ngừng “khủng bố” những trí thức bị bắt vì phản loạn. V.I Lênin đã viết bức thư trả lời, phân tích rằng không nên trộn lẫn “các lực lượng trí tuệ” của nhân dân với “lực lượng” trí thức tư sản. Ông còn lấy trường hợp tác giả cuốn sách với những mỹ từ “Chiến tranh, Tổ quốc và Nhân loại” nhưng thực ra là kẻ dùng lời đường mật đánh tráo khái niệm yêu nước đích thực; ông cho rằng những trí thức phản loạn, những kẻ tưởng mình là bộ não của quốc gia “bọn chúng không phải là bộ não ...”. Sau này, trong bài viết vào năm 1921, V.I Lênin đã vạch ra một trong 3 thứ kẻ thù chính-kẻ thù “nội xâm” mà những người cộng sản Nga phải kiên quyết đấu tranh tiêu diệt, kẻ thù đầu tiên, chính là “tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa”.
Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ II của Đảng năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến bệnh công thần: “Cậy mình có một ít thành tích, thì tự kiêu tự đại, cho mình là “cứu tinh” của dân, “công thần” của Đảng. Theo Người: “… Có những người cậy mình là “công thần cách mạng”, rồi đâm ra ngang tàng, không giữ gìn kỷ luật, không thi hành nghị quyết của Đảng...”. Người cũng chỉ ra nhiều thứ “bệnh” của cán bộ, trong đó có bệnh kiêu ngạo với những biểu hiện: “Tự cao, tự đại, hay lên mặt. Ưa người ta khen ngợi, tâng bốc mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo... Việc gì cũng muốn làm thày người khác”. Cùng với đó là bệnh hiếu danh, tham danh, trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cho mình là anh hùng, là vĩ đại. Rồi bệnh óc lãnh tụ: “Đánh được vài trận, hoặc làm được vài việc gì ở địa phương đã cho mình là tài giỏi lắm rồi, anh hùng lắm rồi, đáng làm lãnh tụ rồi. Nào có biết so với công cuộc giải phóng cả dân tộc thì những thành công đó chỉ là một chút cỏn con, đã thấm vào đâu!”.
Vi phạm cả pháp lý, đạo lý, xa rời nhân tâm, tự vùi danh dự
Soi rọi những lời căn dặn trên vào các biểu hiện mắc bệnh của một số cán bộ mà chúng tôi nêu ở phần đầu bài viết, có thể thấy rất rõ những điều các bậc tiền bối cách mạng căn dặn dường như đã nói đúng, nói trúng tim đen của ai đó xa rời đạo đức, danh dự người cộng sản chân chính. Người cộng sản cần có dũng khí để đấu tranh với những điều sai trái, những thói hư tật xấu trong xã hội nhưng phê bình phải trên tinh thần xây dựng, phải có cái tâm. Cuộc sống xấu đi bởi sự im lặng nhưng cuộc sống cũng xấu đi và tồi tệ hơn bởi những tiếng nói sai sự thật, phán xét hồ đồ, tùy tiện, vô trách nhiệm, giật gân, đao to búa lớn để nâng mình lên bằng cách bôi nhọ người khác, gắp lửa bỏ tay người. Đó là thói phê bình nói lấy được của kẻ không biết mình là ai, thậm chí “Chân mình thì lấm mê mê/Lại đi cầm đuốc mà rê chân người” như cha ông ta đã dạy. Đó là thói phê bình vơi tình cạn nghĩa, không thể chấp nhận đối với những người từng chung đội ngũ, từng thuộc lời thề thứ 7 về tình đồng đội.
Đã là người cộng sản, là đồng chí, đồng đội, thì khi góp ý, phê bình phải với tinh thần người cộng sản, đồng chí, đồng đội chứ không thể bịa đặt thông tin, đổi trắng thay đen, gây hoang mang, suy giảm niềm tin của nhân dân. Càng không thể phê phán khi chính mình chưa đủ tâm, đủ tầm, đủ thông tin và nhận thức về những lĩnh vực mình còn nông cạn, chưa trải nghiệm. Không thể chấp nhận những kiểu phê bình tùy tiện như biến người từng trải nghiệm, kinh qua chiến đấu, được đào tạo bài bản, có trình độ, năng lực chỉ huy quân sự cao thành người “không hiểu quân sự, không qua chiến tranh”. Không thể phê bình kiểu thầy bói xem voi phủ nhận cả thành tích, nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bằng ý kiến chủ quan, lệch lạc.
Đây cũng là vấn đề mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đề cập, chỉ rõ để mỗi cán bộ, đảng viên không sai phạm. Nghị quyết chỉ rõ, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống có việc nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu... Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước, quân đội; Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội.
Nghị quyết cũng không cho phép “kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước...”.
Vậy thì rõ ràng, một vài hiện tượng cán bộ nghỉ hưu gần đây giao lưu, cấu kết với các thế lực phản động hoặc bị chúng lợi dụng để xuyên tạc, chống phá, tán phát thông tin sai sự thật trên mạng xã hội là điều không thể chấp nhận, chính là việc vi phạm Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng.
Nhìn ở góc độ pháp lý, những hành vi xuyên tạc, vu khống người khác thông qua cái gọi là phê bình, đấu tranh, bày tỏ chính kiến với nhiều trường hợp đã vi phạm Điều 155, Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015, người vu khống, nói xấu, bôi nhọ danh dự, tuy tín của người khác còn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về một trong các tội: Tội làm nhục người khác hoặc tội vu khống...
Đấu tranh và xử lý, không để tạo những tiền lệ xấu
Những hành vi vi phạm cả về pháp lý và đạo lý như vậy cần phải được đấu tranh, phê phán, lên án, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh. Tổ chức đảng, đoàn thể nơi quản lý những cán bộ đó phải tăng cường giáo dục, rèn luyện họ chấp hành đúng kỷ luật và các quy định của Đảng, đề cao lương tâm, trách nhiệm, danh dự của người đảng viên chân chính.
Đối với các cơ quan chức năng, nhất là cơ quan quản lý Nhà nước, phải có thái độ và biện pháp xử lý nghiêm minh, công bằng, không để nương nhẹ, hóa mù ra mưa với những trường hợp công thần, kiêu ngạo cộng sản dẫn đến những lời nói, việc làm sai phạm. Chúng ta từng có bài học kinh nghiệm sâu sắc về một số trường hợp tướng lĩnh quân đội, công an từng được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân nhưng vi phạm kỷ luật, pháp luật vẫn bị xử lý nghiêm minh, không có vùng cấm.
Bác Hồ từng căn dặn: “Từ xưa đến nay, quần chúng không bao giờ tin cậy và yêu mến những kẻ tự cao, tự đại, những kẻ có óc lãnh tụ, tự xưng ta đây là anh hùng, là lãnh tụ”. Nhưng nhân dân và tổ chức cũng luôn rộng mở với những người biết khắc phục sửa sai. Thực tế đã có cán bộ tướng lĩnh có biểu hiện kiêu ngạo, được Bác Hồ nhắc nhở, rèn luyện sau trở thành vị tướng tài năng, đức độ, đảm nhiệm các chức vụ cao cấp của quân đội, sau đó ông tiếp tục sống cuộc sống khiêm nhường, cống hiến theo đạo đức cách mạng cho đến lúc nghỉ hưu, qua đời. Theo Người, để phòng trị bệnh kiêu ngạo, công thần, mỗi cán bộ, đảng viên phải: Rèn luyện đức khiêm tốn; thật thà tự phê bình và tiếp thu ý kiến phê bình của người khác; kịp thời phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm...
Với cán bộ cao cấp, càng đòi hỏi khi đương chức cũng như nghỉ hưu phải có sự tỉnh táo, cẩn trọng khi nói và làm, nhất là phát ngôn trên truyền thông và mạng xã hội, đặt lợi ích của đất nước, của cộng đồng lên trên; giữ gìn bản lĩnh, danh dự và uy tín người quân nhân cách mạng. Sinh thời, Bác Hồ từng gửi cho Thiếu tướng Nguyễn Sơn 12 chữ: “Đảm dục đại” (Gan phải to); “Tâm dục tế” (tấm lòng, tâm hồn phải trong sáng); “Trí dục viên” (Suy nghĩ trọn vẹn, toàn diện, chu đáo); “Hạnh dục phương” (Hành động đúng đắn, ngay thẳng, phân minh, đàng hoàng). Sau này, nói chuyện với các tướng lĩnh, Bác nói đến 6 đức tính cần phải có, gồm: Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung nhưng phẩm chất đầu tiên phải có là Trí. Người chỉ rõ Trí là phải có đầu óc sáng suốt, nhìn mọi việc để suy xét, rồi quyết định cho đúng. Suy nghĩ thấu suốt, nhìn xa trông rộng, phát ngôn rạch ròi, có thể định hướng dư luận, thế mới xứng tầm của những người từng ở vị trí lãnh đạo, chỉ huy.
Để tán phát những thông tin xấu, tiếp tay cho những căn bệnh kiêu ngạo, công thần, những điều sai trái có “cánh tay vô hình” của kênh truyền thông mạng xã hội và thủ đoạn lôi kéo của các đối tượng xấu, cơ hội chính trị thường lợi dụng những cán bộ nghỉ hưu, có tinh thần đấu tranh cao nhưng trong nhiều trường hợp lại thiếu thông tin; không sử dụng hoặc ít cập nhật mạng xã hội, internet... Vì thế, cũng cần có biện pháp thường xuyên trao đổi, cung cấp thông tin, ngăn ngừa các đối tượng xấu lôi kéo, lợi dụng.
Các cơ quan chức năng cần có biện pháp tăng cường quản lý hiệu quả mạng xã hội, để các nhà cung cấp của Google, Facebook, YouTube... chấp hành nghiêm quy định của pháp luật Việt Nam; buộc họ chủ động và có biện pháp ngăn chặn, xử lý những thông tin chưa được kiểm chứng, tránh lăng mạ, xúc phạm uy tín, danh dự của tổ chức, cá nhân, chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội...
QĐND

KHỞI ĐỘNG CHIẾN DỊCH PHÒNG, CHỐNG TIN GIẢ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 Với thông điệp "Không gian ảo, niềm tin thực", chiến dịch Tin mang hàm nghĩa: Tin tức, thông tin hàng ngày được sản xuất trên internet, đồng thời là niềm tin, sự tin tưởng. Chương trình do Cục Phát thanh Truyền hình và Thông tin Điện tử và Báo VnExpress tổ chức.

Ngoài việc là kênh cập nhật các thông tin nâng cao văn hóa sử dụng mạng cho người dùng, chiến dịch còn muốn tạo nên không gian mạng văn minh với sức mạnh của người dùng trẻ thông qua cuộc thi "Anti fake news".
Cuộc thi khuyến khích các bạn trẻ sáng tạo nội dung liên quan đến việc chia sẻ thông tin tích cực, hạn chế tin giả, sai sự thật trên nền tảng Tiktok. Thí sinh có thể thực hiện điệu nhảy "Anti Fake News", hát bài hát chủ đề do ban tổ chức công bố hoặc kể chuyện, diễn hoạt cảnh tình huống... và đăng tải trên ứng dụng này.
Chung cuộc, Ban tổ chức sẽ trao hơn 20 giải thưởng với tổng giá trị đến 150 triệu đồng. Thể lệ cuộc thi chi tiết sẽ được cập nhật vào ngày 28/9. Ngoài ra, vào ngày 15/11 sẽ có một sự kiện lớn tại trường đại học ở Hà Nội. Hoạt động chính của chương trình là tọa đàm với khách mời là các chuyên gia, người nổi tiếng, người có sức ảnh hưởng trên các nền tảng mạng...; sân khấu giao lưu âm nhạc, trao giải cuộc thi "Anti Fake News".
Tại đây, ban tổ chức cũng sắp xếp nhiều khu vực trải nghiệm tiếp nhận thông tin, nâng cao nhận thức với các trò chơi giải trí. Xuyên suốt cuộc thi có sự đồng hành của Đại sứ hình ảnh chiến dịch "Tin" là người nổi tiếng với hình ảnh mạnh mẽ, thực hiện nhiều hoạt động và đóng góp tích cực cho xã hội.
Theo ban tổ chức với chiến dịch Tin, ban tổ chức sẽ cung cấp chi tiết các nội dung này nhằm nâng cao ý thức và trách nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân khi tham gia vào internet để ai cũng đủ kiến thức và sự tỉnh táo khi tiếp nhận thông tin hàng ngày; tạo nên một không gian mạng với thông tin đáng tin và có ảnh hưởng tích cực.
Hiện nay, người tung tin sai sự thật, gây hoang mang dư luận trên mạng xã hội sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng. Tuy nhiên, thực trạng "tin giả" vẫn tồn tại và ngày càng phức tạp, đặc biệt là trong các sự kiện thu hút sự chú ý của công chúng như dịch bệnh, tai nạn, thiên tai...
Trung tâm Xử lý tin giả Việt Nam (VAFC) thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông thông tin, trong 6 tháng đầu năm 2021, trung tâm nhận được hơn 1,1 nghìn lượt báo cáo tin giả. Sau quá trình xác minh, tổ chức công bố dán nhãn 38 tin giả, tin sai sự thật. Nhiều nội dung trong số này liên quan đến Covid-19 tại Việt Nam.
Tuy nhiên, việc xác định tính chính xác của thông tin cũng ngày càng khó khăn khi lượng người dùng mạng xã hội ngày càng lớn, độ tuổi trải dài, tốc độ phát tán nhanh chóng và hình thức, hành vi ngày càng gia tăng.
Theo Cục Phát thanh truyền hình và thông tin điện tử, tin giả luôn tồn tại và ngày càng khó lường. Do đó, người dân cần nghĩ nhiều lần trước khi chia sẻ bất kỳ thông tin nào trên không gian mạng.

TRANG BỊ KIẾN THỨC CHO GIỚI TRẺ ĐẤU TRANH TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 Không chỉ nước ta mà bất cứ quốc gia nào trên thế giới muốn phát triển bền vững trong tương lai cũng đều phải quan tâm đến giới trẻ. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã làm thay đổi phương thức giao tiếp của con người. Mạng xã hội không chỉ trở thành phương tiện phổ biến để kết nối mọi người trên toàn cầu mà còn là công cụ để các thế lực thù địch, phản động đăng tải những thông tin xấu độc. Vấn đề cấp bách hiện nay là phải trang bị kiến thức, định hướng cho giới trẻ “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”…

Mạng xã hội bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam từ đầu những năm 2000 và phát triển với tốc độ nhanh chóng, dần trở thành nhu cầu thiết yếu của xã hội. Lượng người dùng mạng xã hội Việt Nam chủ yếu ở độ tuổi 18-35. Đây có thể coi là “độ tuổi vàng” của dân số nói chung và là độ tuổi mà truyền thông chính trị cần hướng đến.
Ngoài việc được xem là một trong những kênh thông tin hữu hiệu tích cực, mạng xã hội còn là “môi trường” thuận lợi cho một số cá nhân, tổ chức “lợi dụng” quyền tự do ngôn luận, cung cấp những thông tin sai trái, thậm chí, có những thông tin xuyên tạc, gây hại đến trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc gia. Điều đáng báo động là những thông tin xấu độc đang tấn công giới trẻ.
Các thế lực thù địch đã “đánh đúng” vào sự hiếu kỳ, thích khám phá của giới trẻ để đưa lên mạng xã hội các thông tin “giật gân”, bôi nhọ danh dự cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, Quân đội; khoét sâu vào những vụ việc tham nhũng, tiêu cực trong xã hội để hướng luồng dư luận và kích động lớp trẻ tỏ thái độ bất mãn với cái mà chúng gọi là “thảm họa của đất nước”. Chúng kêu gọi thanh niên trốn tránh nghĩa vụ quân sự, đi theo cái gọi là “xã hội dân sự”, “tự do ngôn luận”,... mà thực chất là phải bội lại Tổ quốc. Một số ít thanh niên đã sa vào cái bẫy này.
Để giúp cho thế hệ trẻ nhận diện được bản chất âm mưu của các thế lực thù địch, tỉnh táo, bản lĩnh, không để chúng lôi kéo, kích động, các cấp ủy Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị xã hội cần thực hiện đồng bộ giải pháp, trang bị “vũ khí” để thanh niên tự bảo vệ mình và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch . Trong đó, cần nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của thanh niên và công tác thanh niên. Phải coi công tác chăm lo, phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực đảm bảo cho sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước; là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu dài của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị. Quan tâm đến quyền lợi thanh niên, nhất là quyền được học tập, lao động, sáng tạo...
Đặc biệt, cần kiên trì quan điểm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu” trong giới trẻ. Để làm được điều này, cần phát huy vai trò của nhà trường, gia đình và các cơ quan báo chí trong công tác tuyên truyền, giáo dục, định hướng tư tưởng cho thế hệ trẻ. Trong đó, nhà trường phải không ngừng cải tiến nội dung và biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, nhận diện rõ âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Các tổ chức đoàn thể cần làm tốt công tác tuyên truyền vận động, hướng các hoạt động thanh niên vào thực hiện các nhiệm vụ chính trị, xã hội. Gia đình phải tích cực chủ động phối hợp chặt chẽ với nhà trường để quản lý giáo dục con em mình chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương, của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Các cơ quan báo chí cần tăng cường các chuyên trang, chuyên mục “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”, vạch trần bản chất âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, làm cho thanh niên thấy được chống “diễn biến hòa bình” là một việc làm thường xuyên, toàn diện trên mọi lĩnh vực.
Các cấp ủy, tổ chức đảng cần đa dạng hóa hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục; nội dung linh hoạt, gần gũi, dễ hiểu, phù hợp với tâm lý thanh niên và điều kiện thực tiễn. Tăng cường giáo dục cho thanh niên hiểu rõ, nắm chắc về lịch sử, truyền thống văn hóa dân tộc. Từ đó, xây dựng, bồi đắp lòng yêu nước, ý thức tự hào, tự tôn dân tộc, gia tăng sức mạnh chính trị - tinh thần, làm động lực giúp thanh niên thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tổ chức đoàn các cấp cần chủ động, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho thanh niên trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Kịp thời nắm bắt tình hình tư tưởng của thanh niên để uốn nắn những biểu hiện tư tưởng lệch lạc; tránh để cho các thế lực thù địch, phản động có cơ hội lôi kéo, mua chuộc thanh niên. Xây dựng những đội thông tin viên phản ứng nhanh, xung kích; viết tin, bài, chia sẻ, lan tỏa rộng rãi những thông tin tốt; đấu tranh phản bác những thông tin xấu, độc trên các kênh truyền thông, mạng xã hội.
Khi cả xã hội đều đồng sức, đồng lòng đấu tranh với những quan điểm sai trái, thói hư, tật xấu thì các cuộc tấn công của các thế lực thù địch vào giới trẻ chắc chắn sẽ thất bại.

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH, BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

 

            Trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay, bảo vệ, đấu tranh phản bác, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” hướng lái, xóa bỏ CNXH và con đường đi lên CNXH là nội dung cơ bản, qua đó khẳng tính khoa học, cách mạng, củng cố niềm tin, sự kiên định tư tưởng, hành động vào con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn.

 Cuộc đấu tranh về tư tưởng, lý luận là một bộ phận quan trọng của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh chính trị, không chỉ xoay quanh những vấn đề lý luận cốt lõi nhất mà còn gắn với thực tiễn, nhất là những biến động của đời sống xã hội. Vậy nên, ngay từ khi ra đời, chủ nghĩa Mác - Lênin đã phải đấu tranh liên tục, không khoan nhượng với những quan điểm sai trái, thù địch núp dưới mọi hình thức của các thế lực đối lập. Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C. Mác và Ph. Ăngghen đã nói đến sự lo sợ của giai cấp tư sản về chủ nghĩa cộng sản như “bóng ma ám ảnh châu Âu” và sự liên kết chống phá quyết liệt của chúng. Trong khói lửa của cuộc nội chiến có sự tham gia can thiệp của 14 nước đế quốc hòng bóp chết nhà nước vô sản Nga non trẻ đầu tiên trên thế giới, V.I.Lênin đã khẳng định một vấn đề có tính quy luật là: Một cuộc cách mạng không biết tự vệ mình là cuộc cách mạng tự sát. Theo tư tưởng các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong tất các các giai đoạn phát triển, các thế hệ cách mạng trên toàn thế giới đều phải kiên quyết, kiên trì, không ngừng đấu tranh bảo vệ sự nghiệp cách mạng chân chính của giai cấp, của dân tộc, trong đó có cuộc đấu tranh về tư tưởng, lý luận bảo vệ mục tiêu, con đường đi lên CNXH.

Đảng ta, ngay từ khi ra đời đã xác định đúng đắn và đấu tranh kiên quyết bảo vệ đường lối, chống lại các tư tưởng tả khuynh, hữu khuynh trong các lĩnh vực lý luận, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật…. Cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận trong lịch sử của Đảng đã góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng, quan điểm, đường lối cách mạng của Đảng trong mỗi thời kỳ. Đồng thời, đấu tranh về tư tưởng, lý luận cũng đã góp phần phát triển các quan điểm lý luận đúng đắn, tuyên truyền sâu rộng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống xã hội, góp phần nâng cao trình độ, nhận thức lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước hơn 35 năm qua, cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận về CNXH, con đường đi lên CNXH của Đảng ta diễn ra trong bối cảnh và yêu cầu mới, mang tính phức tạp và quyết liệt hơn. Sự tan rã của Liên Xô và sự sụp đổ của CNXH ở một loạt các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) Đông Âu là cái cớ để các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị tung ra các quan điểm sai trái, thù địch, phủ nhận sự đúng đắn, khách quan của CNXH trên toàn thế giới với tư cách là một học thuyết, một chế độ xã hội, đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá CNXH. Sự kiên định nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với CNXH trên con đường dân tộc, nhân dân ta đi tới là đề tài để các thế lực thù địch bóp méo, xuyên tạc, phủ nhận bằng đủ các luận điệu sai trái, thù địch khác nhau. Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ cùng với sự phát triển bùng nổ của truyền thông xã hội, internet toàn cầu, những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của kinh tế thị trường, những vấn đề nóng bỏng trước những tác động của an ninh truyền thống, an ninh phi truyền thống, tác động tiêu cực của tình hình thế giới đến đời sống xã hội như: Xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, chủ nghĩa dân tộc, dân túy, tự do mới, dịch bệnh…, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động tăng cường hoạt động với những chiêu thức, thủ đoạn mới chống phá CNXH, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Những quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch chống phá này, thể hiện ở số vấn đề sau đây:

Thứ nhất, xuyên tạc giá trị, tính khoa học, cách mạng của học thuyết Mác - Lênin, nền tảng tư tưởng của Đảng về CNXH. Những chiêu bài mà chúng đang sử dụng không mới, nhưng hết sức tinh vi và thâm độc, tập trung vào việc đưa ra những lập luận, tuyên truyền, cổ vũ từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, làm lung lay, phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận của ĐảngĐể phủ định học thuyết Mác - Lênin, các thế lực thù địch cho rằng, học thuyết Mác - Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX và phù hợp trong một chừng mực nào đó với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất phương Tây thời đó. Lý luận này không còn phù hợp với thế kỷ XX và đặc biệt trong điều kiện ngày nay càng không phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam. Từ đó, họ tuyên truyền xuyên tạc, rêu rao: chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, không phù hợp ở Việt Nam và cần loại bỏ. Gần đây, trước những khó khăn về kinh tế, xã hội của đất nước, họ tuyên truyền luận điệu: Việt Nam đang không chỉ bế tắc về kinh tế mà còn bế tắc cả về tinh thần; và rằng, không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác nữa. Họ cho rằng, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác chỉ là một mớ lý thuyết suông về một chủ nghĩa xã hội không tưởng, không bao giờ thực hiện được. Do vậy, sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô, Đông Âu và trên toàn thế giới là một tất yếu, là sự cáo chung đã được báo trước.

Thứ haixuyên tạc CHXH, mục tiêu, lý tưởng con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Với cách diễn đạt trực diện tấn công: “Vì sao đến giờ này mà Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn kiên định CNXH, mục tiêu, con đường đi lên CNXH”. Họ cho rằng: ai cũng thấy là CNXH đã ở vào giờ thứ 25 trên phạm vi toàn cầu, việc thực hiện CNXH tại Việt Nam đã hoàn toàn thất bại sau 10 năm (1975 - 1985) thực hiện triệt để dù cố gắng “đổi mới” 10 năm sau đó (1985 - 1995) theo gương “cải tổ” của Liên Xô vẫn không cứu vãn được. Chúng xuyên tạc: Để được cứu nguy, tránh sự sụp đổ như Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu, đạt được nhiều thành tựu như hiện nay, thực tế Việt Nam đã thực hiện “kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa”, nhờ đó, Việt Nam mới phát triển nhiều mặt để có bộ mặt phồn vinh như hôm nay về kinh tế, đời sống người dân ngày một được cải thiện và nâng cao, chứ không phải kinh tế thị trường định hướng XHCN…

Thứ ba, đưa ra các kiến nghị nhiều hình thức, như “gửi thư”, “trao đổi”, “góp ý” kiến nghị vào những dịp Đại hội Đảng, sửa đổi Hiến pháp…, cho rằng đó là thời cơ để đổi mới chính trị theo hình thức đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xây dựng nhà nước dựa trên nền tảng dân chủ, “xã hội dân sự”. Thực chất, ẩn khuất đằng sau những góp ý này là ý đồ xóa bỏ, lật đổ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ cho rằng, chúng ta đã chọn đường sai, cần phải đi con đường khác. Có người còn phụ họa với các luận điệu thù địch, công kích, bài bác CNXH, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường đi lên CNXH.

Thứ tưquan điểm, luận điệu lợi dụng vào những khó khăn tồn tại, hạn chế, thiếu sót, sơ hở trong đời sống xã hội để đánh đồng hiện tượng thành bản chất của CNXH, là kết quả mang lại do đi theo con đường CNXH. Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bên cạnh những thành tựu to lớn đạt được, còn có những hạn chế, yếu kém, thiếu sót, sơ hở trong đời sống về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tình trạng tham nhũng, lãng phí, ô nhiễm môi trường… Các thế lực thù địch lợi dụng để suy diễn, diễn đạt dưới nhiều hình thức khác nhau, xuyên tạc, quy chụp rằng đó là bản chất của CNXH, kết quả do con đường đi lên CNXH mang lại…; làm cho những người không có nền tảng tư tưởng chính trị vững vàng dễ bị lầm tưởng, hồ nghi, hoang mang, dao động, thậm chí xét lại, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái về tư tưởng chính trị. Đây thực chất là những luận điệu phi lịch sử, phản khoa học và phản động. Mục đích của chúng muốn xóa bỏ CNXH, thay đổi thể chế chính trị, hướng lái nước ta từ bỏ con đường đi lên CNXH. Những luận điệu sai trái, xuyên tạc này tác động làm cho một bộ phận quần chúng nhân dân, giới trẻ hồ nghi, bi quan, dao động, suy giảm niền tin vào CNXH, vào con đường đi lên CNXH mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Đấu tranh phản bác những quan điểm, luận điệu này, chúng ta thấy:

Một lànền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin - học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động. Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết duy nhất từ trước tới nay đặt ra mục tiêu chỉ rõ con đường giải phóng triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới khỏi nô dịch và bóc lột, hướng tới một xã hội mà chủ thể, nhà nước thuộc về nhân dân. Đồng thời, học thuyết đó còn chỉ ra lực lượng cách mạng thực hiện sự nghiệp giải phóng và phát triển xã hội là giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đem lại cho họ niền tin vào khả năng và sức mạnh của chính mình. Bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin còn thể hiện ở chỗ, đây là học thuyết mở, không cứng nhắc, bất biến, mà đòi hỏi luôn được bổ sung, đổi mới, phát triển trong dòng chảy phát triển trí tuệ nhân loại. Toàn bộ học thuyết Mác - Lênin có giá trị bền vững xét trong tinh thần biện chứng của nó, với bản chất cách mạng, khoa học. Chủ nghĩa Mác - Lênin là vũ khí lý luận sắc bén, ngọn cờ tư tưởng trong sự nghiệp đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân cần lao tiến bộ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin[1].

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn trung thành và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta, coi đây là cơ sở lý luận, nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho xây dựng, tổ chức và hoạt động của Đảng. Vì vậy, Đảng luôn có cương lĩnh, đường lối, chiến lược, sách lược, chỉ thị, nghị quyết đúng đắn, lãnh đạo nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Lịch sử đã chứng minh, nếu mơ hồ, dao động về hệ tư tưởng thì sẽ lúng túng trong hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách, rối loạn trong tổ chức và tất yếu dẫn đến thất bại trong hành động. Thực tiễn cách mạng nước ta chứng minh, trong mỗi giai đoạn cách mạng, mỗi lĩnh vực công tác, mỗi địa phương nếu xa rời hay vận dụng một cách giáo điều, máy móc, duy ý chí hoặc xa rời nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin thì nhất định sẽ phạm phải sai lầm, chia rẽ, mất uy tín trước quần chúng và thực hiện công việc hiệu quả thấp, thất bại. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Tính khoa học và cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững, đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Nó sẽ còn tiếp tục phát triển và có sức sống trong thực tiễn cách mạng cũng như trong thực tiễn phát triển của khoa học. Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống[2].

          Hai làđộc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn của dân tộc Việt Nam. Lịch sử dân tộc ta nửa cuối thế kỷ 19 và ngót nửa đầu thế kỷ 20, đất nước không được độc lập, nhân dân không được tự do. Các phong trào từ “Cần Vương”, “Khởi nghĩa nông dân”, đến phong trào “Đông Du”, phong trào “Giải phóng dân tộc theo khuynh hướng tư sản dân tộc”…đều thất bại, cách mạng Việt Nam lâm vào khủng hoảng về con đường giải phóng dân tộc. Trong điều kiện đó, Nguyễn Ái Quốc đã đưa lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, cách mạng vô sản về Việt Nam. Từ khi có Đảng, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng đất nước theo con đường CNXH, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Nói như thế để thấy, con đường cách mạng vô sản tiến bộ là phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, CNXH là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc Việt Nam. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sự lựa chọn đúng đắn của nhân dân. Nhân dân là cội nguồn sức mạnh, chủ thể quyết định vận mệnh của dân tộc và non sông đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam một lòng phụng sự Nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Ngoài lợi ích của dân tộc, Nhân dân, Đảng không có lợi ích nào khác. Nhân dân một lòng theo Đảng. Lý tưởng cộng sản là sự lựa chọn của Nhân dân. Kiên định con đường đi lên CNXH là sự kiên định con đường thực tiễn mà nhân dân ta đang đi, kiên định mục tiêu thực hiện mà chúng ta đang hướng tới, là tiếp nối thành quả cách mạng của nhân dân ta và nâng lên tầm cao mới phù hợp với điều kiện lịch sử. Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, Đảng ta tiếp tục lựa chọn con đường Bác Hồ, Nhân dân đã lựa chọn, kiên định CNXH mà tính đúng đắn, khoa học, cách mạng đã được thực tiễn chứng minh để xây dựng đất nước ta thực sự giàu mạnh, dân chủ, văn minh, nhân dân ta thực sự có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh trong bài viết của mình: “Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam, là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú, kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc[3].

Kiên định con đường đi lên CNXH là phù hợp với quy luật lịch sử chứ không phải là “đi vào vết xe đổ của Liên Xô” như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Chủ nghĩa xã hội hiện thực sau cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 không chỉ có ảnh hưởng quốc tế sâu rộng mà còn làm thay đổi tiến trình lịch sử thế giới trong suốt thế kỷ XX và cho đến tận ngày nay. Chủ nghĩa xã hội từ lý luận khoa học đã trở thành hiện thực sinh động; từ một nước XHCN trở thành hệ thống các nước XHCN trên thế giới, trở thành lực lượng cách mạng thúc đẩy nhân loại phát triển và phẩm giá con người trong lòng xã hội được thực thi… Liên Xô sụp đổ là sự kiện địa chính trị lớn nhất của thế kỷ XX làm đau đớn nhân loại tiến bộ, song nó phản ánh sự sai lầm về một mô hình khi đã xa rời những vấn đề mang tính nguyên tắc của CNXH. Điều đó cho thấy, những bước thăng trầm, quanh co, khúc khuỷu nhưng tất thắng của CNXH với tư cách là một học thuyết khoa học và cách mạng, một hình thái kinh tế - xã hội và với tư cách một chế độ xã hội mới đầy ưu việt mà nó vốn có, là sự kết tinh tất cả những thành tựu tinh hoa mà các hình thái kinh tế - xã hội trước đã tạo ra, trên con đường đấu tranh khẳng định sự tồn tại phù hợp quy luật của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người.

Ba là, vấn đề đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập và dân chủ. Đảng chính trị được tiếp cận nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Với nghĩa chung nhất, phổ biến, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Còn đảng là tổ chức chính trị mang bản chất giai cấp, là sự liên kết tự nguyện những người cùng chí hướng và cùng quyền lợi. Nói cho cùng, bản chất của đảng chính trị chính là bản chất giai cấp. Trong xã hội có giai cấp, thậm chí có nhiều giai cấp, sự xuất hiện của một đảng hay nhiều đảng chính trị cũng là lẽ bình thường. Dù dưới màu sắc chính trị hay xã hội, dân tộc hoặc tôn giáo, tên gọi có khác nhau, nhưng đảng thực chất là đảng chính trị, đảng nào cũng đều hướng tới việc cầm quyền, trong việc giành, giữ, thực thi quyền lực nhà nước.

          Tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể, tương quan lực lượng giữa các giai cấp, các bộ phận trong một giai cấp, mỗi nước có thể có một đảng hoặc nhiều đảng. Trong thực tiễn, có thể là một đảng lãnh đạo (như Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội), hoặc nhiều đảng cạnh tranh lãnh đạo, quyền lực nhà nước (như một số nước tư bản phương tây). Không có một đảng lãnh đạo hoặc không lập được liên minh lãnh đạo giữa các đảng thì tất yếu đất nước sẽ rơi vào tình trạng vô chính phủ và hỗn loạn. Dân chủ, dưới sự lãnh đạo của đảng chính trị là dành cho số đông hoặc dành cho thiểu số và lịch sử các hình thái dân chủ không nằm ngoài điều đó. Dưới chủ nghĩa tư bản, dân chủ nằm trong tay giai cấp tư sản, được tổ chức thành nhà nước tư sản và nhà nước đó bảo đảm quyền dân chủ cho một số ít người là giai cấp tư sản nhằm chống lại đông đảo những người lao động. Ở đó, dân chủ chân chính là thứ dân chủ dành cho thiểu số, không triệt để ở mọi cấp độ và tính chất, vì chỉ trong tay bộ phận thiểu số là giai cấp tư sản chứ không phải quảng đại quần chúng nhân dân lao động. Họ nói, dân chủ là phải đa đảng nhưng thực tế lại không như vậy. Chẳng hạn, ở một số nước tư bản như Hoa Kỳ - được mệnh danh là “thiên đường tự do”, trong suốt hàng trăm năm qua kể từ khi ra đời, trong bối cảnh nhiều đảng, nhưng thực chất chỉ có hai đảng lớn nhất của giai cấp tư sản thay nhau cầm quyền. Tuy là hai đảng nhưng khó ai có thể tìm thấy sự khác nhau về bản chất, về lập trường giai cấp và hệ tư tưởng giữa hai đảng đó, và nếu có khác nhau thì chỉ ở tên gọi và một số chính sách nhất định mà thôi.

Trong CNXH, dân chủ là quyền làm chủ thuộc về nhân dân, vai trò chủ thể của Nhân dân. Nhà nước là nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì nhân dân. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”[4]. Chính vì vậy, dân chủ XHCN vừa là mục tiêu cao cả, vừa là động lực căn bản và mạnh mẽ của sự phát triển xã hội và tiến bộ toàn diện không ngừng của nhân dân, đất nước với phẩm giá con người được thừa nhận một cách đầy đủ, tôn trọng và bảo vệ.

Bốn là, đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng CNXH là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội”[5]. Trong thời kỳ quá độ, các nhân tố XHCN được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi XHCN, gồm cả các nhân tố tư bản chủ nghĩa trên một số lĩnh vực. Sự đan xen, cạnh tranh này càng phức tạp và quyết liệt trong điều kiện cơ chế thị trường và mở cửa, hội nhập quốc tế. Bên cạnh các mặt thành tựu, tích cực, sẽ luôn có những mặt tiêu cực, thách thức cần được xem xét một cách tỉnh táo và xử lý một cách kịp thời, hiệu quả. Đó là cuộc đấu tranh rất gay go, gian khổ, đòi hỏi phải có tầm nhìn mới, bản lĩnh mới và sức sáng tạo mới. Đi lên theo định hướng XHCN là một quá trình không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố XHCN để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng. Với cách nhìn khoa học, biện chứng như vậy, không thể lấy hiện tượng, vấn đề cụ thể là những hạn chế tồn tại, thiếu sót, sơ hở trong đời sống xã hội để đánh đồng hiện tượng thành bản chất của CNXH, quy kết đó là kết quả đi theo con đường CNXH mang lại.

          Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đạt được trong hơn 35 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng là kết quả của công cuộc đổi mới, của quá trình CNH, HĐH, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN… Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chính trị của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, lý luận dẫn dắt dân tộc ta vững vàng tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; là nền tảng để Đảng ta hoàn thiện đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới. Để cuối cùng “với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

          Đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam có ý nghĩa quan trọng, góp phần củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng, giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội, ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, qua đó góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch, phản động trong tình hình mới./.

 

Phản Bác Luận Điệu Xuyên Tạc, Chiêu Trò Chống Phá Của Các Tổ Chức Đội Lốt Nhân Quyền

Nhiều nhà nghiên cứu chính trị cho rằng, ở năm 2023 này việc phá hoại, xâm lược một quốc gia công chỉ đơn giản được thực hiện trên mặt trận quân sự như những giai đoạn trước, mà giờ đây còn được tiến hành một cách tinh vi hơn, thông qua lĩnh vực tuyên truyền bằng chiêu bài sử dụng các tổ chức phi lợi nhuận, tổ chức phi chính phủ đội lốt nhân quyền. Việt Nam chúng ta vài chục năm trước đã từng rất ngạo nghễ khi đánh thắng được quân đội Hoa Kỳ hùng mạnh, nhưng giờ đây, một đạo quân khác của nước Mỹ cũng ở đẳng cấp hàng đầu thế giới, đó là nhân quyền, đã bắt đầu một cuộc chiến ngầm nhắm vào chúng ta. Và đó là thứ mà Việt Nam nên cảnh giác nếu không muốn bị rơi vào thảm kịch giống như Libya, Iraq hay Syria. Lâu nay, tổ chức theo dõi nhân quyền HRW (Human Rights Watch), đã nhiều lần đưa ra những thông tin sai trái bịa đặt nhằm phủ nhận thành quả bôi nhọ bức tranh dân chủ,  nhân quyền ở Việt Nam. Các luận điệu vu cáo của HRW gia tăng ngày càng tùy tiện, không chỉ thể hiện qua phát ngôn của đại diện Tổ chức này mà còn thể hiện qua các báo cáo, thông cáo báo chí. Trong một thông cáo phát đi vào ngày 8 tháng 6 năm 2023 (một ngày trước cuộc đối thoại nhân quyền Liên Hiệp Châu Âu Việt Nam tại Hà Nội), tổ chức HRW đã vu cáo rồi lấy cớ kêu gọi châu Âu gây áp lực để buộc Việt Nam chấm dứt các hành động vi phạm nhân quyền một cách có hệ thống.

Trước đó vào ngày 26 tháng 5 năm 2023, tổ chức này đã gửi đến Liên Hiệp Châu Âu một “tờ trình” về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam, yêu cầu EU gây sức ép để Chính quyền Hà Nội trả tự do ngay lập tức cho những người đang bị giam giữ vì lý do chính trị. Tổ chức này còn lên tiếng đòi sửa đổi hoặc hủy bỏ một số điều khoản trong Bộ luật hình sự mà họ cho rằng “thường được viện dẫn để đàn áp các quyền dân sự và chính trị, hạn chế quyền tự do đi lại đối với các nhà hoạt động nhân quyền và dân chủ”. Tổ chức HRW, được thành lập vào năm 1988 trên cơ sở hợp nhất tổ chức Helsinki Watch (thành lập năm 1978, với mục đích giám sát Liên Xô bằng cách thu thập tư liệu liên quan tới việc Liên Xô thực hiện quy ước của Tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu (OSCE), hỗ trợ các nhóm bảo vệ nhân quyền tại nước này) với một số tổ chức quốc tế khác có cùng tôn chỉ, mục đích nghiên cứu và cổ vũ cho phát triển nhân quyền. Nói là truyền nghiên cứu và cổ vũ cho nhân quyền. Nhưng nhìn vào hoạt động của HRW cho thấy, lời nói không đi đôi với việc làm, ngày càng xa rời, thậm chí đi ngược tôn chỉ, mục đích. Do bị chi phối bởi nguồn kinh phí hoạt động nên dễ hiểu là các phúc trình về nhân quyền của tổ chức này thường sai sự thật, thiên vị, mang màu sắc chính trị và chủ quan áp đặt, do đó các cáo buộc của HRW gây ra phản ứng tiêu  cực tại nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là với các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa. Sau mỗi cáo buộc, tổ chức này thường bị phản ứng tức thì, bị chỉ trích chịu quá nhiều tác động bởi Mỹ và các nước phương Tây, thường xuyên lợi dụng nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước. Chẳng hạn, Liên bang Nga đã nhiều lần chỉ trích HRW về những động thái tuyên truyền xuyên tạc, kích động tạo cớ can thiệp vào những vấn đề nội bộ của nước này. Tương tự, do có những hành động vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế và các quy tắc cơ bản của quan hệ quốc tế cũng như can thiệp vào các vấn đề nội bộ của Trung Quốc nên chính phủ nước này đã áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với HRW. Và không phải ngẫu nhiên mà trang web của hacker HRW lại bị cấm hoạt động tại Thái Lan. Chính phủ nước này buộc phải cấm vì thông qua trang web, HRW thường xuyên đội lốt “theo dõi nhân quyền” để tuyên truyền xuyên tạc, phát tán những nội dung thông tin sai lệch, kích động, vi phạm các quy định về an ninh quốc gia họ. Ngoài ra, HRW còn bị nhiều quốc gia như Cuba, SriLanka, Triều Tiên, Syria, Ethiopia… chỉ trích, phản đối những nội dung và mức độ khác nhau Vì HRW đã can thiệp làm phức tạp tình hình, gây khó khăn cho việc bảo đảm nhân quyền ở các nước này.Thực tế đó cho thấy, mặc dù mang danh nghĩa là tổ chức hoạt động về nhân quyền nhưng hoạt động của HRW đều thể hiện ý đồ, động cơ chính trị. Nhìn vào các hoạt động của tổ chức này cho thấy sự bất hợp lý và ý đồ bôi nhọ, hạ uy tín, hình ảnh của Việt Nam và nhiều quốc gia khác trên thế giới. Một tổ chức không hiện diện ở Việt Nam, không nắm được tình hình thực tiễn nhân quyền ở Việt Nam song lại tự cho mình quyền phán xét về nhân quyền. Riêng điểm này đã cho thấy sự suy diễn, áp đặt từ các thông tin mà tổ chức này công bố và nguồn thông tin HRW có được thực chất, là do các tổ chức cá nhân chống phá Việt Nam cung cấp nhằm tạo cớ bôi nhọ, chống phá. Sự ghi nhận của quốc tế trong nỗ lực đảm bảo nhân quyền của Việt Nam. Ngay sau khi Việt Nam là thành viên của Liên Hợp Quốc (năm 1977), vào những năm 80 của thế kỷ trước, Việt Nam đã tích cực, chủ động tham gia vào các công ước quốc tế về quyền con người của Liên hiệp quốc. Vào những năm 1981, 1982 và 1983 Việt Nam đã gia nhập 7 công ước quốc tế về quyền con người, bao gồm: Công ước quốc tế về ngăn ngừa và trừng trị tội ác diệt chủng; Công ước quốc tế về ngăn ngừa và trừng trị tội ác Apartheid; Công ước quốc tế về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt chủng tộc (CERD); Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR); Công ước quốc tế về quyền kinh tế xã hội và văn hóa (ICESCR); Công ước quốc tế về không áp dụng thời hiệu tố tụng Đối với tội phạm chiến tranh và tội phạm chống lại nhân loại; Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW). Tính đến hết năm 2022 Việt Nam đã phê chuẩn gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên Hợp Quốc về quyền con người; phê chuẩn gia nhập 25 công ước của YLO, trong đó có 7/8 công ước cơ bản. So với nhiều nước trong khu vực và các nước phát triển, Việt Nam không thua kém về số lượng là thành viên của các cổng nước quốc tế về quyền con người. Ngay cả Mỹ hiện nay vẫn là nước duy nhất trên thế giới chưa phê chuẩn công ước quốc tế về trẻ em năm 1989. quốc gia này cũng chưa phê chuẩn công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966. Các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên, chúng ta đều cam kết thực hiện và qua đó là trách nhiệm chính trị, pháp lý của nhà nước. Điều này là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước, đó là coi trọng chăm lo hạnh phúc của sự phát triển toàn diện của con người, bảo vệ và bảo đảm quyền con người và lợi ích hợp pháp, chính đáng của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà nước ta ký kết. Cùng với việc tích cực tham gia điều ước quốc tế về quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã nỗ lực xây dựng hệ thống pháp luật quốc gia trong đó tích cực nội luật hóa các nguyên tắc tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người; bảo đảm sự hài hòa giữa pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế. Hiến pháp năm 2013 là đỉnh cao của hoạt động lập hiến về quyền con người khi dành trọn 36 điều trong tổng số 120 điều để quy định quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân; cùng với các luật, bộ luật được ban hành đã tạo khuôn khổ pháp lý cho việc tôn trọng, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Điều này không chỉ xác lập cơ sở pháp lý về các quyền của chủ thể hưởng quyền (cá nhân, công dân, các nhóm yếu thế trong xã hội) mà còn đặt nghĩa vụ, trách nhiệm cho các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước và các tổ chức phi nhà nước phải nâng cao tinh thần trách nhiệm xã hội, trách nhiệm pháp lý tôn trọng bảo vệ bảo đảm quyền con người đã được hiến pháp quy định là nhà nước có trách nhiệm chấp nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân (Điều 3 và khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013). Một trong những thành tựu nổi bật về nhân quyền là Việt Nam đã quan tâm thúc đẩy, bảo vệ, bảo đảm các quyền cơ bản cho nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội. Đến nay, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã ban hành hơn 100 chính sách liên quan đến việc xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống và bảo đảm an sinh cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhờ thực hiện đồng bộ các chính sách đó, tỷ lệ nghèo đa chiều ở Việt Nam giảm từ 9.88% (năm 2015) xuống còn 3.73% (năm 2019). Cả nước hiện có gần 3 triệu người nghèo, người yếu thế được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí. Đặc biệt, phong trào “cả nước chung tay vì người nghèo không để ai bị bỏ lại phía sau” trong những năm qua đã nhận được sự hưởng ứng sâu rộng, hiệu quả của toàn xã hội. Từ một nước lạc hậu, không có tên trên bản đồ thế giới, sau hơn 70 năm huy động sức dân, đồng lòng thực hiện sự nghiệp kháng chiến, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, Việt Nam đã trở thành một quốc gia hòa bình, độc lập, được cộng đồng quốc tế ghi nhận là một trong những nước tiên phong và là điểm sáng về thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói, giảm nghèo, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội. Ngày 11 tháng 10 năm 2022, Việt Nam đã trúng cử trở thành thành viên của hội đồng nhân quyền liên hợp quốc nhiệm kỳ năm 2023-2025. Đây là lần thứ hai Việt Nam trúng cử vào hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc, lần đầu là nhiệm kỳ 2014-2016. Lá phiếu của mỗi quốc gia bầu chọn Việt Nam trúng cử thành viên của hội đồng nhân quyền liên hợp quốc là một chứng minh rõ ràng nhất và là sự khẳng định vị thế và uy tín của Việt Nam đối với quốc tế trong đảm bảo quyền con người. Sự ghi nhận của quốc tế không chỉ những đóng góp của chúng ta trong thúc đẩy quyền con người trên toàn cầu mà trước hết là sự ghi nhận đối với những nỗ lực của Việt Nam trong bảo đảm các quyền cơ bản con người ở ngay trong nước. Theo đánh giá của chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) về phát triển con người toàn cầu từ năm 2021 - 2022, ngay cả trong giai đoạn khó khăn nhất của đại dịch Covid-19, Việt Nam vẫn thực hiện tốt việc đảm bảo quyền con người. Chỉ số phát triển con người tăng hai bậc trong bảng xếp hạng toàn cầu lên thứ 115 năm 2021. Về chỉ số phát triển giới, Việt Nam đứng thứ 65 trong số 162 quốc gia, nằm trong nhóm cao nhất trong năm nhóm trên thế giới. Đặc biệt, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội của Việt Nam nằm trong nhóm cao nhất toàn cầu với những thành tựu và kinh nghiệm thực tế có được sẽ là cơ sở để Việt Nam tiếp tục thể hiện trách nhiệm góp phần thúc đẩy và bảo đảm quyền con người ở khu vực và quốc tế. Vì vậy, dù tổ chức HRW hay một số tổ chức khác có hành động vu cáo Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền phúc cáo đàn áp mạng xã hội, đàn áp tôn giáo, không lo cho dân, bỏ mặc dân…thì chính những thành tựu về nhân quyền mà Đảng và Nhà nước ta đã và đang làm được là minh chứng rõ nét nhất, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc. Bên cạnh các chiêu trò về nhà quyền các tổ chức phản động quốc tế cũng thường xuyên dùng chiêu bài “tự do báo chí” để xuyên tạc, chống phá Việt Nam. Lâu nay, các tổ chức như phóng viên không biên giới (RSF); của đài BBC, RFA, RFI, VOA tiếng Việt và một số sẽ tổ chức cá nhân phản động luôn tìm cách xuyên tạc, bịa đặt tình hình tự do báo chí tại Việt Nam. Mới đây RSF đã công bố cái gọi là báo cáo về “Chỉ số tự do báo chí thế giới năm 2023”. Trong bảng xếp hạng, RSF, xếp 3 nước đứng cuối bảng đều ở Châu Á, trong đó xếp Việt Nam hạng 178. Tổ chức phóng viên không biên giới hay ký giả không biên giới là một tổ chức phi chính phủ với phạm vi hoạt động trên toàn cầu. Mục đích của họ được cho là bảo vệ tự do báo chí trên thế giới, chống kiểm duyệt và tạo áp lực giúp đỡ những nhà báo đang bị giam giữ. Tổ chức này lấy điều 19 của Tuyên ngôn quốc tế nhất quyền làm cơ sở để hành động. Phóng viên không biên giới được xác lập tại Montpellier, Pháp năm 1985. Hiện, tổ chức này có trụ sở tại quận 2, Paris, mở văn phòng tại Berlin, Brussels, Geneve, Madrid, Rome, Stockhlm, Tunis, Vienna và Washington DC. Văn phòng đầu tiên của họ ở Châu Á, đặt tại Đài Bắc, Đài Loan (Trung Quốc) vào tháng 7 năm 2017.  Ngoài ra, tổ chức này còn hoạt động chung với 150 thông tin viên, phóng viên trên khắp các châu lục cũng như với hàng chục tổ chức đảng phái độc lập với chính phủ. Nếu nhìn vào những thông tin trên thì nhiều người nghĩ RSF hoạt động “ngay hàng thẳng lối”, giúp thúc đẩy tự do và văn minh, thực sự vì sự phát triển của con người. Song thực tế thì lại hoàn toàn khác. Tuy viện dẫn Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc về nhân quyền, tự do ngôn luận nhưng RSF lại “hát theo người cho bánh mì”, bôi nhọ các nước khác trái, ngược với chủ trương của Liên hiệp quốc. nhiều quốc gia trên thế giới cáo buộc tổ chức RSF đứng đằng sau những vụ việc phức tạp, gây rối, bất ổn, kích động bạo lực. Thực chất, RSF tồn tại và hoạt động dựa vào một phần nguồn hỗ trợ kinh phí của một số chính giới phương Tây. Chính vì vậy, trong các bảng xếp hạng tự do báo chí hàng năm, thường tuân theo sự sắp đặt một cách có chủ ý của các chính phủ quốc gia tài trợ cho tổ chức này hoạt động. Những yếu tố được tổ chức này sử dụng để đánh giá tự do của một nền báo chí thiếu tính bao trùm, không cân nhắc đến các yếu tố văn hóa xã hội, nhận thức của từng Quốc gia riêng biệt. Phần lớn những thông tin được đưa ra là không khách quan, không có hoạt động khảo sát, kiểm chứng thực chất, mặc đó chỉ là những đánh giá thiếu căn cứ hoặc được suy diễn phóng đại. Về bản đánh giá tự do báo chí World Press Freedem Index hàng năm được RSF đưa ra, không khó để thấy căn cứ đánh giá xếp hạng của RSF không thuyết phục. Riêng đối với Việt Nam, RSF không có một nghiên cứu chưa sâu cụ thể nào về tình hình báo chí. Đồng thời tổ chức này cũng không sử dụng bất kỳ báo cáo của chính phủ Việt Nam để đưa ra đánh giá. Trái lại việc RSF xếp loại tự do báo chí ở Việt Nam lại thường dựa vào những thông tin do số tổ chức, cá nhân phản động thù địch, cơ hội chính trị, có các hoạt động vi phạm pháp luật Việt Nam cung cấp, do đó thông tin không khách quan sai thực tế về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam. Thực tế các đánh giá của tổ chức này thông qua bảng xếp hạng tự do báo chí thường niên không trung thực và không thể hiện được bản chất vấn đề. Chính vì vậy, mức độ tin cậy trong bảng đánh giá tự do báo chí được RSF đưa ra hầu như là không có. Với động cơ, cách làm như vậy, năm nay RSF vẫn xếp Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia đứng gần cuối trong “ Bảng xếp hạng chỉ số tự do báo chí thường niên năm 2023”. Cổ súy cho bảng xếp hạng là những luận điệu cũ rích được các trang BBC tiếng Việt RFA, RFI, VOA tiếng Việt và một số tổ chức, cá nhân phản động triệt để sử dụng nhằm mục đích quy kết vu khống Việt Nam không có tự do báo chí nên xếp hạng tự do báo chí Việt Nam luôn ở vị trí áp chót bảng. Bên cạnh đó họ xuyên tạc Đảng, Nhà nước Việt Nam Quảng báo chí theo chế độ “đăng ký”, “bị kiểm duyệt , “hà khắc”…Từ việc xuyên tạc trên, nhiều tổ chức và trang mạng xã hội thù địch, phản động kêu gọi thay đổi thể chế chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng thay đổi chính sách với những luận điệu xảo trá như” “Thể chế hiện nay không tạo môi trường để thay đổi báo chí được mà phải thay đổi thể chế sâu rộng”; “Nhà nước phải cho phép báo chí tư nhân hoạt động”. Không những vậy, một số cơ quan truyền thông phương tây thiếu thiện chí với Việt Nam như BBC, RFI, RFA, VOA và các hội nhóm, các cá nhân phản động trên YouTube, Facebook mỗi khi có sự kiện, vụ việc cụ thể liên quan đến báo chí là lại la lối, suy diễn, xuyên tạc tình hình trong nước. Với sự giúp sức của các tổ chức thù địch, một số đối tượng phản động trong nước tự đứng ra thành lập các hội nhóm phi pháp nhằm cổ súy cho cái gọi là “tự do báo chí”, “xã hội dân sự” theo mưu đồ của chúng. Những thông tin mà “Bảng xếp hạng thường niên về tự do báo chí" năm 2023 một lần nữa khẳng định sự thiếu khách quan sai thực tế và quy chụp của RSF về tình hình tự do báo chí tại Việt Nam. Sự thật về tự do báo chí tại Việt Nam. Việt Nam luôn là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, chúng ta tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có điều 19, tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; bao gồm tự do dự ý kiến mà không bị can thiệp, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận và truyền bá thông tin và tư tưởng bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào và cộng giới hạn về biên giới”. Báo chí là diễn đàn của nhân dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, để nhân dân Trình bày những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của mình, thông qua đó báo chí thực hiện chức năng phản biện xã hội, đề xuất những ý kiến đối với Đảng, Nhà nước; định hướng dư luận trong quá trình xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, trật tự về an toàn xã hội. Điều đó càng được khẳng định rõ về quyền con người, quyền công dân trên lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí luôn được nhà nước ta bảo đảm, phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước và thông lệ quốc tế. Quyền tự do ngôn luận và quyền tiếp cận thông tin là những quyền cơ bản của quyền con người. của mọi công dân. Nhà nước Việt Nam đã xây dựng khung pháp luật về quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin của công dân đầy đủ, đồng bộ, hoàn toàn tương thích với pháp luật quốc tế về quyền con người. Điều 25, Hiến pháp năm 2013 khẳng định “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin…việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Theo đó, khoản 1, điều 3, Luật tiếp cận thông tin năm 2016 cũng khẳng định: “Mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin”. Bên cạnh đó Luật Báo chí năm 2016 và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cụm quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí. Tính đến năm 2022, cả nước có 127 cơ quan báo, 670 cơ quan tạp chí (có 327 tạp chí lý luận chính trị và khoa học 72 tạp chí văn học nghệ thuật), 72 cơ quan đài phát thanh truyền hình, 77 kênh phát hành trong nước, 194 kênh truyền hình (7 kênh truyền hình thiết yếu Quốc gia 63 kênh truyền hình địa phương), 57 kênh nước ngoài. Nhân sự hoạt động trong lĩnh vực báo chí có 41 nghìn; trong đó, khối phát thanh, truyền hình, xấp xỉ 16.500 người. Bên cạnh đó, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực báo chí ngày càng phát triển theo hướng hợp tác đa quốc gia và đà lĩnh vực. Hiện nay đã có gần 40 hãng truyền thông quốc tế có mặt tại Việt Nam, trong đó có nhiều hạng lớn như CNN, Reuters, AP, AFP, Kyodo, Hãng thông tấn Asia (Hàn Quốc), Nhật báo kinh tế Aju (Hàn Quốc) và hãng thông tấn Rossiya Segodnya (Nga). Các cơ quan truyền thông quốc tế như CNN, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Blooberg và hầu hết kênh truyền thông lớn trên thế giới đều đến được với công chúng Việt Nam dễ dàng, thuận tiện mà không có bất kỳ rào cản công nghệ hay pháp lý nào. Các nhà báo quốc tế được chính phủ Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi để tác nghiệp. Nhiều Nhà báo Việt Nam được Nhà nước tạo điều kiện đi học tập trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, tác nghiệp báo chí tại nhiều quốc gia trên thế giới. Đến nay, Việt Nam nằm trong top 20 nước có số người sử dụng internet lên cao nhất thế giới với 68,7% người sử dụng ,cao hơn mức trung bình của thế giới (51,4%). Có thể khẳng định rằng, ở Việt Nam, internet đã trở thành công cụ rất quen thuộc, là “một phần tất yếu trong cuộc sống của mọi tổ chức và cá nhân, nhất là trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; những tiện ích mang lại từ hệ thống Internet nhanh chóng được ứng dụng trong thực tiễn, nhằm bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của mọi tổ chức cá nhân. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống chính trị trong những năm gần đây đã được các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm; trong đó, công tác xây dựng Chính phủ điện tử, Quốc hội điện tử đã có bước tiến mạnh mẽ, hướng tới Chính phủ số, xã hội số và nền kinh tế số là một trong những ưu tiên hàng đầu trong giai đoạn năm 2016-2020 để tạo ra nền tảng vững chắc cho việc chuyển đổi số toàn diện trong giai đoạn năm 2021-2030. Đánh giá của Liên hợp quốc về phát triển Chính phủ điện tử, liên tiếp từ năm 2014 đến nay, Việt Nam đều tăng hạng. Hiện, Việt Nam xếp thứ 86/193 quốc gia trên thế giới và đứng thứ 6 tại khu vực Đông Nam Á. Cùng với đó thông qua các trang mạng xã hội (Facebook, YouTube Viber,  Zalo, Instagram…), người dân Việt Nam có thể chia sẻ thông tin, hình ảnh, clip, bày tỏ quan điểm, ý kiến cá nhân của mình về mọi vấn đề của đời sống xã hội. Trong hệ thống chính trị, bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương ở Việt Nam ngày càng có nhiều cơ quan, tổ chức sử dụng mạng xã hội để làm việc, giải quyết các thủ tục hành chính, giữ mối liên hệ với người dân, nắm bắt và giải quyết kịp thời tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân Với cơ sở chính trị, pháp lý đã khẳng định và thực tiễn đã chứng minh quyền tự do báo chí ở Việt Nam luôn được tôn trọng, bảo đảm, Thực hiện đó bác bỏ, phủ nhận những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch về bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam.