Thứ Tư, 27 tháng 9, 2023

Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” (Nghị quyết 35), nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đã đạt được nhiều kết quả tích cực, với những dấu ấn nổi bật.

Một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng cho những kết quả tích cực đó là hiệu quả của công tác tuyên truyền về nhiệm vụ chính trị quan trọng này.

ĐƯỢC TIẾN HÀNH BÀI BẢN, HỆ THỐNG, THƯỜNG XUYÊN, BẰNG NHIỀU HÌNH THỨC PHONG PHÚ

Ngay sau khi Nghị quyết 35 được ban hành, Bộ Chính trị đã chỉ đạo tất cả các cơ quan, đơn vị, địa phương đẩy mạnh triển khai việc triển khai Nghị quyết. Ban Chỉ đạo 35 đã được thành lập từ Trung ương đến cấp tỉnh, cấp huyện và ở các bộ, ban, ngành với vai trò trực tiếp chỉ đạo, điều hành việc triển khai thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch gắn với chức năng, nhiệm vụ của mình. Trong đó, công tác tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng được tiến hành khá bài bản, hệ thống, thường xuyên, bằng nhiều hình thức phong phú. Nhiều đảng bộ, chi bộ cơ sở không chỉ tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết mà còn tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề về nội dung Nghị quyết để phổ biến, lan tỏa đến đông đảo cán bộ, đảng viên. Nhờ đó, “đa số cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên, nhất là người đứng đầu đã nhận thức sâu sắc hơn ý nghĩa, tầm quan trọng, sự cần thiết của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”(1).

Ban Chỉ đạo 35 Trung ương đã chỉ đạo các đơn vị đa dạng hóa hoạt động tuyên truyền trên cơ sở phát huy thế mạnh của từng kênh truyền thông, kết hợp giữa truyền thông truyền thống và truyền thông hiện đại, giữa truyền thông chính thống và phi chính thống. Các hoạt động tuyên truyền trên sách, báo, tạp chí tiếp tục được đẩy mạnh. Một số báo, tạp chí đã xây dựng chuyên mục phù hợp, chuyên sâu để đăng tải những bài viết có nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, trong đó tiêu biểu là: Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Lý luận chính trị, Tạp chí Tuyên giáo, Báo Nhân dân, Báo Quân đội nhân dân... Các nhà xuất bản như Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân... cũng đẩy mạnh việc xuất bản, phát hành các ấn phẩm về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tính trong giai đoạn 2019-2022, cả nước có hơn 200 đầu sách tham khảo, chuyên khảo có nội dung liên quan đến Nghị quyết 35, trong đó có nhiều cuốn sách có nội dung đấu tranh trực diện với những quan điểm sai trái, thù địch(2). Các Đài Truyền hình quốc gia và địa phương đã xây dựng các chương trình chính luận về có nội dung liên quan trực tiếp đến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng như: Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) với chương trình “Đối diện”, Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) với chương trình “Nhìn thẳng, nói thật”… Ngoài ra, Ban Chỉ đạo 35 các cấp cũng đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền trên internet và mạng xã hội. Từ năm 2019 đến nay, nhiều địa phương, bộ, ngành đã sử dụng các kênh truyền thông hiện đại với nhiều hình thức đa dạng như: trang thông tin điện tử, website, fanpage, facebook, youtube, zalo… để đăng tải thông tin tích cực, phản bác những thông tin xấu độc, kịp thời định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Nhiều kênh truyền thông có lượng người theo dõi, tương tác lớn; có tính lan tỏa rộng trong cộng đồng và đóng vai trò tích cực trong việc tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ngoài các hoạt động tuyên truyền mang tính đại chúng, theo bề rộng, hoạt động tuyên truyền về nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch còn được tiến hành theo chiều sâu với nhiều cách làm sáng tạo, thiết thực. Điển hình là một số Ban Chỉ đạo 35 các bộ, ngành, địa phương đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học, xuất bản và phát hành các cuốn sổ tay hướng dẫn kỹ năng, nghiệp vụ về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng như: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phát hành “Sổ tay công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phát hành cuốn “Sổ tay hỏi đáp Sinh viên với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay”… Sau khi phát hành, các cuốn sổ tay đã trở thành cẩm nang thiết thực nhằm nâng cao nhận thức, kỹ năng, phương pháp cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Đáng chú ý, trên cơ sở thành công của “Cuộc thi viết chính luận khoa học về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức năm 2021, trong năm 2022, 2023 Ban Chỉ đạo 35 Trung ương đã giao Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương, Tạp chí Cộng sản, Báo Nhân dân, Hội Nhà báo Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức “Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”. Cuộc thi đã thu hút sự tham gia của đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân và một số học giả, chính khách nước ngoài, tạo ra sự ảnh hưởng và lan tỏa rộng rãi trong toàn xã hội. Cuộc thi là hình thức tuyên truyền sáng tạo, thiết thực, hiệu quả về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cũng bộc lộ một số hạn chế, bất cập. Công tác tuyên truyền, định hướng, nhất là trên internet và mạng xã hội còn thiếu nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp, có biểu hiện chạy theo thành tích, bệnh hình thức, hiệu quả chưa cao. Nhận định về điều này, Đại hội XIII chỉ rõ: “Công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao; công tác nắm bắt dư luận trước những sự kiện, tình huống bất ngờ còn chưa kịp thời”(3). Ngoài ra, công tác quản lý nhà nước về hoạt động tuyên truyền trên báo chí, các phương tiện truyền thông đôi khi còn lỏng lẻo, thiếu kiểm soát, chưa bám sát tôn chỉ mục đích hoạt động và định hướng của Đảng, Nhà nước… Một bộ phận không nhỏ cán bộ làm công tác tuyên truyền do hạn chế về nhận thức, năng lực nên tham gia hoạt động tuyên truyền chưa thật sự hiệu quả hoặc do chạy theo lợi nhuận, lợi ích vật chất nên đã đánh mất đạo đức nghề nghiệp, chỉ chú tâm đến việc đăng các thông tin giật gân nhằm “câu like”, “câu view”, chạy theo tâm lý đám đông mà không tuân theo quy định của các cơ quan quản lý về tuyên truyền bám sát các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước… Những hạn chế đó đã ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả công tác tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở nước ta thời gian qua.

ĐỀ CAO VAI TRÒ, TẦM QUAN TRỌNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Trong Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIII, Đảng ta đã dự báo tình hình thế giới và đất nước trong những năm tiếp theo tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta nói chung và công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nói riêng. Bốn nguy cơ, trong đó có tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ còn nhiều diễn biến phức tạp. Đặc biệt, “các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”(4), “Sự chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động ngày càng tinh vi hơn”(5). Đây được nhận định là một trong những nguy cơ đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ ta và tác động trực tiếp đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở nước ta trong thời gian tới.

Xuất phát từ cả những kết quả đạt được và những hạn chế, bất cập còn tồn tại, trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cần chú trọng đến các giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy và Ban Chỉ đạo 35 các cấp về vai trò, tầm quan trọng của công tác tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đây là yếu tố đóng vai trò tiên quyết đến chất lượng, hiệu quả của công tác tuyên tuyền, làm cho công tác tuyên truyền được tiến hành thường xuyên, liên tục, với nội dung và hình thức phù hợp, với các điều kiện bảo đảm đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Theo đó, cấp ủy đảng các cấp, trực tiếp là Ban Chỉ đạo 35 từ Trung ương đến cấp tỉnh, cấp huyện cần tăng cường công tác tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng bằng những cách thức thiết thực, hiệu quả, sáng tạo, ngày càng đi vào thực chất để tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về nhiệm vụ chính trị quan trọng này.

Hai là, đổi mới nội dung tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng gắn với những biến đổi nhanh chóng của tình hình thực tiễn. Xuất phát từ những thay đổi nhanh chóng, khó lường của thực tiễn, nội dung tuyên truyền trong giai đoạn hiện nay ngoài những vấn đề cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cần tập trung vào những vấn đề cơ bản, trọng tâm trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng; nhận diện đầy đủ những cơ hội, thuận lợi cũng như những khó khăn, thách thức trong những năm tới; chú trọng đấu tranh phản bác các quan điểm lệch lạc, sai trái, thù địch gắn với bảo vệ những quan điểm, chủ trương, chính sách, sự kiện, sự việc cụ thể và định hướng dư luận xã hội theo đúng phương châm “lấy xây làm chính”, “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”. Việc đổi mới, cập nhật nội dung tuyên truyền theo hướng này sẽ làm cho nền tảng tư tưởng của Đảng ngày càng ăn sâu, bám rễ vào đời sống tinh thần, tư tưởng của nhân dân, trở thành “kim chỉ nam” định hướng cho hoạt động của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Ba là, đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo hướng thiết thực, hiệu quả. Các hình thức tuyên truyền phải đa dạng, phong phú, gắn với đặc điểm của từng bộ phận quần chúng nhân dân. Ngoài việc tuyên truyền theo những cách thức truyền thống như quán triệt, học tập nghị quyết, viết tin bài trên báo chí, cần đẩy mạnh tuyên truyền trên internet và mạng xã hội. Cách thức tuyên truyền cần có sự đổi mới linh hoạt gắn với nhu cầu, thị hiếu và xu hướng của xã hội. Ngoài ra, cần xây dựng các chiến dịch truyền thông chủ động trong các dịp đất nước có các sự kiện chính trị lớn hay trong những thời điểm khó khăn, nhiều thử thách để các dòng thông tin tích cực trở thành chủ lưu, tránh để các thế lực thù địch có cơ hội chiếm lĩnh trận địa thông tin để tung ra các luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật hòng dẫn dắt, hướng lái dư luận theo ý đồ chống phá. Chú trọng tính chiến đấu, tính thuyết phục, tính hiệu quả của các thông tin tuyên truyền.

Bốn là, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước với các hoạt động tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cần tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, trong đó chú trọng đến việc “xử lý nghiêm theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với các cơ quan báo chí, phóng viên đăng tải thông tin chưa được xác minh, kiểm chứng, không có sơ sở, căn cứ, gây ảnh hưởng không tốt đẹp đến dư luận xã hội”(6). Do đó, các cơ quan Nhà nước cần xiết chặt cơ chế quản lý hoạt động của các cơ quan báo chí, xuất bản, truyền thông… trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Năm là, phát huy vai trò, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tăng cường quản lý và định hướng hoạt động của các cơ quan báo chí; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý báo chí, phóng viên, biên tập viên, cáo cáo viên có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức trong sáng và tinh thông nghiệp vụ để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền”(7). Giải pháp này giúp cho đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền sẽ truyền tải đúng đường lối, chủ trương của Đảng, tinh thần của Nghị quyết; khắc phục tình trạng một bộ phận cán bộ do yếu kém về năng lực, nghiệp vụ, thiếu tinh thần trách nhiệm mà tuyên truyền không đúng, xa rời đạo đức nghề nghiệp, sẵn sàng chạy theo tâm lý đám đông mà bỏ qua tính đảng, tính chính trị trong các hoạt động tuyên truyền nên dễ dàng bị các thế lực thù địch mua chuộc, lôi kéo, đưa các thông tin tuyên truyền đi ngược lại với đường lối, chủ trương của Đảng.

Sáu là, tiếp tục đầu tư, hoàn thiện cơ sở vật chất - kỹ thuật, xây dựng, phát triển và tăng cường phối hợp các lực lượng trong tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trong bối cảnh phát triển của truyền thông hiện đại, để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nhất thiết phải chú trọng đầu tư ứng dụng công nghệ kỹ thuật số, đẩy mạnh chuyển đổi số để hiện đại hóa các cơ quan, phương tiện truyền thông, tạo hiệu ứng lan tỏa rộng rãi trong toàn xã hội. Ngoài lực lượng cán bộ chuyên trách ở ban tuyên giáo các cấp, cần xây dựng và phát triển đội ngũ chuyên gia, lực lượng xung kích để tạo thành mạng lưới tuyên truyền rộng khắp. Bên cạnh đó các cơ quan tuyên truyền cần có sự phối hợp chặt chẽ để kết nối, lan tỏa những nội dung liên quan đến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng để tạo thành mạng lưới thông tin tuyên truyền tích cực, góp phần “pha loãng”, đẩy lùi các thông tin tiêu cực./.

St

NGHỆ THUẬT ĐẮC NHÂN TÂM LÀ ĐÂY

 1. Giao tiếp với người già, không thể xem nhẹ tự tôn của họ

Mặc dù khoảng cách tuổi tác không đồng nghĩa với địa vị hay trình độ cao thấp, nhưng khi giao tiếp với người già, hãy để tâm đến tự tôn của đối phương. Phải giữ được sự khiêm nhường và lễ phép cần có với họ trong hầu hết hoàn cảnh.
Khi gặp người già khăng khăng giữ quan điểm b.ất đ.ồng với bạn, cũng không nên cố chấp tranh luận thi.ệt hơn. Kinh nghiệm dày dạn của họ chắc chắn có điều đáng để chúng ta học tập. Hãy tập trung chú ý lắng nghe trước khi đưa ra ý kiến của mình một cách mềm dẻo, không nên lấy cứng đối cứng.
2. Giao tiếp với đàn ông, phải giữ thể diện cho họ
Đàn ông coi trọng nhất chính là thể diện. Vì vậy khi giao tiếp với đàn ông, nhất định phải suy nghĩ cho đối phương, giữ thể diện cho anh ta, lưu lại cho đối phương một khoảng không gian riêng.
Antoine de Saint Exupéry, nhà văn nổi tiếng của quyển sách “Hoàng Tử Bé” đã chia sẻ rằng “Tôi không có quyền làm giảm giá trị một người trong chính m.ắt người ấy. Điều quan trọng không phải là tôi nghĩ gì về anh ta mà là anh ta nghĩ gì về chính mình. Làm thương tổn phẩm giá con người là một tội ác”.
3. Giao tiếp với phụ nữ hãy quan tâm đến cảm xúc của họ
Khi giao tiếp với phụ nữ, không nên chỉ giảng giải đạo lý, điều quan trọng cần đề tâm hơn chính là cảm xúc của cô ấy.
Nếu biết nắm bắt và giải mã cảm xúc của người phụ nữ, bạn có thể suy đoán đối phương đang nghĩ gì, đang cảm thấy thế nào để hiểu đối phương hơn. Bạn cần có khả năng san sẻ cùng họ, trở thành người biết lắng nghe và đáng tin cậy.
4. Giao tiếp với cấp trên, phải giữ tôn nghiêm cho họ
Giao tiếp với cấp trên nhất định phải chú ý đến sự khác biệt về thân phận và chức vụ, cho dù là nói chuyện phiếm cũng phải giữ thái độ khiêm tốn, không làm tổn hại đến sự tôn nghiêm của cấp trên. Kể cả khi cấp trên có sai sót thì cũng không nên thẳng thắn vạch trần trước mặt mọi người, mà nên khéo léo lựa thời gian, địa điểm thích hợp để trình bày ý kiến.
5. Giao tiếp với người trẻ tuổi, hãy lưu tâm đến sự thẳng thắn của họ
Người trẻ tuổi nhiệt h.u.yết tràn trề, khi giao tiếp thường rất thẳng thắn, bộc trực, nghĩ gì nói nấy, so với các đàn anh đàn chị hẳn là còn “non và xanh lắm”. Vì thế khi tương tác với họ, tuyệt đối tránh vòng vo tam quốc, càng chân thành thì càng tốt.
Hơn nữa, không nên thuyết giáo, nhắc nhở quá nhiều, mà phải lắng nghe ý kiến của người trẻ tuổi. Những ý tưởng còn thô sơ ấy của họ rất có thể sẽ tạo ra điều kỳ diệu.
6. Giao tiếp với trẻ nhỏ, hãy tôn trọng sự ngây thơ
Giao tiếp với trẻ nhỏ, đừng nên bộc lộ sự bất mãn với cuộc sống, xã hội, như vậy sẽ khiến các em cảm thấy thế giới của người lớn quá phức tạp. Hãy để các em tận hưởng quãng thời gian tuổi thơ hạn hẹp, ngắn ngủi.
Lời kết: Làm người, đối nhân xử thế thỏa đáng, biết cách ứng biến, tùy đối tượng khác nhau mà cư xử, như vậy mới có thể gây dựng được sự nghiệp và cuộc sống xứng đáng!
St

“NHỮNG NGƯỜI ANH HÙNG CHI.ẾN ĐẤU KHÔNG PHẢI VÌ HỌ GHÉT KẺ TH.Ù Ở PHÍA TRƯỚC MÀ VÌ HỌ YÊU NHỮNG GÌ Ở ĐẰNG SAU LƯNG”

 Ngày 16/9/1972 là ngày thứ 81 của Chiến dịch Thành cổ Quảng Trị, cũng là ngày kết thúc một chiến dịch đã khiến hơn 14 ngàn chiến sĩ, dân quân, đồng bào h.y si.nh…

Nếu ai từng đến nơi này hoặc có tìm hiểu, thì sẽ biết về một câu nói: “Tôi không dám bước mạnh, sợ chân mình làm đau đồng đội. Mỗi tấc đất chốn này đều có xươ.ng thị.t bạn tôi nằm lại!"
Trong những người đã nằm xuống ở Thành cổ Quảng Trị có một liệ.t sĩ là Lê Binh Chủng, tham gia trận đánh với vai trò là chính trị viên Tiểu đoàn 3, Tỉnh đội Quảng Trị. Anh quê Nghệ An và trong quá trình hành quân qua Quảng Bình, anh yêu người con gái mang tên Phan Thị Biển Khơi - một nữ dân quân địa phương. Đơn vị tổ chức cho anh chị một đám cưới nhỏ, đính dòng chữ “Binh Chủng - Biển Khơi” và cho phép anh ở lại thêm chút thời gian với chị. Nhưng không, anh vẫn cùng đơn vị đến Thành cổ Quảng Trị.
Anh hy sinh nhưng không hề biết rằng chị đã mang thai. Khi anh h.y si.nh, bé con của anh chị đã tròn một tuổi. Chị đặt tên bé là Lê Quảng An, Quảng An ghép từ hai tỉnh Quảng Bình - Nghệ An. Chị đưa vé về chào ông bà nội nhưng ông bà nội không nhận, cũng không tin anh đã h.y si.nh. Mãi 30 năm sau, hài c.ốt của anh Lê Binh Chủng được tìm thấy, trong đó có những bức thư chưa gửi cho chị. Bấy giờ, bố mẹ của anh mới vào đón chị và cháu nội. Hơn 30 năm trời, người phụ nữ ấy không đi bước nữa, lặng lẽ thờ chồng và dạy cho con về một người bố anh hùng? Điều gì đã khiến chị làm như vậy? Vì lời thề của anh với chị năm xưa: “Anh ra đi để bảo vệ đất nước, gia đình và em”.
Nếu lá thư ấy không được tìm thấy, câu chuyện tình yêu của anh chị có lẽ sẽ kết thúc trong những sự nuối tiếc, trăn trở vô cùng tận… Chiến tranh đã qua đi, nhưng chúng chẳng bao giờ từ chối hiển hiện.
Có những lá thư được tìm thấy ở Thành cổ Quảng Trị, không rõ người gửi, chẳng rõ người nhận, chỉ lòe nhòe vài dòng chữ…Có những kỷ vật nằm lại mà không rõ chủ nhân, chẳng còn toàn vẹn… Những dòng viết được đứt quãng gây thổn thức với những người còn sống.
Có những con người h.y sinh, lạc trôi theo dòng Thạch Hãn rồi ra biển Cửa Việt, mang theo biết bao hồi ức, khát vọng, di vật không được trao gửi…Trong "Mùi Cỏ Cháy", có một phân đoạn báo cáo cho chỉ huy về sự kh.ốc liệt của hành trình vượt dòng sông Thạch Hãn chỉ có khoảng hơn hai trăm mét. Trong số 107 chiến sĩ, có tới 58 chiến sĩ h.y si.nh khi vượt sông, chỉ còn lại 49 chiến sĩ. Một chiến sĩ vượt sông đã bị trúng phi phá.o, chỉ còn lại 48.
Đó dường như vẫn là một đoàn binh “may mắn” khi có những đoàn đã m.ất tới 3/4 chiến sĩ khi vượt dòng sông này. Thế nên, mới có câu nói rằng mỗi mét vuông ở nơi này là một mét vuông m.áu, m.áu thấm đẫm vào trong từng tấc đất, vào trong từng khối nước, từng ngọn cỏ.
Có một trích dẫn rằng: “Người ta nói những kẻ dùng trái tim là những kẻ yếu đuối. Thực ra chỉ có kẻ mạnh mới dám dùng trái tim thôi”. Và những người như các anh, biết rằng ra trận là sẽ h.y s.inh, nhưng vẫn dám dấn thân lên đường, trái tim của các anh đã vượt qua những sự sợ hãi, ghét bỏ thường tình… Các anh không sợ hay ghét bỏ kẻ th.ù, các anh chiến đấu để bảo vệ những gì ở đằng sau lưng. Đó là cha mẹ, vợ con, người yêu, bạn bè, nơi chốn… Có một phân cảnh rất ý nghĩa trong "Mùi Cỏ Cháy", khi một người lính phía bên kia ngã xuống, các anh đã đắp một nấm m.ộ, vì "họ cũng là con người".
"Lịch sử không làm gì cả, nó không tạo ra vô vàn của cải, nó không chiến đấu, lịch sử không tự nhiên mà diễn ra, không tự nhiên mà hình thành. Chính con người, những con người thật sự từng sống, đã làm tất cả những điều đó"./.
St

BỤT CHÙA NHÀ KHÔNG THIÊNG

 Việt Nam đã làm gì để bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông? Mở rộng đảo các đảo ở Trường Sa lên gấp hàng chục lần diện tích thực tế, mang tên lửa ra tự vệ, xây dựng sân bay, mở rộng cảng biển, lắp đặt hệ thống điện hoạt động ổn định 24/07. Rồi còn mở cả một thị trấn có chùa chiền, tạp hóa, trường học, nhà văn hóa... và cả nhà máy làm nước đá giá rẻ để phục vụ chiến sĩ, người dân, con em. Trên biển thì luôn sẵn sàng tông húc bảo vệ chủ quyền, xịt nước vòi rồng đấu tranh. Rồi còn lắp cả cái giàn khoan cả chục ngàn tấn và những hệ thống nhà giàn kiên cố chịu bão cả trăm năm để bảo vệ vùng thềm lục địa và quyền lợi kinh tế.

Những điều Việt Nam đã làm vượt rất xa cái hành động “cắt phao nổi” của Philippines đã làm. Việt Nam đã tự lắp đặt hệ thống phao nổi báo hiệu ở Trường Sa để phục vụ ngư dân và tàu thuyền qua lại và khẳng định chủ quyền. Và những cái phao mà Trung Quốc thiết lập đều bị phá qua lại, đã có hàng trăm lần những chiến sĩ Việt Nam phá phao do Trung Quốc đặt rồi. Mà phao đã là gì, còn cả thủy lôi nữa cơ. Theo báo chí và dân mạng Trung Quốc, tàu Việt Nam còn gỡ bỏ phao nổi, đèn hiệu của Trung Quốc ở cả Hoàng Sa “một cách âm thầm” khiến cho phía Trung Quốc không kịp trở tay nữa cơ.
Vậy mà các anh chị lại vì cái hành động của Philippines mà quay về tự nhục, hạ thấp, chửi bới, sỉ nhục và phủi đi tất cả những gì mà các chiến sĩ, người dân đã và đang làm. Loại người như các anh chị, tôi khinh!
St

NGUYỄN VIẾT DŨNG ĐỪNG “NGỰA QUEN ĐƯỜNG CŨ”

 Sau khi chấp hành xong bản án 06 năm t.ù về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam quy định tại Điều 88, Bộ luật Hình sự, thì ngày 27/9/2023, Nguyễn Viết Dũng (SN 1986 ở xã Hậu Thành, Yên Thành, Nghệ An) sẽ được trở về địa phương và tiếp tục thực hiện hình phạt bổ sung 5 năm quản chế tại địa phương.

Người dân và cư dân mạng cũng mong rằng sau khi Nguyễn Viết Dũng chấp hành xong bản án hình phạt t.ù, y sẽ hoàn lương trở về với xã hội, làm lại cuộc đời, sống có ích cho gia đình, xã hội. Điều này cũng giống như cách mà y đã từng ăn năn, hối cải xin giảm nhẹ bản án tại phiên toà xét xử sơ thẩm vào tháng 4/2018 và sau đó được Toà án phúc thẩm giảm 01 năm hình phạt t.ù từ 07 năm xuống 06 năm t.ù giam để sớm được trở về với gia đình, xã hội.
Cách đây hơn 6 năm, Nguyễn Viết Dũng hay còn gọi là “Dũng Phi Hổ” được biết đến là người đã có hành vi soạn thảo, sao chép và chỉnh sửa ý kiến cá nhân có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ lãnh tụ.
Không chỉ vậy, Nguyễn Viết Dũng làm ra, lưu trữ, lưu hành 4 lá cờ vàng ba sọc đỏ của chế độ Việt Nam Cộng hoà để từ đó treo tại các địa điểm ở Nghệ An, Cao Bằng, TP Hồ Chí Minh và Tiền Giang. Sau đó, với những hành vi trên, ngày 27/9/2017, Nguyễn Viết Dũng đã bị Công an tỉnh Nghệ An ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Viết Dũng về hành vi “Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”.
“Đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại”, Nguyễn Viết Dũng có lẽ là người hiểu rõ điều này, y đã phải vào trại lần thứ 2 rồi nên chắc sẽ thấu hiểu được nếu “ngựa quen đường cũ” tham gia vào các hoạt động chố.ng phá đất nước thì pháp luật cũng sẽ trừng trị nghiêm minh mà thôi./.
St


KẺ THÙ NỘI GIÁN LÀ MỐI NGUY HIỂM NHẤT

 Từ khi hình thành và phát triển nước Việt Nam ta luôn có những kẻ gọi là "Việt gian" luôn tìm cách bán rẻ Tổ quốc, rước ngoại bang vào giày xéo Đất nước Việt Nam ta.

Từ thời xưa nào Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc, Nguyễn Ánh, Lê Văn Duyệt, Trương Vĩnh Ký, Phan Thanh Giản...
Gần đây có Hoàng Văn Hoan, Hà Phan , Bùi Tín , Cù Huy Hà Vũ... và rất nhiều loại vô danh tiểu tốt luôn muốn làm nô lệ ngoại bang.
______________________
KẺ NỘI XÂM VÀ KẺ THÙ TRONG LÒNG TA MỚI LÀ KẺ THÙ NGUY HIỂM NHẤT
V.I.Lênin từng nói: “Không có kẻ thù nào, dù là hung bạo nhất, có thể chiến thắng được những người cộng sản, ngoại trừ chính họ tự tan rã, chính những lỗi lầm của họ và họ không kịp sửa chữa”.
Đó có thể xem như là “lời di chúc” cho tất cả những người Cộng sản trên toàn thế giới phải luôn tự răn mình, để thường xuyên tự đổi mới, tự chính đốn... để kiên quyết loại trừ những con người nhạt phai lý tưởng, “tự diễn biến” và dẫn đến tự chuyển hóa.
Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu , có rất nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân cơ bản nhất, là gốc rễ của sự sụp đổ của “người anh cả của CNXH” lại xuất phát từ chính “kẻ thù nội tại” là sự “tự diễn biến” và dẫn đến “tự chuyển hóa” và sụp đổ.
( * )Cần lưu ý rằng Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo, Liên Xô tan rã mà không thông qua một cuộc chiến tranh với chủ nghĩa đế quốc.
@ Đối với Việt Nam chúng ta, trong nhiều năm qua và nhất là giai đoạn hiện nay, thì kẻ thù đáng sợ nhất, nguy hiểm nhất, khó chiến thắng nó nhất, lại chính là những kẻ thù ngay trong lòng ta, kẻ thù giấu mặt, những thứ “giặc nội xâm”.
Những loại này nằm lẩn khuất trong đội ngũ, rình rập trong chính mỗi người, nếu chúng ta mất cảnh giác hoặc do dự, ngập ngừng hay dao động, hay thiếu kiên quyết.!
Nguy hiểm hơn là rất khó nhận biết chúng, vì chúng biến ảo khôn lường:
- Chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa thực dụng và đặc biệt là “chủ nghĩa quay giáo, trở cờ”… được ngụy trang, trá hình dưới muôn vàn màu sắc và “giặc nội xâm cần phải xác định là kẻ thù nguy hiểm nhất của chúng ta. Cần phải nhận diện đúng để có kế sách đối phó, bảo đảm chiến đấu và đập tan , thắng lợi trước chúng.
Hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những người giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với các biểu hiện khác nhau như:
- Thờ ơ, dao động về tư tưởng chính trị, bàng quan trước vận mệnh của Đảng, của dân tộc, trước khó khăn của đất nước, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc.
- Phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu niềm tin vào Chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Một số cán bộ, đảng viên, trong đó có người trước đây từng giữ cương vị, trọng trách trong các cơ quan đảng, chính quyền có những ý kiến lệch lạc, nhìn nhận phê phán lịch sử thiếu khách quan, toàn diện, đòi đa nguyên, đa đảng, công khai đả kích, phủ nhận những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, cộng tác với thế lực thù địch, phản bội lại lợi ích dân tộc.
Đặc biệt tư tưởng biến đổi, tha hóa nó được diễn ra trên không gian mạng, một mặt trận không tiếng súng và đầy khó khăn trong nhận diện và đấu tranh với chúng.
Đòi hỏi mỗi người dân đều phải hết sức tỉnh táo để nhận diện và đấu tranh chống lại bọn chúng. Vì một Việt Nam ổn định Chính trị, Xã Hội văn minh, Kinh tế phát triển, Đời sống toàn dân ngày càng được tốt đẹp hơn.
Giữ vững an ninh bảo vệ lãnh thổ Việt Nam trong tình hình mới thế giới đa cực./.
St

NGUY HẠI TỪ SỰ THỜ Ơ, VÔ CẢM CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

 Trong khi dư luận nói nhiều đến tình trạng cán bộ, công chức sợ trách nhiệm, không dám làm khiến hàng loạt công việc đình trệ thì một hiện tượng khá phổ biến và cũng là “trọng bệnh” của đội ngũ cán bộ, công chức, đó là tâm lý, thái độ thờ ơ, vô cảm với công việc, nhất là giải quyết công vụ. Đây là vấn đề đáng lo ngại bởi những hệ lụy mà nó gây nên.

1. Có việc liên quan đến giấy tờ nhà đất tôi buộc phải đến Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính (Bộ phận một cửa) của quận để thực hiện. Khu vực chờ đợi của người dân đông đúc, ngột ngạt, cũng không có nước uống. Để tiết kiệm thời gian, người dân chủ động phần kê khai trên hồ sơ trước nhưng bàn viết không có, cứ tự kê lên đùi mà viết. Cán bộ giải quyết công vụ ngồi ngăn cách với người dân qua vách kính chắn, thỉnh thoảng lại đưa điện thoại lên nhắn tin, ai thắc mắc thì hướng dẫn đại khái qua một ô kính nhỏ. Người có chút kinh nghiệm, tai thính thì ít hỏi lại, còn phần lớn người đi làm thủ tục lần đầu đều bỡ ngỡ: “Cái gì cơ? Viết vào đây ạ? Chỗ này viết gì anh, chị nhỉ? Rồi thỉnh thoảng lại có tiếng gắt gỏng, khó chịu kiểu ban phát từ người nhận hồ sơ. Chỉ cách nhau qua tấm kính mà cảm giác như công chức và người dân xa vời vợi. Trên thực tế, nhiều cán bộ nhận hồ sơ biết rõ giấy tờ có sai sót nhưng không nói ngay, có số điện thoại trên hồ sơ cũng chả gọi mà đến ngày trả kết quả mới nói là hồ sơ sai cần làm lại. Họ cứ vin vào các quy định cứng nhắc, thậm chí có người cố tình làm cho nó cứng nhắc hơn vì lý do khác.
Theo nghĩa hiểu chung nhất thì tâm lý, thái độ thờ ơ, vô cảm nghĩa là mặc kệ. Đây là trạng thái trơ lì của cảm xúc, dửng dưng với những hiện tượng đời sống xung quanh, chỉ quan tâm đến quyền lợi của bản thân. Cách làm việc này không khác gì một cái máy, không khẩn trương, không vội, không vì ai và đặc biệt, không cảm xúc. Họ vẫn làm việc nhưng không có trách nhiệm với công việc, với những người xung quanh; miễn là đánh trống, ghi tên đủ 8 tiếng ngồi ở cơ quan. Cũng có thể chất lượng công việc không quá tệ nhưng hoàn toàn không có tư tưởng đổi mới hay đột phá, còn đòi hỏi họ dấn thân, dám nghĩ, dám làm thì thật xa xỉ. Đó là thứ văn hóa không nhúc nhích, đợi nhắc thì làm, không nhắc cũng vẫn làm nhưng chậm trễ khi xử lý các nhiệm vụ được giao.
Tựu trung lại, có thể lý giải cho hiện tượng tâm lý, thái độ thờ ơ, vô cảm với công việc của cán bộ, công chức đến từ mấy nguyên nhân sau: Thứ nhất, đó là lối sống thực dụng, ngại va chạm, "dĩ hòa vi quý". Lối sống này khiến cán bộ, công chức có nhận thức và hành vi lệch lạc về trách nhiệm, về nghĩa vụ của mình, nhất là trong vai trò "công bộc" khi tiếp xúc và hành xử với dân; cho rằng mình có quyền ban phát, người khác phải cần mình mà không hiểu rằng, nghĩa vụ của mình là phục vụ, cao nhất là phục vụ nhân dân. Thứ hai, đó là những người luôn đòi hỏi cho cá nhân, nhất là lợi ích vật chất nhưng không bao giờ chịu hy sinh, thiệt thòi vì tập thể. Khi không được đáp ứng lợi ích đó, họ cứ dửng dưng không làm. Thứ ba, đó là những người thụ động. Mọi thứ với họ cứ làng nhàng, từ học hành, kiến thức, kỹ năng đến động cơ, thái độ, trách nhiệm trong công việc. Với họ “sớm chẳng vừa, trưa chẳng vội”, vì làm việc trong môi trường bao cấp nên lương đã có Nhà nước trả, không phải bận tâm đến cơm áo gạo tiền. Thứ tư, đó là những người có xuất thân từ những gia đình có điều kiện, hoặc về kinh tế, hoặc về chính trị. Họ chỉ cần có một chỗ làm việc, một vị trí trong cơ quan công quyền để lấy vị thế và được bảo đảm các quyền lợi cho cá nhân. Những người như thế cũng không mưu cầu sự thăng tiến, cũng không có động lực phấn đấu cho công việc. Việc làm giàu của họ thường ở môi trường khác, hoặc có người khác làm giàu cho họ.
2. Tâm lý, thái độ thờ ơ gây ra bệnh vô cảm của công chức, một loại bệnh đang được xem là “trọng bệnh”. Ngành y không có khái niệm bệnh vô cảm nên cũng không đưa ra phác đồ điều trị. Đây là căn bệnh do lối sống, môi trường và cách hành xử của con người tạo ra. Hệ lụy của tình trạng thờ ơ, vô cảm của công chức là vô cùng tệ hại, mà tệ hại nhất là thủ tiêu động lực làm việc, vươn lên của tập thể. Những cán bộ, công chức thờ ơ, vô cảm thường rất lười đi cơ sở và xa rời thực tiễn cơ sở. Chính vì lười đi cơ sở, không chịu va chạm với thực tiễn nên không nắm được công việc, quan liêu trong lĩnh vực mình quản lý, giải quyết. Thậm chí nếu được giao chức năng tham mưu để ban hành những chủ trương, chính sách, quyết sách thì đó là những “quyết định trên trời” gây bức xúc dư luận.
Trong một tập thể có những người thờ ơ, vô cảm với công việc thường dễ lây lan tâm lý này sang những người khác. Bởi nếu anh “sớm chẳng vừa, trưa chẳng vội” mà không bị xử lý thì tôi cũng sẽ thế được, dần trở thành tâm lý đám đông. Khi con người không có động lực làm việc, giải quyết công việc không vì người khác thì sẽ không bao giờ dành hết trí lực cho công việc, không có tư tưởng nghĩ ra việc, tìm đến việc. Tệ hại là, số cán bộ, công chức thờ ơ, vô cảm, làng nhàng này lại không dễ gì đưa họ ra khỏi bộ máy công quyền. Đại biểu Quốc hội Phạm Văn Hòa (đoàn Đồng Tháp) từng phát biểu trước Quốc hội khi thảo luận về Bộ luật Lao động (sửa đổi) rằng: “Có những người mặc dù đã đến tuổi nghỉ hưu theo luật hiện hành, trong khi công việc làm năng suất không cao, "sáng cắp ô đi, chiều cắp ô về", chỉ ở mức hoàn thành nhiệm vụ nhưng không muốn nghỉ hưu, chờ cho đến đúng tuổi mới nghỉ”. Vì điều đó mà những người mới, nhất là những người trẻ có hoài bão, tâm huyết và trí tuệ, muốn được cống hiến trong bộ máy công quyền cũng khó có vị trí.
Trên thực tế, nghiên cứu khái quát của các nhà quản lý trong lĩnh vực công chức, viên chức đưa ra con số khoảng 30% cán bộ, công chức “sáng cắp ô đi, chiều cắp ô về”. Xin dẫn lại một phát biểu năm 2013 của Phó thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc khi ấy tại cuộc họp thứ nhất Ban chỉ đạo Đề án đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức: “Trong bộ máy chúng ta có tới 30% số công chức không có cũng được, bởi họ làm việc theo kiểu sáng cắp ô đi, tối cắp về, không mang lại bất cứ thứ hiệu quả công việc nào”. Điều này khiến cho bộ máy công quyền cồng kềnh trong khi công việc vẫn bị xem là chưa chạy. Trong khi đó, ngân sách nhà nước để nuôi bộ máy là không hề nhỏ mà đáng ra một phần số ngân sách này có thể tiết kiệm được.
Không chỉ vậy, những cán bộ có tâm lý, thái độ thờ ơ, vô cảm trong giải quyết công vụ luôn ám ảnh người dân có suy nghĩ tiêu cực về đội ngũ cán bộ công quyền, những người được xem là công bộc của dân. Họ rất ngại đến cơ quan công quyền, trừ việc bất đắc dĩ. Tâm lý, thái độ thờ ơ, vô cảm của công chức đã hình thành nên tư tưởng cho mình là người có quyền ban phát. Bởi thế lâu nay, khi người dân làm việc với cơ quan công quyền thường bị mặc định từ “xin” ở đó. Nguyện vọng, quyền lợi gì cũng mặc định trong “Đơn xin...”. Xin cho con đi học, xin giấy khai sinh, xin giấy khai tử, xin xác nhận hộ khẩu... Đây là quyền lợi chính đáng của người dân, đặc quyền của công dân được hưởng thụ dưới chế độ của Nhà nước ta. Vậy thì cán bộ cơ quan công quyền phải có nghĩa vụ thực hiện cho người dân chứ không phải là ban phát hay đặc quyền ở đó.
3. Dưới chế độ của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì cán bộ, công chức là công bộc của dân. Cũng có nghĩa, mọi cán bộ, công chức phải hết lòng, hết mình trong giải quyết công vụ, vì nhân dân phục vụ, tự mình đấu tranh với chính mình để loại bỏ tâm lý, thái độ thờ ơ, vô cảm, cách làm việc làng nhàng không hiệu quả.
Trở lại từ lý luận, Các Mác từng có một luận điểm mang tính kinh điển, đã trở thành nền tảng, cơ sở khoa học khi nghiên cứu, giải quyết vấn đề bản chất con người: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”. Luận điểm này đã được ông luận giải một cách rất thuyết phục. Những cán bộ, công chức và chính mỗi người có tâm lý, thái độ thờ ơ, vô cảm với công việc nguyên nhân chính là do họ và họ là người quyết định điều đó trong môi trường đó. Môi trường làm việc rất quan trọng và có tác động lớn đến tình cảm, thái độ, trách nhiệm của mỗi người. Con người trong tập thể nếu không chịu va đập, không bị va đập, không qua trải nghiệm, gắn mình với thực tiễn sẽ ngày càng thờ ơ và ít sự cảm thông trong đời sống xã hội. Bởi thế, ở đâu môi trường làm việc yêu cầu cao, sự nghiêm túc, trách nhiệm, sự đánh giá công tâm, công bằng, thì ở đó mỗi cán bộ, công chức sẽ có động lực để thay đổi mình, buộc phải thay đổi mình.
Từ thực tiễn, chính các tổ chức, cơ quan, đơn vị trong bộ máy Nhà nước phải đánh giá đúng thực chất hiệu quả công việc của công chức do mình quản lý. Ai cũng thấy nhiều cán bộ, công chức làm việc không hiệu quả theo kiểu “sáng cắp ô đi, chiều cắp ô về” diễn ra ở các cơ quan công quyền nhưng tỷ lệ báo cáo đánh giá chất lượng cán bộ, công chức hằng năm của hầu hết các cơ quan, đơn vị thường trên 90% hoàn thành tốt và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Nhiều cơ quan, tỷ lệ này rất cao, thậm chí gần 100%. Chính việc đánh giá cán bộ không đúng, phân loại nể nang, không bám vào tiêu chí đã dẫn đến tình trạng “đánh bùn sang ao”, cán bộ làm tốt cũng như chưa tốt. Bất cập này khiến người làm tốt bị mất động lực phấn đấu, trong khi người chưa hoàn thành, hoàn thành thấp nhiệm vụ vẫn nghiễm nhiên tại vị, vẫn được hưởng đầy đủ các chế độ của một công chức. Và đương nhiên, họ cũng không có động lực để thay đổi chính mình. Dù Luật Cán bộ, công chức quy định nếu cán bộ hai năm không hoàn thành nhiệm vụ thì sẽ loại ra khỏi đội ngũ nhưng trên thực tế hằng năm vô cùng ít cán bộ bị loại khỏi bộ máy công quyền với lý do là không hoàn thành nhiệm vụ. Vậy nên, cốt lõi để làm cho mọi cán bộ, công chức thay đổi thái độ, trách nhiệm làm việc của mình thì tổ chức phải đánh giá đúng hiệu quả công việc của họ./.
St

ĐỂ "TÌNH ĐỒNG CHÍ" TRỞ THÀNH HẠT NHÂN CỦA NIỀM TIN YÊU, GẮN KẾT

  Thời gian qua, Đảng ta đã có nhiều hoạt động như tổ chức hội thảo, lấy ý kiến về việc xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới.

Trong nhiều tiêu chuẩn, phẩm chất và cả tình cảm, thái độ được nêu lên có một “mẫu số chung” được nhắc đến nhiều, đó là “tình đồng chí”. Đây là tình cảm mang tính kết nối làm nên uy tín, vị thế của một nhóm người cùng chung lý tưởng, mục đích. Qua thời gian trui rèn, thử thách, tình cảm đó trở nên thiêng liêng, cao quý, và tình đồng chí cũng chính là một đặc điểm dễ nhận biết của những chính đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày thành lập đến nay đã trải qua muôn vàn gian nan, thử thách.
Song cho dù lịch sử có biến thiên, thăng trầm thì tình cảm thiêng liêng giữa những người đồng chí vẫn luôn tỏa sáng. Cho đến hôm nay, khi những người cộng sản được nhân dân tin tưởng giao phó trọng trách lãnh đạo đất nước thì “tình đồng chí” có còn trong sáng, có còn thắm thiết như những ngày đầu gian khó, hiểm nguy? Bài viết “Tình đồng chí” đăng trên Tạp chí Cộng sản, số 10/1979 (tác phẩm in trong cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng) đã lý giải, cắt nghĩa và trực tiếp trả lời câu hỏi này.
Đầu tiên, tác giả khẳng định tình đồng chí là một trong những “truyền thống quý báu của Đảng, là vật bảo đảm quan trọng cho sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, tạo ra sức mạnh vô địch của Đảng”. Bởi thứ tình cảm đó sinh ra từ “tình bạn chiến đấu” của những người chiến sĩ cách mạng giác ngộ lý tưởng cộng sản, “được thử thách trong quá trình đấu tranh cách mạng”. Theo tác giả, trong giai đoạn Đảng lãnh đạo chính quyền xây dựng chủ nghĩa xã hội, chẳng những tình đồng chí của những người cộng sản không giảm sút, không mai một, mà trái lại, càng nảy nở và phát triển.
Bởi tình đồng chí của những người cộng sản là tình đoàn kết chiến đấu cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tình đồng chí của những người cộng sản có đặc trưng dễ nhận biết, đó là, tình thương yêu trong sáng, chân thành, tôn trọng, quan tâm, thông cảm lẫn nhau, khiêm tốn, nhường nhịn nhau.
Song, sự yêu thương đó không có nghĩa là bao che, tha thứ lỗi lầm, khuyết điểm của đồng chí mình; trái lại, người cộng sản thường xuyên giúp đỡ đồng chí mình giữ vững phẩm chất cách mạng. Tác giả kết luận: “Nếu nể nang, né tránh, hoặc vì lý do nào đó mà không nghiêm khắc với khuyết điểm của đồng chí mình là làm hại đồng chí mình, đẩy đồng chí mình vào sự sa ngã và tội lỗi; như thế không phải là thương yêu đồng chí một cách đúng đắn”.
Mặc dù bài viết đã được xuất bản hơn 40 năm, song độc giả vẫn cảm thấy thấm thía và rút ra nhiều bài học còn nguyên tính thời sự. Có một hiện tượng xã hội đáng suy ngẫm vẫn âm thầm diễn ra ở một số tổ chức đảng và một bộ phận cán bộ, đảng viên, đó là tình đồng chí đã ít nhiều bị phai nhạt, biến dạng. Trong quan hệ giữa các đảng viên và cấp ủy, sự quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ nhau đôi chỗ, đôi nơi thay bằng sự thờ ơ, lạnh nhạt, thậm chí ganh ghét, đố kỵ. Sự phai nhạt tình đồng chí khiến nội bộ mất đoàn kết, vai trò và năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng bị suy giảm.
Trong sinh hoạt đảng, có nơi, có lúc lợi dụng danh xưng đồng chí để tụng ca, tung hô hay triệt hạ, nhất là ở mỗi dịp quy hoạch, bầu cử, lấy phiếu tín nhiệm cán bộ. Có thể nói, việc lợi dụng tình đồng chí, danh xưng đồng chí vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm tiêu cực có nhiều biểu hiện tinh vi, khó đoán định. Lâu dần, nó làm suy giảm ý nghĩa thiêng liêng và giá trị tốt đẹp ban đầu vốn có cũng như sự nâng niu, trân trọng, giữ gìn, vun đắp tình đồng chí của nhiều thế hệ đảng viên chân chính.
Vũ khí “tự phê bình và phê bình” có thể chống lại sự phai nhạt của tình đồng chí. Song, để tình đồng chí thật sự có ý nghĩa mỗi khi nhắc đến thì mỗi người “đồng chí, đồng đội” cần xuất phát từ cái tâm trong sáng. Mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn trân trọng, phát huy, tiếp nối truyền thống quý báu đó, để tình đồng chí luôn là thứ tình cảm thiêng liêng, trân trọng, đáng tự hào đó cũng là điều tác giả muốn gửi gắm qua bài viết của mình./.
St


Lời Bác dạy Ngày 21 tháng 9 “Mỗi người sẽ tùy theo sức mình tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà”,

 

Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Thư gửi bộ đội, cán bộ và gia đình cán bộ miền Nam ra Bắc”, Báo Nhân dân đăng số 229, từ ngày 21 đến ngày 22 tháng 9 năm 1954.

Sau những chiến thắng của quân và dân ta trên các mặt trận quân sự, ngoại giao, Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Đông Dương đã được ký kết. Đây là một thắng lợi to lớn, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cách mạng nước ta. Với tầm nhìn xa, trông rộng, thấy trước âm mưu của địch phá hoại Hiệp định Giơnevơ, đàn áp, trả thù những người kháng chiến, Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo khẩn trương bố trí một bộ phận cán bộ, đảng viên ở lại miền Nam để lãnh đạo cuộc chiến đấu và chuyển hàng vạn đồng bào và con em các gia đình cách mạng đi cùng với bộ đội và cán bộ tập kết ra Bắc để đào tạo đội ngũ cán bộ vừa góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa chuẩn bị lực lượng cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Để kịp thời động viên bộ đội, cán bộ và các gia đình từ miền Nam ruột thịt tập kết ra Bắc trong những ngày đầu còn nhiều bỡ ngỡ, Bác Hồ đã gửi thư thăm hỏi, động viên và căn dặn.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, những cán bộ, chiến sĩ, học sinh, các gia đình miền Nam tập kết ra Bắc đã nỗ lực vượt mọi khó khăn, sớm ổn định cuộc sống và có nhiều đóng góp cho công cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong đó, nhiều người đã trở thành cán bộ, lãnh đạo các cấp; các tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp, các nhà khoa học đầu ngành ở nhiều lĩnh vực, các văn nghệ sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ, nhà báo nổi tiếng, nhiều doanh nhân tài ba, nhiều người đã trở thành Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động… góp phần làm rạng danh quê hương, đất nước.

Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng, Bác Hồ trực tiếp tổ chức, giáo dục và rèn luyện, được nhân dân tin yêu, đùm bọc và nuôi dưỡng, thấu triệt lời Bác dạy, Quân đội ta không ngừng phát huy bản chất cách mạng tốt đẹp, xây đắp nên truyền thống vẻ vang “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng đã kết tinh thành giá trị và biểu tượng “Bộ đội Cụ Hồ”.

Không chỉ trong chiến đấu, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn thi đua huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao, kỷ luật nghiêm, đoàn kết, hiệp đồng, quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Đồng thời, làm tốt công tác dân vận, tích cực tham gia xóa đói, giảm nghèo, chung sức xây dựng nông thôn mới, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, đóng góp to lớn cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn xung kích ở những nơi xảy ra thiên tai, bão lũ…, giúp đỡ, cứu chữa nhân dân vượt qua khó khăn, hoạn nạn…; nhiều cán bộ, chiến sĩ đã chiến đấu hi sinh vì sự bình yên của đất nước, vì cuộc sống của nhân dân, xứng đáng với sự tin yêu của Đảng, Bác, Nhà nước và nhân dân.     

Lời Bác dạy Ngày 20 tháng 9 “Cán bộ cần hoan nghênh ý kiến và những lời phê bình của dân, để sửa chữa sai lầm”.

 

Là lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong thư thăm hỏi các đại biểu và tất cả các cán bộ và nhân viên mậu dịch, Người viết ngày 20 tháng 9 năm 1951.

Đây là thời điểm nền kinh tế nước ta gặp rất nhiều khó khăn do chiến tranh kéo dài, hàng hoá, nhu yếu phẩm rất khan hiếm và được phân phối cho cán bộ và nhân dân theo chế độ tem phiếu thông qua hệ thống các cửa hàng mậu dịch Nhà nước. Do vậy, đã nẩy sinh rất nhiều bất cập, khó khăn cho cả phía cán bộ, nhân viên mậu dịch và nhân dân. Để khắc phục những hạn chế, yếu kém trên Bác Hồ đã gửi thư và căn dặn cán bộ, nhân viên ngành mậu dịch, theo Bác việc tự phê bình và tiếp thu phê bình đối với người cán bộ, đảng viên như việc rửa mặt hằng ngày. Cấp trên phê bình, chưa đủ. Đồng chí, đồng sự phê bình, chưa đủ. Phải hoan nghênh quần chúng phê bình nữa, thì sự phê bình mới hoàn toàn.

Bởi lẽ, nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ là bản chất của Đảng và Nhà nước ta, cùng cơ chế: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” luôn được quan tâm xây dựng, bổ sung, hoàn thiện. Nhân dân cũng là lực lượng đông đảo, rộng khắp, họ thấy rõ, thấy đầy đủ những thiếu sót cần phải phê bình, góp ý cụ thể cho cán bộ, đảng viên. Trong cuộc đấu tranh chống các nguy cơ đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của đất nước hiện nay, một vũ khí không thể thiếu đó là công luận và tiếng nói của nhân dân. Học tập và làm theo Bác, những năm qua, Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội đã tạo môi trường, có các chủ trương, chính sách, cơ chế, pháp luật để nhân dân tham gia giám sát, phê bình cán bộ, đảng viên. Những ý kiến đóng góp của nhân dân đối với tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ “có chức, có quyền” là kênh thông tin quan trọng để họ vươn lên tự hoàn thiện bản thân, có trách nhiệm với công việc, là cơ sở đề ra chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật đúng đắn với lợi ích của đất nước và phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của nhân dân.

Thấu triệt lời Bác Hồ dạy, cấp uỷ, chỉ huy các cấp trong Quân đội luôn đề cao và duy trì nền nếp, không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên. Định kỳ sáu tháng, một năm, tổ chức đảng tổ chức để mỗi cán bộ, đảng viên trên cương vị, chức trách nhiệm vụ được giao thực hiện việc tự phê bình trước chi bộ, lấy ý kiến phê bình của các tổ chức quần chúng trong đơn vị; ý kiến nhận xét của cấp uỷ, chi bộ nơi cư trú theo đúng Quy định 76-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa VIII về việc đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với chi ủy, đảng ủy cơ sở và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú. Nội dung phê bình toàn diện trên các mặt tư tưởng chính trị, việc chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước; việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực; giữ gìn đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân và các quy định của địa phương, nơi cư trú. Tôn trọng ý kiến đóng góp của quần chúng, cán bộ, đảng viên phải nghiêm túc tiếp thu, nhận khuyết điểm, định rõ thời gian, biện pháp khắc phục sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Lời Bác dạy Ngày 19 tháng 9 “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.


Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong buổi nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên Phong (Sư đoàn 308/ Quân đoàn 1) chuẩn bị về tiếp quản Thủ đô Hà Nội.

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Bác Hồ với Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận và các đoàn thể từ “Thủ đô gió ngàn” Việt Bắc trở về tiếp quản Thủ đô Hà Nội do chính quyền Pháp bàn giao theo Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954) về đình chiến ở Đông Dương. Sáng ngày 19 tháng 9 năm 1954, sau khi tham quan khu di tích Đền Hùng, Bác Hồ đã gặp mặt, căn dặn và giao nhiệm vụ cho cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên Phong về tiếp quản Thủ đô tại Đền Giếng trong khu di tích Đền Hùng (thuộc núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ); Bác giảng giải nhiều điều và Người căn dặn: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.Làm theo lời Bác, dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng, cách mạng Việt Nam đã vượt qua bảo thử thách, cam go, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, ghi những mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Ngày nay, đất nước ta đang trên đà đổi mới và không ngừng phát triển; tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng nước ta. Khắc ghi lời Bác dạy năm xưa, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, trải qua hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam không ngừng lớn mạnh, lập nhiều chiến công hiển hách, xứng đáng là lực lượng nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây, cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay. Quân đội luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân làm theo lời Bác dạy với quyết tâm và trách nhiệm chính trị cao, với tinh thần “quyết chiến, quyết thắng”, ý chí tự lực, tự cường, chủ động, sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... như lời Bác căn dặn năm xưa.

Lời Bác dạy Ngày 18 tháng 9 “Người cách mạng mẫu mực phải khiêm tốn, khoan hòa, lượng thứ, can đảm khi sa cơ, bình tĩnh khi thắng thế, không bao giờ được quên rằng cuộc đời mình và sự nghiệp của mình thuộc về toàn nhân loại chứ không thuộc về mình”. Nguyễn Á

i Quốc viết bài “Người cách mạng mẫu mực”, đăng trên báo Thanh Niên, số 61, năm 1926. Bài viết nêu 12 điều đòi hỏi ở một người cách mạng, bao quát các mặt về lý tưởng, về tinh thần hy sinh, về phẩm chất đạo đức, về phương pháp công tác. Người nhấn mạnh: Sự nghiệp cách mạng rộng lớn và khó thực hiện; nó không thể do một người hay một nhà làm mà tốt được. Cách mạng của các nòi giống có mục đích là giải phóng các dân tộc yếu, sau tiến lên làm cách mạng thế giới, sẽ giải phóng toàn nhân loại khỏi ách đế quốc chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên - những người cách mạng suốt đời phấn đấu vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Theo Bác, người cách mạng mẫu mực trước hết phải là người có đạo đức cách mạng. Bởi “không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”, có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước. Vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình. Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc. Đó là biểu hiện rất rõ rệt, cao quý của đạo đức cách mạng.

Thấm nhuần tư tưởng về vị trí, vai trò của đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế hệ cán bộ, đảng viên của Đảng đã luôn phát huy tốt tính tiền phong gương mẫu, trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giành độc lập tự do, thống nhất đất nước, đã có rất nhiều cán bộ, đảng viên bất chấp mọi hiểm nguy, gian khổ, sẵn sàng hy sinh thân mình vì độc lập, tự do cho Tổ quốc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng tiếp tục phát huy tính tiền phong gương mẫu trên mọi lĩnh vực công tác đã góp phần làm nên những thành tựu bước đầu rất quan trọng của công cuộc đổi mới.

Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, luôn luôn khắc ghi lời dạy của Người về phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên, trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân, với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, nhân cách theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh mới trở thành người quân nhân kiểu mẫu, thật sự xứng đáng là người quân nhân cách mạng của một Quân đội anh hùng.

Lời Bác dạy Ngày 17 tháng 9 “Chúng ta không sợ có khuyết điểm, chúng ta chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi, chúng ta phải lấy lòng “chí công vô tư”.

 

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà”, đề ngày 17 tháng 9 năm 1945, viết tại Hà Nội, Người lấy danh nghĩa của một đồng chí già, mục đích là để san sẻ ít kinh nghiệm với các đồng chí quê mình. Thư gồm 4 mục nhỏ, đánh số rõ ràng nhằm chuyển tải 4 nội dung:

- Một là, ý nghĩa rất to lớn của cuộc cách mạng dân tộc;

- Hai là, lý giải vì sao cuộc cách mạng thắng lợi;

- Ba là, sự nghiệp kiến thiết xây dựng xã hội mới sau khi giành chính quyền;

- Phần thứ tư, dài nhất, đậm nhất cuối thư, Người nêu những khó khăn cần giải quyết, phải vừa làm vừa học, cái chính là theo cho đúng chính sách của Chính phủ ban hành.

Chính sách của Chính phủ ngay sau giành chính quyền, theo Người rút lại chỉ trong có 2 chuyện: Củng cố đoàn kết và sửa chữa khuyết điểm. Sức mạnh đoàn kết dân tộc, ai cũng rõ rồi, nhưng nêu rõ ra và yêu cầu sửa chữa những khuyết điểm trên nhiều phương diện chủ yếu của cán bộ, đảng viên lúc bấy giờ thì không phải ai cũng quán triệt. Những khuyết điểm đó, cụ thể ra là thói bao biện, hẹp hòi; lạm dụng hình phạt; kỷ luật không nghiêm; một số việc làm xấu xa như lên mặt làm quan cách mạng, độc đoán, dùng phép công để báo thù tư… Tất cả khiến dân chúng hoang mang, nền đoàn kết bị lung lay, uy tín của Chính phủ và đoàn thể bị ảnh hưởng xấu. Giành được chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn nhiều - nhận thức sâu sắc quy luật này, Bác kêu gọi đồng chí, đồng bào ở tỉnh nhà phải lập tức sửa đổi ngay.

Thông điệp trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà” đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị lịch sử của một giai đoạn hào hùng và ý nghĩa thời sự đối với việc tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của cán bộ, đảng viên các cấp trong thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ 4 khóa XII của Đảng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo, rèn luyện, thấu triệt lời dạy của Bác và được cụ thể hóa trong mọi mặt công tác, đặc biệt là trong chiến đấu. Sau mỗi trận đánh, mỗi nhiệm vụ, cấp ủy, chỉ huy các cấp đều lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức rút kinh nghiệm nghiêm túc, đã có nhiều Hội nghị chỉnh huấn cấp toàn quân. Thông qua việc mở rộng dân chủ, đề cao trách nhiệm trong tự phê bình và phê bình đã làm rõ nguyên nhân, rút ra những kinh nghiệm quý để Quân đội ta càng đánh, càng mạnh, càng đánh, càng thắng, lập nên những chiến công vẻ vang, tô thắm truyền thống “quyết chiến, quyết thắng” và phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” xứng đáng với sự tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.                                                         

M Lời Bác dạy Ngày 16 tháng 9 “Không có việc gì khó, Chỉ sợ lòng không bền, Đào núi và lấp biển, Quyết chí ắt làm nên”.

 


Trung tuần tháng 9 năm 1950, trên đường đi chiến dịch Biên giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh ghé thăm một đơn vị thanh niên xung phong đang làm đường phục vụ chiến dịch, Người đã làm bài thơ này tặng thanh niên. Qua bốn câu thơ, Bác muốn nhắn nhủ với thanh niên phải chú trọng đến việc bồi dưỡng về chí khí cách mạng. Người cho rằng, thanh niên muốn thực hiện ước mơ, hoài bão cao đẹp, muốn làm được việc lớn ích quốc lợi dân thì trước hết thanh niên phải tự mình nâng cao chí khí, tuyệt đối trung với nước, với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, lớp lớp các thế hệ thanh niên Việt Nam đã luôn tiếp nối truyền thống cha anh, phát huy tinh thần đoàn kết, xung kích, sáng tạo, vươn lên chinh phục các đỉnh cao trên các lĩnh vực công tác góp phần vào thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, giải phóng đất nước. Trong thời kỳ đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, thanh niên Việt Nam tiếp tục vươn lên mạnh mẽ trên các lĩnh vực, là lực lượng quan trọng góp phần đưa đất nước hội nhập nhanh hơn, sâu hơn, thanh niên thực sự là lực lượng nòng cốt, là động lực của sự phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới.

Thanh niên phải có tinh thần: Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên, gian khổ thì đi trước, hưởng thụ sau mọi người; việc đáng làm, thì có khó mấy cũng cố chịu quyết làm cho kỳ được... đây là nguồn cổ vũ, động viên lớp lớp thanh niên xung phong đi vào cuộc kháng chiến và kiến quốc. Sau này, mỗi khi gặp khó khăn, hình ảnh của Bác Hồ và bốn câu thơ của Người lại được tái hiện trong lòng những thanh niên, chiến sĩ quân đội, tiếp cho họ thêm sức mạnh để vượt qua.

Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hôm nay, vấn đề rèn luyện và nâng cao chí khí cách mạng đang đặt ra cho mọi đoàn viên, thanh niên trên tất cả lĩnh vực hoạt động, nhất là đối với những việc mới, việc khó cần đến sự nỗ lực, cố gắng cao. Mặt trái của cơ chế thị trường đang hàng ngày, hàng giờ tác động tiêu cực đến thế hệ trẻ. Chính vì vậy, công tác giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện cho thanh niên sống có chí khí, hoài bão, lý tưởng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, để thanh niên không mất phương hướng, không bị lôi cuốn vào những thói hư tật xấu, lối sống thực dụng… là việc rất quan trọng và cấp bách. Giáo dục thanh niên học tập và làm theo lời dạy của Người, còn góp phần tích cực vào việc đào tạo những chủ nhân tương lai của nước nhà, để họ trở thành những người kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng của cha anh, đưa nước ta sánh vai cùng các cường quốc năm châu như sinh thời Bác Hồ kính yêu hằng mong muốn.

Là một bộ phận của thanh niên Việt Nam, thanh niên Quân đội luôn có vai trò hết sức quan trọng trong trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, lớp lớp thế hệ đoàn viên, thanh niên trong Quân đội đã kế thừa, phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần tình nguyện, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc, xây đắp nên truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Bước vào thời kỳ đổi mới đất nước, thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thanh niên Quân đội luôn là lực lượng xung kích nòng cốt, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; tích cực huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, đi đầu trong phòng, chống thiên tai; khắc phục những khó khăn, gian khổ nơi biên giới, hải đảo, giúp nhân dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng cơ sở chính trị, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh; đồng thời, luôn nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tự giác học tập, rèn luyện, phấn đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.

M Ngày 15 tháng 9 “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong “Thư gửi họ

 c sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, ngày 15 tháng 9 năm 1945.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã đưa dân tộc Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của độc lập, tự do. Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định rằng thành quả đó mới chỉ là những cơ sở nền móng đầu tiên; để độc lập, tự do đó thực sự vững bền, để nhân dân thực sự cảm nhận được giá trị của độc lập, tự do; Đảng, chính phủ và nhân dân Việt Nam phải tiếp tục nỗ lực vươn lên, xây dựng đất nước thành một quốc gia giàu mạnh với một nền kinh tế tri thức phát triển cao; một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh cùng tiềm lực quốc phòng hùng mạnh... Để có được điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh thiết tha mong mỏi các thế hệ tương lai Việt Nam - những thế hệ trẻ được cắp sách đến trường trong hòa bình, trong tự do không ngừng ra sức cố gắng học tập, vươn lên tiếp thu những thành tựu khoa học - kỹ thuật tiên tiến của thế giới, tự đào tạo mình trở thành một lực lượng lao động quyết định, có đủ khả năng đưa đất nước bước lên đài vinh quang, sánh vai với các cường quốc trên thế giới.

Thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế hệ học sinh, sinh viên Việt Nam đã không ngừng nỗ lực học tập, rèn luyện, trưởng thành cả về phẩm chất, năng lực, giành nhiều thành tích cao góp phần quan trọng cùng quân dân cả nước giành thắng lợi trong công cuộc kháng chiến chống đế quốc, thực dân xâm lược giải phóng đất nước và thành công trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Thành tích học tập, nghiên cứu khoa học của các thế hệ học sinh, sinh viên Việt Nam đã thực sự làm rạng danh đất nước, đặt nền móng vững chắc, tạo tiền đề để đưa đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

Tuổi trẻ, học viên, sinh viên quân đội đinh ninh lời Bác dạy, thi đua thực hiện thắng lợi các phong trào thi đua: “Thanh niên Quân đội rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, quyết thắng”, "Thanh niên Quân đội vươn tới những đỉnh cao" và phong trào “Thanh niên Quân đội tiến quân vào khoa học và công nghệ”…và cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” vượt mọi khó khăn, nỗ lực phấn đấu học tập, rèn luyện đạt các giải cao tại các cuộc thi trong nước và quốc tế; tích cực học tập, huấn luyện làm chủ các loại vũ khí trang bị, nhất là vũ khí mới, hiện đại… góp phần xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng giao phó.

M Ngày 14 tháng 9 “Cán bộ phải đi đúng đường lối quần chúng, dựa vào nhân dân; trước hết phải tin tưởng lực lượng và trí tuệ của nhân dân là vô cùng vô tận”.


Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài nói chuyện tại “Hội nghị thủy lợi toàn miền Bắc”, ngày 14 tháng 9 năm 1959.

Tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, qua thực tiễn hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh càng thấm sâu chân lý: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Quần chúng cách mạng chính là các tầng lớp nhân dân mà Hồ Chí Minh đã tìm thấy sức mạnh to lớn ở họ. Người cho rằng, nhân dân rất thông minh, sáng tạo; nhân dân là lực lượng đông đảo của toàn xã hội; nhân dân là người hiểu biết tất cả; nhân dân là nguồn sức mạnh vô tận ở mọi nơi, mọi lúc. Thực tiễn lịch sử đã minh chứng: Thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược và trong sự nghiệp đổi mới đất nước đều xuất phát từ đường lối “lấy dân làm gốc”.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn khẳng định, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Vì vậy, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không phải chỉ là việc riêng của các cơ quan nhà nước, của cán bộ, đảng viên, mà là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, theo phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Thực hiện tốt phương châm này là nhằm phát huy vai trò của nhân dân lao động tham gia quản lý mọi hoạt động xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, còn có tác động tích cực đến công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội vững mạnh. Hoạt động của quần chúng nhân dân theo phương châm đó, trước hết, là giúp cho các tổ chức Đảng và cơ quan nhà nước khắc phục tệ quan liêu, tham nhũng và đề cao trách nhiệm trước nhân dân, tôn trọng ý kiến và nguyện vọng của nhân dân; qua đó, thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Do vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ mình là “là người lãnh đạo; đồng thời là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”; luôn biết trăn trở với những thắc mắc, những lo lắng của nhân dân; biết cầu thị và lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân dân, vận động nhân dân chung sức, đồng lòng, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thấu triệt lời Bác dạy, trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta, cấp ủy, chỉ huy các cấp luôn quan tâm, chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội, thương yêu, tôn trọng bộ đội như “chân với tay”; luôn là hạt nhân đoàn kết, đã thật sự làm cho cấp dưới kính trọng, tin tưởng, học tập và noi theo, coi lãnh đạo, chỉ huy của mình “như đầu, như óc”, như người thân trong gia đình; xây dựng tinh thần tự giác trong bộ đội, trở thành lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng: “Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên; khi nhận bất cứ nhiệm vụ gì đều tận tâm, tận lực thi hành nhanh chóng và chính xác”. Mối quan hệ cán - binh được xây dựng trên cơ sở tình thương yêu đồng chí, đồng đội, được tôi luyện, thiết lập vững chắc qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trở thành bản chất, truyền thống tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt, vừa là thuộc tính bản chất của một quân đội cách mạng, vừa là một trong những cơ sở tạo nên sức mạnh, vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.