Thứ Năm, 28 tháng 9, 2023

Sự phi lý của những luận điệu xuyên tạc thơ thời kháng chiến

Thời gian qua, trên nhiều trang mạng, diễn đàn, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và một số “nhà nghiên cứu” đã có nhiều ý kiến xuyên tạc, phủ nhận giá trị thơ cách mạng Việt Nam trong thời kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, làm tổn thương cả một thế hệ nhà thơ đã đóng góp tâm huyết, tài năng cho sự phát triển của nền văn học nước nhà, nhất là xúc phạm đến những nhà văn, nhà thơ đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Theo họ, dòng thơ này ra đời “theo sự chỉ đạo, đặt hàng của Đảng mà không phải viết do cảm xúc, do tình người của nhà văn”; “là thứ thơ cổ động, không có giá trị gì về nghệ thuật”. Lại có kẻ cho rằng, thơ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là “quê mùa”, “tỉnh lẻ”, tác phẩm vì thế “không thể vươn tới cõi thẳm sâu trong thế giới tinh thần mà hầu hết là tả thực, vội vã, sống sượng, nên ít có tính tư tưởng, sức sống của tác phẩm như thế cũng èo uột và ngắn ngủi” (!?).

Những ý kiến, lập luận nêu trên vừa không dựa trên thực tiễn đời sống chiến đấu của quân dân ta trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, vừa là cái nhìn phiến diện, lệch lạc, hàm chứa mưu đồ xấu xa là phủ nhận những giá trị của thơ cách mạng kháng chiến thế kỷ 20, sâu xa hơn là phủ nhận toàn bộ giá trị nền văn học nghệ thuật cách mạng nước nhà.  

NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ DỰ ÁN LUẬT CĂN CƯỚC CÔNG DÂN SỬA ĐỔI ĐỂ ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI

 

Việc xây dựng dự án Luật Căn cước là cần thiết để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thi hành Luật Căn cước công dân năm 2014 và đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra hiện nay, tạo cơ sở pháp lý triển khai thực hiện, tạo bước đột phá về chuyển đổi số ở nước ta. Tuy nhiên các thế lực thù địch, phản động đã lợi dụng việc này để tăng cường các hoạt động chống phá, xuyên tạc vấn đề.


Theo đó, các thế lực thù địch cho rằng Việt Nam đang quay lại thời làm căn cước như chính quyền Việt Nam Cộng hòa (trước ngày 30/4/1975); rằng “Sử dụng thẻ cước công dân gắn chíp là vi phạm đời tư cá nhân”, “Gắn chip thẻ căn cước công dân chỉ có một vài quốc gia “kém dân chủ” mới sử dụng”; “Cài số lùi”… Cùng với đó, các thế lực thù địch, phản động đánh vào tâm lý ngại thay đổi của người dân với luận điệu “Luật Căn cước mới có hiệu lực thì người dân phải làm lại căn cước”; “thẻ CCCD bị gắn chip theo dõi”… nhằm tạo ra sự bức xúc, bất mãn, chống đối việc triển khai thực hiện chiến dịch cấp thẻ căn cước của cơ quan chức năng…Đây là những luận điệu sai trái cần phải được phòng ngừa bởi lẽ việc xây dựng dự án Luật Căn cước nhằm mục đích: phục vụ giải quyết thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công trực tuyến; phát triển kinh tế, xã hội; xây dựng công dân số; hoàn thiện hệ sinh thái phục vụ kết nối, khai thác, bổ sung làm giàu dữ liệu dân cư; phục vụ chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo các cấp. Đối với những thẻ căn cước công dân đã cấp thì vẫn còn nguyên giá trị sử dụng, không bị tác động bởi quy định này.


Sự cần thiết xây dựng Luật Căn cước nhằm thể chế hóa quan điểm của Đảng về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Đồng thời, đơn giản hóa thủ tục hành chính và giấy tờ công dân, tạo thuận lợi trong việc thực hiện các thủ tục hành chính, giao dịch dân sự của công dân; khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật hiện hành, tạo cơ sở pháp lý để triển khai thực hiện. Do đó, nhân dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác, phòng ngừa với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, đồng thời tích cực, nỗ lực phối hợp, giúp đỡ cơ quan chức năng hoàn thành việc cấp căn cước gắn chip điện tử, đóng góp ý kiến xây dựng luật căn cước để góp phần tạo bước đột phá quan trọng trong quá trình chuyển đổi số ở nước ta.

#ST# Trường Tồn 

Lợi dụng văn học, nghệ thuật để xuyên tạc, chống phá đất nước

 

Văn học, nghệ thuật là một trong những nguồn lực to lớn, trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Nhận thấy sức mạnh to lớn đó, thời gian qua, các thế lực thù địch không ngừng dùng mọi thủ đoạn để lợi dụng, biến văn học, nghệ thuật thành công cụ đắc lực nhằm chống phá Đảng, Nhà nước. Thực trạng này đòi hỏi chúng ta phải thường xuyên cảnh giác, tỉnh táo nhận diện để có biện pháp ngăn chặn kịp thời.

Những sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật đã góp phần bồi đắp tư tưởng, tình cảm, đạo đức, nhân cách, lối sống tốt đẹp cho con người, tạo nền tảng tinh thần, động lực và sức mạnh nội sinh, góp phần vào quá trình phát triển bền vững đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được thì văn học, nghệ thuật cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, nhất là sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động trong chiến lược “diễn biến hòa bình”. Chúng xác định đây là một trong những mục đích quan trọng nhằm làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, tạo ra khoảng trống để thực hiện tham vọng. Một số âm mưu, thủ đoạn và chiêu bài, cách thức mà thế lực thù địch thường lợi dụng, núp bóng dưới những tác phẩm văn học, nghệ thuật để đả kích, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ nổi lên thời gian qua là việc phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Để thực hiện mục tiêu này, các thế lực không ngừng tuyên truyền, dụ dỗ một số văn nghệ sĩ thiếu bản lĩnh chính trị, nhẹ dạ cả tin, tư tưởng dao động, vốn sống và kinh nghiệm viết chưa nhiều viết lên những tác phẩm kém chất lượng với cái nhìn phiến diện, méo mó, hoài nghi về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Nhà nước, nhân dân đã lựa chọn. Tư tưởng bi quan, hoài nghi, dao động về chủ nghĩa Mác, về chủ nghĩa xã hội được một số tác giả cài cắm tinh vi thông qua những chi tiết, hình ảnh, lời nói của nhân vật trong truyện, ảnh hưởng và chi phối không nhỏ đến nhận thức cũng như tâm tư, tình cảm của công chúng, bạn đọc. Từ chỗ bất đồng quan điểm, tiếp nhận dễ dãi các trào lưu, khuynh hướng văn nghệ tiêu cực, thậm chí suy đồi, một số cây bút tiến hành thử nghiệm, đổi mới cách viết và phong cách sáng tác bằng cách đi ngược lại tôn chỉ, mục đích, chức năng cao quý của nghệ thuật và sứ mệnh, thiên chức của nhà văn. Họ hướng ngòi bút vào việc xét lại lịch sử, giải thiêng và tầm thường hóa hình tượng các nhân vật lịch sử, các vị anh hùng dân tộc với lý do là bù khuyết những khoảng trống mà lịch sử còn bỏ ngỏ.

Vì chạy theo thị hiếu tầm thường, chiều theo tâm lý nhất thời một bộ phận công chúng, sức ép của cơ chế thị trường, sự chi phối của đồng tiền và danh vọng, một số nghệ sĩ thiếu bản lĩnh, không làm chủ được bút lực, sẵn sàng viết lên những tác phẩm theo yêu cầu dễ dãi của công chúng, hướng ngòi bút vào những đề tài nhạy cảm về chính trị; khoét sâu vào những mặt tiêu cực, đen tối như tệ nạn xã hội, cờ bạc, ma túy, mại dâm; tham nhũng, chạy chức chạy quyền; những câu chuyện nội bộ liên quan đến đời tư của các đồng chí giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo của Đảng, Nhà nước...

Để thực hiện thành công âm mưu “diễn biến hòa bình” trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, các đối tượng chống phá, phản động đã sử dụng nhiều chiêu thức, biện pháp đa dạng, như: tài trợ về tài chính, sáng lập các quỹ hỗ trợ về sáng tạo; trao các giải thưởng thường niên về văn học, nghệ thuật, tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng, học tập kinh nghiệm sáng tác ở nước ngoài; tổ chức các diễn đàn, hội thảo để qua đó dễ dàng thâm nhập vào đời sống văn học, nghệ thuật. Các đối tượng tìm mọi cách móc nối với một số nghệ sĩ bất đồng quan điểm chính kiến với chính quyền, dụ dỗ, kêu gọi các nghệ sĩ “cùng chí hướng” thành lập các hội, nhóm, tổ chức với tên gọi “văn đoàn độc lập”, “ly khai” và không chịu bất cứ sự ràng buộc trách nhiệm nào với các tổ chức Đảng, Nhà nước và tổ chức hội nghề nghiệp; đòi tách văn học, nghệ thuật ra khỏi đời sống chính trị, đòi trả sự lãnh đạo văn nghệ cho chính văn nghệ sĩ. Từ thực tế trên cho thấy công tác phòng chống các luận điệu xuyên tạc, núp bóng văn học, nghệ thuật để truyền bá cái xấu, cái ác, cái phản giá trị, phản nhân văn, cần thực thi đồng bộ, kiên trì, lâu dài nhiều giải pháp với sự tham gia của nhiều ban, ngành chức năng, hội nghề nghiệp, trách nhiệm của người nghệ sĩ, và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. 

Để bảo vệ những tác phẩm chân chính, có giá trị, cũng như lên án, tẩy chay những tác phẩm có nội dung xấu độc, công chúng cần biết lựa chọn những tác phẩm hữu ích, có giá trị nhân văn; tỉnh táo, kịp thời nhận diện, phân biệt được những tác phẩm có nội dung xấu độc để có biện pháp phòng chống. Gia tăng sức đề kháng văn hóa bằng cách trang bị những tri thức, kỹ năng cần thiết khi tương tác, lựa chọn thông tin trên mạng xã hội, internet. Bảo vệ cái đúng, cái đẹp, cái thiện, tạo môi trường văn hóa lành mạnh để những giá trị nhân văn của nghệ thuật được lan tỏa./.

VIỆT NAM QUAN TÂM, BẢO VỆ QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC

 

   Nhiều năm qua, Việt Nam luôn là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, đồng thời thực hiện nghiêm túc các nội dung của Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD). Việt Nam đã bốn lần bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia thực thi Công ước CERD.


Năm 2023, Việt Nam tiếp tục xây dựng Báo cáo quốc gia CERD 5 gửi đến Ủy ban Công ước và được xếp lịch bảo vệ tại kỳ họp thứ 111 của Ủy ban (dự kiến tháng 11 và 12/2023). Thông tin về Báo cáo quốc gia CERD 5, bà Trần Chi Mai - Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế, Ủy ban Dân tộc cho biết báo cáo được xây dựng toàn diện trên cơ sở ý kiến đóng góp của các cơ quan Nhà nước ở Trung ương và địa phương, các cơ quan Đảng, Quốc hội, các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và người dân.


Báo cáo CERD 5 được trình bày và bảo vệ tại Ủy ban Công ước sẽ là cơ hội để Việt Nam tuyên truyền về những thành tựu bảo vệ nhân quyền nói chung và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với người dân tộc thiểu số nói riêng. Với một quốc gia có tới 53/54 là dân tộc thiểu số thì việc bảo đảm quyền cho đồng bào dân tộc thiểu số có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Đồng thời cũng qua Báo cáo CERD 5, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam thuận hòa, đoàn kết, gắn bó, đề cao ý thức tuân thủ pháp luật sẽ được lan tỏa đến cộng đồng quốc tế, nhằm tăng cường sự hiểu biết và thúc đẩy các quan hệ hợp tác. Từ hiện thực sinh động, thuyết phục này sẽ góp phần bác bỏ những luận điệu vu cáo, xuyên tạc của các thế lực thù địch, thiếu thiện chí đối với Việt Nam, nhất là trong vấn đề thực hiện các chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số.

Đáng buồn là thời gian qua, trên một số diễn đàn mạng xã hội và trong một bộ phận dân cư vẫn xuất hiện những quan điểm, ý kiến lạc lõng, sai sự thật về cái gọi là “kỳ thị dân tộc”, “phân biệt đối xử với đồng bào dân tộc thiểu số” ở Việt Nam.


Nguy hiểm hơn, các đối tượng chống phá, thù địch thường xuyên lợi dụng những khó khăn trong cuộc sống của đồng bào, các tranh chấp, khiếu kiện, những vấn đề do lịch sử để lại,… coi đây là mục tiêu để tấn công, hòng khoét sâu những bất đồng, mâu thẫu, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan. Địa bàn được các đối tượng chống phá nhắm đến là khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Như ở khu vực Tây Bắc, các đối tượng chống phá dựng lên cái gọi là “Vương quốc Mông”, và đưa ra yêu sách về “quyền tự trị”.


Còn ở Tây Nguyên, các đối tượng rêu rao “Tây Nguyên là của người Thượng”, “người Kinh cướp đất của đồng bào trên chính quê hương của mình” từ đó kích động “đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên phải liên kết lại đuổi người Kinh về xuôi”. Tương tự ở Tây Nam Bộ, các đối tượng kích động người dân tộc Khmer ly khai thành lập “Nhà nước Khơme Krôm độc lập”.


Song song đó, các đối tượng còn lôi kéo, dụ dỗ, tổ chức các hoạt động như vượt biên trái phép, di dân tự do, hòng làm cho đời sống của đồng bào mất ổn định; từ đó rêu rao Việt Nam phân biệt chủng tộc, vi phạm nhân quyền, kêu gọi sự can thiệp của các tổ chức quốc tế. Không khó để nhận diện âm mưu của các đối tượng chống phá, thù địch này là hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất lòng tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước, kích động bạo loạn, lật đổ chế độ.


Thực tế này cho thấy các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu, thủ đoạn chống phá núp dưới chiêu bài kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc hết sức tinh vi, thâm độc, khó lường. Đặc biệt, việc kích động, chống phá trên không gian mạng được chúng triệt để khai thác để tỏa “chân rết” đi đến các vùng miền, xâm nhập vào các cộng đồng người dân tộc thiểu số, tác động theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, hết sức nguy hiểm.


Thực tế này đòi hỏi các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, cũng như các tổ chức đoàn thể cần tiếp tục thực hiện tốt các chính sách dân tộc, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là đồng bào khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các đối tượng có hành vi chống phá, kích động phân biệt chủng tộc.


Người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số cần nâng cao tinh thần cảnh giác, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, không tin, nghe theo sự lôi kéo, dụ dỗ của người khác để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Mỗi người dân cần phát huy tinh thần trách nhiệm, kịp thời phát hiện những biểu hiện tiêu cực trong cộng đồng để báo cáo tới cơ quan chức năng làm rõ.


Sự phối hợp đồng bộ của cả hệ thống chính trị và người dân sẽ tạo khối đoàn kết gắn bó chặt chẽ, hiệu quả, giúp ngăn chặn hiệu quả và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các đối tượng xấu.

#TrầnĐơn (sưu tầm)# Trường Tồn 

Kiên quyết xóa bỏ tổ chức Hội Thánh của Đức Chúa Trời Mẹ

 

Bộ Nội vụ đề nghị tăng cường công tác nắm tình hình, phát hiện kịp thời và kiên quyết đấu tranh, xóa bỏ về phương diện tổ chức đối với Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ tại Việt Nam.

Thời gian gần đây hoạt động của “Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ" (tên chính thức và đầy đủ là Hội thánh của Đức Chúa Trời Hiệp hội Truyền giáo Tin lành Thế giới, tên tiếng Anh là World mission society Church of God, do Ahn Sahng Hong sáng lập năm 1964 tại Hàn Quốc, hiện do bà Jang Gil Ja - “Đức Chúa Trời Mẹ” điều hành) tiếp tục diễn ra ở nhiều địa phương trong cả nước, gây bức xúc và phẫn nộ trong quần chúng nhân dân, vi phạm các quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, trái thuần phong mỹ tục.

Trước tình hình trên, Thứ trưởng Nội vụ Vũ Chiến Thắng đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thống nhất nhận thức và tổ chức triển khai một số công tác đối với “Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ.” Trong đó, Thứ trưởng Vũ Chiến Thắng đề nghị các địa phương tăng cường công tác nắm tình hình, phát hiện kịp thời và kiên quyết đấu tranh, xóa bỏ về phương diện tổ chức đối với Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ tại Việt Nam (giải tán, thu hồi giấy phép đối với các nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung, không để tổ chức này tái nhóm, hình thành các tụ điểm hoạt động mới; không chấp thuận đăng ký hoạt động dưới mọi hình thức, bao gồm đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, thành lập tổ chức phi chính phủ, công ty, văn phòng đại diện, cửa hàng, câu lạc bộ, chương trình ngoại khóa...).

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật của Hội thánh này, gây ảnh hưởng tiêu cực cho người tin theo và xã hội, như hành vi xâm phạm trật tự, an toàn xã hội; xúc phạm, chia rẽ tín ngưỡng, tôn giáo; xúc phạm danh dự nhân phẩm của người khác; lợi dụng hoạt động tôn giáo để trục lợi... Các cơ quan, đơn vị theo chức năng, quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, mức độ vi phạm để xử lý nghiêm đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật, bao gồm hành vi trên không gian mạng. Cùng với đó, tổ chức thông tin, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong các tổ chức tôn giáo về chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, nhất là các hoạt động vi phạm pháp luật, tác hại do Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ gây ra để nâng cao nhận thức, cảnh giác, đồng thuận xã hội, đồng thuận tôn giáo trong nhìn nhận, phê phán, phát giác, ngăn chặn, xử lý hoạt động vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội, đạo đức tôn giáo của Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ. Chú ý làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền ở cấp cơ sở.

Thứ trưởng Nội vụ cũng đề nghị cấp ủy, Mặt trận Tổ quốc và chỉ đạo chính quyền, đoàn thể các cấp, cơ sở giáo dục tại địa phương tăng cường công tác thông tin, quán triệt cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, đoàn viên, hội viên và tuyên truyền cho học sinh, sinh viên nhận thức rõ bản chất, hành vi, thủ đoạn, phương thức hoạt động của Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ để cảnh giác, không bị lôi kéo; xử lý theo quy chế, kỷ luật của cơ quan, đơn vị, tổ chức đối với người tham gia, đảm bảo đúng quy định của pháp luật./.

đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng

 Hiện nay, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng mạng xã hội để tung ra các chiêu bài tinh vi, nguy hiểm nhằm xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Các phương thức đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng được thể hiện trên những phương tiện cơ bản sau:

Trên cơ sở nắm chắc pháp luật quốc tế, luật pháp Việt Nam về hoạt động trên không gian mạng, các chính sách, tiêu chuẩn cộng đồng của các nhà mạng, thường xuyên theo dõi, kịp thời phát hiện những quan điểm sai trái, thù địch để đấu tranh trên phương diện pháp lý. Tận dụng các diễn đàn và dư luận quốc tế để gây sức ép với các nhà mạng chưa tuân thủ luật pháp và bản sắc văn hóa của Việt Nam. Căn cứ vào mức độ vi phạm, quy trình, thủ tục pháp lý để đấu tranh với tổ chức, cá nhân sáng tác, lan truyền các quan điểm sai trái, thù địch chống phá Việt Nam một cách kiên quyết và không khéo. Kiên quyết  xử lý hành chính và hình sự các hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng trong nước, nhất là các đối tượng cầm đầu, quá khích, kết hợp với chủ động cung cấp thông tin, tăng cường giải thích, đối thoại, tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắt của nhân dân.

Phương diện quốc tế, tổ chức nhiều hội thảo, tọa đàm khoa học quốc tế, viết bài đăng trên các tạp chí khoa học uy tín, xuất bản sách, báo ngoại văn, phát biểu của lãnh đạo trên các diễn đàn quốc tế, hoạt động ngoại giao chính trị.. để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Phải huy động các nhà khoa học, lý luận chính sách hàng đầu thông qua cơ chế khuyến khích hay đặt hàng. Sản phẩm đấu tranh phải có hàm lượng chất xám cao, khoa học, chặt chẽ, trình bày theo thể thức khoa học, đúng theo các thông lệ quốc tế mà Việt nam tham gia ký kết.

Trong nước, chỉ đạo các phương tiện truyền thông mở các chương trình, chuyên mục, diễn đàn, cuộc thi,… để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Huy động lực lượng báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp, trí thức, văn nghệ sĩ tham gia viết bài, sáng tác các tác phẩm văn học, nghệ thuật để đấu tranh. Mở các diễn đàn, hội nhóm, lập các tài khoản công khai và ẩn danh trên mạng xã hội để tạo ra lực lượng đông đảo chiếm ưu thế trên không gian mạng. Một mặt, tiến hành đấu tranh công khai, trực diện, liên tục trên báo chí chính thống để định hướng dư luận xã hội. Mặt khác, tạo mặt trận, liên kết nhóm, huy động lực lượng “share, comment, like,..” để lan tỏa thông tin tích cực. Xây dựng  ngân hàng comemnt, hình ảnh, video clip về các nội dung mà các thế lực thù địch đang chống phá để giành thế chủ động trong đấu tranh. Bên cạnh đó, cần tạo dựng các nhân vật nổi tiếng/người ảnh hưởng (KOLs, Youtubers, Vlogers) gồm các chính khách, nhà tư tưởng, truyền thông có khả năng thu hút được hàng triệu người nghe, xem, bình luận, chia sẻ.

Ứng dụng kỹ thuật số, trí tuệ nhân tạo trong giám sát thông tin, kịp thời phát hiện ra các quan điểm sai trái, thù địch khi xuất hiện trên không gian mạng. Tiến hành các biện pháp để pha loãng thông tin, giảm uy tín nguồn tin, bóc gỡ, chuyển hướng thông tin xấu độc ra bên ngoài lãnh thổ Việt Nam. Sử dụng các biện pháp nghiệp vụ kiểm soát các trang mạng độc hại, ngăn chặn quyền truy cập của người dùng vào các thông tin xấu độc. Nghiên cứu, xây dựng các mạng xã hội nội bộ để trao đổi thông tin và liên kết đấu tranh. Phát huy tác dụng các phần mềm làm video, chỉnh sửa ảnh, trình chiếu để tăng hiệu quả các sản phẩm truyền thông và sử dụng các kỹ thuật công nghệ để đánh giá tầng xuất xuất hiện, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các thông tin xấu độc, đo đếm số người like, share, comment thông tin tích cực để đánh giá tác dụng, hiệu quả đấu tranh và biểu dương, khen thưởng kịp thời.

LHQ-ST

Nghệ thuật quân sự toàn dân đánh giặc của dân tộc Việt Nam

 Dân tộc ta vốn có truyền thống đoàn kết chiến đấu chống ngoại xâm và đã sáng tạo ra một nghệ thuật quân sự của toàn dân đánh giặc rất phong phú và độc đáo. Ngày nay, Ðảng ta đề ra đường lối tiến hành chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Xuất phát từ đường lối đó, nghệ thuật quân sự của ta trước hết là nghệ thuật quân sự của toàn dân đánh giặc. Ðó cũng là sự kế thừa và phát huy lên một trình độ mới nghệ thuật quân sự truyền thống của dân tộc.

 Nghệ thuật quân sự của toàn dân đánh giặc của ta là nghệ thuật chỉ đạo hoạt động quân sự của lực lượng vũ trang, đồng thời chỉ đạo hoạt động quân sự của nhân dân cầm vũ khí đứng lên đánh địch, kết hợp chặt chẽ quân sự với chính trị, tác chiến với binh vận, kết hợp tiêu diệt địch và phát động quần chúng giành quyền làm chủ.

Trong chiến tranh nhân dân ở nước ta, không phải chỉ có lực lượng vũ trang mà còn có đông đảo quần chúng nhân dân cầm vũ khí đánh giặc. Cho nên nghệ thuật quân sự của ta không những chỉ đạo hoạt động quân sự của các lực lượng vũ trang mà còn phải chỉ đạo hoạt động quân sự của đông đảo quần chúng nhân dân tham gia đánh giặc với mọi thứ vũ khí có trong tay. Ðó là một đặc điểm quan trọng của nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Trong khởi nghĩa vũ trang ở nước ta, từ khởi nghĩa từng phần cho đến tổng khởi nghĩa, đều có lực lượng vũ trang cách mạng tham gia, nhưng lực lượng chủ yếu quyết định thắng lợi là lực lượng của đông đảo quần chúng cầm vũ khí đứng lên lật đổ chính quyền của địch. Cho nên nghệ thuật quân sự trong khởi nghĩa vũ trang của ta chủ yếu là nghệ thuật chỉ đạo hoạt động quân sự của quần chúng lâm thời vũ trang, đồng thời chỉ đạo hoạt động tác chiến của các lực lượng vũ trang phát triển đến một trình độ nhất định.

Các cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc ở nước ta thường bắt đầu trong điều kiện nhân dân ta mới có một lực lượng vũ trang còn nhỏ bé. Bởi vậy, hình thức phổ biến và quyết định lúc đầu là nổi dậy của quần chúng vũ trang, trước hết ở những nơi quân thù sơ hở. Về sau, quân địch càng tăng cường lực lượng vũ trang để phản công trở lại, lực lượng vũ trang ta cũng ngày một trưởng thành, thì vai trò tác chiến của lực lượng vũ trang cũng ngày càng quan trọng. Do đó trong chiến tranh giải phóng, nghệ thuật quân sự của ta chủ yếu là nghệ thuật chỉ đạo tác chiến của lực lượng vũ trang được phát triển ngày càng cao và ngày càng hoàn chỉnh. Ðồng thời, đó cũng là nghệ thuật chỉ đạo hoạt động quân sự ngày càng phát triển của đông đảo quần chúng lâm thời cầm vũ khí đánh giặc trong suốt quá trình chiến tranh.

Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, do lúc chiến tranh bắt đầu, ta đã có lực lượng vũ trang được xây dựng từ trong thời bình, nên hình thức nổi lên lúc đầu là tác chiến của lực lượng vũ trang để tiêu diệt quân xâm lược, bảo vệ chính quyền, bảo vệ đất đai của Tổ quốc. Trong trường hợp quân địch vào sâu trong đất nước ta, mở rộng phạm vi chiếm đóng ra nhiều nơi và lập nên chính quyền của chúng ở đấy, như tình hình đã xảy ra trong cuộc kháng chiến chống Pháp trước đây, thì bên cạnh hình thức tác chiến của lực lượng vũ trang, còn có hình thức vũ trang nổi dậy của đông đảo quần chúng ở vùng địch tạm chiếm để khôi phục lại quyền làm chủ của mình. Do đó, trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nghệ thuật quân sự của toàn dân đánh giặc là nghệ thuật chỉ đạo tác chiến của lực lượng vũ trang phát triển ở trình độ cao ngay từ đầu, đồng thời vẫn chỉ đạo hoạt động quân sự của đông đảo quần chúng cầm vũ khí đánh giặc.

Quán triệt yêu cầu chỉ đạo nói trên, nghệ thuật quân sự của ta trước hết phải xác định đúng đắn nhiệm vụ của lực lượng vũ trang và của đấu tranh vũ trang trong chiến tranh toàn dân, toàn diện. Ði đôi với việc tiêu diệt lực lượng quân sự của địch, các lực lượng vũ trang phải luôn luôn chú ý tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển cơ sở chính trị đẩy mạnh đấu tranh chính trị của quần chúng, đẩy mạnh công tác binh vận, tạo điều kiện cho quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ. Mặt khác, phải ra sức tận dụng thắng lợi của đấu tranh chính trị của công tác binh vận, của các cuộc khởi nghĩa của quần chúng để phát triển tiến công quân sự, tiêu diệt địch được nhiều hơn.

Chính vì vậy, kết hợp quân sự với chính trị, tác chiến với binh vận, tác chiến với nổi dậy, kết hợp tiêu diệt lực lượng quân sự địch với phát động quần chúng giành quyền làm chủ từ lâu đã trở thành những nguyên tắc trong nghệ thuật quân sự của toàn dân đánh giặc ở nước ta.

Nguyên tắc đó phải được thể hiện cụ thể trong việc xác định phương hướng, mục tiêu, đối tượng và thời cơ tiến công, v.v. trong kế hoạch chiến lược, chiến dịch cũng như chiến đấu.

LHQ-ST

Đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hiệp quốc của QĐND Việt Nam

 

Tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc (LHQ) của Quân đội nhân dân Việt Nam là thực hiện sứ mệnh quốc tế cao cả, thể hiện vai trò, trách nhiệm của nước ta với thế giới. Hình ảnh quân nhân “Mũ nồi xanh” Việt Nam hoạt động gìn giữ hòa bình tại châu Phi đã nâng cao vị thế của Quân đội ta trong hội nhập quốc tế, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động lại có những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận tinh thần nghĩa vụ quốc tế cao cả của Quân đội nhân dân Việt Nam. Vì thế, chúng ta cần nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái đó.

Hoạt động GGHB LHQ của quân đội là trụ cột của đối ngoại quốc phòng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đường lối đối ngoại của chúng ta là kế thừa truyền thống yêu chuộng hòa bình của dân tộc, được đúc kết trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, kết hợp với vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh. Nhờ thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng, Nhà nước, công tác đối ngoại quốc phòng, hội nhập quốc tế và đặc biệt là những thành công của QĐND Việt Nam khi tham gia lực lượng GGHB LHQ, góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, nâng cao uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Tuy nhiên, điều đó lại đang cản trở âm mưu của các thế lực phản động, cơ hội chính trị, khiến chúng điên cuồng tìm cách chống phá cách mạng nước ta. Vì, mục đích sâu xa trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động đối với nước ta vẫn là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và cuối cùng là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, lái nước ta đi theo con đường lệ thuộc.

Hiện nay, việc tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo sự thật về đường lối đối ngoại quốc phòng và hoạt động GGHB LHQ của QĐND Việt Nam cũng là mục tiêu để các thế lực thù địch trong nước và ngoài nước tập trung chống phá. Âm mưu của chúng là nhằm hạ thấp uy tín, vị thế của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta, tạo dư luận xấu với bè bạn quốc tế. Họ đã lợi dụng các tổ chức quốc tế để gây áp lực, cô lập, ngăn cản Việt Nam tham gia vào các diễn đàn thế giới, nhất là khi Đại Hội đồng LHQ họp để bỏ phiếu thông qua một nghị quyết nào đó, khi mà Việt Nam thực hiện quyền, nghĩa vụ và sự độc lập, tự chủ của mình thông qua lá phiếu thì họ lại cho rằng Việt Nam không đứng về số đông mà lại chọn phe,v.v. Các tổ chức phản động sử dụng các trang mạng xã hội để phát tán tài liệu, đăng tải các bài viết có nội dung kích động lòng thù hằn dân tộc, đăng tải những vấn đề chưa được giải quyết kịp thời trong quan hệ quốc phòng cũng như quan hệ giữa nước ta với các nước trong khu vực, núp dưới cái bóng của những “Nhà dân chủ, người yêu nước chân chính…” để xuyên tạc, bóp méo sự thật.

Có những ý kiến cho rằng: tham gia lực lượng GGHB LHQ chỉ là để đánh bóng, gây tốn kém ngân sách nhà nước, rủi ro cho những người lính trực tiếp đi làm nhiệm vụ, v.v. Với thái độ cực đoan và những luận điểm xuyên tạc, các thế lực phản động đã vu khống trắng trợn là Đảng, Nhà nước, không lo việc bảo vệ chủ quyền mà lại đưa Quân đội ra nước ngoài để tham gia hoạt động GGHB là việc làm không cần thiết vì không đem lại lợi ích gì cho đất nước. Có ý kiến rất thâm độc, đã xuyên tạc rằng: Nước ta đưa Quân đội tham gia lực lượng GGHB LHQ là tham gia liên minh quân sự, đi xâm lược, chiếm đóng nước khác.

Trên phương diện quốc phòng, an ninh, khi chúng ta tham gia lực lượng GGHB LHQ chính là trực tiếp làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giúp chúng ta hiểu thêm về tác chiến trong thời đại chiến tranh công nghệ cao. Hoạt động GGHB cũng sẽ góp phần tích cực vào quá trình hiện đại hóa vũ khí, trang bị và nâng cao khả năng tác chiến của Quân đội ta; đồng thời tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế trong bảo vệ chủ quyền biển đảo và các lợi ích khác của dân tộc. Khi Quân đội tham gia lực lượng GGHB LHQ thì những nguyên tắc cơ bản trong chiến lược quốc phòng chúng ta vẫn luôn đảm bảo. Chính sách quốc phòng của nước ta đã khẳng định rõ: “Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”; đây là nguyên tắc bất biến trong chính sách đối ngoại quốc phòng của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy, những luận điệu xuyên tạc, vu cáo Việt Nam đưa Quân đội tham gia lực lượng GGHB LHQ là đang tham gia vào liên minh quân sự để xâm lược, chiếm đóng nước khác là cách nhìn hoàn toàn sai trai, thiển cận và bịa đặt.

Đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ đường lối đối ngoại quốc phòng và hoạt động GGHB LHQ của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta là một nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài và quyết liệt trên mặt trận lý luận và thực tiễn. Dẫu biết rằng có khó khăn, phức tạp nhưng với quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thì nền tảng tư tưởng của Đảng sẽ được bảo vệ vững chắc. Hoạt động GGHB LHQ sẽ góp phần vào sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

Cảnh giác với các thủ đoạn chống phá trên không gian mạng

         

        Lợi dụng không gian mạng, các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Mục tiêu xuyên suốt của chúng là tuyên truyền chống phá, lôi kéo kêu gọi tụ tập, biểu tình, bạo loạn, gây rối trật tự công cộng, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” phá hoại sự ổn định phát triển đất nước. Hầu hết các tổ chức phản động đều xây dựng tài khoản mạng xã hội tổ chức thành hệ thống các kênh truyền thông chống phá khá chặt chẽ, bài bản; trung bình mỗi tháng có hàng chục nghìn bài viết, video trên internet, mạng xã hội có nội dung liên quan đến Việt Nam, trong đó tỷ lệ không nhỏ các bài viết, video có nội dung xuyên tạc, chống phá cách mạng nước ta...

Nội dung chống phá cơ bản vẫn tập trung vào: Xuyên tạc phá hoại nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây mâu thuẫn nội bộ, công kích, bôi nhọ và hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước,... Kích động hoạt động chống phá của số đối tượng chống đối chỉ trích Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền và “tự do Internet”, khuyến khích các đối tượng này chống phá quyết liệt hơn bằng cách trao các giải thưởng, đề cử vinh danh hay đưa Việt Nam vào danh sách “kẻ thù của Internet”, vi phạm tự do dân chủ, nhân quyền.

Thủ đoạn chống phá: Sử dụng tài khoản mạng xã hội có tương tác lớn hoặc tổ chức các chiến dịch truyền thông phát tán thông tin. Đăng tải tài liệu, thông tin, bình luận hướng dư luận nhìn nhận theo quan điểm sai lệch; dẫn nguồn thông tin từ báo chí chính thống, pha trộn thông tin thật-giả, xuyên tạc tình hình chính trị trong nước. Tiến hành xây dựng nhiều kênh thông tin trên các nền tảng xuyên biên giới có sự liên kết với nhau; đặc biệt phát triển các kênh truyền thông bằng tiếng dân tộc thiểu số (Mông, Khơ me…) hướng tới đối tượng tuyên truyền là đồng bào dân tộc thiểu số. Cổ súy tư tưởng chống phá, định kiến của một số người có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; phát tán, giật tít các bài viết của các đối tượng này lên Internet, mạng xã hội.

Lợi dụng chính sách của mạng xã hội, thành lập hàng nghìn hội nhóm tổ chức chính trị phản động, trong đó bao gồm cả hội nhóm công khai, bí mật với số lượng thành viên tham gia lớn, lôi kéo, thu hút, mời chào thành viên tham gia, hoạt động có đường hướng, tôn chỉ, mục đích cụ thể. Tạo lập các trang mạng, tài khoản mạng xã hội giả mạo các cơ quan của nhà nước, các đồng chí lãnh đạo, các cá nhân có ảnh hưởng... để đăng tải thông tin phản động; xuyên tạc, lợi dụng sự hiếu kỳ của người dân và sự thiếu hiểu biết của một bộ phận người dân để kích động cộng đồng mạng tham gia phát tán thông tin xấu độc...

Trước tình hình diễn biến trên không gian mạng ngày càng phức tạp cùng với các hoạt động chống phá có tổ chức, xây dựng và lên kế hoạch tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị, mỗi người dân cần hết sức tỉnh táo, nhận diện đúng và cùng có trách nhiệm tham gia đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu thâm độc của bọn phản động./.

Góc nhà phải có nóc

 

        Chắc không ai nhắc đến thì chúng ta sẽ mau quên đi cái tên Bạch Hồng Quyền, kẻ cầm đầu, kích động các vụ biểu tình, đập phá trái pháp luật trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh những năm 2017. Sau những ngày trốn chui, trốn lủi bên Thái Lan, Hồng Quyền đã xin được tỵ nạn ở bên Canada, hoàn thành ước mơ của mình. Từ đó, cái tên Bạch Hồng Quyền cũng ít người nhắc đến hơn.

Nhưng trớ trêu thay, mấy nay cư dân mạng nhắc đến Quyền là nhắc đến hoàn cảnh trớ trêu đến đáng xấu hổ. Mạng xã hội từng là công cụ để Quyền sử dụng con bài đấu tranh “dân chủ, nhân quyền” để chống phá đất nước thì giờ đây trở thành chỗ kêu than của y vì bị vợ bảo hành, cho ăn nguyên một cái cán chổi. Theo như lời Quyền thì hành vi bạo hành này xuất hiện khi vợ chồng nhà này đoàn tụ bên Canada. Có lẽ, người vợ đã hấp thụ được tư tưởng “nhân quyền” của Quyền truyền bá, nhất là khi được mục sở thị nó trên đất Tây nên sẵn sàng cho nhà bay mất nóc.

Có quê mà phải bỏ xứ, có nhà mà như không có gia đình là tình cảnh của nhiều nhà rân chủ may mắn được xuất khẩu sang phương Tây. Những Bùi Kim Thành, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Khải Thanh Thủy, Tạ Phong Tần… giờ đến Bạch Hồng Quyền như tấm gương cho các nhà rân chủ trong nước thấy rõ. Tất cả các đối tượng này chỉ có giá trị lợi dụng khi chúng ở trong nước, còn khi ra nước ngoài thì mạnh ai người đó bươn ra mà kiếm sống, thời gian đâu để nói đạo lý nữa đâu. Cũng buồn cho Quyền, giờ này đang lẩm bẩm câu: “nhà phải có nóc” mà quệt nước mắt. Âu kiếp này coi như bỏ!./.

Đặng Hữu Nam- kẻ lạc loài- đang quay lưng với Tổ quốc và giáo hội hoàn vũ

 

        Ngày 02/9, khi mọi nhà đang hân hoan chào mừng ngày Lễ Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đặng Hữu Nam lại đăng đàn nói xấu hành động treo cờ Tổ quốc của những người Công giáo. Sự việc này, ít thấy người dân Việt Nam nào ủng hộ bài viết này mà chủ yếu là đám “ba que” hải ngoại nhảy vào bình luận, chia sẻ, ra vẻ hả hê. Việc treo cờ Tổ quốc tại các cơ sở tôn giáo, khu dân cư vùng giáo nhân dịp Quốc khánh 2/9 là thể hiện lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc của mỗi người dân Việt Nam không phân biệt tôn giáo nào. Người Công giáo hay bất cứ người theo tôn giáo hoặc không theo tôn giáo nào đã là công dân Việt Nam thì đều là một bộ phận không thể tách rời trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Dân tộc Việt Nam với lòng nồng nàn yêu nước, trải qua hàng ngàn năm văn hiến đã đánh bại biết bao kẻ thù xâm lược sừng sỏ để giữ vững nền độc lập cho đến ngày nay. Việc công dân Việt Nam nói chung, đồng bào Công giáo nói riêng treo cờ Tổ quốc chính là thể hiện lòng yêu Tổ quốc, sự tự hào dân tộc, khẳng định chủ quyền lãnh thổ của đất nước và quốc tịch của bản thân mình; thể hiện tinh thần đoàn kết, chung sức, chung lòng phấn đấu xây dựng quê hương Việt nam ngày càng giàu đẹp.

Trong ngày Quốc khánh Việt Nam 02/9/2023, lá cờ đỏ sao vàng còn tung bay ở Tòa Thị chính San Francisco (Tiểu bang California, Hoa Kỳ). Và tất nhiên, giáo hội Công giáo hoàn toàn ủng hộ điều này. Đức Giáo hoàng Benedict XVI đã từng nói: “người Công giáo tốt cũng là người công dân tốt” (Huấn từ gửi Giáo hội Công giáo Việt Nam năm 2009). Hay lời của Đức giáo hoàng Phanxicô: “Các con hãy là những người Việt Nam đích thực, với tình yêu Tổ quốc” (Sứ điệp gửi Giới trẻ Công giáo Việt Nam năm 2019). Đặng Hữu Nam đang ngày càng bộc lộ rõ tư tưởng của một kẻ lạc loài, lạc đạo, đang tự nhục với dòng máu người Việt đang chảy trong cơ thể của Nam, không xứng đáng là con dân nước Việt Nam và là kẻ Giuda phản Chúa, đang làm xấu đi hình ảnh người Công giáo Việt Nam và gây nguy hại cho Giáo hội hoàn vũ.

Nhân dân Việt Nam không bao giờ dung thứ cho những kẻ vô ơn, “bán nước cầu vinh”. Giáo hội Công giáo Việt Nam cần mạnh tay hơn với kẻ Giuda phản Chúa, lại đang lợi dụng áo “chùng thâm” để phá hoại giáo hội. Thời gian vẫn trôi, nhưng hành vi của Nam không thể để tiếp diễn. Tỉnh Nghệ An và Giáo hội Công giáo Việt Nam cần sớm có biện pháp mạnh hơn đối với kẻ lạc loài như Đặng Hữu Nam./.

Lịch sử và nguồn ngốc cũng như hoạt động của Vịt Tân thì ai cũng biết, có thêm cả luật sư mõm

 Ngày 10/9/1982, tại căn cứ ở nước ngoài, Hoàng Cơ Minh đã tổ chức "đại hội" lập ra cái gọi là "Việt Nam canh tân cách mạng đảng" làm cơ quan đầu não, chỉ huy mọi hoạt động của "Mặt trận", thành viên trong Ban chấp hành trung ương "Việt Tân" cũng đồng thời là thành viên Ban lãnh đạo "Mặt trận".

Từ năm 1982 đến năm 1989, "Việt Tân" đã đưa hàng chục tên trong lực lượng chúng gọi là kháng quản về các tỉnh phía nam để xây dựng cơ sở trong nước; tiếp đó chúng liên tục đưa các toán vũ trang mang tên "Ðông Tiến 1", "Ðông Tiến 2", "Ðông Tiến 3" xâm nhập Việt Nam qua đường Lào, Campuchia để lập mật cứ, tiến hành các hoạt động bạo loạn, khủng bố, âm mưu cướp chính quyền ở một số vùng chiến lược của Việt Nam. Ta đã phối hợp với bạn Lào bao vây, truy kích, tiêu diệt và bắt sống hàng trăm tên, thu nhiều vũ khí, tài liệu phản động...

Ở ngoài nước, "Việt Tân" triển khai "chiến dịch cờ vàng" nhằm hâm nóng tinh thần chống Việt Nam trong bọn phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài, để tập hợp lực lượng, tạo thanh thế và thực hiện các âm mưu, ý đồ chống Việt Nam. Tháng 10/2005, "Việt Tân" cùng với các tổ chức "Ðảng nhân dân hành động" của Nguyễn Sỹ Bình, "Ðảng dân tộc" của Nguyễn Hữu Chánh thành lập cái gọi là "Hội đồng cách mạng cứu quốc" do Nguyễn Khánh làm chủ tịch.

Với bản chất côn đồ, manh động, bọn cầm đầu "Việt Tân" tiếp tục chủ trương tiến hành các hoạt động khủng bố, phá hoại trong nội địa nước ta. Công an ta phát hiện "Việt Tân" chỉ đạo một số đối tượng trong nước lập lực lượng vũ trang bí mật, thuê lưu manh, tội phạm hình sự ám sát cán bộ ta, sau đó thủ tiêu số này để bịt đầu mối.

Lợi dụng chính sách mở cửa về kinh tế, mở rộng dân chủ của Ðảng và Nhà nước ta, Việt Tân đang âm mưu đẩy mạnh các hoạt động: Tìm cách lợi dụng một số tổ chức phi chính phủ ở nước ngoài để tạo vỏ bọc, đưa lực lượng thâm nhập về Việt Nam hoạt động.

Tăng cường tác động, lôi kéo học sinh, công nhân Việt Nam đang học tập, lao động ở nước ngoài. Lựa chọn trong số những đối tượng phản động, cực đoan trong nước để xây dựng thành lãnh đạo cấp cao của tổ chức, sử dụng số này như "những con thiêu thân" bằng cách đẩy số này ra hoạt động chống chính quyền.

Chỉ đạo số cơ sở ngầm của chúng ở trong nước kích động quần chúng nhân dân "đối đầu" với Nhà nước Việt Nam nhằm tạo ra làn sóng quần chúng khiếu kiện khắp nơi trong cả nước, đấu tranh cho quyền "tự do ngôn luận", "tự do lập hội" như "Hội nhà báo tự do", "Hội bảo vệ ký giả", "Nhóm ái hữu công nhân Việt Nam", "Hội dân oan", "Công đoàn độc lập"...

Với sự giúp sức của một số tổ chức ở nước ngoài và một số tên cầm đầu nhóm chống phá ở trong nước, chúng đã đưa hoặc định đưa một số đối tượng ra nước ngoài đào tạo thành nòng cốt cho việc hình thành các tổ chức phản động; thu thập tài liệu gửi các tổ chức NGO, báo chí nước ngoài lên tiếng gây áp lực, tố cáo Việt Nam vi phạm "dân chủ, nhân quyền".

Ráo riết chuẩn bị cho kế hoạch công khai hóa tổ chức "Việt Tân" ở trong nước năm 2007. Chúng cho rằng, năm 2007 là năm có thể xảy ra sự kiện có tính chất "bước ngoặt" ở Việt Nam do Việt Nam đã gia nhập WTO, bầu cử Quốc hội với khuynh hướng mở; mặc dù có một số cái gọi là nhóm đối lập đã tuyên bố thành lập ở trong nước, nhưng đều không có tiếng tăm, cho nên chúng coi đây là thời cơ để "Việt Tân" công khai hoạt động ở trong nước…

Âm mưu, thủ đoạn của bọn phản động điên cuồng và xảo quyệt như vậy, nhưng với tinh thần cảnh giác cách mạng, nhân dân và công an Việt Nam nói chung và Công an Tuyên Quang nói riêng đã tập trung lực lượng, chủ động phát hiện, đấu tranh, bóc gỡ toàn bộ cơ sở ngầm của bọn chúng ở trong nước, nhất là của cái gọi là đảng "Việt Tân"; ngăn chặn và đập tan mọi âm mưu, kế hoạch hoạt động khủng bố, phá hoại của chúng, giữ vững an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội./.

Giáo viên mà thế này thì “mất nước”

 

Thấy anh em đang chia sẻ bức ảnh này lên một vài nhóm trên facebook, chưa biết thực hư thế nào nhưng giáo viên mà như vậy thì mất nước đến nơi.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói rằng “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Điều này cho thấy tầm quan trọng của lịch sử đối với người dân và dân tộc. Mỗi người dân nước Việt cần hiểu rõ được lịch sử Việt Nam, bởi lẽ lịch sử là những gì thuộc về quá khứ nếu không có quá khứ sẽ không có hiện tại và tương lai. “Biết” quá khứ để rút ra bài học xương máu về giá trị con người, đạo đức, lối sống; thấu hiểu nỗi khổ của dân tộc và giá trị quý báu để có được như ngày hôm nay; có quyết tâm xây dựng, bảo vệ và kiến thiết nước nhà; phát huy được truyền thống quý báu và niềm tự hào dân tộc chính đáng của dân ta.

Có lẽ không học sử không phải là không yêu nước, nhưng không học sử thì đảm bảo sẽ không có lòng nồng nàng yêu nước, sẽ không có lòng tự hào dân tộc. Vì có biết gì đâu mà tự hào, biết gì đâu mà yêu nước.

Xin thưa rằng lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã phải trải qua biết bao thăng trầm. Các thế lực xâm lược nước ta đã dùng trăm phương, nghìn kế để xóa bỏ lịch sử và văn hóa dân tộc ta, hòng đồng hóa dân tộc nhưng chúng đều thất bại. Bởi vì chúng ta giữa được bản sắc riêng, giữ truyền thống dân tộc và chúng ta hiểu biết về lịch sử nước nhà.

Đặc biệt là giai đoạn hiện nay, khi mà mạng internet phủ sóng khắp mọi nơi, trong khi các đối tượng p.h.ả.n đ.ộ.n.g, chống đối, lưu vong đang tìm mọi cách để tuyên truyền, xuyên tạc, bôi đen, bóp méo lịch sử dân tộc, phủ nhận giá trị của những sự kiện, nhân vật lịch sử đích thực, anh hùng dân tộc trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng... thì việc giảng dạy, giữ gìn lịch sử quan trọng hơn bao giờ hết.

Vậy để lịch sử được truyền đạt hiệu quả cho các thế hệ sau thì cần có phương pháp, cách dạy phù hợp với từng lứa tuổi, từng đối tượng, từng giai đoạn./.

Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của báo chí trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam

 Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo, quản lý đối với báo chí trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Tăng cường quản lý và định hướng hoạt động của các cơ quan báo chí”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Các cơ quan truyền thông cần đăng tin, bài định hướng đúng đắn dư luận xã hội để thấy rõ những kết quả tích cực của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, cũng như những hạn chế, yếu kém, những khó khăn, phức tạp; khẳng định rõ quyết tâm của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị trong việc ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng. Khắc phục tình trạng thông tin một chiều, thông tin không chính xác, mang tính kích động, gây hoang mang hoặc quy kết về tội danh, mức án trước khi xét xử. Bảo vệ, khen thưởng, động viên những người làm báo tích cực, dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng; xử lý nghiêm khắc việc đưa tin sai sự thật, vu cáo, bịa đặt, gây hậu quả xấu. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và các cơ quan chức năng phải chủ động cung cấp một cách kịp thời, đúng pháp luật cho các cơ quan báo chí những thông tin có liên quan đến tham nhũng”.

Xây dựng nền báo chí chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại, nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp của đội ngũ phóng viên, biên tập viên, phục vụ công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam. Đồng thời, kiên quyết “xử lý nghiêm theo quy định Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với các cơ quan báo chí, phóng viên đăng tải thông tin chưa được xác minh, kiểm chứng, không có cơ sở, căn cứ, gây ảnh hưởng không tốt đến dư luận xã hội”.

Thứ hai, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ phóng viên, biên tập viên. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “tập trung đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý báo chí, phóng viên, biên tập viên có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức trong sáng và tinh thông nghiệp vụ để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền”. Báo chí khi thông tin cần phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng sự thật, phản ánh đúng bản chất vấn đề. Khen ngợi, biểu dương cần đúng mực, không tô hồng, hoặc khi lên án, phê phán cũng không bôi đen.

Thứ ba, tiếp tục phát huy, cổ vũ, lan tỏa những mặt tích cực của báo chí, truyền thông trong đưa tin, bài về tham nhũng. Về vấn đề này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “tăng cường thông tin, tuyên truyền gương người tốt, việc tốt, đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, hành vi tham nhũng, tiêu cực; bảo vệ, khen thưởng, động viên những người làm báo dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực”.

Báo chí cần thực hiện tốt các nhiệm vụ: “chủ động, kịp thời cung cấp thông tin thiết yếu và tiếp nhận thông tin phản ánh của người dân trong đấu tranh phòng, chống suy thoái đạo đức, lối sống, các thông tin về tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tệ nạn xã hội; biểu dương nhân tố tích cực, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt”. “Kiên quyết đấu tranh loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục”.

Thực tế chứng minh “phòng, chống tiêu cực mà trọng tâm là phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, tức là trị tận gốc của tham nhũng”.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Một tờ báo có ảnh hưởng trong dân chúng rất mạnh”. Báo chí có nhiệm vụ quan trọng là phản ánh trung thực dòng chảy chính của xã hội, lan tỏa năng lượng tích cực, các kinh nghiệm tốt, tạo đồng thuận và niềm tin xã hội, khơi dậy khát vọng Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, tạo thành sức mạnh tinh thần để Việt Nam bứt phá vươn lên thành nước phát triển, thực hiện “Đôi cánh cho Việt Nam bay lên thì một bên là sức mạnh tinh thần, một bên là sức mạnh vật chất dựa trên công nghệ”./.

Báo chí tham gia giám sát việc thực thi pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

 Đánh giá vai trò của báo chí trong giám sát việc thực thi pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Các cơ quan thông tấn, báo chí đã tích cực vào cuộc, đồng hành cùng Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; vừa tuyên truyền, vừa tích cực đấu tranh, phát hiện tham nhũng, tiêu cực, vừa tích cực đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực xấu, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực”(6).

Cơ quan báo chí tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng; phối hợp với các cơ quan, cá nhân, tổ chức có thẩm quyền trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng; do đó, khi đưa tin, các cơ quan báo chí luôn bảo đảm tính chính xác, trung thực, khách quan cũng như thể hiện rõ trách nhiệm về những nội dung thông tin mà mình đã công bố. Báo chí cũng đã thể hiện rõ vai trò của mình trong việc tạo áp lực, tạo dư luận để các cơ quan, đơn vị chức năng thực hiện tốt nhiệm vụ từ điều tra, thanh tra, kiểm tra, giám sát, truy tố cũng như xét xử những hành vi tiêu cực, tham nhũng. Báo chí đã góp phần vào thực hiện nghiêm phương châm chỉ đạo: không có ngoại lệ, không có vùng cấm.

Báo chí, truyền thông đã phản ánh khách quan, đa chiều, công bằng về những vụ việc liên quan đến tham nhũng, thực hiện tốt sự chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng phải cổ vũ, động viên sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, huy động sức mạnh của toàn dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, “làm cho quần chúng khinh ghét tệ tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp” như Bác Hồ đã dạy”(7).

Để biểu dương, tôn vinh và khuyến khích, động viên các nhà báo, các cơ quan báo chí tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, Đảng, Nhà nước ta đã tổ chức nhiều giải báo chí phòng, chống tham nhũng, như Giải báo chí toàn quốc “Báo chí với công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí”, được tổ chức từ năm 2017 do Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam phối hợp tổ chức. Đến nay, đã tổ chức thành công 3 mùa giải, mỗi mùa giải, đều có trên 2.000 tác phẩm tham dự. Điều đó cho thấy sự quan tâm đặc biệt và trách nhiệm của nhà báo trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực./.

Báo chí, truyền thông tham gia phát hiện các vụ tham nhũng, tiêu cực

 Tại Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện quy chế, chương trình phối hợp trong công tác thông tin, tuyên truyền về nội chính và phòng, chống tham nhũng giữa các cơ quan: Ban Nội chính Trung ương, Báo Nhân Dân, Ðài Truyền hình Việt Nam, Ðài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam được tổ chức vào cuối năm 2021, đồng chí Phan Ðình Trạc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Ðảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã nêu rõ: trong thời gian qua, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam đã có những bước đột phá rất quan trọng nhờ sự hoạt động tích cực của các báo nói chung cũng như sự phối hợp của các cơ quan báo chí nói riêng. Các cơ quan báo chí đã thực hiện tốt vai trò xung kích, đi đầu trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, bảo vệ quyền lợi của đất nước và nhân dân; là tai mắt của Ðảng, là cầu nối giữa Ðảng với nhân dân trong công cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay.

Các cơ quan báo chí đã đồng hành cùng nhân dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng bằng nhiều hình thức, cách làm, trong đó đáng chú ý là: báo chí phát hiện nhiều vụ việc liên quan đến tham nhũng, sau khi nghiên cứu, thu thập thông tin, điều tra kỹ lưỡng, các cơ quan báo chí, truyền thông đưa tin, sau đó các cơ quan chức năng vào cuộc điều tra, làm rõ sự việc.

Bằng biện pháp nghiệp vụ báo chí, các cơ quan báo chí sử dụng nhiều kênh thông tin để phát hiện những vụ việc tham nhũng, tiêu cực như: thông tin từ bạn đọc gửi đến các phóng viên, cơ quan báo chí; tiếp nhận những thông tin, phản ánh, tố giác của người dân; cơ quan báo chí điều tra, xác minh, chuyển các chứng cứ đến cơ quan công luận cũng như cơ quan tư pháp. Các cơ quan báo chí đã thực hiện các biện pháp điều tra đặc thù của nghiệp vụ báo chí phát hiện những dấu hiệu tham nhũng, tiêu cực./.

Báo chí tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

 Công tác thông tin tuyên truyền và vận động nhân dân tham gia phòng, chống tham nhũng hiện nay có ý nghĩa hết sức quan trọng đến việc hình thành, phát triển ý thức pháp luật cũng như việc tuân thủ pháp luật.

Hiện nay, báo chí có nhiều hình thức, cách thức tham gia công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng: (1) xuất bản các tác phẩm báo chí về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; (2) đưa tin về những vụ việc tham nhũng, tiêu cực; (3) xuất bản các báo lý luận và thực tiễn về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; (4) sản xuất, phát hành những phim ảnh có nội dung về phòng, chống tham nhũng; (5) đưa các thông tin về hội thảo khoa học, tọa đàm của các chuyên gia, nhà quản lý về công tác phòng, chống tham nhũng; 6) mở các chuyên mục giáo dục và đào tạo về phòng, chống tham nhũng trên báo chí, các cuộc thi tìm hiểu nội dung về phòng, chống tham nhũng; (7) đưa tin về xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật trong việc phòng, chống tham nhũng...

Các cơ quan báo chí đã tập trung tuyên truyền quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng; các nội dung về xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, tiêu cực trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; thực hiện nghiêm quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp, trọng liêm sỉ, danh dự; phê phán, lên án, đấu tranh với các hành vi tham nhũng, tiêu cực. Tuyên truyền các nội dung liên quan đến việc hoàn thiện thể chế phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực trong các lĩnh vực, hoạt động dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực; trách nhiệm người đứng đầu, trách nhiệm giải trình, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch. Tuyên truyền các quy định và chế tài xử lý đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực; cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý...

Qua đó, báo chí đã góp phần nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân về đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được tăng cường và có nhiều đổi mới; sự giám sát của các cơ quan dân cử; vai trò của Mặt trận Tổ quốc, của nhân dân và báo chí, truyền thông trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được phát huy tốt hơn”...

Như vậy, báo chí có vai trò quan trọng trong việc tạo ra các diễn đàn để nhân dân thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình, phản ánh những ý kiến, kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền để sửa đổi những bất cập về chính sách, pháp luật cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống.

Tất cả những phương thức, cách làm đó của báo chí là nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu rõ: “Sức mạnh và động lực to lớn của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là sự đồng tình, ủng hộ, hưởng ứng, tham gia tích cực của nhân dân và cả hệ thống chính trị, báo chí”./.

Đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí hệ thống các cơ quan báo chí của Việt Nam


         Theo thống kê, tính đến năm 2016, cả nước có 857 cơ quan báo chí, gồm: 199 cơ quan báo chí in, 658 tạp chí (trong đó có 105 báo, tạp chí điện tử); 01 hãng thông tấn quốc gia; 67 cơ quan phát thanh truyền hình. Hầu hết các bộ, ban, ngành, đoàn thể chính trị, xã hội đều có báo, tạp chí hoặc trang thông tin, báo điện tử. Báo chí thực sự trở thành cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; một kênh thông tin quan trọng tạo ra sự đồng thuận xã hội, thúc đẩy công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Hơn thế nữa, báo chí còn là phương tiện để người dân kiểm tra, giám sát thực thi pháp luật và đóng góp ý kiến phản biện đối với các chính sách, pháp luật của Nhà nước; là công cụ bảo vệ lợi ích xã hội, quyền và lợi ích chính đáng của người dân. Đó là minh chứng sinh động cho việc bảo đảm quyền tự do báo chí ở Việt Nam, phản bác luận điệu vu cáo Nhà nước Việt Nam “bóp nghẹt” quyền tự do báo chí của nhân dân. Trong khi đó, quyền tự do ngôn luận báo chí ở các nước nói chung, ở Hoa Kỳ nói riêng cũng bị hạn chế, báo chí không được “vu cáo, nhục mạ, tục tằn và vô đạo đức”; “không được tuyên truyền và xúi giục bạo động gây xáo trộn sự an bình xã hội, nhất là những ngôn ngữ đó có phương hại đến nền an ninh quốc gia”.

Ở Việt Nam, thời gian qua, bên cạnh việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, Nhà nước Việt Nam đã tập trung xử lý các đối tượng lợi dụng phương tiện này để phục vụ cho mưu đồ chống phá, vi phạm quyền và lợi ích của Nhà nước và công dân theo pháp luật Việt Nam, điều này hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế.

Đối với nhiệm vụ chống tham nhũng, Đảng, Nhà nước ta luôn xem báo chí là một lực lượng chính trị quan trọng. Thông qua báo chí, đấu tranh với tệ tham nhũng, đưa ra công luận những vụ việc, cán bộ có hành vi tham nhũng. Đồng thời, phân tích làm rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan, những nguyên nhân từ các quy định trong chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần diệt trừ tận gốc tệ nạn này.

Để bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, chúng ta cần:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với báo chí, truyền thông và công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí chống phá Việt Nam. Đồng thời, giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện đối với cả hệ thống chính trị, trong đó có các cơ quan báo chí, truyền thông, ở cả bốn khâu: Định hướng phát triển; định hướng nội dung; công tác cán bộ; công tác kiểm tra, kiểm soát. Đặc biệt coi trọng công tác rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ quản lý báo chí; thực hiện nghiêm các quy định về bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, lãnh đạo các cơ quan báo chí, truyền thông.

Hai là, hoàn thiện hệ thống pháp luật về báo chí, truyền thông, quản lý internet, mạng xã hội; tăng cường cơ chế phối hợp giữa Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan chức năng trong công tác chỉ đạo, quản lý trên lĩnh vực này. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các quy định đạo đức nghề nghiệp; các chế tài xử lý vi phạm đủ mạnh để ngăn ngừa, răn đe những biểu hiện vi phạm. Biện pháp căn bản là quán triệt, tuyên truyền từ người xem, người nghe, người đọc, nhẹ dạ cả tin, không nghe, không tin những tin bài đó.

Ba là, mỗi nhà báo cần không ngừng học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, tự giác học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, đạo đức cách mạng, thực hiện tốt Luật Báo chí và các quy định của pháp luật trên lĩnh vực báo chí; hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích vì lợi ích của đất nước, của nhân dân, góp phần nâng cao uy tín, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Bốn là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trên lĩnh vực báo chí, truyền thông. Qua đó, chủ động phát hiện những hành vi sai phạm, xu hướng lệch lạc ở các cơ quan báo chí và đội ngũ phóng viên, nhà báo để có các biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời, nghiêm minh. Đặc biệt, qua công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện và kiên quyết đưa ra khỏi vị trí lãnh đạo, quản lý đối với những người không đủ bản lĩnh chính trị, năng lực chuyên môn, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền chính sách, thành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt Nam; kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền đối nội và đối ngoại, qua nhiều kênh và nhiều hình thức tuyên truyền đa dạng, phong phú làm cho cộng đồng quốc tế, người Việt Nam ở nước ngoài hiểu đúng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thành tựu bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Qua đó, quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, góp phần đấu tranh hiệu quả các luận điệu vu cáo, xuyên tạc tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam.

Tự do ngôn luận báo chí đối với các chế độ xã hội và nhà nước là một điều kiện bảo đảm quyền con người. Hơn thế nữa còn là một điều kiện quan trọng để phát triển xã hội về các mặt, từ tư tưởng, chính trị đến kinh tế, xã hội và văn hóa. Một xã hội không có tự do ngôn luận, báo chí, như có người nói - đó là “một xã hội đã chết lâm sàng”. Tự do ngôn luận, báo chí của người dân Việt Nam đã được hiến định bảo đảm bằng một hệ thống pháp luật minh bạch. Mọi luận điệu xuyên tạc quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của Việt Nam cần phải bị bác bỏ, lên án./.

Cảnh giác với những thủ đoạn xuyên tạc quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam

 

Trong chiến lược chống phá Việt Nam hiện nay, các thế lực thù địch trong và ngoài nước tập trung vào chống phá Đảng, chế độ và hệ tư tưởng. Trong đó, tự do ngôn luận, báo chí đang là một mục tiêu xuyên tạc, bôi nhọ của chúng.

Gần đây, nhiều hãng thông tấn, báo chí nước ngoài và không ít trang web trong và ngoài nước rêu rao rằng: ở Việt Nam “Không có tự do ngôn luận, tự do báo chí”; “Việt Nam kiểm soát và bóp nghẹt quyền tự do báo chí, tự do internet”; Hà Nội “bắt bớ nhiều blogger”... Điển hình như: Báo cáo nhân quyền thế giới hàng năm của Anh, Úc; Nghị quyết của Nghị viện EU; Báo cáo thường niên, thông cáo báo chí của các tổ chức quốc tế; Báo cáo của tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF), của tổ chức Ủy ban bảo vệ nhà báo (CPJ)... Trong báo cáo năm nay, mặc dù không thể không thừa nhận Việt Nam đã có “tiến bộ về dân chủ, nhân quyền”, nhưng vẫn xuyên tạc tình hình, vu cáo Nhà nước vi phạm “tự do báo chí”, “đàn áp, bắt giữ trái phép các blogger”... Họ cố tình đưa ra những nhận định, đánh giá sai lệch, thiếu khách quan về tình hình tự do báo chí để vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền hòng hạ thấp uy tín nước ta trên trường quốc tế.

Những thủ đoạn, mưu đồ chống phá của chúng, trước hết là xuyên tạc khái niệm tự do báo chí; viện dẫn các quy định của luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam về tự do báo chí, nhưng cố tình lờ đi những quy định và điều khoản nghĩa vụ kèm theo rồi tán phát qua internet, mạng xã hội làm cho nhiều người hiểu lầm rằng “tự do báo chí” là một quyền tuyệt đối, không có bất cứ một hạn chế nào. Bằng nhiều hình thức khác nhau, các đối tượng còn tác động đến Quốc hội Mỹ và các nước phương Tây, các tổ chức quốc tế thông qua các dự luật, nghị quyết, báo cáo thường niên,... với nội dung xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do báo chí ở Việt Nam, vu cáo Việt Nam “vi phạm tự do ngôn luận, tự do báo chí”. Một số phần tử còn tác động vào các chính khách cực đoan trong Quốc hội Mỹ, Anh, Canađa,… tổ chức điều trần, hội thảo, xuyên tạc tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam nhằm tác động Liên hợp quốc ra nghị quyết bất lợi đối với nước ta. Trên lĩnh vực báo chí, một số đối tượng còn thành lập các câu lạc bộ, các diễn đàn trên mạng dưới chiêu bài “tự do ngôn luận, tự do báo chí” để tập hợp lực lượng, hình thành các tổ chức chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Luật Báo chí của Việt Nam (2016) quy định: Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; có nhiệm vụ, quyền hạn: tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân. Luật báo chí cũng có những quy định cấm báo chí không được đăng, phát thông tin chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền nhân dân; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân, chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền, lực lượng vũ trang; gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, xúc phạm niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế; đưa thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân, v.v.

Cho đến nay, hành lang pháp luật về báo chí của Nhà nước ta đã đầy đủ với tư duy mới về quyền con người, bảo đảm đầy đủ quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, bao gồm cả tự do internet, mạng xã hội./.