“Những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn Công binh 414 (nay là Lữ đoàn Công binh 414, Quân khu 4) đã lập nhiều chiến công. Trong thời bình, đơn vị luôn tiên phong vào những nơi hiểm nguy, gian khổ, liên tục tiến công, mở đường thắng lợi, xứng đáng với truyền thống Đoàn Hải Vân anh hùng...”, Đại tá Mai Văn Thanh, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Công binh 414 tự hào nói.
Để đáp ứng yêu cầu phát triển chiến đấu của lực lượng vũ trang (LLVT) tại chiến trường Trị-Thiên-Huế vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngày 15-5-1972, tại khe Vàng (ngã ba Tà Trạch) trên đường 73 thuộc địa phận xã Dương Hòa, huyện Hương Thủy (nay là thị xã Hương Thủy), tỉnh Thừa Thiên Huế, Bộ tư lệnh Quân khu Trị Thiên quyết định thành lập Trung đoàn Công binh 14 (sau đổi tên là Trung đoàn Công binh 414). Trong phiên họp đầu tiên, Đảng ủy Trung đoàn đề nghị cấp trên cho đơn vị lấy ngày 19-5 (sinh nhật Bác Hồ) làm ngày truyền thống và mang phiên hiệu Đoàn Hải Vân.
Với phương châm “Đánh địch để mở đường, mở đường để đánh địch”, “Đường chờ xe, quyết không để xe chờ đường”, từ tháng 5-1972 đến tháng 5-1975, đơn vị tổ chức sửa chữa hơn 500km đường cũ và mở thêm các tuyến đường mới như 73A, 73B, Bạch Mã, Mỏ Tàu để nối với tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh. Cùng với đó, đơn vị tham gia chiến đấu và bảo đảm giao thông vận tải, góp phần cơ động cho các đơn vị chủ lực tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, giành thắng lợi trong Chiến dịch Huế-Đà Nẵng vàChiến dịch Hồ Chí Minh mùa Xuân 1975.
Giữ vững truyền thống, noi gương các anh hùng liệt sĩ và thế hệ cha anh, cán bộ, chiến sĩ lữ đoàn đã đoàn kết, nỗ lực khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, nhiều nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc. Nhất là trong công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn. Khi chúng tôi nhắc tới cơn đại hồng thủy diễn ra ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh tháng 10-2002, Đại tá Đậu Trung Thông, nguyên Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Công binh 414 nhớ lại: “Thời điểm đó tôi là Thiếu tá, Phó tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 27 (nay là Tiểu đoàn 4) thuộc lữ đoàn.
Khoảng 11 giờ đêm 14-10-2002, tôi nhận được lệnh của cấp trên giao nhiệm vụ cùng với Trung tá Nguyễn Đình Oanh, Phó tiểu đoàn trưởng về Chính trị Tiểu đoàn 27 chỉ huy gần 30 cán bộ, chiến sĩ, cùng với một xe PAP, 2 xuồng cao tốc ST660 của đơn vị tham gia cứu hộ, cứu nạn tại địa bàn huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Khoảng 12 giờ đêm hôm ấy, chúng tôi bắt đầu hành quân trong thời tiết mưa tầm tã, có nhiều đoạn bị ngập sâu, phải vừa đi vừa dò đường. Gần 4 giờ sáng 15-10, đơn vị có mặt tại khu vực núi Nầm, huyện Hương Sơn, vượt trước một giờ so với dự kiến. Đến ngày 17-10-2002, cán bộ, chiến sĩ của đơn vị đã cùng các lực lượng trên địa bàn di chuyển hàng trăm gia đình cùng tài sản và gia súc tới nơi an toàn; đồng thời vận chuyển lương thực, thực phẩm cứu trợ đồng bào các xã Sơn Hòa, Sơn An (nay là xã An Hòa Thịnh), Sơn Lễ, Sơn Tiến... bị cô lập".
Tiếp lời Đại tá Đậu Trung Thông, Đại tá Mai Văn Thanh, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Công binh 414 xúc động kể về đợt đi bắc cầu, bảo đảm cho các lực lượng vào cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả trận lũ quét ở bản Sa Ná, xã Na Mèo, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa: “Sáng 6-8-2019, khi đó tôi là Phó lữ đoàn trưởng, Tham mưu trưởng Lữ đoàn được cấp trên giao nhiệm vụ tổ chức chỉ huy lực lượng, phương tiện gồm: 40 cán bộ, chiến sĩ thuộc Tiểu đoàn 4, cùng 5 đầu máy đẩy, 12 bộ thuyền vượt sông nhẹ VSN-1500, 6 ô tô các loại và các trang thiết bị đồng bộ hành quân tới khu vực bản Sa Ná để bắc cầu phục vụ công tác cứu hộ, cứu nạn, hỗ trợ nhân dân. Sau gần 10 giờ cơ động trong điều kiện thời tiết mưa, gió, đường dốc, trơn trượt... chúng tôi đã đến địa bàn chia cắt. Do đã chủ động trao đổi, hiệp đồng chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền, các cơ quan chức năng địa phương và lực lượng vũ trang trên địa bàn, chúng tôi khẩn trương triển khai lắp ghép các bộ thuyền vượt sông nhẹ VSN-1500 thành 30m cầu vượt sông Luồng để vào bản Sa Ná, bảo đảm an toàn tuyệt đối về người và phương tiện".
Đại tá Mai Văn Thanh kể tiếp: “Tôi đã nhiều lần chỉ huy bộ đội tham gia cứu hộ, cứu nạn, nhưng lần làm nhiệm vụ ở Rào Trăng 3 thuộc xã Phong Xuân, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế vào tháng 10-2020 không thể nào quên. Rạng sáng 12-10-2020, nhận được lệnh của thủ trưởng Bộ tư lệnhQuân khu 4, Ban chỉ huy Lữ đoàn đã nhanh chóng hội ý, phân công nhiệm vụ, tổ chức lực lượng, phương tiện hành quân vào Rào Trăng 3. Trưa hôm đó, trên cương vị là Phó lữ đoàn trưởng, Tham mưu trưởng Lữ đoàn, tôi trực tiếp chỉ huy 65 cán bộ, chiến sĩ cùng nhiều phương tiện cơ động vào thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn tại khu vực Nhà máy Thủy điện Rào Trăng 3.
Chúng tôi làm việc trong điều kiện mưa lũ, ăn, ở khó khăn, thiếu thốn, hiểm nguy luôn rình rập, nhưng bằng nghĩa tình, trách nhiệm với đồng đội, với nhân dân, lực lượng cứu hộ, cứu nạn của đơn vị đã cùng với các lực lượng tìm kiếm cứu nạn khác đã khẩn trương hoàn thành tìm kiếm 13 cán bộ, chiến sĩ hy sinh tại Tiểu khu 67, Trạm Kiểm lâm sông Bồ. Sáng 18-10-2020, chúng tôi tiếp tục cơ động lực lượng, phương tiện tham gia khắc phục sự cố sạt lở đất tại Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 337 (Quân khu 4) và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ".
Những chiến công trong thực hiện nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình của cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 414 góp phần tô thắm truyền thống của lữ đoàn, LLVT Quân khu 4 và truyền thống “Mở đường thắng lợi” của Bộ đội Công binh anh hùng; làm ngời sáng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong gian khó, xứng đáng với danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân trong thời kỳ đổi mới của Đảng, Nhà nước phong tặng cho Lữ đoàn ngày 31-7-1998.
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước”. Theo Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam” của Ban Tôn giáo Chính phủ; hiện nay, ở nước ta có hơn 26,5 triệu tín đồ tôn giáo (chiếm 27% dân số cả nước), hơn 54.000 chức sắc, 135.000 chức việc và 29.658 cơ sở thờ tự; có hàng nghìn nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung (trong đó có các nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam). Đó là thực tiễn về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam mà tất cả các tổ chức, quốc gia trên thế giới không thể phủ nhận.
Thời gian qua, về cơ bản, tình hình tôn giáo, các tổ chức tôn giáo và đại bộ phận chức sắc hoạt động đúng quy định pháp luật, ổn định, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, do mặt trái của toàn cầu hóa và cơ chế thị trường, âm mưu “chính trị hóa tôn giáo” của các thế lực thù địch đã làm cho đời sống tôn giáo chịu tác động tiêu cực, tiềm ẩn nhiều nguy cơ; trong đó nổi lên những vấn đề như: Lợi dụng tôn giáo để hoạt động chống Đảng và Nhà nước; vi phạm pháp luật, gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; thành lập các hội, nhóm mang danh tôn giáo, đạo lạ; tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo mê tín, trục lợi, làm lệch chuẩn văn hóa, đạo đức xã hội...
Các đối tượng của Hội thánh Đức chúa trời truyền đạo trái phép. Ảnh TTXVN
Đặc biệt, sự xuất hiện những tà đạo đội lốt tôn giáo như: Hội Thánh đức Chúa trời mẹ, đạo bà Điền, đạo Dừa, Thanh Hải vô thượng sư, tà đạo Hà Mòn, Bà cô Dợ, Tin lành Đề ga, tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình, đạo Ty, đạo Tiên Rồng, Pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp... được lập ra với mục đích xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, làm xáo trộn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của một bộ phận nhân dân. Những tà đạo này được truyền bá, phổ biến theo nhiều hình thức truyền thông như trên internet, website, Facebook, Zalo, vlog, Twitter, YouTube... thậm chí hình thành những “thị trường tâm linh”. Hoạt động của những tà đạo đội lốt tôn giáo không ngừng gia tăng, với nhiều hình thức biến tướng như: Hiện tượng xem bói online, livestream (phát sóng trực tiếp trên mạng xã hội), dịch vụ tâm linh, du lịch tâm linh... Cá biệt, xuất hiện tà đạo lợi dụng chiếm đoạt tài sản cá nhân, công ty, doanh nghiệp; lôi kéo trí thức, học sinh, sinh viên tham gia bằng nhiều thủ đoạn gây ảnh hưởng tới tư tưởng, tâm lý các tầng lớp nhân dân (trong đó có cán bộ, đảng viên). Chính vì vậy, việc nhận diện, đấu tranh với các tà đạo đội lốt tôn giáo là rất cần thiết trên cơ sở khách quan, khoa học, cách mạng.
Đối chiếu quy định hiện hành về tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam cho thấy, các tà đạo đội lốt tôn giáo kể trên không có giáo lý, giáo luật, cơ cấu tổ chức riêng. Mục đích hoạt động chính là vụ lợi, trái pháp luật nên không đủ điều kiện để được cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, cấp đăng ký hoạt động tôn giáo. Điển hình là hoạt động của Hội Thánh đức Chúa trời mẹ tại một số địa phương thời gian vừa qua như: Hà Nội, Thanh Hóa, Vĩnh Phúc, Quảng Nam, Huế, TP Hồ Chí Minh... đã vi phạm nghiêm trọng các điều cấm, quy định tại Ðiều 5 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với những nội dung như: Ép buộc, mua chuộc người khác; xâm phạm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi... Những gì Hội Thánh đức Chúa trời mẹ tuyên truyền là hoàn toàn trái ngược với thuần phong mỹ tục cũng như những giá trị chuẩn mực về đạo đức, văn hóa của người Việt; không được pháp luật Việt Nam cho phép; hoạt động với các biến thể dị thường núp dưới nhiều danh nghĩa (nhất là danh nghĩa từ thiện, mở các lớp hướng thiện); những kẻ cầm đầu hầu hết là những người không bình thường, có quá khứ bất hảo (cờ bạc, trộm cắp, nghiện hút...); mục đích chính là vụ lợi.
sự việc xảy ra vào năm 2017, hàng trăm đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên bị tà đạo Bà cô Dợ mê muội, hoang tưởng, lôi kéo, dụ dỗ, lừa mị “chỉ cần đọc kinh cầu nguyện sẽ có cuộc sống tốt đẹp hơn, thế giới sẽ công bằng hơn, mình không làm gì cũng có ăn”, trong khi bản thân họ đều là những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Họ được dặn không nhận sự giúp đỡ của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương, từ chối chính quyền hỗ trợ làm nhà cho người nghèo. Nguy hại hơn, tà đạo này còn kích động người dân gây mâu thuẫn trong chính gia đình, dòng họ, đả kích các tôn giáo khác và gieo rắc tư tưởng thành lập cái gọi là “Nhà nước Mông”.
Từ hai tà đạo Hội Thánh đức Chúa trời mẹ và Bà cô Dợ, thu thập thông tin và nhận diện có hàng chục tà đạo đang hoạt động tại 3 khu vực có tính chiến lược, trọng yếu nhất về quốc phòng, an ninh của đất nước là Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ; thấy nhiều yếu tố tiêu cực, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; xâm hại đến quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Đồng thời có biểu hiện của những âm mưu, thủ đoạn chính trị phản động, những hành vi xâm phạm an ninh quốc gia Việt Nam. Cụ thể là:
Về chính trị, các tà đạo lôi kéo người theo bằng những hoạt động chống lại quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và địa phương; nói xấu chế độ, nói xấu cán bộ, có thái độ ngăn cản chính quyền triển khai xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, xây dựng nông thôn mới. Về kinh tế, các tà đạo khuyên con người ta siêng năng cầu cúng, lễ vật càng lớn càng chứng tỏ ngoan đạo, tốn kém tiền của, bỏ bê lao động sản xuất, ốm đau không đi viện mà chữa trị bằng phù phép, nước lã, tàn hương... dẫn tới nhiều cái chết thương tâm. Về văn hóa-xã hội, các tà đạo gây chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, gây mất đoàn kết trong nội bộ gia đình, thôn xóm, giữa người theo và người không theo, giữa “đạo lạ” này với “đạo lạ” khác. Thường xuyên tổ chức tụ tập đông người, làm lễ tập thể vào đêm, múa hát, đốt lửa đọc kinh tập thể gây mất an ninh nông thôn, vi phạm quy chế bảo vệ an ninh trật tự của khu dân cư. Hoạt động của một số tà đạo ở địa bàn chiến lược, trọng điểm đã bị các thế lực thù địch lợi dụng vào âm mưu chống phá cách mạng nước ta.
Quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền theo hoặc không theo tôn giáo của người dân, bảo đảm sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng, bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng pháp luật.
Trong các văn kiện của Đảng luôn nhất quán quan điểm: Tín ngưỡng, tôn giáo là một nhu cầu tinh thần của một bộ phận Nhân dân đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam (bổ sung, phát triển 2011) - một văn kiện có giá trị pháp lý cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng ghi rõ: “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân theo quy định của pháp luật. Đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và Nhân dân”.
Trong các văn bản riêng về tôn giáo, tín ngưỡng có thể xem Nghị định số 69/NĐ-HĐBT ngày 21/3/1991 của Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam "Quy định về các hoạt động tôn giáo" là văn bản mở đầu. Ngày 4/6/1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 37-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ban Tôn giáo của Chính phủ, cơ quan có chức năng quản lý Nhà nước về hoạt động tôn giáo trong phạm vi cả nước. Sau đó, một loạt văn bản khác đã được ban hành như: Nghị định 26/1999/NĐ-CP ngày 19/4/1999 của Chính phủ về các hoạt động tôn giáo, Quyết định số 125/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 18/6/2003 về việc phê duyệt chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (Khoá IX) về công tác tôn giáo…
Người dân Sài Gòn trong đêm Giáng sinh. Nguồn: Internet
Ngày 16/10/1990, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VI ban hành Nghị quyết số 24/NQ-TW về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới. Đây được coi là dấu mốc mở đầu cho bước ngoặt phát triển nhận thức về tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết này có hai luận điểm mang "tính đột phá" là: Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận Nhân dân và tôn giáo có những giá trị văn hóa, đạo đức phù hợp với chế độ mới. Ngày 12/3/2004, Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TW về công tác tôn giáo. Đến nay, Nghị quyết này vẫn được xem là “kim chỉ nam” cho công tác tôn giáo và đời sống tôn giáo ở Việt Nam. Nghị quyết 25-NQ/TW khẳng định những chủ trương nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với tôn giáo. Nghị quyết khẳng định tín ngưỡng và tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận Nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết dân tộc. Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật được bảo đảm. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật. Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ. Việc mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sắc và giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo của mình theo đúng quy định của pháp luật được tạo điều kiện thuận lợi. Nghị quyết cũng chỉ rõ việc theo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không được ép buộc người dân theo đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định của Hiến pháp và pháp luật v.v…
Một dấu mốc quan trọng phải kể tới nữa, đó là ngày 18/6/2004, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo. Tiếp tục thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với tôn giáo, Luật Tín ngưỡng tôn giáo được Quốc hội khóa XIV nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 2 ngày 18/11/2016 và được Chủ tịch nước ký Lệnh số: 12/2016/L-CTN ngày 01/12/2016 công bố Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Việc ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là sự cụ thể hóa quan điểm và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo, thể hiện nhất quán chủ trương tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo cũng cụ thể hóa những quy định của Hiến pháp 2013 về quyền con người, quyền công dân liên quan đến quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người. Những nội dung mới của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo cũng được bổ sung để tạo sự tương thích với luật pháp quốc tế trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng với quốc tế, ký kết và thi hành nhiều hiệp định.
Từ những chủ trương nhất quán này, Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách nhằm đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của người dân. Tất cả những quyền của người dân về tôn giáo đều được Nhà nước Việt Nam quy định rõ từ việc quản đạo, hành đạo, truyền đạo… Nơi thờ tự của các tôn giáo được luật pháp Việt Nam bảo vệ. Tất nhiên, pháp luật Việt Nam cũng quy định việc thành lập tổ chức tôn giáo phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải đúng quy định của pháp luật, phù hợp với đạo đức, văn hóa và thuần phong mỹ tục của dân tộc.
Cũng như tất cả các quốc gia trên thế giới, Nhà nước Việt Nam thực hiện quyền quản lý xã hội của mình trên lãnh thổ Việt Nam ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tôn giáo. Để quản lý Nhà nước về tôn giáo thật sự có hiệu quả, phát huy tác dụng, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tôn giáo, sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, đương nhiên Nhà nước Việt Nam phải áp dụng các biện pháp nhằm ngăn chặn các hành vi vi phạm các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân và đặc biệt là các hành động lợi dụng tôn giáo vì các mục đích khác nhau trái với Hiến pháp và pháp luật Việt Nam.
Ở Việt Nam hiện nay, những ngày lễ lớn của các tôn giáo, nhất là lễ Phật đản, Vu Lan, Noel … không chỉ là của những người theo các tôn giáo mà trở thành ngày vui chung, ngày hội lớn của người dân. Có lẽ vì vậy mà trong những năm qua, số tín đồ của các tôn giáo ngày một tăng lên không ngừng, nhiều tôn giáo, hệ phái tôn giáo mới đã được Nhà nước Việt Nam tạo mọi điều kiện cấp phép hoạt động. Các tổ chức tôn giáo hoạt động đúng pháp luật, đúng tôn chỉ, mục đích luôn được Nhà nước và cấp chính quyền quan tâm, tôn trọng và tạo điều kiện hoạt động, phát triển.
Quyền con người, quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam được bảo đảm ngày một tốt hơn; các tôn giáo đã phát triển nhanh cả về số lượng tín đồ và cơ sở thờ tự. Nếu như năm 2006, cả nước mới có 6 tôn giáo và 16 tổ chức tôn giáo được công nhận và đăng ký hoạt động, thì đến nay đã có 38 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau được công nhận (số liệu đến tháng 6/2020). Cả nước có khoảng trên 25 triệu tín đồ, trên 110 nghìn chức sắc, nhà tu hành (số liệu đến hết năm 2019). Các cơ sở thờ tự của các tôn giáo ngày càng được xây dựng khang trang cùng nhiều cơ sở xã hội, từ thiện đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện công tác xã hội. Các cơ sở đào tạo chức sắc tôn giáo với đủ các cấp học, như: Học viện Phật giáo, Chủng viện Thiên chúa giáo và các trường cao đẳng, trung cấp của các tôn giáo đã và đang hoạt động với sự giúp đỡ của các cấp chính quyền địa phương. Các ấn phẩm về tôn giáo được Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi trong in ấn và phát hành.
Mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 8.500 lễ hội tôn giáo, tín ngưỡng được tổ chức. Trong hàng giáo phẩm của các tôn giáo hiện nay, rất nhiều vị được Nhà nước tạo điều kiện để đi đào tạo, bồi dưỡng ở các nước trên thế giới. Nhiều lễ hội tôn giáo lớn ở Việt Nam đã được tổ chức như Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc vào các năm 2008, 2014; Lễ Bế mạc Năm Thánh 2011 của Giáo hội Công giáo Việt Nam được tổ chức long trọng tại giáo xứ La Vang, tỉnh Quảng Trị; Đại lễ kỷ niệm 72 năm khai sáng đạo Phật giáo Hòa hảo; Đại lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam và đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh; Hội nghị Thượng đỉnh Phật giáo thế giới vào năm 2010 v.v… Kể từ năm 2011, Vatican đã cử đại diện không thường trú tại Việt Nam và đặc phái viên không thường trú này đã thực hiện nhiều chuyến thăm tới hầu hết các tỉnh thành ở Việt Nam.
Có thể nói, hòa chung với sự hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển mọi mặt của đất nước, hoạt động tôn giáo ở Việt Nam ngày càng sôi động, những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo ngày càng cởi mở hơn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các hoạt động tôn giáo./.
Truyền thông xã hội, không gian mạng xuất hiện đã tạo ra nhiều
cơ hội và lợi ích về truyền tải, tiếp nhận, chia sẻ thông tin, tri thức phục vụ
các nhu cầu đa dạng của con người và xã hội. Tuy nhiên, với xu hướng thiếu kỹ
năng, trách nhiệm xã hội, thậm chí trục lợi… của không ít chủ thể tham gia
không gian mạng; cùng với cơ chế lan truyền thông tin có tốc độ chóng mặt, khó
kiểm soát…truyền thông xã hội, không gian mạng xã hội đã và đang gây ra nhiều
tác động tiêu cực đối với đời sống xã hội.
Sử dụng
và quản lý mạng xã hội theo tinh thần Đại hội Đảng lần thứ XIII-
Trong
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra
nhận định: Hệ thống truyền thông đại chúng còn nhiều hạn chế; một số cơ quan
báo chí xa rời tôn chỉ, có biểu hiện thương mại hóa; quản lý mạng xã hội còn
bất cập. Vì vậy, cần phải “Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình thông
tin, truyền thông trên internet. Kiên quyết loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc
hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị-xã hội, thuần
phong mỹ tục”. Cũng như: không ngừng đổi mới tư duy lãnh đạo, chỉ đạo và quản
lý báo chí điện tử, mạng xã hội và các loại hình truyền thông khác trên
Internet theo kịp sự phát triển của công nghệ Internet,…chủ động, kiên trì thúc
đẩy phát triển đúng hướng đi đôi với quản lý chặt chẽ. Văn kiện Đại hội XIII
của Đảng đặt ra mục tiêu, yêu cầu: “Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền,
vận động, sử dụng có hiệu quả các phương tiện truyền thông đại chúng, mạng xã hội
theo hướng thiết thực”. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Nâng cao
chất lượng, bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống thông tin, báo chí, internet,
xuất bản; tăng cường năng lực quản lý không gian mạng. Xây dựng các cơ quan báo
chí, tổ hợp truyền thông chủ lực đủ mạnh để thực hiện tốt chức năng thông tin
tuyên truyền thiết yếu, làm chủ mặt trận thông tin”.
Ý thức
được tầm quan trọng của không gian mạng đối với đời sống tư tưởng, văn hóa, đạo
đức của nhân dân, nhất là của thế hệ trẻ, ngày 5-3-2022, Thủ tướng Chính phủ đã
ban hành Quyết định số 311/QĐ-TTg, phê duyệt Chương trình giáo dục lý tưởng
cách mạng, đạo đức, lối sống, văn hóa cho thanh niên, thiếu niên trên không
gian mạng giai đoạn 2022 - 2030...
Thực tế
cho thấy không gian mạng xã hội thường có xu hướng “chưa/không đóng vai trò
tích cực” như sự kỳ vọng của xã hội; ngược lại không gian mạng xã hội có xu
hướng thúc đẩy việc gia tăng tin đồn, tin giả và những hệ lụy xã hội tiêu cực
của chúng. Không gian mạng xã hội “như con dao hai lưỡi”, lằn ranh giới tác
động tích cực và tiêu cực rất “mong manh”; nguy cơ về sự “tha hóa con người” từ
không gian mạng xã hội ngày càng hiện hữu. Vấn đề này đang thực sự ngày càng
trở nên nghiêm trọng trong bối cảnh phần lớn công chúng chưa được trang bị kỹ năng
và thẩm thấu trách nhiệm xã hội khi tham gia không gian mạng xã hội. Thậm chí
có không người đang có xu hướng “nghiện và làm theo” thông tin trên không gian
mạng. Trong khi đó, việc ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật
trong quản lý nhà nước về không gian mạng xã hội còn nhiều bất cập. Do đó,
không ít cá nhân, nhóm xã hội có ý đồ xấu và các thế lực thù địch đang có xu
hướng “tối đa hóa lợi dụng không gian mạng” để hiện thực mưu đồ đen tối. Tình
trạng nhiễu loạn thông tin, thật giả lẫn lộn trên mạng xã hội đang ở mức báo
động, gây ảnh hưởng đến các giá trị văn hóa tốt đẹp của cộng đồng. Hoạt động
tung tin đồn, giật gân, câu “like” trên mạng xã hội gây hoang mang trong dư
luận. Một số vụ việc trên mạng xã hội thu hút số lượng rất lớn người quan tâm,
theo dõi, hình thành tâm lý đám đông, áp lực dư luận, có thể tạo ra các giá trị
lệch lạc hay khuynh hướng phức tạp trong văn hóa ứng xử. Một thực tế là môi
trường khôn gian mạng đang bị vẩn đục bởi các hành vi giao tiếp, ứng xử chưa
văn hóa, cách sử dụng mạng xã hội chưa văn minh hoặc lợi dụng các diễn đàn công
khai để đả kích, nói xấu, bôi nhọ lẫn nhau…Một nghịch lý đang diễn ra là hiện
nay lối sống lạnh lùng, vô cảm ngoài đời thực, nhưng lại dạt dào cảm xúc trước
những gì đăng trên mạng xã hội…
Trong
bối cảnh khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ, tội phạm mạng sử dụng nhiều
thủ đoạn tinh vi, ứng dụng các thành tựu khoa học hiện đại để tiến hành các
chiến dịch tấn công mạng, dẫn dắt dư luận trên không giang mạng…khiến công tác
phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh của cơ quan chức năng gặp nhiều khó khăn.
Bên cạnh đó, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan công tác bảo đảm an
ninh mạng đã được xây dựng nhưng chưa hoàn thiện;vai trò, hiệu lực quản lý nhà
nước trên lĩnh vực không giang mạng còn bất cập…
Một số
giải pháp thúc đẩy lành mạnh hóa không gian mạng ở Việt Nam hiện nay
Một là, các
cấp ủy, chính quyền cần xác định mục tiêu lành mạnh hóa truyền thông xã hội,
không gian mạng là một nhiệm vụ chính trị quan trọng trong bối cảnh hiện nay.
Tăng cường thực hiện công tác kiểm tra, giám sát ngay cả trên không gian mạng,
kịp thời xử lý hoặc báo cáo cấp ủy, chính quyền cấp trên các trường hợp vụ
việc, phản ánh hoặc bình luận mang tính chất tiêu cực của cán bộ, đảng viên có
liên quan đến hình ảnh, uy tín của Đảng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Bên
cạnh đó, cần chủ động phối hợp chặt chẽ, thường xuyên với các cá nhân, tổ chức,
cơ quan, đơn vị chuyên môn, hữu quan trong việc cung cấp, chia sẻ thông tin, xử
lý thông tin, giúp cho công tác phát hiện, phân tích mức độ, diễn biến, âm mưu,
thủ đoạn của các thế lực thù địch được nhanh chóng, chính xác và lựa chọn phương
án đấu tranh trên mạng xã hội kịp thời, hiệu quả nhất.
Hai là, vai
trò, trách nhiệm tiên phong của người cán bộ, đảng viên cần phải được thể hiện
và phát huy trên không gian mạng. Theo dõi, giám sát và phản bác lại các luận
điệu sai trái, mang tính chất thù địch đồng thời phải xây dựng mạng lưới, kết
nối chặt chẽ với nhân dân trên không gian mạng xã hội để truyền tải được chủ
trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước đến với đời sống hàng ngày của
nhân dân là một nhiệm vụ cấp thiết được đặt ra đối với Đảng viên trong việc
tham gia mạng xã hội. Mỗi cán bộ, đảng viên khi sử dụng mạng xã hội, cần tuân
thủ các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến việc sử dụng
Internet, mạng xã hội như: Luật An ninh mạng; Quy định số 85-QĐ/TW ngày
07/10/2022 của Ban Bí thư về việc cán bộ, đảng viên thiết lập và sử dụng trang
thông tin điện tử cá nhân trên internet, mạng xã hội; Quyết định số
874/QĐ-BTTTT, ngày 17/6/2021 của Bộ Thông tin và Truyền thông về ban hành Bộ
Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội. Bên cạnh việc tuân thủ các quy tắc ứng xử khi
sử dụng mạng xã hội theo nghề nghiệp và tổ chức mà mình tham gia, bản thân các
cán bộ, đảng viên có thể tự lập các quy tắc phù hợp cho bản thân mình. Các quy
tắc này nên đồng thời hướng đến trách nhiệm của công dân đồng thời là trách
nhiệm của một cán bộ, đảng viên phải tuân thủ các điều lệ, nội quy của tổ chức
và cơ quan mà mình là thành viên. Giáo dục ý thức, trách nhiệm của cán bộ, dảng
viên về thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; thực hiện tốt việc bảo vệ bí
mật nội bộ của Đảng trong quá trình làm việc. Đồng thời, nêu cao tinh thần tự
giác, chấp hành tốt kỷ luật trong phát ngôn; không tham gia đánh giá, nhận xét,
bình luận trên các trang mạng xã hội với các nội dung chưa được kiểm chứng;
không chụp ảnh, đăng tải hình ảnh, công việc mang đến bất lợi cho cơ quan, đơn
vị trên các trang mạng xã hội. Đồng thời, cán bộ đảng viên phải biết phát huy
những ưu điểm, lợi ích của mạng xã hội để giáo dục nhân dân, người thân cũng
như tuyên truyền các chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng và nhà nước, quảng
bá các hình ảnh, tấm gương người tốt, việc tốt đến với cộng đồng xã hội.
Ba là, các
chủ thể khi tham gia không gian mạng cần trang bị các kỹ năng tự bảo vệ thông
tin cá nhân, cách thức chắt lọc, tiếp nhận thông tin. Việc người dùng nâng cao
sức “đề kháng”, trang bị hiểu biết về pháp luật, bộ lọc văn hóa tốt, ứng xử văn
minh, lịch lãm trong tranh luận, phản biện, có năng lực về tin tức, đánh giá
được độ tin cậy của thông tin trên truyền thông xã hội là rất quan trọng. Cụ
thể là: 1) phải đọc kỹ toàn bộ nội dung bài viết, tránh trường hợp chỉ đọc tiêu
đề nhằm giật tít để thu hút người đọc; 2) hỏi tham khảo ý kiến chuyên gia hoặc
các nguồn tin đáng tin cậy; 3) luôn kiểm tra xem xét nguồn tin nhanh website để
xác tín; 4) cần kiểm tra thông tin minh họa, hình ảnh, đường liên kết xem thông
tin có thật sự hữu ích hay vì mục đích nào khác; 5) cân nhắc xem bản thân đang
có thiên vị hay có định kiến với đối tượng nào không; 6) hãy tỉnh táo phân biệt
được đâu là tin thật, đâu là trò đùa của cư dân mạng xã hội; 7) kiểm tra nhanh
xem tác giả bài viết có đáng tin cậy không?; 8) kiểm tra thời gian đăng tin
nhằm sàng lọc với những tin tức cũ bị đăng lại, chưa chắc chúng có liên quan
đến sự việc hiện tại.
Bốn là, khi
ứng xử trên không gian mạng mỗi chủ thể cần nhìn rõ mặt tích cực và tiêu cực
của nó. Do đó khi tham gia mạng xã hội cần quan tâm phát huy mặt tích cực và
hạn chế mức thấp nhất các yếu tố tiêu cực. Các thành viên mạng xã hội nên lan
tỏa những thông tin, hình ảnh tốt đẹp về các hoạt động xã hội, hoạt động vì
cộng đồng, phê phán những cái xấu, biểu hiện lệch lạc, hướng tới thông điệp
nhân văn, xây dựng văn hóa ứng xử trên mạng thanh lịch, văn minh. Khuyến khích
các mạng xã hội tích cực và những thành viên tốt. Cần có thái độ tôn trọng
người khác, biết quan tâm, lắng nghe, chia sẻ, thông cảm. Mọi lời nhận xét,
bình luận phải khách quan và tế nhị, tỏ thái độ, cảm xúc phù hợp, không nói
xấu, kéo bè cánh nhằm hạ thấp danh dự, nhân phẩm của người khác.
Năm là, cần
tăng cường xây dựng và đẩy mạnh hoạt động của các dư luận viên trên không gian
mạng. Đặc biệt, cần phát huy vai trò của các KLO trên không gian mạng, là những
người có uy tín, có ảnh hưởng lớn trên các phương tiện truyền thông xã hội
(người của công chúng, các trí thức, văn nghệ sĩ…); hướng dẫn họ thể hiện các
quan điểm, nhận xét phù hợp với quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà
nước. Đồng thời, phát huy vai trò chủ động, tiên phong, dẫn dắt, định hướng của
báo chí trong thông tin tích cực. Báo chí cách mạng cần khẳng định hơn nữa vai
trò, vị thế của mình trong thời đại kỹ thuật số. Dòng thông tin tích cực của
báo chí vẫn phải là dòng thông tin chủ lưu với thông tin chất lượng, chính xác,
kịp thời, khách quan, là bộ lọc đáng tin cậy về mọi vấn đề xã hội, dư luận quan
tâm.Thực hiện đổi mới các đơn vị sản xuất thông tin (báo, tạp chí, đài phát
thanh, truyền hình, các đơn vị truyền thông, mạng xã hội,...) và thúc đẩy đổi
mới về quan niệm, nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện công khai trên
không gian mạng. Chủ động cung cấp thông tin chính thống, chính xác, đầy đủ,
kịp thời về bản chất của vấn đề xã hội trên các phương tiện truyền thông, nhất
là các vấn đề liên quan đến lợi ích, mối quan tâm của đông đảo công chúng. Việc
cung cấp thông tin cần chú ý hai điểm: 1) các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm
đối với vấn đề xã hội được đề cập trên các phương tiện truyền thông cần chủ
động cung cấp thông tin kịp thời; 2) thông tin được cung cấp cần dựa vào nguồn
tin đáng tin cậy, đã được kiểm chứng.
Sáu là, đẩy
mạnh công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động của truyền thông xã hội và không
gian mạng theo quy định của pháp luật. Các cơ quan chức năng của ngành thông
tin và truyền thông, công an, quân đội thường xuyên phối hợp với thanh tra các
bộ, ngành, địa phương tăng cường hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát việc
truyền thông và sử dụng thông tin trên mạng xã hội của người dùng mạng xã hội,
theo quy định của pháp luật, kịp thời phát hiện, uốn nắn, cũng như xử lý những
sai phạm. Trên cơ sở đó, phát hiện và ngăn chặn xử lý kịp thời những thông tin
xấu độc được lan truyền trên không gian mạng, cũng như những cá nhân, tổ chức
có hành vi vi phạm pháp luật. Cần xử lý nghiêm những hành vi mạo danh gây ảnh
hưởng nghiêm trọng đến các cá nhân, đơn vị; xử lý hình sự những hành vi mạo
danh để trục lợi, lừa đảo chiếm đoạt tài sản…
Bảy là,
thiết lập và cải tiến hệ thống quản lý mạng xã hội toàn diện, tăng
cường các biện pháp kỹ thuật và công nghệ. Việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật
nhằm hạn chế, ngăn chặn những thông tin độc hại, xâm phạm an ninh quốc gia,
chống phá Việt Nam vẫn rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Các đơn vị chuyên
trách về an ninh mạng cần kịp thời hỗ trợ với các tổ chức, cá nhân khi phát
hiện dấu hiệu xuất hiện những “lỗ hổng” của việc bảo mật và cả khi bị tội phạm
tin học tấn công. Không gian mạng cũng giống như xã hội thực, thúc đẩy tự do,
nhưng cũng phải tuân thủ các quy định pháp luật. Cần tôn trọng quyền trao đổi ý
kiến, bày tỏ ý chí của cư dân mạng, đồng thời với xây dựng môi trường mạng an toàn,
lành mạnh theo pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của cư dân mạng được bảo
đảm. Đồng thời, nâng cao khả năng quản trị mạng và thiết lập cơ quan quản trị
mạng toàn diện với sự tham gia của các chủ thể liên quan, tạo ra một hệ thống
mới về đồng quản lý và tương tác tích cực trên tinh thần tuân thủ pháp luật phù
hợp với các giá trị đạo đức, văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt
Nam.
Tám là, rà
soát, bổ sung và triển khai thực hiện hiệu quả hệ thống các văn bản hiện hành,
như Luật Công nghệ thông tin năm 2006; Luật An toàn thông tin mạng 2016; Luật
An ninh mạng 2018 và các luật liên quan, như Luật Xuất bản 2012, Bộ luật Hình
sự 2015, Luật Báo chí 2016; Luật Giáo dục đại học 2018, Luật Giáo dục 2019…và
hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành các luật trên. Đặc biệt, tăng cường việc
tuyên truyền, phổ biến Luật An ninh mạng 2018, Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã
hội 2021, nhằm giúp mỗi người dân hiểu rõ ý nghĩa, giá trị, nội dung, quyền
lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm và những hành vi bị cấm liên quan đến văn hóa ứng xử
khi tham gia mạng xã hội, hướng tới xây dựng môi trường mạng lành mạnh, an
toàn. Các cơ quan chức năng có thẩm quyền cần phải tính đến nghiên cứu, điều
chỉnh việc sửa đổi, bổ sung Luật An ninh mạng 2018 theo hướng tăng cường chế
tài và tính phù hợp, hiệu lực của các chế tài đối với các hành vi vi phạm Luật
An ninh mạng.
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030 xác định “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”.
Như vậy, có thể khẳng định dù ở thời đại nào, thời kỳ nào thì văn hóa với một dân tộc, một đất nước có vai trò vô cùng quan trọng, là “hồn cốt”, là “bản sắc”, là “sức mạnh nội sinh”, là “động lực” để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều này đòi hỏi phải định hình rõ văn hóa Việt Nam, có biện pháp xây dựng cũng như bảo vệ nền văn hóa đó.
Đoàn viên, thanh niên có vai trò xung kích, đi đầu trong việc bảo vệ an ninh TT-VH, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Trong ảnh: Câu lạc bộ đàn tính của các bạn trẻ xã Trung Hà, H.Chiêm Hóa, Tuyên Quang
QUAN HIỀN
An ninh tư tưởng - văn hóa (TT-VH) là sự ổn định và phát triển bền vững của nền văn hóa, tư tưởng đúng định hướng XHCN, dựa trên nền tảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và bản sắc văn hóa dân tộc. Đó là sự phát triển bền vững của văn hóa, tư tưởng XHCN và truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc, không bị ảnh hưởng bởi những yếu tố lạc hậu, lai căng.
Bảo vệ an ninh về tư tưởng và văn hóa là bảo vệ nền tư tưởng, văn hóa của chế độ XHCN, cụ thể là bảo vệ sự phát triển ổn định về tư tưởng và văn hóa đúng định hướng XHCN trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, bao gồm: bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc; bảo vệ sự đồng thuận, nhất trí về chính trị, tinh thần trong nhân dân; xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; đấu tranh có hiệu quả với các trào lưu tư tưởng, văn hóa phản động, độc hại...
Bảo vệ an ninh TT-VH là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; trong đó các cơ quan, tổ chức thuộc lĩnh vực tư tưởng, văn hóa là nòng cốt trong tổ chức xây dựng nền văn hóa dân tộc, các cơ quan an ninh là nòng cốt trong bảo vệ, chống lại sự phá hoại tư tưởng, văn hóa của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị.
Trong thời đại kỷ nguyên số, vấn đề xây dựng và bảo vệ được nền văn hóa tiên tiến, mang bản sắc riêng biệt của dân tộc đang đứng trước nhiều cơ hội thuận lợi nhưng cũng đang phải đối mặt với không ít những khó khăn, thách thức khó giải quyết. Do đó, công tác bảo vệ an ninh TT-VH hiện nay đang phải đối mặt với những thách thức cơ bản là:
Thách thức trước hết là các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị triệt để sử dụng thành tựu về khoa học, công nghệ để gia tăng các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ; chúng kiên trì thực hiện âm mưu, chiến lược thâm độc “diễn biến hòa bình”. Nội dung chống phá trên tất cả các lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại…, trong đó chúng coi phá hoại về nền tảng TT-VH là mặt trận quan trọng. Cách thức chủ yếu là sử dụng các phương thức liên lạc qua ứng dụng OTT tạo các hội, nhóm kín, móc nối, lôi kéo thành viên; tổ chức các lớp học trực tuyến về “xã hội dân sự”, “dân chủ nhân quyền”, phương pháp đấu tranh bất bạo động; tổ chức các diễn đàn để tác động, chuyển hóa tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.
Thứ hai là nhiều nội dung chương trình, phim ảnh của các dịch vụ OTT nước ngoài tràn vào Việt Nam có những nội dung phản cảm vi phạm quy định pháp luật, đạo đức, văn hóa, thuần phong, mỹ tục Việt Nam. Công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao. Trong khi đó, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo hành lang pháp lý cho công tác bảo vệ an ninh văn hóa còn gặp nhiều khó khăn...
Đồng thời, thách thức cơ bản thuộc về nguyên nhân chủ quan là một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân chưa có bản lĩnh chính trị vững vàng; chưa thấm nhuần, hiểu sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc; dễ dàng tin vào những quan điểm sai trái thù địch, những thông tin xấu độc vô căn cứ, tiếp nhận những quan điểm chính trị không phù hợp, văn hóa lai căng… Từ đó, vô tình trở thành những cánh tay nối dài tuyên truyền những tư tưởng, văn hóa độc hại, phá hoại an ninh TT-VH mà Đảng và nhân dân ta đang xây dựng.
Tranh thủ cơ hội để vượt qua thách thức
Nhận thức được vai trò quan trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác bảo vệ an ninh TT-VH; đứng trước cơ hội và thách thức to lớn của kỷ nguyên số, chúng ta cần có những giải pháp đồng bộ, toàn diện để tranh thủ cơ hội và vượt qua thách thức để bảo vệ nền tư tưởng, văn hóa XHCN gắn với truyền thống và bản sắc dân tộc, với những giải pháp cơ bản sau:
Một là, các cơ quan Đảng, Nhà nước tăng cường trách nhiệm, nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ an ninh TT-VH trong tình hình mới: Tiếp tục nâng cao nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và bản sắc văn hóa dân tộc dưới nhiều hình thức; nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của phát triển văn hóa, xây dựng con người trong đổi mới và phát triển bền vững đất nước; xác định phát triển văn hóa và xây dựng con người là nhiệm vụ trọng tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền và cả hệ thống chính trị. Đẩy mạnh chuyển đổi số, áp dụng các công nghệ đo lường hiệu quả trong hoạt động chỉ đạo, quản lý báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản. Các đơn vị chuyên trách bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch; các đơn vị bảo vệ pháp luật phối hợp chặt chẽ, hiệp đồng tác chiến, trao đổi thông tin, kết hợp nhuần nhuyễn để nâng cao hiệu quả công tác nghiệp vụ trong đấu tranh với hoạt động chống phá trên không gian mạng...
Tăng cường quản lý các sản phẩm văn hóa, thông tin, nhất là các nền tảng OTT xuyên biên giới, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra; kiên quyết xử lý, yêu cầu gỡ bỏ ngay lập tức những nội dung, sản phẩm, thông tin vi phạm; phê phán các sản phẩm văn hóa có nội dung lạc hậu, lai căng không phù hợp… Kiên quyết xử lý nghiêm trước pháp luật những đối tượng trong nước có hành vi vi phạm pháp luật tạo sự răn đe và tăng tính nghiêm minh của pháp luật. Nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật làm hành lang pháp lý hữu hiệu cho công tác bảo vệ an ninh TT-VH.
Xây dựng cơ chế, chính sách thu hút các tập đoàn, công ty công nghệ tham gia phát triển hệ thống hạ tầng dịch vụ OTT, các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật trong việc xây dựng, phát triển các sản phẩm số, quảng bá các phim, ảnh tuyên truyền sự kiện chính trị, lịch sử, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, các sản phẩm văn hóa trên nền tảng số. Tăng cường nguồn lực, nhân lực cho mục tiêu tự chủ về an ninh mạng, xây dựng nền công nghiệp an ninh mạng để đảm bảo phục vụ tuyên truyền chính trị và văn hóa trên không gian mạng ở nước ta...
Hai là, nâng cao nhận thức của người dân, nhận thức và trách nhiệm của doanh nghiệp trong xây dựng và bảo vệ nền TT-VH VN. Nâng cao ý thức cảnh giác, tăng cường tiếp nhận thông tin tích cực, tạo “sức đề kháng” trước những luận điệu, thông tin xấu độc vô căn cứ, tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng, văn hóa VN, phá hoại đại đoàn kết dân tộc; góp phần xây dựng văn hóa ứng xử lành mạnh trong xã hội, phát huy những giá trị tích cực về thuần phong, mỹ tục trong gia đình và xã hội Việt Nam.
Ba là, phát huy vai trò xung kích, đi đầu của đoàn viên, thanh niên trong bảo vệ an ninh TT-VH: Tích cực học tập nâng cao trình độ để có bản lĩnh chính trị vững vàng, nhận thức được tầm quan trọng của an ninh TT-VH và trách nhiệm của bản thân trong bảo vệ an ninh TT-VH. Đoàn viên, thanh niên phải là những người xung kích trong việc phát hiện âm mưu, thủ đoạn, nội dung, phương thức chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị; và nắm vững những luận cứ để trực tiếp và tổ chức đấu tranh phản bác lại những quan điểm sai trái thù địch đó…
Những năm qua, phần lớn tổ chức phi chính phủ (NGO) trong nước
và nước ngoài ở Việt Nam đã phát huy tốt vai trò của mình trong hoạt động hợp
tác hỗ trợ phát triển, viện trợ nhân đạo phi lợi nhuận cùng các mục tiêu đúng đắn,
hướng đến lợi ích cộng đồng. Dẫu vậy vẫn còn hiện tượng một số NGO thực hiện những
hoạt động thiếu thiện chí, không phù hợp với lợi ích Việt Nam, thậm chí có dấu
hiệu vi phạm pháp luật và phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc... Những hành động
đáng phê phán nêu trên cần bị lên án và ngăn chặn kịp thời.
Ðến
thời điểm hiện tại, Việt Nam có 388 tổ chức phi chính phủ nước ngoài đăng ký
giấy phép và hoạt động thường xuyên. Tính riêng trong năm 2022, các tổ chức này
đã viện trợ cho Việt Nam hơn 223,7 triệu USD cũng như tham gia hỗ trợ nhiều dự
án liên quan đến văn hóa, giáo dục, thực thi các hiệp định thương mại quốc tế
và công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Bên
cạnh đó, nhiều tổ chức phi chính phủ nước ngoài cũng thường xuyên phối hợp với
các cơ quan đối tác, các tổ chức phi chính phủ và tổ chức của Việt Nam để xây
dựng những chương trình thiết thực, có ý nghĩa nhân văn. Những đóng góp này
càng trở nên đáng quý hơn trong bối cảnh nguồn hỗ trợ chính thức (ODA) từ các
quốc gia phát triển giảm mạnh vì nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan. Ðồng
nghĩa các NGO ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ Việt Nam hoàn
thành các định hướng phát triển kinh tế-xã hội, nhất là với những thành tựu mà
các bên đã đạt được về chống biến đổi khí hậu, hỗ trợ cộng đồng có hoàn cảnh
khó khăn, nhóm yếu thế và dân tộc thiểu số, nâng cao quyền cho phụ nữ và trẻ em
gái.
Dẫu vậy
trong bức tranh chứa nhiều điểm sáng ấy xuất hiện những điều đáng lo ngại, đó
là việc một số tổ chức phi chính phủ đang lợi dụng việc tổ chức, thực hiện,
tham gia, tài trợ các dự án phi lợi nhuận để cổ súy các hoạt động không phù hợp
với lợi ích quốc gia, có dấu hiệu vi phạm pháp luật, trái với đạo đức xã hội,
phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.
Nổi lên
trong thời gian qua là hiện tượng nhân danh hợp tác quốc tế về xây dựng pháp
luật, cải cách tư pháp, giáo dục, y tế, nhất là liên quan đến lĩnh vực bảo vệ
quyền của người dân tộc thiểu số, người lao động, đất đai, môi trường... một số
NGO tìm cách can thiệp các công việc nội bộ của Việt Nam, đưa ra những thông
tin, đánh giá thiếu khách quan nhằm mục đích gây hoang mang dư luận, dấy lên
những nghi kị, mất đoàn kết dân tộc, có tính chất chia rẽ vùng miền, làm suy
giảm lòng tin của người dân đối với Ðảng và Nhà nước.
Hiện
tượng nêu trên đang có xu hướng diễn biến phức tạp khi một số tổ chức phi chính
phủ nước ngoài lợi dụng hoạt động tài trợ nhằm lôi kéo các đơn vị hoạt động
trong lĩnh vực khoa học, công nghệ ngoài công lập tham gia vào các dự án có
nguy cơ xâm phạm an ninh và trật tự, an toàn xã hội của đất nước. Thông qua
phương thức đặt hàng nghiên cứu, họ hướng lái một số cá nhân, tổ chức hoạt động
trong lĩnh vực khoa học công nghệ, tiến hành nghiên cứu và công bố hàng loạt
báo cáo, khảo sát chứa nhiều nội dung tiêu cực, phiến diện, bôi đen tình hình
đất nước và con người Việt Nam.
Trên
danh nghĩa bảo trợ các nhóm mục tiêu (phụ nữ, trẻ em gái, người dân tộc thiểu
số, nhóm dễ bị tổn thương), một số tổ chức phi chính phủ nước ngoài khuyến
khích thành lập các câu lạc bộ, hội, nhóm với những tên gọi như "nhóm cộng
đồng nòng cốt", "nhóm đồng đẳng viên", "nhóm tự quản",
"nhóm công nhân nòng cốt", đồng thời lôi kéo một số tổ chức xã hội Việt
Nam không đủ điều kiện theo quy định pháp luật, tự ứng cử vào Nhóm tư vấn trong
nước (DAG) Việt Nam. Từ đây, họ vận động những nhóm đối tượng này đưa ra các
yêu sách vô lý vào quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật và xây dựng Nhà nước
pháp quyền sau khi Việt Nam ký kết Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU
(EVFTA) với Liên minh châu Âu.
Thời
gian qua các hội nhóm thiếu thiện chí này tổ chức nhiều tọa đàm, khóa học, buổi
tập huấn lồng ghép nội dung xuyên tạc Hiệp định EVFTA, Bộ luật Lao động 2019,
phủ nhận vai trò, chức năng, nhiệm vụ của công đoàn cơ sở trong việc giải quyết
quyền lợi chính đáng, khó khăn, khúc mắc giữa người lao động với doanh nghiệp.
Song
song đó, các tổ chức phi chính phủ thiếu thiện chí tiếp tục đẩy mạnh nhiều hoạt
động có dấu hiệu vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội trong bối cảnh Việt Nam
tiến hành hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách cho vùng dân tộc thiểu số
và miền núi.
Họ đưa
ra luận điệu xuyên tạc rằng "ở Việt Nam có dân tộc bản địa", từ đó
đòi hỏi "quyền dân tộc tự quyết", "đòi thành lập khu tự
trị". Thậm chí, website của một trung tâm tư vấn quản lý và phát triển văn
hóa cộng đồng còn công khai đưa ra nhận định gây chia rẽ rằng: "Với sở hữu
toàn dân về đất đai, và Nhà nước thống nhất quản lý, thì về mặt kỹ thuật, không
có vùng đất nào thuộc sở hữu tư nhân. Do đó, các khu vực rộng lớn, màu mỡ, giàu
tài nguyên vốn do người dân tộc thiểu số và bản địa sử dụng có thể bị chuyển
sang phục vụ mục đích phát triển".
Phát
ngôn thiếu trách nhiệm, các đối tượng cố tình phủ nhận một sự thật là do bối
cảnh và điều kiện lịch sử để lại, 54 dân tộc cư trú xen kẽ trên đất nước Việt
Nam từ lâu đời, không có dân tộc nào sinh sống hoàn toàn tách biệt riêng về mặt
địa lý. Thêm vào đó, dân tộc Kinh và 53 dân tộc anh em luôn có sự đoàn kết, gắn
bó mật thiết trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước. Không chỉ vậy, tinh
thần đại đoàn kết dân tộc luôn được Ðảng và Nhà nước Việt Nam xác định là đường
lối chiến lược, là cội nguồn sức mạnh, có ý nghĩa quyết định với thắng lợi của
cách mạng Việt Nam.
Tuy vậy
một số hội, nhóm chống phá vẫn vin vào việc bảo tồn văn hóa truyền thống các
dân tộc thiểu số, cố tình đánh đồng việc bảo lưu các hủ tục lạc hậu với việc
thực hành văn hóa truyền thống. Trên cơ sở đó, họ lập luận Nhà nước phải tôn
trọng, bảo vệ, hỗ trợ vật chất hoặc khung pháp lý để cá nhân thực hành quyền
văn hóa, bất kể đó là hủ tục tổ chức đám tang tốn kém, kéo dài, mất vệ sinh;
tục tảo hôn; tục bắt vợ... gây bức xúc trong cộng đồng.
Thậm
chí, dù được hoạt động tự do trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam và nhận được sự
giúp đỡ tận tình từ các cơ quan chức năng cùng đối tác nhưng đại diện của một
vài tổ chức phi chính phủ vẫn có những nhận xét, đánh giá sai lệch về tình hình
chính trị-xã hội Việt Nam. Ðáng chú ý, thành viên hội đồng quản trị tại một
trung tâm quốc tế về luật phi lợi nhuận đang hoạt động chính thức tại Việt Nam
đã đưa ra nhận định vu cáo rằng: "Việt Nam bắt đầu sử dụng luật thuế và bộ
luật hình sự để bỏ tù các nhà lãnh đạo xã hội dân sự với tội danh trốn thuế,
tuyên truyền chống nhà nước và lợi dụng các quyền tự do dân chủ (...). Các nhà
chức trách sử dụng luật hiện hành để thực hiện việc đàn áp của họ, nhưng cũng
thực hiện các bước để thắt chặt khuôn khổ pháp lý, trong đó có các tổ chức phi
chính phủ hoạt động". Song chính người này phải thừa nhận "cho đến
nay, chưa có tổ chức nước ngoài nào bị đình chỉ hoặc đóng cửa".
Cần
khẳng định rằng trong nhiều năm qua, để phát huy vai trò của các tổ chức phi
chính phủ trong và ngoài nước đối với sự phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam,
Ðảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, từng bước hoàn thiện
khung pháp lý về đăng ký và quản lý hoạt động của loại hình hoạt động này.
Biểu
hiện cụ thể nhất chính là việc gia tăng thời hạn đăng ký văn phòng đại diện của
tổ chức phi chính phủ nước ngoài lên đến 5 năm; giảm thời gian trong quá trình
xử lý và cấp Giấy đăng ký, gia hạn Giấy đăng ký, sửa đổi bổ sung, cấp lại Giấy
đăng ký hoạt động (quy định cụ thể tại Chương III Ðiều kiện, trình tự, thủ tục
cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, cấp lại giấy đăng ký, Nghị định số
58/2022/NÐ-CP về Ðăng ký và quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ tại
Việt Nam). Chính phủ Việt Nam cũng cung cấp 7 mẫu đơn, báo cáo để thuận tiện
cho công việc hành chính của các NGO nước ngoài tại Việt Nam.
Chính
phủ cùng Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), Liên hiệp Các
tổ chức hữu nghị Việt Nam (VUFO) và các cơ quan đối tác tại Việt Nam cũng đã có
nhiều hỗ trợ với các hoạt động của các tổ chức phi chính phủ.
Ðó là
lý do khiến nhiều tổ chức như Medical and Scientific Aid for Vietnam, Laos and
Cambodia tiếp tục sứ mệnh của mình dù chiến tranh đã kết thúc nhiều năm (MSAVLC
- tổ chức Viện trợ khoa học và y tế cho Việt Nam, Lào, Campuchia được thành lập
từ năm 1965 chuyên khám, chữa bệnh cho nạn nhân thường dân trong chiến tranh).
Ngoài ra, có thể kể đến những cái tên như Làng trẻ em SOS, tổ chức Vietnam, les
Enfants de la Dioxine tại Việt Nam (VNED - Vì trẻ em chất độc da cam/dioxin
Việt Nam), Orbis International (NGO nước ngoài chuyên hoạt động trong lĩnh vực
chăm sóc và phẫu thuật về mắt cho trẻ em), v.v.
Là một
quốc gia đang phát triển, Việt Nam luôn trân trọng mọi nguồn lực hỗ trợ ở trong
và ngoài nước phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước theo mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Ðồng thời Việt Nam sẵn sàng tiếp
nhận những kiến nghị khách quan, chính xác của đại diện các tổ chức phi chính
phủ nhằm tìm ra những giải pháp tốt nhất giúp các tổ chức này hoạt động có hiệu
quả trong khuôn khổ pháp luật. Tuy nhiên, Việt Nam không chấp nhận các phát
ngôn, chương trình hành động của những tổ chức phi chính phủ đi ngược lại mục
đích, cam kết ban đầu, cố ý vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích của
đất nước, của nhân dân Việt Nam./.