Thứ Hai, 2 tháng 10, 2023

Một số thách thức, nguy cơ đặt ra đối với bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa

 

Bên cạnh đó, trên một số lĩnh vực còn có hạn chế và trong tình hình mới xuất hiện những thách thức, nguy cơ mới tác động tiêu cực, là những vấn đề đặt ra đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc từ xa, từ sớm. Thế giới, thế kỷ XXI tiếp tục chứng kiến nhiều biến đổi phức tạp, khó lường, ảnh hưởng, tác động nhiều mặt đến nước ta. Với vị trí địa chính trị quan trọng, Việt Nam đã, đang và luôn luôn sẽ là “trọng điểm” cạnh tranh chiến lược, lợi ích, ảnh hưởng của các nước lớn trong khu vực và phạm vi toàn cầu. Hơn nữa với chế độ xã hội chủ nghĩa, Việt Nam còn là mục tiêu chống phá của các thế lực thù địch… Những nguy cơ, thách thức này cần thiết phải nhận diện chính xác, đầy đủ ở cả hai hướng sau đây:

 Một là, nguy cơ, thách thức từ bên ngoài.

Nguy cơ rơi vào thế mắc kẹt giữa các cường quốc hiện nay, thách thức trong triển khai chính sách đối ngoại, đối với các mối đe dọa. Cục diện thế giới, khu vực biến đổi mau lẹ, sự cạnh tranh, mặc cả chiến lược giữa các nước lớn; diễn biến khó lường, các điểm nóng khiến môi trường chính trị, an ninh khu vực ngày càng phức tạp, làm giảm lòng tin chiến lược giữa các quốc gia, kích thích chạy đua vũ trang và tâm lý dân tộc cực đoan, làm gia tăng căng thẳng và phức tạp quá trình giải quyết tranh chấp có liên quan đến lợi ích an ninh quốc gia. Với vị thế địa chính trị chiến lược quan trọng, vai trò tích cực trong các tổ chức quốc tế, khu vực, Việt Nam bị các nước tác động, gây ảnh hưởng, lôi kéo tham gia vào các cơ chế nhằm kiềm chế lẫn nhau, có thể đặt Việt Nam vào tình thế khó khăn trong ứng xử với từng nước và tại các diễn đàn quốc tế.

 Thách thức an ninh đối với chủ quyền quốc gia ngày càng lớn, tạo môi trường bất lợi, gia tăng áp lực bảo vệ lợi ích quốc gia. Các tranh chấp lãnh thổ giữa nước ta với các nước lân cận khó có thể giải quyết triệt để, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra xung đột. Vấn đề Biển Đông gia tăng, bất ổn, phức tạp do Trung Quốc hành động cứng rắn hơn, phức tạp, khó lường hơn, đặc biệt là sử dụng các biện pháp thô bạo để giải quyết tranh chấp làm tăng nguy cơ trên biển, chủ quyền lãnh thổ bị xâm phạm. Các bên tranh chấp khác không từ bỏ, tăng cường tiềm lực, chạy đua vũ trang khiến tình hình ngày càng phức tạp, tạo ra mối đe dọa với an ninh quốc gia, bảo vệ Tổ quốc, môi trường hòa bình, ổn định, phát triển đất nước.

 Nguy cơ tụt hậu và phụ thuộc kinh tế vào các nước phát triểncác nước lớn, các định chế quốc tế ngày càng tăng. Những hạn chế trong hội nhập quốc tế như năng lực cạnh tranh thấp, trình độ quản lý chưa theo kịp, thể chế kinh tế thị trường chưa hoàn thiện, cơ chế, chính sách, pháp luật còn thiếu đồng bộ. Việt Nam ngày càng tham gia sâu rộng vào nhiều định chế kinh tế, tài chính quốc tế, chịu nhiều bất lợi và sức ép cải cách chính sách, thể chế, nguy cơ bị các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề kinh tế để can thiệp chủ quyền, xâm phạm an ninh quốc gia. Các nước lớn xác định những vấn đề, tiêu chí tiêu chuẩn cơ bản của biến đổi khí hậu, chuyển đổi số, chuỗi sản phẩm… làm điều kiện, tác động, chi phối, dẫn dắt quan hệ kinh tế quốc tế.

 Thách thức phát triển khoa học công nghệ, áp đặt các giá trị, tư tưởng, văn hóa. Các nước phát triển, nước lớn tăng cường sử dụng các ưu thế sức mạnh vượt trội về kinh tế, khoa học, công nghệ để can thiệp, ra điều kiện trong quan hệ kinh tế, áp đặt các giá trị tư tưởng, văn hóa phương Tây vào Việt Nam; phá hoại nền tảng tư tưởng, bản sắc, truyền thống văn hóa dân tộc và những giá trị tinh thần của chủ nghĩa xã hội; nguy cơ an ninh mạng càng hiện hữu.

Các mối đe dọa từ an ninh bên ngoài từng bước chuyển vào nội bộ, bộc lộ rõ nét, tạo thách thức lớn đối với nhiệm vụ duy trì, ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội. Cùng với toàn cầu hóa, xu hướng “dân chủ hóa” trên thế với, các nước lớn đẩy mạnh phổ biến “sức mạnh mềm” thúc đẩy thay đổi chế độ chính trị, kích động phong trào ly khai, tự trị, thúc đẩy “môi trường tự do hóa, dân chủ hóa” theo kiểu phương Tây, làm xuất hiện, mở rộng khuynh hướng tư tưởng phức tạp trong nội bộ, các trào lưu xâm nhập vào Việt Nam, dẫn đến nguy cơ làm xói mòn truyền thống văn hóa dân tộc, phai nhạt lý tưởng, nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Sức ép vấn đề “dân chủ, nhân quyền” ngày càng lớn.

 Nguy cơ “diễn biến hòa bình”. Các thế lực thù địch, phản động tăng cường thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”. Chúng triệt để lợi dụng xu hướng toàn cầu hóa, “tự do hóa chính trị”, “dân chủ hóa”, sự khác biệt về thể chế chính trị, pháp luật, những khó khăn, thiếu sót của Việt Nam…để tạo khủng hoảng về tư tưởng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, gia tăng sức ép, chuyển hóa nội bộ, tác động vào quá trình cải cách tư pháp, lập pháp, thúc đẩy “tự do, dân chủ hóa”, công khai tài trợ, hậu thuẫn hình thành các tổ chức “xã hội dân sự”, hội nhóm khác nhau. Số phần tử cơ hội chính trị hoạt động ngày càng công khai, quyết liệt, phức tạp.

 Các vấn đề an ninh phi truyền thống tiếp tục gia tăng. Mối đe dọa an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng với quy mô, tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng, tác động đến lợi ích, an toàn, an ninh quốc gia Việt Nam, như biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, an ninh năng lượng, an ninh con người…

 Hai là, những thách thức, nguy cơ từ bên trong, nội bộ.

Việc xây dựng đồng bộ hệ thống chiến lược thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc còn chưa đồng bộ. Công tác tham mưu chiến lược chất lượng chưa cao, trên một số mặt chưa đáp ứng được đòi hỏi của tình hình, yêu cầu nhiệm vụ. Đánh giá, dự báo tình hình có mặt chưa được cụ thể, kịp thời, còn bị động, bất ngờ trong một số tình huống. Chỉ đạo điều hành có lúc, có nơi thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị; công tác bảo vệ an ninh nội bộ, an ninh tư tưởng còn nhiều bất cập, sơ hở. Nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân chưa toàn diện; tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân chưa thật vững chắc. Đất nước vẫn tiềm ẩn các nhân tố có thể gây mất ổn định. Việc kếp hợp hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có lúc, có nơi chưa thật hiệu quả; kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong thực tiễn còn có lúc, có nơi chưa thật hiệu quả, có mặt còn hình thức. Đầu tư cho quốc phòng, an ninh, xây dựng thế trận, khu vực phòng thủ, phát triển khoa học - công nghệ…chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

 

 Tình hình an ninh chính trị nội bộ xuất hiện một số biểu hiện tiêu cực. Các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chưa được đẩy lùi, có mặt bộc lộ rõ nét, nghiêm trọng hơn mà Đảng ta chỉ rõ: Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những người giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, cán bộ cấp cao, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tham nhũng, lãng phí…; công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ còn bộc lộ những sơ hở, để các đối tượng tác động, phân hóa, lôi kéo, chia rẽ, mất đoàn kết. Công tác bảo vệ bí mật nhà nước, tình trạng cung cấp tin, tài liệu bí mật, lũng đoạn nội bộ diễn biến phức tạp, có một số trường hợp bị móc nối làm nội gián, bị lôi kéo, mua chuộc, tham gia các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Tư tưởng, lối sống một bộ phận đông đảo, nhất là giới trẻ phai nhạt lý tưởng, đạo đức, lối sống.

 

An ninh kinh tế tiềm ẩn những bất ổn. Trước tác động của đại dịch, giá nguyên liệu đầu vào tăng cao, các doanh nghiệp tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, nợ xấu, khiến nhiều doanh nghiệp phá sản, lao động thất nghiệp, tiềm ẩn bất ổn xã hội. Tình trạng trốn thuế, trục lợi hoàn thế, vi phạm pháp luật, làm sai quy định với thủ đoạn tinh vi, thao túng thị trường, lĩnh vực cơ bản, như tài chính, chứng khoán, bất động sản của nhiều tổ chức, cá nhân, tập đoàn tư nhân lớn vừa qua gây thất thoát, tác động lớn đến nền kinh tế. Tình trạng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) lập dự án, xin đất, huy động vốn, đưa được người vào Việt Nam, chuyển giao, chuyển giá, nợ đọng lương, lãn công, biểu tình ở các nhà máy, khu công nghiệp ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, đối ngoại, môi trường đầu tư ở Việt Nam.

 

An ninh mạng tiếp tục diễn biến phức tạp, khó kiểm soát. Các nước lớn xác định an ninh mạng là “vấn đề cốt lõi”, đe dọa an ninh mạng là đe dọa an ninh quốc gia. Ở Việt Nam, an ninh mạng đặt ra ngày càng cấp bách. Các cơ quan đặc biệt nước ngoài, tin tặc thường xuyên lợi dụng điểm yếu này để tấn công xâm nhập, thu thập thông tin, bí mật nhà nước, cài cắm mã độc, phần mềm gián điệp. Đồng thời, đây là công cụ đắc lực để phá hoại nền tảng tư tưởng, tuyên truyền xuyên tạc, luận điệu sai trái, thù địch. Các tổ chức phản động lưu vong tăng cường xâm nhập, móc nối, mua chuộc, phát triển lực lượng, hình thành tổ chức, hội nhóm chống, phá quyết liệt. Các loại tội phạm mạng, tội phạm công nghệ cao diễn biến phức tạp, hoạt động tinh vi, quy mô, tính chất, mức độ ngày càng nguy hiểm, nghiêm trọng. Công tác bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin còn nhiều sơ hở, quản lý nhà nước, cơ chế kiểm soát bảo đảm an ninh quốc gia, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng còn có hạn chế, bất cập.

 

An ninh xã hội có nhiều yếu tố mất ổn định. Các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tôn giáo gia tăng hoạt động, công khai chống phá quyết liệt. Số đối tượng cực đoan trong các tôn giáo tuyên truyền, xuyên tạc, kêu gọi quốc tế gây sức ép, can thiệp vấn đề “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do tôn giáo”; cổ vũ, kích động, chỉ đạo, ủng hộ tinh thần, vật chất, hình thành tổ chức, hội nhóm chống phá. Hoạt động của các “đạo lạ”, “tà đạo”, “hiện tượng tôn tín ngưỡng, tôn giáo mới” có chiều hướng phát triển, lây lan phức tạp, gây mất an ninh trật tự. Tình hình tranh chấp, khiếu kiện diễn biến phức tạp, bị phần tử xấu lợi dụng, gây rối trật tự công cộng. An ninh các địa bàn chiến lược Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ.

 

 Tình hình tội phạm diễn biến phức tạp. Hoạt động của các loại tội phạm vẫn diễn ra hết sức phức tạp, tính chất, mức độ phạm tội ngày càng nghiêm trọng. Tội phạm xâm phạm thân thể hành vi gây án ngày càng dã man, tàn bạo. Tình trạng chống người thi hành công vụ, nhất là cán bộ công an, hành vi chống đối manh động, liều lĩnh. Tội phạm kinh tế, tham nhũng nổi lên trong nhiều lĩnh vực, nhất là tài chính, ngân hàng, đất đai - bất động sản, y tế, cố ý làm trái tại các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân gây thất thoát, lãng phí lớn.

Thành tựu bảo vệ Tổ quốc từ xa, từ sớm và một số vấn đề đặt ra

 


Thành tựu cơ bản, bao trùm bảo vệ Tổ quốc là giữ vững độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Cụ thể:

Một là, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, xây dựng trật tự, kỷ cương. Phát hiện và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại các mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị.

 

Hai là, nền quốc phòng toàn dân được xây dựng toàn diện, có bước phát triển nhất định cả về chiều rộng, chiều sâu, ngày càng vững chắc; tiềm lực, lực lượng và thế trận quốc phòng, an ninh được tăng cường, từng bước đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc được nâng lên một bước. Lực lượng quốc phòng được quan tâm xây dựng, sức mạnh chiến đấu được nâng lên. Thế trận quốc phòng toàn dân, thế bố trí chiến lược các lực lượng được xây dựng, điều chỉnh hợp lý hơn. Chất lượng xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố được nâng lên một bước; khả năng phòng thủ quốc gia được nâng lên, cả trên đất liền, biên giới, hải đảo. Xây dựng nền an ninh nhân dân có bước phát triển. Sự gắn kết giữa xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và xây dựng thế trận an ninh nhân dân chặt chẽ, hiệu quả hơn.

 

Ba là, kết hợp hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; kết hợp kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh, đối ngoại có chuyển biến quan trọng, kết hợp chặt chẽ, góp phần nâng cao thế và lực của đất nước, tăng cường sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc. Giữ vững độc lập, tự chủ trong việc xác định chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế đất nước; tích cực, chủ động, độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế, hội nhập toàn diện, sâu rộng, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc.

 

Bốn là, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định. Coi trọng đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; bước đầu hạn chế “diễn biến hòa bình”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Phòng, chống có hiệu quả âm mưu “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, đòi đa nguyên, đa đảng, tam quyền phân lập của các thế lực thù địch. Chủ động nắm tình hình, đánh giá, dự báo được âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phối hợp, xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống; không để xảy ra biến động chính trị, khủng bố, bạo loạn lật đổ, ly khai; cơ bản bảo vệ được an ninh kinh tế; đã nỗ lực giải quyết các vấn đề biên giới, biển, đảo, không để xảy ra đối đầu, xung đột vũ trang.

 

Năm là, giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Các tổ chức đảng trong lực lượng vũ trang được kiện toàn, phát huy vai trò và hiệu lực lãnh đạo. Quản lý, đầu tư của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh được tăng cường, góp phần nâng cao tiềm lực bảo vệ Tổ quốc.

Lý tưởng giống như “hệ điều hành” cho não bộ con người

 


Vâng, mỗi chúng ta khi vô tình chạm đến hai chữ “lý tưởng” thì cảm thấy như gặp một cái gì đó xa vời, không thực tại chút nào. Chúng ta cứ nghĩ rằng lý tưởng là cái gì đó vĩ đại như lý tưởng cách mạng của K. Marx -  F. Engels, như là lý tưởng vô sản của V.I.Lenin. Thế nhưng ,chúng ta lại không biết rằng lý tưởng lại là thực tại, rất đời thường và gần gũi gắn bó với cuộc sống thường ngày mỗi chúng ta. Lý tưởng chính là cái mục  tiêu phấn đấu và nó đã trở thành một phần của cuộc sống của mỗi con người. Vì thế cho nên cuộc sống sẽ vô vị biết bao nếu  thiếu đi “lý tưởng”. 
          Tôi thường đề cập đến “lý tưởng”  bằng từ “niềm tin”. Niềm tin mạnh mẽ có thể giúp những người bình thường làm được những việc phi thường hoặc không tưởng. Ngược lại, niềm tin giới hạn có thể làm thui chuột những con người tài năng nhất. Lý tưởng giống như “hệ điều hành” cho não bộ của chúng ta. Chúng quyết định những gì bạn mong muốn và những gì bạn có thể đạt được. Và trên hết mọi thứ, lý tưởng là ngọn đèn chỉ đường; không có lý tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống.
          Nếu bạn tin rằng, bạn có thể trở thành một doanh nhân thành đạt hay một chính trị gia quyền lực, bạn sẽ “dám” mong muốn bản thân mình đạt được điều đó. Nếu bạn tin rằng bạn không bao giờ có khả năng trở thành người như vậy, bạn sẽ chẳng dám mong muốn chứ đừng nói đến việc hành động để biến nó thành hiện thực. Khi đã có lý tưởng  bạn sẽ có dũng khí làm những gì bạn quyết định.
Quay ngược dòng thời gian để tìm về những dấu ấn lịch sử, cách đây 103 năm, ngày 05/6/1911, tại Thương cảng Sài Gòn (nay là Bến cảng Nhà Rồng), người thanh niên yêu nước mang tên Nguyễn Tất Thành cùng với hai bàn tay trắng xuống tàu buôn ra nước ngoài mang trên mình hàng trang duy nhất là lý tưởng tìm đường cứu nước và khát vọng giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách áp bức của thực dân – phong kiến. Có thể thấy, nếu không có đủ sức mạnh của lý tưởng thì Bác Hồ của chúng đã không bao giờ có can đảm ra đi; để rồi đến năm 1920, Người đã đến với lý tưởng cộng sản, tìm thấy con đường cứu nước giải phóng dân tộc đúng đắn,…
Theo con đường cứu nước mà Bác đã chọn, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đến nay đã căn cứ vào điều kiện cụ thể của nước ta và tình hình thế giới để đề ra đường lối đúng đắn, kịp thời và đã đưa dân tộc ta giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác: Cách mạng tháng Tám năm 1945, chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, Đại thắng mùa xuân năm 1975. Ngày nay dân tộc Việt Nam vẫn tiếp tục đi theo con đường mà Bác đã chọn để xây dựng đất nước Việt Nam trở thành một quốc gia “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

          Một nhà lãnh đạo nổi bật trên thế giới trong thế kỷ XX mà chúng ta cũng cần đề cập đến là lãnh tụ Ấn Độ Mahatta Gandhi. Phải chăng Gandhi tạo nền tảng vững mạnh để giải phóng Ấn Độ khỏi Anh Quốc là nhờ gia đình ông có quyền thế? Dĩ nhiên là không, ông chỉ là một người bình thường, một luật sư. Và việc sử dụng kiến thức pháp luật mà ông học được từ chính… thực dân Anh chắc chắn không thể nào giúp ông giải phóng dân tộc mình. Thay vào đó, ông nhẹ nhàng dùng sức mạnh của việc biểu tình hòa bình với hàng chục ngàn người dân… cho đến khi Anh Quốc bị khuất phục.

Cả hai bậc vĩ nhân - Chủ tịch Hồ Chí Minh và lãnh tụ Mahatta Gandhi đều khởi đầu mà chẳng có điều gì hứa hẹn sẽ giúp họ hoàn thành những việc họ mong muốn, nhưng rồi họ vẫn làm được… và lịch sử có không ít những vĩ nhân xuất chúng như thế. Điều không tương đồng của những người này so với những người bình thường ở chỗ là họ có niềm tin mãnh liệt (hay còn gọi là lý tưởng). Chính điều này đã mang lại sức mạnh giúp họ “chiến đấu” kiên cường và cuối cùng “chiến thắng” bất cứ gian lao trắc trở nào.

Các giải pháp chủ yếu Nâng cao ý thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới

 


Thời gian gần đây, làn sóng chống đối Đảng, Nhà nước ta về mặt tư tưởng chính trị lại rộ lên, có lúc dồn dập. Lợi dụng tình hình kinh tế - xã hội trong nước xuất hiện những khó khăn và thách thức mới, nhất là tình trạng tham nhũng, quan liêu vẫn còn xảy ra ở một vài nơi... các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội ra sức chống phá với nhiều thủ đoạn và sách lược mới. Tuy nhiên, thủ đoạn của chúng không có gì mới, đó là vừa dùng các lực lượng và phương tiện từ bên ngoài, vừa tận dụng phát triển lực lượng ở trong nước để tạo ra sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chống đối từ nội bộ Đảng ta, xã hội ta. Bên cạnh đó, một số người cơ hội chính trị, bất mãn cũng lợi dụng các diễn đàn, các mối quan hệ để truyền bá những quan điểm sai trái, viết đơn thư, tài liệu vu cáo, đả kích chế độ ta, tác động vào Nhân dân, nhất là đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ… Nội dung các quan điểm của họ vẫn là những luận điệu lâu nay các nhà tư tưởng chống cộng đã từng nói và đã nhiều lần bị chúng ta phê phán, bác bỏ như phủ nhận thành tựu của cách mạng; thổi phồng khuyết điểm, tồn tại của chúng ta, bôi đen hiện thực, gieo rắc hoài nghi, lung lạc niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Thời gian gần đây, các thế lực thù địch đưa ra luận điệu mới rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm tròn nhiệm vụ lịch sử là giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Chúng rêu rao rằng, trong điều kiện thế giới phát triển hội nhập như hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò, không còn phù hợp nữa, cần có những lực lượng, tổ chức mới khác để đưa đất nước phát triển đi lên theo hướng hòa bình, dân chủ, tiến bộ… Rõ ràng, đây là những luận điệu sai trái, thù địch cần phải đấu tranh phản bác, góp phần củng cố niềm tin cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

 Vì vậy, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch luôn được các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến địa phương triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt. Đại hội XIII của Đảng (2021) khẳng định: “Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; đảm bảo cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” . Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động. Sự khẳng định này phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam qua 92 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng.

      Mặc dù những kết quả đạt được, việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cũng còn những hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ cùng với sự phát triển bùng nổ của mạng internet, các mạng xã hội toàn cầu và những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của kinh tế thị trường. Mặt khác, các thế lực thù địch, phản động luôn có những chiêu thức, thủ đoạn mới để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao. Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng.

     Để Nâng cao ý thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, chúng ta cần thực hiện đồng bộ các giải pháp chủ yếu sau:

     Một là, tích cực tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Trong giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, coi trọng việc phân tích bản chất cách mạng và khoa học của học thuyết này. Kịp thời giải đáp có sức thuyết phục những băn khoăn, thắc mắc có liên quan đến những vấn đề lý luận và thực tiễn đất nước mà Nhân dân đang quan tâm. Đồng thời, vạch trần âm mưu, thủ đoạn và các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, từ đó có phương sách đối phó và có chủ trương, biện pháp xử lý tình huống một cách hiệu quả nhất. Ngoài ra, cần phát huy vai trò của Hội đồng Lý luận Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương và Ban Tuyên giáo các tỉnh, thành trong cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

      Hai là, kiên trì thực hiện có kết quả cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII; chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chống các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, nhằm củng cố lòng tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Tăng cường các biện pháp phòng chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực một cách có hiệu quả. Kết hợp phát triển kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng chính sách và từng bước phát triển. Có như vậy mới có thể đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả.

     Ba là, thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội, từng bước xây dựng đời sống văn hóa trong Đảng. Xây dựng chế độ cung cấp thông tin kịp thời trong Đảng (trừ những thông tin có liên quan đến an ninh quốc gia), trong các đoàn thể chính trị - xã hội. Tăng cường xây dựng thế trận lòng dân trong cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch gắn với bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa, giữ vững ổn định chính trị và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

     Bốn là, đẩy mạnh công tác phối hợp giữa các bộ, ban, ngành, giữa Trung ương và địa phương trong việc xử lý các vấn đề liên quan đến dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc. Tập trung giải quyết tốt các vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội, nhất là giải quyết tốt các vụ tranh chấp, khiếu nại đất đai và các vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội, loại bỏ các “điểm nóng” trong vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo. Cùng với đó, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ quyền con người; củng cố và tăng cường các thể chế, chính sách nhằm thực hiện đầy đủ hơn, tốt hơn các quyền tự do chính đáng của Nhân dân. Mặt khác, cần mở rộng và nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác thông tin đối ngoại, đặc biệt là công tác đấu tranh dư luận, chủ động chiếm lĩnh mặt trận thông tin, báo chí.

     Năm là, phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong xây dựng lực lượng đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái, thù địch. Đặc biệt, phải ngăn chặn những kênh có tác động xấu vào nội bộ nước ta… Kịp thời định hướng thông tin trong hệ thống chính trị để cán bộ, đảng viên không bị “nhiễu” thông tin xấu. Mặt khác, cần ngăn chặn có hiệu quả sự móc nối tiến hành các hoạt động chiến tranh tâm lý giữa các phần tử cơ hội chính trị, chống đối ở trong nước với các đối tượng người nước ngoài có tư tưởng thù địch.

      Sáu là, tổ chức tốt công tác tuyên truyền, giáo dục về tư tưởng, chính trị, về lịch sử văn hóa Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết, nhân ái của dân tộc ta trong quá trình dựng nước, giữ nước. Có cơ chế tạo điều kiện cho những ai quan tâm đến các vấn đề lớn của đất nước có diễn đàn thảo luận, trao đổi một cách dân chủ, cởi mở. Mặt khác, các cơ quan thông tấn báo chí cần ưu tiên chuyển tải các công trình khoa học, các bài viết có nội dung phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên phương tiện thông tin đại chúng.

Tư duy, lý luận về bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” được Đảng ta hoàn thiện, phát triển trong tình hình mới

 


 Thực tế công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước ta đã thực hiện phương châm trên. Tuy nhiên đây là lần đầu tiên, tư duy, lý luận về bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” được Đảng ta hoàn thiện, phát triển mới, chính thức đưa vào văn kiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc.

 Về bản chất bảo vệ Tổ quốc: là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nội hàm bảo vệ Tổ quốc không chỉ có bảo vệ sự tấn công từ bên ngoài biên giới quốc gia lãnh thổ, mà còn giữ ổn định bên trong; không chỉ bảo vệ khi có kẻ thù xâm lược, mà phải tổ chức phòng thủ, phòng ngừa từ trước, chủ động về mọi mặt ngay từ trong thời bình; ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh từ bên ngoài; xử lý, giải quyết các vấn đề bên trong với phương châm “trong ấm, ngoài êm”, “giữ vừng bên trong là chính” với hàm ý giữ vững chính trị ổn định, kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển, quốc phòng, an ninh giữ vững, đối ngoại không ngừng được mở rộng xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

 Về bảo vệ Tổ quốc từ “sớm”: “Sớm” là trước thời điểm quy định, rất lâu trước đó (về thời gian). Bảo vệ Tổ quốc từ “sớm” là sớm về tư duy, nhận thức, sớm có quan điểm chỉ đạo, phương châm hành động, sớm trong nhận diện nguy cơ uy hiếp, sớm có phương án, lực lượng, phương tiện bảo vệ. Quá trình xây dựng, củng cố, phát triển cũng là quá trình triển khai các biện pháp phòng ngừa, bảo vệ, tự bảo vệ từ trước. Nói “bảo vệ Tổ quốc từ sớm” có nghĩa là phải có chiến lược bảo vệ, tự bảo vệ bên trong, từ bên trong; ngăn ngừa, triệt tiêu các nhân tố xâm lược, phá hoại, mất ổn định bên trong lẫn bên ngoài.

 Về bảo vệ Tổ quốc từ “xa”: là bao hàm về không gian và cả thời gian, chủ động, cảnh giác, sớm phát hiện, triệt tiêu các nhân tố bất lợi từ xa về không gian địa lý, ngay trong lòng địch; xa về thời gian, phát hiện, triệt tiêu ngay từ nguyên nhân, điều kiện hình thành nguy cơ đe dọa, uy hiếp. Chủ động phân tích, dự báo, đấu tranh, làm thất bại từ bên ngoài, từ bên trong mọi âm mưu, hành động xâm phạm độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa có mối quan hệ chặt chẽ, không tách rời, chuyển hóa lẫn nhau. Bảo vệ Tổ quốc từ sớm là điều kiện, tiền đề để bảo vệ Tổ quốc từ xa; bảo vệ Tổ quốc từ xa là để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, bảo đảm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 Về nội dung bảo vệ Tổ quốc: Tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Nội dung bảo vệ Tổ quốc bao hàm: (1) Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. (2) Bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. (3) Bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa. (3) Bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. (4) Bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa. (5) Giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

 Về lực lượng bảo vệ Tổ quốcBảo vệ Tổ quốc không chỉ là trách nhiệm, nghĩa vụ thiêng liêng của cả hệ thống chính trị, của mỗi người dân. Nghị quyết 28-NQ/TW xác định: “Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyết đối về mọi mặt đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc”. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân...”. Theo đó, Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; Nhà nước thống nhất quản lý, củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân; nhân dân làm chủ, phát huy sức mạnh tổng họp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới. Lực lượng vũ trang làm nòng cốt, được xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có lực lượng thường trực hợp lý, lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh và rộng khắp làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

 Như vậy, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy đã được nâng lên một tầm tư duy mới, không chỉ giới hạn ở bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ Tổ quốc từ xa, từ sớm, từ khi nước chưa nguy để bảo đảm có kế sách, chuẩn bị tốt các điều kiện bảo vệ đất nước ngay trong thời bình, khi chưa xảy ra chiến tranh; chủ động các phương án, lực lượng để bảo vệ Tổ quốc ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột, hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; chủ động, ứng phó kịp thời, hiệu quả, đảm bảo giành thắng lợi trong trong mọi tình huống; đồng thời đảm bảo ổn định chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, giữ vững quốc phòng, an ninh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Lý tưởng của thanh niên Việt Nam hôm nay

 


Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc, là người chủ tương lai của đất nước…Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do thanh niên”(1). Thanh niên luôn có hoài bão lớn, có ước mơ cháy bỏng. Giàu nghị lực, sống với lý tưởng mãnh liệt và dám xả thân vì nghĩa lớn, thanh niên rất năng động, sáng tạo, dám khám phá cái mới và đủ sức khỏe, đủ thời gian thực hiện những hoài bão cao đẹp của mình. Trong bất cứ thời đại nào, lực lượng thanh niên chính là nguồn xung lực mạnh mẽ nhất của đất nước, là đại biểu cho tinh thần tự tôn và sự đi lên của cả dân tộc.

Đầu thế kỷ XX, đất nước ta đã bị thực dân Pháp xâm lược và đặt ách đô hộ. Nhân dân ta muốn rửa vết nhơ nô lệ nhưng không được, rửa hận cũng không xong, không phải vì thiếu tinh thần và ý chí kiên cường dũng cảm, mà chính là thiếu phương hướng và đường lối đúng đắn, thiếu lý tưởng, thiếu người lãnh đạo. Những thử thách mới lại đòi hỏi lớp lớp người trẻ tuổi bước vào cuộc chiến đấu mới. Ngay trong bối cảnh đó, chính lớp thanh niên đã tìm ra chân lý, tìm ra con đường cho dân tộc đi theo và đảm nhận vai trò lãnh đạo toàn dân, đưa Việt Nam thoát khỏ ách nô lệ.

Năm 1911, mặc dù tại thời điểm này ở Việt Nam đang tồn tại đồng thời ba sự lựa chọn từ ba giải pháp cứu nước (đó là con đường đấu tranh theo khuynh hướng phong kiến và con đường theo khuynh hướng tư sản với 2 xu hướng bạo động và cải cách), nhưng người thanh niên Nguyễn Tất Thành lúc này mới 21 tuổi, đã sớm nhận ra các giải pháp đó đều không phù hợp và không thể đáp ứng được yêu cầu của lịch sử dân tộc. Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã quyết tìm một hướng đi mới. Từ trải nghiệm của bản thân, Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, đáp ứng được yêu cầu của lịch sử dân tộc đồng thời phù hợp với xu thế của thời đại mới. Đó là con đường giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp và giải phóng con người, độc lập dân tộc gắn liền với xã hội chủ nghĩa.

Trong thế kỷ XX, với chính sách nô dịch và kìm hãm kinh tế - xã hội và văn hóa với việc “gieo rắc một nền giáo dục đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát”(2) của thực dân thì những người Việt Nam, đặc biệt là thanh niên, “mặc dù bị người phương Tây coi là lạc hậu, vẫn hiểu rõ hơn hết sự cần thiết của một cuộc cải cách toàn bộ xã hội” và sự tồn vong của dân tộc phụ thuộc vào thanh niên. Vị lãnh tụ trẻ tuổi Nguyễn Ái Quốc đã rung lên hồi chuông đối với những người cùng trang lứa: “Hỡi Đông Dương đáng thương hại. Người sẽ chết mất, nếu thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh!”(3).

Giữa vòng nô lệ, nhiều thanh niên mà trước hết là những thanh niên trí thức đã tìm đường “vượt ngục”. Họ cho rằng, việc xuất dương là một khám phá mới, bởi việc xuất dương không đặt các thanh niên trí thức vào tình trạng bên ngoài cuộc đấu tranh. Trong đó, con đường sang phương Tây, sang Pháp cũng là một con đường chống Pháp. Nếu không sang Pháp thì theo đường “Đông Du” đến Nhật hoặc vượt biên sang Trung Quốc, Thái Lan…. Họ ra đi mang theo một bầu nhiệt huyết đặng cứu giống nòi. Tiêu biểu như Lê Duy Doãn, Lê Văn Phan và Phạm Đài, là ba thanh niên cùng quê Xứ Nghệ. Họ nguyện ra đi để xứng với dòng máu Lạc Hồng, làm rạng danh vùng đất sông Lam núi Hồng, nên cả ba người cùng lấy tên mới với chữ “Hồng” làm tên lót: Lê Duy Doãn là Lê Hồng Phong; Lê Văn Phan là Lê Hồng Sơn và Phạm Đài là Phạm Hồng Thái. “Thái - Sơn - Phong có nghĩa là ngọn gió núi Thái Sơn, nhất định sẽ mạnh, nhất định sẽ thổi bay tất cả quân xâm lược”(4).

Trong thế kỷ XX, con đường tìm kiếm lý tưởng của thanh niên là con đường đầy khó khăn gian khổ. Không phải chỉ cần một trái tim nhiệt tình cháy bỏng, mà còn cần cả sự thông minh của khối óc; không phải chỉ bằng quan sát, chiêm nghiệm với một nghị lực phi thường, mà còn phải lăn lộn trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mới có thể đến được với lý tưởng cao đẹp. Thanh niên Việt Nam biết rằng, “Dấn thân vô là phải bị tù đày - Là gươm kề tận cổ súng kề tai - Là thân sống coi như còn một nửa”(5). Những thanh niên Việt Nam vẫn chấp nhận hy sinh để trở thành nòng cốt, thành những cơn “Sóng Hồng”(6) trong phong trào cách mạng. Họ luôn trau dồi bản thân, luôn “Tự chỉ trích”(7) để vươn lên. Họ xác định phải chiến đấu vì dân tộc, vì nhân dân. Nguyện “Là con của vạn nhà - Là em của vạn kiếp phôi pha - Là anh của vạn đầu em nhỏ…”(8) để hiến dâng tuổi thanh xuân, kể cả tính mạng nếu cần, trong cuộc “Trường Chinh”(9) giành độc lập, tự do cho dân tộc. Hãy nghe câu nói của Hà Huy Tập trước họng súng kẻ thù: “Tôi không có gì phải hối tiếc. Nếu còn sống tôi sẽ tiếp tục hoạt động”(10); còn Lý Tự Trọng, ở tuổi 16, cái tuổi thần tiên của cuộc đời, đã khẳng định lý tưởng của mình: “Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng chứ không thể là con đường nào khác”(11). Những câu nói đầy khảng khái đó đã thể hiện lẽ sống của phần lớn thanh niên Việt Nam lúc bấy giờ.

Trong thế kỷ XX, thanh niên Việt Nam là những người rất sớm xa rời chủ nghĩa quốc gia cải lương mà các lãnh tụ đã lên án việc bất hợp tác ở các trường. Có thể nói, thanh niên Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX đã tự tin đón nhận cuộc “chuyển giao thế hệ”, “họ lao vào một loại tìm kiếm không ngừng về tư tưởng và đến với chủ nghĩa Mác”(12). Trên thực tế, những thanh niên trì thức cấp tiến, đã nhanh chóng gia nhập tổ chức của thanh niên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập: Tổ chức Việt Nam cách mạng thanh niên và sau đó là gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam để thực hiện hoài bão, lý tưởng của mình ở độ tuổi mười chín hai mươi tiêu biểu như: Lê Hồng Phong (23 tuổi); Lê Hồng Sơn (24 tuổi); Hồ Tùng Mậu (29 tuổi); Trần Phú (21 tuổi); Hà Huy Tập (22 tuổi); Nguyễn Văn Cừ (17 tuổi); Võ Nguyên Giáp (29 tuổi); Trường Chinh (20 tuổi); Phạm Văn Đồng (20 tuổi); Nguyễn Văn Linh (14 tuổi); Lê Duẩn (22 tuổi); Nguyễn Thị Minh Khai (20 tuổi); Nguyễn Đức Cảnh (18 tuổi); Ngô Gia Tự (18 tuổi)….Thế hệ thanh niên đầu thế kỷ XX đã trở thành lực lượng xung kích của cách mạng Việt Nam.

Trong thế kỷ XX, thanh niên Việt Nam đã nhận thức rằng: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(13). Đây là lý tưởng cao đẹp nhất, là niềm tin, lẽ sống của lớp thanh niên, sau đó đã trở thành lý tưởng cho cả dân tộc Việt Nam.

Thế kỷ XX là thế kỷ của lớp lớp thanh niên Việt Nam thực hiện những lời thề, đó là lời thề giành lại độc lập dân tộc “…dù phải hy sinh đến đâu, dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng quyết giành cho được độc lập dân tộc” và sẵn sàng “…đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững nền độc lập ấy”, “…thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”; là lời thề chiến đấu cho Tổ quốc và cho cả nhân loại với chân lý “không có gì quý hơn độc lập tự do”!

Sự nghiệp đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc và xã hội chủ nghĩa là một cuộc cách mạng lâu dài, gian khổ và quyết liệt nhất, triệt để và vinh quang nhất. Trong cuộc “trường chinh” này, thế hệ thanh niên thế kỷ trước đã tìm ra chân lý, tìm thấy lý tưởng chiến đấu và đồng thời thực hiện được một phần công cuộc ấy. Thế hệ đó đã giành lại độc lập dân tộc, tự do cho dân tộc. Nó cũng nói lên một điều rằng, thế hệ ngày nay sẽ bước tiếp con đường ấy, xây dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa - xã hội mà hiện nay toàn Đảng, toàn dân ta đang định hướng và từng bước định hình mà thanh niên sẽ là lực lượng quan trọng nhất quyết định sự thắng lợi này.

          Một thế kỷ là quãng thời gian đủ để chúng ta nhìn lại quá khứ với ý niệm “ôn cố tri tân” trong quy luật tất yếu của dòng chảy truyền thống. Bởi lịch sử phát triển của dân tộc là kết quả sự kế tục từ các thế hệ nối tiếp nhau. Nếu không biết trân trọng truyền thống thì chỉ có thể là những người không có trái tim. Nhưng nếu chúng ta không tiếp nối truyền thống để vươn lên thì chúng ta không có khối óc. Chúng ta không thể ăn bằng truyền thống, sống bằng tiềm năng, nhưng không thể thiếu những điều đó. Thực tiễn lịch sử diễn ra một thế kỷ trước cho thấy, tương lai của một đất nước, một sự nghiệp cách mạng không chỉ thể hiện ở chỗ nó giải quyết đúng đắn hay không về mục tiêu, nhiệm vụ, biện pháp mà còn tùy thuộc vào việc có chuẩn bị tốt về con người hay không. Thế hệ thanh niên Việt Nam trong thế kỷ XX đã cống hiến trọn đời vì lý tưởng cao đẹp, hoàn thành sứ mệnh cao cả của lịch sử. Họ đã làm nên một tấm gương sáng về con đường đi tìm lý tưởng sống cho thế hệ thanh niên ngày này và mai sau noi theo tiếp bước. Chính sức trẻ của các thế hệ thanh thiếu niên ở mọi thời đại trong lịch sử đã mang lại sức mạnh cho dân tộc ta vượt qua mọi thử thách. Lý tưởng của thế hệ thanh niên ngày nay vẫn là ra sức lao động, học tập và rèn đức luyện tài để trở thành “những con người xã hội chủ nghĩa”

Một số vấn đề mang tính lý luận về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy

 


Dựng nước đi đôi với giữ nước là kết tinh kinh nghiệm quý báu lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc ta. Nói về giữ nước từ sớm, từ xa, Trần Quang Khải (1241 - 1294) nhà chính trị, quân sự thời Trần đã từng nói: “Thái bình tu trí lực. Vạn cổ thử giang san” (Thái bình nên tu dưỡng trí lực, vận lực. Đất nước vững nghìn thu). Hay Vua Lê Thái Tổ (1385 - 1433) căn dặn con cháu, muôn dân trăm họ: “Biên phòng hảo vị trù phương lược. Xã tắc ung tu kế cửu an” (Biên phòng cần có phương án, chiến lược tốt. Đất nước phải có kế lâu dài), “Lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy”. Cùng với đó, tổ tiên ta đã thực hiện nhiều chính sách làm cho “quốc phú, binh cường”, khi đất nước thanh bình thì khuyến khích nhân dân tích cực tham gia lao động, sản xuất, phát triển kinh tế, chuẩn bị tốt các điều kiện, có lực lượng đánh giặc, bảo vệ đất nước khi lâm nguy, coi trọng nuôi dưỡng lòng dân, “lấy dân làm gốc”. Cũng chính vì vậy, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn từng nói: “Thời bình, phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốcĐó là thượng sách giữ nước…”. Tư tưởng, triết lý, kinh nghiệm quý báu của cha ông kết tinh từ lịch sử được kế thừa, vận dụng trong tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tạo nên giá trị văn hóa, nghệ thuật dựng nước, giữ nước Việt Nam. Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là mối quan hệ gắn bó “máu thịt”, phát triển đất nước về mọi mặt không tách rời với nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc.

Các nhà kinh điển mácxít, đặc biệt là V.I. Lênin đã đặt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc phải đi đôi với nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ngay sau khi Cách mạng tháng Mười thắng lợi, Người yêu cầu: “Một khi chúng ta bắt tay vào công cuộc hòa bình kiến thiết thì chúng ta phải đem hết sức mình để tiến hành công cuộc đó không ngừng. Đồng thời, hãy chăm lo đến khả năng quốc phòng của chúng ta như chăm lo con ngươi của mắt mình[1]. Người nhấn mạnh, giành được chính quyền đã khó, giữ được chính quyền càng khó hơn, giai cấp bóc lột, các lực lượng thù địch với giai cấp công nhân không bao giờ tự nguyện rút khỏi vũ đài lịch sử; ngược lại, chúng tìm mọi cách, điên cuồng phản kích để khôi phục lại “thiên đường” đã mất. Đúng như V.I. Lênin đã kết luận: “Không có và không thể có cách mạng mà lại không có phản cách mạng[2]. Vì vậy, lãnh đạo cuộc đấu tranh trấn áp các hoạt động chống phá của các thế lực phản cách mạng, bảo vệ thành quả của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của đảng cộng sản cầm quyền. Hàm ý của Người là hết sức tranh thủ thời gian hòa bình, tận dụng mọi điều kiện thuận lợi, ra sức xây dựng các tiềm lực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tinh thần, khoa học - kỹ thuật, tiềm lực quân sự…chuẩn bị để đất nước sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc.

Trong thời đại Hồ Chí Minh, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy tiếp tục được kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi” và căn dặn toàn dân, toàn quân ta: “Các vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”; “Bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững, chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”. Tư tưởng này được vận dụng góp phần làm nên cách mạng giải phóng dân tộc, đất nước ta giành được những thắng lợi to lớn, dân tộc được độc lập, nhân dân tự do, có cuộc sống hòa bình, ấm no, tự do, hạnh phúc; là nguồn cảm hứng thôi thúc, cổ vũ phong trào giải phóng các dân tộc bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới.

 Trong thời kỳ đổi mới, kế thừa bài học kinh nghiệm quý báu lịch sử dân tộc, thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn vận dụng sáng tạo, linh hoạt vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, không để bị động, bất ngờ. Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX, XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị về quốc phòng, an ninh đã xác định những vấn đề cơ bản về bảo vệ Tổ quốc. Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục phát triển, hoàn thiện đường lối về bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa, từ khi “nước chưa nguy”, trở thành tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công cuộc đối mới đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới: “Chủ động ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”, “có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến[3]Thực hiện dĩ bất biến, ứng vạn biến, trong đó lợi ích quốc gia - dân tộc là bất biến, kiên định mục tiêu, nguyên tắc chiến lược, vận dụng sách lược mềm dẻo, linh hoạt;... giữ trong ấm, ngoài êm, giữ nước “từ sớm, từ xa”, từ khi nước chưa nguy”.

Lý tưởng sống của thanh niên Việt nam trong thời đại hiện nay là gì?

 


“Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, không thể có con đường nào khác” - lời nói đó đã trở thành lý tưởng sống, mệnh lệnh hành động thôi thúc biết bao thế hệ thanh niên Việt Nam.

Tuổi 18, trước toà đại hình do bọn thực dân Pháp lập ra để xét xử tù chính trị ngày 17/4/1931, Lý Tự Trọng – người đoàn viên thuộc lớp đầu tiên của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, không thể có con đường nào khác”. Lời nói đó đã trở thành lý tưởng sống, mệnh lệnh hành động thôi thúc biết bao thế hệ thanh niên “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh” trong thời kỳ chiến tranh với một mục tiêu – lý tưởng tất cả vì tiền tuyến, vì độc lập tự do của đất nước.

Bước vào thế kỷ XXI, đất nước ta đang trên đà hội nhập với nền kinh tế quốc tế với rất nhiều thời cơ và thách thức được mở ra. Và thanh niên Việt Nam chúng ta, những người chủ tương lai của đất nước phải góp một phần sức cho quê hương của mình. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ và xem lại cách sống của mình, và một câu hỏi lớn được đặt ra:  Lý tưởng sống của thanh niên Việt Nam ngày nay là gì?

Một thế kỷ là quãng thời gian đủ để chúng ta nhìn lại quá khứ với ý niệm “ôn cố tri tân” trong quy luật tất yếu của dòng chảy truyền thống. Bởi lịch sử phát triển của dân tộc là kết quả sự kế tục từ các thế hệ nối tiếp nhau. Nếu không biết trân trọng truyền thống thì chỉ có thể là những người không có trái tim. Nhưng nếu chúng ta không tiếp nối truyền thống để vươn lên thì chúng ta không có khối óc. Chúng ta không thể ăn bằng truyền thống, sống bằng tiềm năng, nhưng không thể thiếu những điều đó. Thực tiễn lịch sử diễn ra một thế kỷ trước cho thấy, tương lai của một đất nước, một sự nghiệp cách mạng không chỉ thể hiện ở chỗ nó giải quyết đúng đắn hay không về mục tiêu, nhiệm vụ, biện pháp mà còn tùy thuộc vào việc có chuẩn bị tốt về con người hay không. Thế hệ thanh niên Việt Nam trong thế kỷ XX đã cống hiến trọn đời vì lý tưởng cao đẹp, hoàn thành sứ mệnh cao cả của lịch sử. Họ đã làm nên một tấm gương sáng về con đường đi tìm lý tưởng sống cho thế hệ thanh niên ngày này và mai sau noi theo tiếp bước. Chính sức trẻ của các thế hệ thanh thiếu niên ở mọi thời đại trong lịch sử đã mang lại sức mạnh cho dân tộc ta vượt qua mọi thử thách. Lý tưởng của thế hệ thanh niên ngày nay vẫn là ra sức lao động, học tập và rèn đức luyện tài để trở thành “những con người xã hội chủ nghĩa”

Phát huy vai trò nêu gương của cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội hiện nay

Cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội là lực lượng nòng cốt, có vai trò rất quan trọng trong lãnh đạo, chỉ huy đơn vị thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao. Để hoàn thành trọng trách, nhiệm vụ của mình trước Đảng, Nhà nước và nhân dân, một trong những yêu cầu khách quan và là biện pháp quan trọng để cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội nâng cao uy tín, vị thế của mình là nêu gương và phát huy vai trò nêu gương trước tập thể, cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Thực tiễn hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta khẳng định, nếu cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội phát huy tốt vai trò, trách nhiệm nêu gương, mẫu mực trong mọi hoạt động của đơn vị, từ lời nói đến việc làm, thì cán bộ ấy tự mình đã tỏa sáng, được mọi người tôn trọng, yêu quý, tin tưởng và ủng hộ; nhờ đó, có tác dụng động viên, cổ vũ, khích lệ cán bộ, chiến sĩ bằng niềm tin, sự yêu mến, kính trọng, học tập và noi theo. Ngược lại, nếu cán bộ chủ trì đơn vị không thực hiện tốt việc nêu gương, chưa nỗ lực phấn đấu vươn lên trong tu dưỡng, rèn luyện, công tác, khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ, không giữ được “mực thước” trong quan hệ, giao tiếp, ứng xử trong đời sống, sinh hoạt xã hội và công tác thì cán bộ ấy không thể đem lại hình ảnh tốt đẹp, uy tín và vị thế của cá nhân đối với tập thể mà còn làm giảm sút niềm tin của cán bộ, chiến sĩ với đơn vị và Quân đội. Nêu gương là phương thức giáo dục có sức thuyết phục tốt nhất, hiệu quả nhất, đã trở thành truyền thống quý báu của dân tộc ta, Quân đội ta. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “… các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”1; “Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”2. Vì vậy, Người đặc biệt coi trọng nêu gương, làm gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp trong thực hiện nhiệm vụ được giao, ở những thời điểm khó khăn, thử thách của cách mạng. Kế thừa truyền thống dân tộc, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu gương của cán bộ, đảng viên, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đặc biệt quan tâm, chăm lo giáo dục, rèn luyện, đề cao tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Trong thời kỳ đổi mới đất nước, với vị thế của một Đảng cầm quyền, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã có nhiều chủ trương, quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) đã ban hành Quy định 47-QĐ/TW, ngày 01-11-2011 về những điều đảng viên không được làm. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), Ban Bí thư đã ban hành Quy định 101-QĐ/TW, ngày 07-6-2012 về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), Bộ Chính trị đã ban hành Quy định 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016 về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”. Ngày 25-10-2018, Hội nghị Trung ương 8 (khóa XII) đã ban hành Quy định 08-QĐi/TW về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Sự ra đời của Quy định 08-QĐi/TW nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Một lần nữa, Đảng ta khẳng định nêu gương là trách nhiệm, bổn phận và là đạo lý của người cán bộ, đảng viên của Đảng trước nhân dân. Trách nhiệm gương mẫu, tự giác đi đầu thể hiện từ trong tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tự phê bình, phê bình đến trong quan hệ với quần chúng, trách nhiệm trong công tác, ý thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết nội bộ. Quán triệt sâu sắc các nghị quyết, quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong Quân đội đã nghiêm túc triển khai thực hiện. Thông qua đó, ý thức trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong Quân đội, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp đã được nâng lên rõ rệt, tạo sự chuyển biến tích cực về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong công tác, ý thức tổ chức kỷ luật và đoàn kết nội bộ, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, quan liêu và mọi biểu hiện tiêu cực trong đơn vị, góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ Quân đội và quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Quân ủy Trung ương, sự quản lý của Nhà nước và Bộ Quốc phòng. Tuy nhiên, việc quán triệt, thực hiện các nghị quyết, quy định của Đảng, Quân ủy Trung ương về trách nhiệm nêu gương và vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên ở một số đơn vị còn có hạn chế nhất định. Một bộ phận cán bộ, đảng viên trong Quân đội chưa quán triệt đầy đủ, sâu sắc về vị trí, vai trò, yêu cầu và nội dung, biện pháp nêu gương, dẫn đến xác định chưa rõ trách nhiệm và nghĩa vụ nêu gương; chưa thật sự mẫu mực trong lời nói, việc làm, trong rèn luyện, tu dưỡng, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống, tác phong công tác, sinh hoạt; còn có những biểu hiện nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, lợi dụng chức quyền để trục lợi, có hành vi tham nhũng; cá biệt đã có cán bộ cấp cao, cả đương chức và nghỉ hưu có những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội, gây dư luận không tốt trong cán bộ, chiến sĩ Quân đội và nhân dân. Hiện nay, đất nước ta đang đứng trước nhiều thời cơ và vận hội, song vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức; các thế lực thù địch, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng công nghệ, mặt trái của kinh tế thị trường, những tiêu cực, tệ nạn xã hội để phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, truyền bá các sản phẩm văn hóa phương Tây, đề cao lối sống vật chất, sùng bái đồng tiền, quên tình nghĩa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của Quân đội; làm cho một số cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng. Đáng chú ý là, thực hiện âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” Quân đội ta, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đẩy mạnh chống phá công tác cán bộ của Đảng trong Quân đội; dùng nhiều thủ đoạn để mua chuộc, lôi kéo cán bộ nhằm tạo ra lớp cán bộ “đỏ vỏ, xanh lòng” để chống Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân. Tình hình hiện nay đặt ra những yêu cầu mới về xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Do vậy, phải tiếp tục xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu. Trong đó, tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp, trước hết là cán bộ chủ trì, có vai trò đặc biệt quan trọng. Điều đó đòi hỏi cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong Quân đội phải tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết, quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ các cấp, nhất là cán bộ chủ trì, người đứng đầu cấp ủy, cơ quan đơn vị. Để phát huy vai trò nêu gương của cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội, cần thực hiện tốt các yêu cầu sau: Thứ nhất, nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm, thường xuyên tự giác, tu dưỡng, rèn luyện, gương mẫu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với việc thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Phương châm nêu gương của cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội là cấp trên nêu gương trước cấp dưới; cán bộ chủ trì đơn vị nêu gương trước cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền, tạo hình ảnh tốt đẹp trước tập thể đơn vị, sự tin yêu, kính trọng và tin tưởng học tập, làm theo của cán bộ, chiến sĩ. Thứ hai, cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội phải nêu gương trong lời nói, bài viết và phát ngôn. Ở đâu, lúc nào cũng vậy, phải luôn nhất quán lời nói, bài viết, phát ngôn đúng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh và các quy định của Quân đội. Mỗi lời nói, bài viết phải thể hiện rõ sự mẫu mực về tính đảng, tính khoa học, tính thực tiễn và tính giáo dục. Đồng thời, thể hiện rõ niềm tin yêu, lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; quan tâm chăm lo đến lợi ích, đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Thứ ba, cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội phải nêu gương trong việc làm, “nói đi đôi với làm” thông qua chất lượng, hiệu quả hoàn thành chức trách, nhiệm vụ, làm việc công tâm, khách quan, đúng nguyên tắc, thấu tình, đạt lý; có nền nếp, kỷ cương, đúng quy định của Đảng, điều lệnh của Quân đội. Chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; tận tụy, tâm huyết với công việc; hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao; luôn luôn là người đi đầu trong mọi hoạt động của đơn vị, chuẩn mực trong quan hệ giao tiếp, ứng xử, có thái độ, hành vi, tác phong quân nhân, nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ”, được cán bộ, chiến sĩ tin tưởng, yêu mến, coi đó là mực thước, khuôn mẫu để học tập, noi theo, làm theo. Thứ tư, cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội phải gương mẫu trong tuyên truyền, vận động gia đình chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương nơi cư trú. Thứ năm, cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội phải kiên quyết đấu tranh, phê phán, khắc phục mọi biểu hiện thiếu gương mẫu, nói không đi với làm, nói nhiều làm ít, nói một đường làm một nẻo; phải có dũng khí vượt qua mọi cám dỗ, những khó khăn, thử thách, chiến thắng chính mình và giúp đỡ cấp dưới khi mắc sai lầm, khuyết điểm để tiến bộ, trưởng thành. Kiên quyết chống lại mọi hiện tượng tiêu cực xảy ra trong đơn vị. Để phát huy vai trò nêu gương của cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, cần thực hiện tốt những nội dung giải pháp cơ bản sau: Một là, quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc tư tưởng Hồ Chí Minh; các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, của Quân ủy Trung ương và của cấp ủy, tổ chức đảng về nêu gương. Cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp cần nắm vững tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương và các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng về nêu gương. Tiếp tục quán triệt và xây dựng kế hoạch thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Quy định 47-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm; Quy định 101-QĐ/TW về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; Quy định 55-QĐ/TW về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định 08-QĐi/TW về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và các quy định của Quân ủy Trung ương về nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội. Qua đó, chỉ rõ những nội dung mà bản thân cán bộ chủ trì cần phải nêu gương với giải pháp phù hợp, hiệu quả nhất. Phát huy vai trò của các cơ quan chức năng, nhất là các cơ quan thông tấn, báo chí trong và ngoài Quân đội nhằm tuyên truyền, giáo dục làm cho cán bộ, đảng viên và chiến sĩ nhận thức đầy đủ, sâu sắc ý nghĩa của việc nêu gương, vai trò nêu gương của cán bộ chủ trì các cấp trong xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Trên cơ sở đó, tích cực nhân rộng điển hình tiên tiến thành các phong trào hành động cách mạng, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, chiến sĩ trong xây dựng đơn vị, thực hiện mọi nhiệm vụ được giao. Chống việc quán triệt sơ sài, nhận thức không đầy đủ của cấp ủy, tổ chức đảng về phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ trong phạm vi từng cơ quan, đơn vị. Hai là, cụ thể hóa chủ trương, quan điểm của Đảng, Quân ủy Trung ương thành các tiêu chí, quy định về nêu gương của cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội phù hợp với thực tiễn đơn vị và chức trách, nhiệm vụ của cán bộ từng cấp. Đây là việc làm cần thiết để tạo cơ sở, hành lang pháp lý cho cán bộ chủ trì tự soi để tự sửa, phát huy vai trò nêu gương trong từng hoạt động cụ thể; làm cơ sở để giám sát việc nêu gương của cán bộ, đảng viên; cơ sở trong việc đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ chủ trì các cấp. Đồng thời, là căn cứ để các cấp ủy, cơ quan chức năng và mọi cán bộ, chiến sĩ theo dõi, giúp đỡ và kiểm tra, giám sát cán bộ chủ trì phát huy vai trò nêu gương. Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng các cấp cần căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, phạm vi quyền hạn được giao, bám sát các chỉ thị, nghị quyết, quy định của Đảng, của Quân ủy Trung ương về nêu gương và phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên; căn cứ vào tình hình thực tiễn đơn vị, chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ chủ trì từng cấp để xây dựng các tiêu chí cụ thể về nêu gương và phát huy vai trò của cán bộ chủ trì trong lời nói, việc làm, trong tu dưỡng, rèn luyện bản thân về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, xứng đáng là tấm gương cho cán bộ, chiến sĩ học tập, noi theo. Trong quá trình triển khai thực hiện, cấp ủy, cơ quan chức năng và cán bộ chủ trì các cấp cần coi trọng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nêu gương của cán bộ chủ trì để kịp thời bổ sung, điều chỉnh các tiêu chí, quy định, bảo đảm cho quá trình thực hiện nêu gương có hiệu lực, hiệu quả thiết thực. Bản thân cán bộ chủ trì các cấp phải thường xuyên dựa chắc vào các tiêu chí, quy định nêu gương; xây dựng cam kết thực hiện các nghị quyết, quy định của Đảng để tự soi, tự sửa, từ lời nói, việc làm đến tự tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt; lấy chất lượng, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ và sự tín nhiệm của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân để tiếp tục thực hiện tốt hơn sự nêu gương. Chống việc làm hình thức hoặc không căn cứ vào tình hình cụ thể của cơ quan, đơn vị, sao chép nguyên các tiêu chí, quy định của trên, khó cho việc thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện. Ba là, tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện thắng lợi Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với phát huy vai trò nêu gương của cán bộ chủ trì các cấp trong toàn quân. Phát huy vai trò nêu gương của cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội là sự thể hiện sinh động việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Do đó, cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng, cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội cần tiếp tục giáo dục, làm cho cán bộ, chiến sĩ, trước hết là cán bộ chủ trì nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, tích cực phát động các phong trào hành động cách mạng, đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thấm sâu vào từng hoạt động của mỗi cơ quan, đơn vị bằng hành động, lời nói, việc làm cụ thể từng tuần, từng tháng, từng quý của cán bộ chủ trì các cấp. Các cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chức năng, đội ngũ chính ủy, chính trị viên cần nêu cao vai trò, trách nhiệm, tăng cường kiểm tra, giám sát, định kỳ sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, làm cho việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành hoạt động thường xuyên, liên tục của cán bộ chủ trì các cấp trong toàn quân. Bốn là, thường xuyên tự phê bình và phê bình; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” trong phát huy vai trò nêu gương của cán bộ chủ trì các cấp. Tự phê bình và phê bình, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” là vấn đề có tính quy luật trong xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng trong mọi thời kỳ cách mạng. Thực tiễn chứng minh rằng, nhờ thường xuyên làm tốt tự phê bình và phê bình, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” nên trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, Đảng ta, Quân ủy Trung ương vẫn giữ vững sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, đủ sức lãnh đạo và đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thành công. Vì vậy, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội hiện nay chỉ thực sự đạt chất lượng, hiệu quả tốt nhất khi công tác tự phê bình và phê bình được thực hiện nghiêm túc; đồng thời, thực hiện tốt việc kết hợp chặt chẽ giữa “xây” đi đôi với “chống”. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng, đội ngũ chính ủy, chính trị viên phải thường xuyên coi trọng công tác lãnh đạo, chỉ đạo kết hợp chặt chẽ giữa phát huy vai trò cán bộ chủ trì gắn với tự phê bình và phê bình trong cấp ủy, chỉ huy đơn vị. Thường xuyên có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc tự phê bình và phê bình với việc phát huy vai trò, trách nhiệm của cán bộ chủ trì các cấp. Hằng tháng, hằng quý và hằng năm, các cấp ủy cần phải có nghị quyết lãnh đạo, xác định rõ mục tiêu, nội dung, biện pháp kiểm điểm tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên gắn với thực hiện vai trò nêu gương của cán bộ chủ trì. Gắn việc kiểm điểm đánh giá, xếp loại tổ chức đảng, đảng viên và nhận xét, đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, sắp xếp cán bộ hằng năm với kiểm điểm tự phê bình và phê bình việc phát huy vai trò nêu gương của cán bộ chủ trì các cấp. Nêu gương thì trước hết phải làm gương từ việc nhỏ đến việc lớn, thể hiện thường xuyên về mọi mặt, phải “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; nói phải đi đôi với làm. Đồng thời, lấy gương người tốt, việc tốt để tuyên truyền, thuyết phục, cảm hóa, lôi cuốn quần chúng. Do vậy, cấp ủy, cơ quan chức năng và cán bộ chủ trì các cấp, nhất là đội ngũ chính ủy, chính trị viên, người đứng đầu cấp ủy cơ quan, đơn vị cần kết hợp chặt chẽ việc tuyên truyền, nhân rộng gương “người tốt, việc tốt”, những điển hình tiên tiến về nêu gương của cán bộ, chiến sĩ trong các đơn vị; đồng thời, phê phán mọi biểu hiện, hành vi thiếu gương mẫu trong lời nói, việc làm của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ. Kiên quyết phê phán những cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì, không dám nói, không dám hành động, hoặc “nói nhiều, làm ít”, “nói mà không làm”, “nói một đằng, làm một nẻo”, thậm chí thụ động, ngồi chờ, sợ trách nhiệm. Năm là, thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy định nêu gương của cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “…kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên và cán bộ làm trọn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốt cho nhân dân”3; “Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”4. Vì vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát. Về nội dung, kiểm tra, giám sát toàn diện, song cần có kế hoạch kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là sự gương mẫu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, thái độ, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, v.v. Quá trình kiểm tra, giám sát phải thực hiện đúng nguyên tắc, quy trình, phương châm, phương pháp, phát huy tốt vai trò của cấp ủy, chi bộ, ủy ban kiểm tra các cấp, của mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng trong đơn vị. Lấy kết quả thực hiện quy định nêu gương là một tiêu chí đánh giá, xếp loại cán bộ, đảng viên, lấy phiếu tín nhiệm; đồng thời, kiên quyết xử lý nghiêm những người vi phạm. Trong số nhiều giải pháp quan trọng nhằm xây dựng Đảng luôn “trong sạch, vững mạnh” ngang tầm nhiệm vụ, Đảng ta luôn đề cao vai trò “nêu gương” của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì, người đứng đầu cấp ủy cơ quan, đơn vị. Đây là phương pháp đúng đắn, hiệu quả và là yêu cầu bức thiết trong tình hình hiện nay. Thực hiện tốt các quy định nêu gương không chỉ là tình cảm, trách nhiệm đối với Đảng, mà còn góp phần giáo dục, rèn luyện cán bộ chủ trì các cấp trong Quân đội “vừa hồng, vừa chuyên”, tô thắm thêm phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, nhân lên nhiều việc làm tốt, tấm gương tốt ở mỗi cơ quan, đơn vị. Qua đó, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

VIỆT NAM - ĐIỂM HẸN HOÀ BÌNH

 

    Yêu chuộng hòa bình là nét văn hóa tốt đẹp, gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Trong thời kỳ mới, Đảng, Nhà nước, nhân dân ta đã không ngừng gìn giữ, bồi đắp, phát huy để giá trị thiêng liêng, cao quý đó càng tỏa sáng, vững bền.

    1. Những năm qua, trong xu thế hội nhập quốc tế, hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam diễn ra phong phú, đa dạng trên các trụ cột và nhiều phương diện, bình diện. Công tác đối ngoại đã góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới đất nước. Tuy nhiên, cũng trong quá trình đó, những đối tượng hiềm khích và lực lượng chống phá cách mạng Việt Nam không ngừng tung ra các chiêu trò, thủ đoạn bôi nhọ, bẻ cong sự thật. Đã có nhiều bài viết, bài báo đăng trên các diễn đàn, website, cơ quan báo chí địa chỉ ở nước ngoài... chủ ý bịa đặt nhiều thông tin, cố tình quy chụp, cho rằng Việt Nam đang tăng cường quan hệ với nước này nhằm chống nước kia, hoặc dựa vào nước này để tránh sức ép từ nước khác, cố tình gây dựng đồng minh, phe cánh... Cùng với đó, chúng cố gắng xuyên tạc, bôi nhọ những giá trị truyền thống và giá trị văn hóa yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam.

    Những luận điệu nêu trên tuy không mới nhưng xuất hiện dày đặc ở những thời điểm diễn ra các hoạt động đối ngoại quan trọng của Việt Nam, cũng ít nhiều gây xáo trộn, nhiễu loạn thông tin. Thực chất, đây là những thủ đoạn nhằm xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam, với mưu đồ gây bất hòa trong mối quan hệ giữa Việt Nam với một số quốc gia trên thế giới... Mặc dù chỉ là những luận điệu vô căn cứ, bịa đặt, là tiếng nói lạc lõng, yếu ớt của một số cá nhân... nhưng hệ quả của nó sẽ hết sức nguy hại, nếu không sớm được nhận diện, đấu tranh phủ nhận, bóc gỡ kịp thời.

    2. Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của Việt Nam cho thấy: Dân tộc Việt Nam đã phải tiến hành nhiều cuộc kháng chiến chống ngoại xâm để bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc. Dù trải qua các cuộc trường kỳ kháng chiến, đối đầu với những kẻ thù hùng mạnh, nhưng dân tộc Việt Nam luôn khẳng định tính chính nghĩa và tinh thần yêu chuộng hòa bình bất diệt. Trong đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân sinh động nhất cho khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, hòa bình là lợi ích của tất cả các dân tộc, do đó phải đấu tranh cho hòa bình trên thế giới được bền vững, “giữ gìn hòa bình thế giới tức là giữ gìn lợi ích của nước ta. Vì lợi ích của nhân dân lao động khắp thế giới là nhất trí”. Cũng theo Người, trừ những người đi bóc lột, còn lại đều là bạn bè, là anh em, những người chung cảnh bị bóc lột. Người là hiện thân của tinh thần “Quan san muôn dặm một nhà, bốn phương vô sản đều là anh em” và lý tưởng “người với người là bạn”.

    Thực tiễn cách mạng cho thấy, mỗi người dân Việt Nam khi bước ra chiến trường là vì độc lập, hòa bình của dân tộc, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân và thực hiện tinh thần quốc tế cao cả. Họ luôn anh dũng, kiên cường chiến đấu bằng tinh thần "sẵn sàng hy sinh khi Tổ quốc cần", thế nhưng đến lúc giành thắng lợi cuối cùng, người dân lại hồn hậu, lạc quan đón nhận cuộc sống thái hòa bình dị, sẵn sàng "gác lại quá khứ, hướng tới tương lai", đúng như nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã đúc kết trong bài "Việt Nam quê hương ta": Đất nghèo nuôi những anh hùng/ Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên/ Đạp quân thù xuống đất đen/ Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa- Đây là sự khái quát đầy đủ, sinh động về tinh thần yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam.

    3. Đã có không ít lãnh đạo của các cường quốc trên thế giới và tổ chức quốc tế ghi nhận, bày tỏ cảm phục về một đất nước Việt Nam yêu chuộng hòa bình và hành động vì hòa bình thế giới. Tổng thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres từng khẳng định với lãnh đạo cấp cao Việt Nam trong một cuộc điện đàm: “Việt Nam là nhân tố quan trọng đóng góp cho hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới”. Đại sứ Barbara Woodward, Trưởng phái đoàn thường trực Anh tại Liên hợp quốc từng đánh giá: “... Những đóng góp của Việt Nam có giá trị cao, giúp giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với hòa bình và an ninh quốc tế”. Phát biểu khi đến thăm Việt Nam (năm 2016), Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama khẳng định: “Đối với các bạn, xung đột trong quá khứ là một ký ức không vui. Nhưng ngày hôm nay, Việt Nam và Mỹ đã cho thế giới thấy rằng, trái tim có thể thay đổi và hòa bình là điều có thể”. Đặc biệt, đã có đến 5 lần các Tổng thống Mỹ sang thăm Việt Nam và chứng kiến những đổi thay của mối quan hệ hai nước, song tình cảm thân thiện, yêu chuộng hòa bình của người dân Việt Nam là giá trị bền vững làm lay động trái tim của những chính khách, như Tổng thống Obama gửi lời cảm ơn trước lúc rời Việt Nam trong chuyến thăm năm 2016: “Sự thân thiện của các bạn đã chạm đến trái tim tôi”.

    Đã từ lâu, Thủ đô Hà Nội được bạn bè quốc tế biết đến là điểm đến hòa bình, thân thiện, mến khách. Hình ảnh lãnh đạo cấp cao của các quốc gia trên thế giới đi dạo trên phố phường Việt Nam thanh bình, thưởng thức ẩm thực đường phố, uống cà phê vỉa hè... từ lâu đã không có gì mới mẻ hay lạ lẫm với người dân Việt Nam, cũng trở nên rất đỗi thân quen với truyền thông quốc tế. Đặc biệt, không phải tự dưng mà cách đây mấy năm, lãnh đạo của hai nước Mỹ và Triều Tiên đều đề nghị Việt Nam đứng ra làm nước chủ nhà tổ chức Hội nghị thượng đỉnh lần hai (năm 2019). Hội nghị diễn ra an toàn tuyệt đối không chỉ đối với phái đoàn hai nước mà còn với gần 3.000 phóng viên đến từ hơn 200 hãng thông tấn, báo chí quốc tế từ nhiều châu lục đến đưa tin về sự kiện này. Việt Nam đã rất nỗ lực, chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, bảo đảm an ninh, an toàn tuyệt đối cho hội nghị, thể hiện rõ đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Cả hai nguyên thủ trước khi rời Việt Nam đều gửi lời cảm ơn Việt Nam vì sự tiếp đón ân cần, chu đáo, thịnh tình và vì trách nhiệm chung với cộng đồng quốc tế.

    Trong những năm gần đây, khi tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến mới, nhanh chóng và phức tạp, gây không ít khó khăn, thách thức lớn hơn so với dự báo, nhưng Việt Nam luôn là quốc gia giữ vững hòa bình, ổn định để phát triển, đổi mới đất nước. Môi trường sống ở Việt Nam không ngừng được cải thiện, chất lượng cuộc sống của người dân không ngừng được nâng cao cả về vật chất và tinh thần, trong đó có nhiều tiêu chí gây ấn tượng, ngang với những nước phát triển. Môi trường ổn định, yên bình cùng người dân thân thiện đã thu hút các nhà đầu tư quốc tế, đồng thời thuyết phục rất nhiều người nước ngoài lựa chọn sinh sống và làm việc tại Việt Nam.

    Không dừng lại ở đó, Việt Nam đã và đang mang khát vọng hòa bình vươn xa bằng cách tham gia tích cực, có trách nhiệm vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Mỗi sĩ quan được cử đi làm nhiệm vụ đặc biệt này chính là đại sứ hòa bình, nắm trọng trách truyền đi khát vọng hòa bình của dân tộc. Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện để cứu trợ nhân đạo, tái thiết cơ sở hạ tầng, rà phá bom, mìn, giúp nhân dân bản địa ổn định cuộc sống... đã trở thành biểu tượng cao đẹp, khiến hai tiếng Việt Nam được vang lên đầy tự hào ở những đất nước xa xôi.

    4. Mới đây, phát biểu tại Lễ kỷ niệm 78 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2-9-1945 / 2-9-2023), Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng khẳng định: Việt Nam là đất nước của hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, là điểm đến tươi đẹp, an toàn, thân thiện, giàu lòng mến khách. Việt Nam luôn nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trên thế giới. Việt Nam sẵn sàng làm cầu nối cho hợp tác và đối thoại, củng cố chủ nghĩa đa phương, thúc đẩy giải quyết bằng biện pháp hòa bình thông qua đối thoại về các tranh chấp trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế; sẽ luôn là người bạn chân thành, thủy chung, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

    Thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn, Việt Nam đã và đang đẩy mạnh thiết lập quan hệ song phương, đa phương với các quốc gia trên thế giới. Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với 192 quốc gia trên thế giới. Trong đó, Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 30 nước; bao gồm 5 nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, toàn bộ Nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu (G7) và tất cả thành viên ASEAN. Đảng Cộng sản Việt Nam thiết lập quan hệ với 247 chính đảng ở 111 quốc gia, trong đó 96 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 28 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính. Quốc hội Việt Nam có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 nước. Các tổ chức hữu nghị nhân dân có quan hệ với 1.200 tổ chức nhân dân và phi chính phủ nước ngoài. Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 220 đối tác, 71 nước đã công nhận quy chế kinh tế thị trường đối với Việt Nam. Việt Nam là thành viên của hơn 70 tổ chức, diễn đàn đa phương khu vực và toàn cầu... Kết quả đó cho thấy thành tích to lớn của công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Thế nhưng, điều đáng ghi nhận hơn là các đối tác đều tích cực, chủ động, bày tỏ lòng mong muốn hợp tác với Việt Nam; thể hiện sự cảm phục, tình yêu và sự trọng thị dành cho Việt Nam-một người bạn thủy chung-một đối tác tin cậy, luôn nỗ lực hợp tác vì lợi ích chung và vì hòa bình của thế giới.

    Để tiếp tục khẳng định vai trò và sứ mệnh của một quốc gia yêu chuộng hòa bình, thời gian tới, Việt Nam tiếp tục nỗ lực giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm tốt an ninh, trật tự, an toàn xã hội, tạo ra môi trường kinh tế-xã hội hòa bình, năng động, thân thiện. Việt Nam kiên định chủ trương: “Thêm bạn bớt thù, khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, đẩy mạnh công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước để không ngừng khẳng định uy tín, vị thế của dân tộc; đồng thời thể hiện khát vọng hòa bình của cả dân tộc và mỗi người dân Việt Nam.

    Đặc biệt, triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) và thực hiện ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị đối ngoại toàn quốc (tháng 12-2021), đối ngoại Việt Nam cần tiếp tục kiên định về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược; chú trọng triển khai hiệu quả, đồng bộ, toàn diện, linh hoạt trên cả 3 trụ cột (đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân); nỗ lực thực hiện vai trò tiên phong trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; huy động mạnh mẽ các nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển đất nước; nâng cao vai trò, vị thế, uy tín quốc tế của Đảng và đất nước. Hơn bao giờ hết, Việt Nam tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.