Lúc sinh thời
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Thanh niên là một bộ phận quan trọng
của dân tộc, là người chủ tương lai của đất nước…Nước nhà thịnh hay suy, yếu
hay mạnh một phần lớn là do thanh niên”(1). Thanh niên luôn có hoài
bão lớn, có ước mơ cháy bỏng. Giàu nghị lực, sống với lý tưởng mãnh liệt và dám
xả thân vì nghĩa lớn, thanh niên rất năng động, sáng tạo, dám khám phá cái mới
và đủ sức khỏe, đủ thời gian thực hiện những hoài bão cao đẹp của mình. Trong
bất cứ thời đại nào, lực lượng thanh niên chính là nguồn xung lực mạnh mẽ nhất
của đất nước, là đại biểu cho tinh thần tự tôn và sự đi lên của cả dân tộc.
Đầu thế kỷ
XX, đất nước ta đã bị
thực dân Pháp xâm lược và đặt ách đô hộ. Nhân dân ta muốn rửa vết nhơ nô lệ
nhưng không được, rửa hận cũng không xong, không phải vì thiếu tinh thần và ý chí
kiên cường dũng cảm, mà chính là thiếu phương hướng và đường lối đúng đắn,
thiếu lý tưởng, thiếu người lãnh đạo. Những thử thách mới lại đòi hỏi lớp lớp
người trẻ tuổi bước vào cuộc chiến đấu mới. Ngay trong bối cảnh đó, chính lớp
thanh niên đã tìm ra chân lý, tìm ra con đường cho dân tộc đi theo và đảm nhận
vai trò lãnh đạo toàn dân, đưa Việt Nam thoát khỏ ách nô lệ.
Năm 1911, mặc dù
tại thời điểm này ở Việt Nam đang tồn tại đồng thời ba sự lựa chọn từ ba giải
pháp cứu nước (đó là con đường đấu tranh theo khuynh hướng phong kiến và con
đường theo khuynh hướng tư sản với 2 xu hướng bạo động và cải cách), nhưng
người thanh niên Nguyễn Tất Thành lúc này mới 21 tuổi, đã sớm nhận ra các giải
pháp đó đều không phù hợp và không thể đáp ứng được yêu cầu của lịch sử dân
tộc. Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã quyết tìm một hướng đi mới. Từ trải
nghiệm của bản thân, Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, đáp ứng được
yêu cầu của lịch sử dân tộc đồng thời phù hợp với xu thế của thời đại mới. Đó
là con đường giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp và giải phóng con
người, độc lập dân tộc gắn liền với xã hội chủ nghĩa.
Trong thế kỷ
XX, với chính sách nô
dịch và kìm hãm kinh tế - xã hội và văn hóa với việc “gieo rắc một nền giáo dục
đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát”(2) của thực
dân thì những người Việt Nam, đặc biệt là thanh niên, “mặc dù bị người phương
Tây coi là lạc hậu, vẫn hiểu rõ hơn hết sự cần thiết của một cuộc cải cách toàn
bộ xã hội” và sự tồn vong của dân tộc phụ thuộc vào thanh niên. Vị lãnh tụ
trẻ tuổi Nguyễn Ái Quốc đã rung lên hồi chuông đối với những người cùng trang
lứa: “Hỡi Đông Dương đáng thương hại. Người sẽ chết mất, nếu thanh niên già cỗi
của Người không sớm hồi sinh!”(3).
Giữa vòng nô lệ,
nhiều thanh niên mà trước hết là những thanh niên trí thức đã tìm đường “vượt
ngục”. Họ cho rằng, việc xuất dương là một khám phá mới, bởi việc xuất dương
không đặt các thanh niên trí thức vào tình trạng bên ngoài cuộc đấu tranh.
Trong đó, con đường sang phương Tây, sang Pháp cũng là một con đường chống
Pháp. Nếu không sang Pháp thì theo đường “Đông Du” đến Nhật hoặc vượt biên sang
Trung Quốc, Thái Lan…. Họ ra đi mang theo một bầu nhiệt huyết đặng cứu giống
nòi. Tiêu biểu như Lê Duy Doãn, Lê Văn Phan và Phạm Đài, là ba thanh niên cùng quê
Xứ Nghệ. Họ nguyện ra đi để xứng với dòng máu Lạc Hồng, làm rạng danh vùng đất
sông Lam núi Hồng, nên cả ba người cùng lấy tên mới với chữ “Hồng” làm tên lót:
Lê Duy Doãn là Lê Hồng Phong; Lê Văn Phan là Lê Hồng Sơn và Phạm Đài là Phạm
Hồng Thái. “Thái - Sơn - Phong có nghĩa là ngọn gió núi Thái Sơn, nhất định sẽ
mạnh, nhất định sẽ thổi bay tất cả quân xâm lược”(4).
Trong thế kỷ
XX, con đường tìm kiếm
lý tưởng của thanh niên là con đường đầy khó khăn gian khổ. Không phải chỉ cần
một trái tim nhiệt tình cháy bỏng, mà còn cần cả sự thông minh của khối óc;
không phải chỉ bằng quan sát, chiêm nghiệm với một nghị lực phi thường, mà còn
phải lăn lộn trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mới có thể đến được với lý
tưởng cao đẹp. Thanh niên Việt Nam biết rằng, “Dấn thân vô là phải bị tù đày -
Là gươm kề tận cổ súng kề tai - Là thân sống coi như còn một nửa”(5).
Những thanh niên Việt Nam vẫn chấp nhận hy sinh để trở thành nòng cốt, thành
những cơn “Sóng Hồng”(6) trong phong trào cách mạng. Họ luôn
trau dồi bản thân, luôn “Tự chỉ trích”(7) để vươn lên. Họ xác
định phải chiến đấu vì dân tộc, vì nhân dân. Nguyện “Là con của vạn nhà - Là em
của vạn kiếp phôi pha - Là anh của vạn đầu em nhỏ…”(8) để hiến
dâng tuổi thanh xuân, kể cả tính mạng nếu cần, trong cuộc “Trường Chinh”(9) giành
độc lập, tự do cho dân tộc. Hãy nghe câu nói của Hà Huy Tập trước họng súng kẻ
thù: “Tôi không có gì phải hối tiếc. Nếu còn sống tôi sẽ tiếp tục hoạt động”(10);
còn Lý Tự Trọng, ở tuổi 16, cái tuổi thần tiên của cuộc đời, đã khẳng định lý tưởng
của mình: “Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng chứ không
thể là con đường nào khác”(11). Những câu nói đầy khảng khái đó đã
thể hiện lẽ sống của phần lớn thanh niên Việt Nam lúc bấy giờ.
Trong thế kỷ
XX, thanh niên Việt
Nam là những người rất sớm xa rời chủ nghĩa quốc gia cải lương mà các lãnh tụ
đã lên án việc bất hợp tác ở các trường. Có thể nói, thanh niên Việt Nam giai
đoạn đầu thế kỷ XX đã tự tin đón nhận cuộc “chuyển giao thế hệ”, “họ lao vào
một loại tìm kiếm không ngừng về tư tưởng và đến với chủ nghĩa Mác”(12).
Trên thực tế, những thanh niên trì thức cấp tiến, đã nhanh chóng gia nhập tổ
chức của thanh niên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập: Tổ chức Việt Nam cách
mạng thanh niên và sau đó là gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam để thực hiện hoài
bão, lý tưởng của mình ở độ tuổi mười chín hai mươi tiêu biểu như: Lê Hồng
Phong (23 tuổi); Lê Hồng Sơn (24 tuổi); Hồ Tùng Mậu (29 tuổi); Trần Phú (21
tuổi); Hà Huy Tập (22 tuổi); Nguyễn Văn Cừ (17 tuổi); Võ Nguyên Giáp (29 tuổi);
Trường Chinh (20 tuổi); Phạm Văn Đồng (20 tuổi); Nguyễn Văn Linh (14 tuổi); Lê
Duẩn (22 tuổi); Nguyễn Thị Minh Khai (20 tuổi); Nguyễn Đức Cảnh (18 tuổi); Ngô
Gia Tự (18 tuổi)….Thế hệ thanh niên đầu thế kỷ XX đã trở thành lực lượng xung
kích của cách mạng Việt Nam.
Trong thế kỷ
XX, thanh niên Việt
Nam đã nhận thức rằng: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường
nào khác con đường cách mạng vô sản”(13). Đây là lý tưởng cao đẹp
nhất, là niềm tin, lẽ sống của lớp thanh niên, sau đó đã trở thành lý tưởng cho
cả dân tộc Việt Nam.
Thế kỷ
XX là thế kỷ của
lớp lớp thanh niên Việt Nam thực hiện những lời thề, đó là lời thề giành lại
độc lập dân tộc “…dù phải hy sinh đến đâu, dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn
cũng quyết giành cho được độc lập dân tộc” và sẵn sàng “…đem tất cả tinh thần
và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững nền độc lập ấy”, “…thà hy sinh
tất cả chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”; là lời thề
chiến đấu cho Tổ quốc và cho cả nhân loại với chân lý “không có gì quý hơn độc
lập tự do”!
Sự nghiệp đấu
tranh cho độc lập, tự do của dân tộc và xã hội chủ nghĩa là một cuộc cách mạng
lâu dài, gian khổ và quyết liệt nhất, triệt để và vinh quang nhất. Trong cuộc
“trường chinh” này, thế hệ thanh niên thế kỷ trước đã tìm ra chân lý, tìm thấy
lý tưởng chiến đấu và đồng thời thực hiện được một phần công cuộc ấy. Thế hệ đó
đã giành lại độc lập dân tộc, tự do cho dân tộc. Nó cũng nói lên một điều rằng,
thế hệ ngày nay sẽ bước tiếp con đường ấy, xây dựng thành công xã hội xã hội
chủ nghĩa - xã hội mà hiện nay toàn Đảng, toàn dân ta đang định hướng và từng
bước định hình mà thanh niên sẽ là lực lượng quan trọng nhất quyết định sự
thắng lợi này.
Một thế kỷ là quãng thời gian đủ để chúng ta nhìn lại quá khứ với ý niệm “ôn cố
tri tân” trong quy luật tất yếu của dòng chảy truyền thống. Bởi lịch sử phát
triển của dân tộc là kết quả sự kế tục từ các thế hệ nối tiếp nhau. Nếu không
biết trân trọng truyền thống thì chỉ có thể là những người không có trái tim.
Nhưng nếu chúng ta không tiếp nối truyền thống để vươn lên thì chúng ta không
có khối óc. Chúng ta không thể ăn bằng truyền thống, sống bằng tiềm năng, nhưng
không thể thiếu những điều đó. Thực tiễn lịch sử diễn ra một thế kỷ trước cho
thấy, tương lai của một đất nước, một sự nghiệp cách mạng không chỉ thể hiện ở
chỗ nó giải quyết đúng đắn hay không về mục tiêu, nhiệm vụ, biện pháp mà còn
tùy thuộc vào việc có chuẩn bị tốt về con người hay không. Thế hệ thanh niên
Việt Nam trong thế kỷ XX đã cống hiến trọn đời vì lý tưởng cao đẹp, hoàn thành
sứ mệnh cao cả của lịch sử. Họ đã làm nên một tấm gương sáng về con đường đi
tìm lý tưởng sống cho thế hệ thanh niên ngày này và mai sau noi theo tiếp bước.
Chính sức trẻ của các thế hệ thanh thiếu niên ở mọi thời đại trong lịch sử đã
mang lại sức mạnh cho dân tộc ta vượt qua mọi thử thách. Lý tưởng của thế hệ
thanh niên ngày nay vẫn là ra sức lao động, học tập và rèn đức luyện tài để trở
thành “những con người xã hội chủ nghĩa”
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét