Thứ Bảy, 4 tháng 11, 2023

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN HIỆN NAY

 


Nhận thức mới về vai trò của kinh tế thị trường là tạo ra một không gian rộng mở hơn cho sự phát triển về nhiều mặt của GCCN với nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia quá trình công nghiệp hóa. Từ thực tế này, lý luận về GCCN hiện đại được bổ sung, phát triển thêm. Chẳng hạn, hiệu quả sản xuất  - kinh doanh, năng suất lao động, lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, chuỗi giá trị toàn cầu, chủ động hội nhập, tổ chức chính trị   - xã hội của công nhân trong bối cảnh mới,... đều là những vấn đề lý luận mới mẻ và rộng lớn, phức tạp hơn.

Có thể, khái niệm “GCCN trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở giai đoạn cải cách, đổi mới” sẽ là một vấn đề mà lý luận về GCCN đang tích hợp thêm các nội hàm từ thực tiễn hiện nay. Có một số dấu hiệu khá rõ là, trên thế giới đang có những khái niệm “lưỡng tính” để phản ánh trình độ như “công nhân tri thức”, “công nhân - trí thức”, “trí thức - công nhân” hoặc ở Trung Quốc có khái niệm “nông dân - công” để chỉ tính chất đang chuyển biến giai tầng; lại cũng có những khái niệm mang tính chi tiết hơn về vị trí mà họ tham gia: công nhân trong thành phần kinh tế nhà nước, công nhân trong thành phần kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Cùng với đó là các khái niệm mang tính phân lớp nghề nghiệp, như công nhân cổ cồn trắng, cổ cồn xanh, cổ cồn vàng, cổ cồn nâu(11). Trình độ mới của sản xuất và dịch vụ cùng với cách tổ chức xã hội hiện đại cũng làm cho cơ cấu của giai cấp công nhân hiện đại đa dạng tới mức nội hàm của nó liên tục phải điều chỉnh theo hướng mở rộng: theo lĩnh vực (công nhân làm việc trong lĩnh vực công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ); theo trình độ công nghệ (công nhân áo xanh - công nhân của công nghiệp truyền thống; công nhân áo trắng - công nhân có trình độ đại học, cao đẳng, chủ yếu làm công việc điều hành, quản lý sản xuất; công nhân áo vàng - công nhân của các ngành công nghệ mới, công nhân áo tím - công nhân dịch vụ - lao động đơn giản như gác cầu thang, vệ sinh đô thị...). Lại có cả những phân loại công nhân theo sở hữu (có cổ phần, có tư liệu sản xuất và trực tiếp lao động tại nhà để sống và công nhân không có cổ phần, chỉ sống bằng sức lao động của mình). Phân loại công nhân theo chế độ chính trị (công nhân ở các nước phát triển theo định hướng XHCN; ở các nước G7; ở các nước đang phát triển...).

Cũng vì vậy, đã có hàng chục khái niệm để chỉ GCCN và có nhiều điểm khác biệt về nội hàm khi so sánh các khái niệm ấy với nhau. Sự mở rộng nội hàm ấy đã khiến cho nhiều khi so sánh công nhân hiện nay với công nhân ở thế kỷ XIX chỉ còn đặc điểm là “lao động làm thuê” và “bị bóc lột sức lao động” được C. Mác sử dụng, là có thể thấy rõ. Còn các tiêu chí - phẩm chất khác của công nhân, như gắn liền với máy móc công nghiệp, lao động mang tính xã hội hóa, có tính tổ chức, kỷ luật và triệt để cách mạng, có tinh thần quốc tế và bản sắc dân tộc... đều có sự thay đổi, mở rộng và trong nhiều trường hợp cụ thể, là tương đối khó nhận diện./.

TBQL 17

 

GIÁ TRỊ CỦA NHẬN THỨC ĐÚNG ĐẮN VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 


Thời gian tới, yêu cầu cấp thiết tiếp tục đặt ra cho công tác lý luận là đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, cần có những đánh giá khách quan về những thành tựu đã đạt được và những bất cập, hạn chế, khuyết điểm; để có nhận thức ngày càng sáng rõ hơn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đặc biệt, cần tập trung nghiên cứu làm rõ một cách tổng quát lộ trình và những chặng đường của thời kỳ quá độ; nội dung cơ bản của từng chặng đường đó…; những thành tựu đã đạt được và hạn chế trong nhiệm vụ xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ở các chặng đường đã qua của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Hiện nay, các thế lực thù địch ráo riết đẩy mạnh hoạt động chống phá các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam. Chúng tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình”, với nhiều thủ đoạn chống phá hết sức tinh vi, thâm độc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tư tưởng, lý luận, với mục tiêu nhằm phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng nền tảng tư tưởng của Đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của của Đảng và thành tựu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam trong công cuộc đổi mới. Tính chất thâm độc của các thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch đối với nước ta trong những năm gần đây là triệt để lợi dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội, với các chiêu trò “đổi trắng thay đen”, đưa các thông tin đúng - sai lẫn lộn và xây dựng các “ngọn cờ” chống phá từ bên trong, kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trước tình hình trên, việc làm rõ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có giá trị tư tưởng quan trọng, là cơ sở phản bác một cách thuyết phục, đanh thép các luận điệu sai trái, thù địch; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại để vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, từng bước hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Năng lực, uy tín của một đảng chính trị cầm quyền bao giờ cũng được đánh giá bởi thước đo thực tiễn với nhiều yếu tố, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó, yếu tố quan trọng hàng đầu là có thực hiện đúng mục tiêu, đường lối đề ra và thúc đẩy đất nước phát triển; có nâng cao tiềm lực mọi mặt của đất nước, khắc phục khó khăn và nguy cơ đe dọa đến chủ quyền, an ninh quốc gia và nền độc lập dân tộc không; cải thiện đời sống cho nhân dân lao động đến đâu và được quốc tế đánh giá như thế nào?… Với Việt Nam, những thành tựu mà đất nước đạt được trong 35 năm đổi mới chứng minh rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đảng ta luôn luôn nhất quán, kiên định với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Việc làm rõ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có giá trị dẫn dắt trong tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng trong thực tiễn theo chức năng, nhiệm vụ của mỗi tổ chức đảng, mỗi cơ quan, đơn vị, chức trách của mỗi cán bộ, đảng viên. Đường lối đổi mới, tầm nhìn và định hướng phát triển của đất nước đã xác định trong Đại hội XIII của Đảng chỉ trở thành lực lượng vật chất khi được thâm nhập, quán triệt sâu sắc và tổ chức có hiệu quả trong hoạt động thực tiễn ở mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đồng thời, đó là cơ sở để mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên làm tốt công tác tư tưởng, quán triệt, tuyên truyền sâu rộng Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đến quần chúng nhân dân. Với trí tuệ, bản lĩnh chính trị vững vàng, đường lối lãnh đạo đúng đắn, kinh nghiệm lãnh đạo quý báu của Đảng, sự ủng hộ, chung sức, đồng lòng của nhân dân, khát vọng về một đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc và mục tiêu đưa nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ trở thành hiện thực./.

TBQL 17

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN, ĐỒNG BỘ GẮN VỚI THỰC HIỆN ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ VÀ HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

 


Công cuộc đổi mới, kết hợp phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại cùng các nguồn lực khác, như phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động, tích cực tăng cường hợp tác, mở rộng hội nhập quốc tế đã đem lại những thay đổi to lớn, thành tựu có ý nghĩa lịch sử cho đất nước trong 37 năm thực hiện đường lối đổi mới. Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”… Việt Nam kiên định đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, là một hình mẫu đặc thù của chủ nghĩa xã hội với điểm xuất phát thấp và phải gánh chịu hậu quả chiến tranh nặng nề. Mỗi nhiệm kỳ đại hội của Đảng là một chặng đường, xác định đúng mục tiêu, nhiệm vụ và kết quả đạt được của nhiệm kỳ trước tạo tiền đề phát triển cho nhiệm kỳ sau. Những thành tựu to lớn ấy có được là do sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng - nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Đại hội XIII của Đảng xác định tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước trong những mốc lịch sử quan trọng:

Một là, đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, Việt Nam phấn đấu trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đảng ta đã đề ra các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025, trong đó: “Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm đạt khoảng 6,5 - 7%/năm. Đến năm 2025, GDP bình quân đầu người khoảng 4.700 - 5.000 USD”.

Hai là, đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, Đảng ta xác định 12 định hướng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó về lĩnh vực kinh tế là: “Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng…; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”.

Ba là, đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa./.

TBQL 17

 

CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM LÀ PHÙ HỢP VỚI XU THẾ CỦA THỜI ĐẠI HIỆN NAY

 


Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, C. Mác đã cho rằng: “Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”. Theo chiều tiệm tiến thì việc phát triển tuần tự hay bỏ qua một hình thái kinh tế - xã hội đã lỗi thời lạc hậu, xây dựng hình thái kinh tế - xã hội tiến bộ hơn là hợp quy luật phát triển của xã hội loài người. Cả về lý luận và thực tiễn đều cho thấy, chủ nghĩa tư bản không phải là nấc thang phát triển cao nhất của xã hội loài người. Trong thời đại hiện nay, các dân tộc chỉ có hai lựa chọn là, theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa, hay cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Sự lựa chọn con đường nào phụ thuộc vào nhận thức và hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của mỗi dân tộc. Nhưng, xu hướng phát triển chung là các dân tộc đều đi lên chủ nghĩa xã hội, dù cho con đường đó diễn ra lâu dài, gian khổ và cách thức tiến hành sẽ không giống nhau.

Điều ấy được kiểm chứng rõ trong tính đặc thù của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, là từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, sau khi giành được độc lập đã bỏ qua sự phát triển chế độ tư bản chủ nghĩa để đi lên chủ nghĩa xã hội. Nước ta phải trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn, đầy gian khổ hy sinh với quyết tâm chống lại ách đô hộ và xâm lược của đế quốc, thực dân, để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của đất nước, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Việt Nam là một tấm gương mẫu mực trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội; đó là cơ sở bảo đảm vững chắc cho nền độc lập, tự do của dân tộc. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là vấn đề cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, là đường lối cơ bản, xuyên suốt và nhất quán của cách mạng Việt Nam.

Ngày nay, chủ nghĩa tư bản hiện đại bước sang giai đoạn mới là chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa, có nhiều thành tựu trong giải phóng, phát triển lực lượng sản xuất, phát triển khoa học và công nghệ, nên đã đạt được năng suất lao động cao. Song, chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó; các cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, các tệ nạn xã hội, nhất là khi đại dịch COVID-19 diễn ra lại càng làm bộc lộ rõ bản chất chế độ chính trị - xã hội của các nước này không vì sức khỏe, hạnh phúc của đại đa số nhân dân lao động. Các phong trào đấu tranh phản kháng xã hội đã bùng nổ mạnh mẽ, với những nội dung và hình thức mới ở nhiều nước tư bản phát triển trong thời gian qua, càng làm bộc lộ rõ sự thật về những mâu thuẫn mang tính bản chất không thể hóa giải của chế độ tư bản chủ nghĩa./.

TBQL 17

LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ SỰ NHẤT QUÁN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 


“Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam”. Trong thời kỳ đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, có ý kiến lo ngại là “đổi mới” hay “đổi màu”, công cuộc đổi mới có giữ vững được định hướng xã hội chủ nghĩa hay không, phát triển có hợp quy luật không? Vì thế, công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ đất nước giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng ta là một vấn đề lớn, thu hút nhiều sự chú ý ở cả trong nước và nước ngoài trong những năm qua. Kể từ Đại hội VI của Đảng đến nay, đã có những cuộc hội thảo bàn luận khá sôi nổi về khả năng và triển vọng của chủ nghĩa xã hội; trong đó, không ít ý kiến có biểu hiện dao động, hoài nghi về tương lai của chế độ xã hội chủ nghĩa. Vào những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, chủ nghĩa xã hội hiện thực rơi vào khủng hoảng trầm trọng, sụp đổ ở Liên Xô và một số nước Đông Âu; nhưng, với bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn kiên định với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định: “Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”. Đến Đại hội XI của Đảng, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

Chúng ta luôn khẳng định xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là đem lại tự do, hạnh phúc của nhân dân: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé” vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đảng, Nhà nước luôn luôn thực hiện quan điểm nhất quán là “dân là gốc”, với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”./.

TBQL 17

 

BỒI DƯỠNG PHONG CÁCH LÀM VIỆC DÂN CHỦ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ HIỆN NAY

 


Trong những năm qua, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, trong đó có phong cách làm việc dân chủ đã đạt nhiều kết quả, góp phần chuyển biến mạnh mẽ, tích cực trong nhận thức, hành động của đội ngũ cán bộ. Song, trước yêu cầu của tình hình mới, đòi hỏi phải xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược nâng cao hơn nữa về chất lượng, vững kiến thức chuyên môn, có năng lực quản lý, điều hành, phong cách làm việc dân chủ, khoa học... Có như vậy mới phát huy được trí tuệ của tập thể, đưa ra được những quyết định sáng suốt, hiệu quả, phù hợp, vượt qua khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị.

Tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII), triển khai kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị (khóa XIII) “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, ngày 12-6-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã nhấn mạnh: “Phong cách Hồ Chí Minh là lối sống, tác phong khiêm tốn, giản dị, cầu thị, gần dân, trọng dân, tin dân, học dân, làm việc gì cũng phải vì lợi ích của nhân dân; là đầy tớ của dân chứ không phải “làm quan nhân dân”, không được lên mặt “làm quan cách mạng”(10). Có thể thấy, yêu cầu xây dựng, bồi dưỡng phong cách làm việc cho cán bộ, trong đó có phong cách dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh là việc làm hết sức cần thiết.
Để công tác này thực hiện có hiệu quả, trước hết, cần thực hiện nghiêm các quy chế, quy định của Đảng, Nhà nước về cán bộ và công tác cán bộ như: Quy định số 89-QĐ/TW ngày 4-8-2017 của Bộ Chính trị khóa XII về “Khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”; Quy định số 90-QĐ/TW ngày 4-8-2017 về “Tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý”; Quy định số 105-QĐ/TW ngày 19-12-2017 về “Phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử”; Quy định số 50-QĐ/TW, ngày 27-12-2021 về công tác quy hoạch cán bộ; Quy định số 80-QĐ/TW, ngày 18-8-2022 về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử; Quy định số 65-QĐ/TW, ngày 28-4-2022 về luân chuyển cán bộ; Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021 về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ… Việc thực hiện nghiêm các quy định trong công tác cán bộ là cách thức để thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong mỗi tổ chức đảng. Đồng thời để cán bộ phải tự ý thức rèn luyện phong cách làm việc dân chủ.

Bên cạnh đó, cần phát huy dân chủ, bảo đảm tính chặt chẽ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ. Công tác cán bộ được thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch sẽ tạo điều kiện cho cán bộ có môi trường rèn luyện, phấn đấu, phát triển toàn diện. Tiếp tục đổi mới công tác tác đánh giá cán bộ, bởi đây là khâu mở đầu, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng liên quan đến các khâu khác của công tác cán bộ. Đánh giá không đúng về cán bộ dẫn tới bố trí, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ không đúng,  có thể gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng; triệt tiêu nhân tố tích cực, thúc đẩy chủ nghĩa cơ hội, tiêu cực, suy thoái đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cán bộ được đánh giá khách quan, công tâm, được lựa chọn và bố trí đúng sẽ góp phần hạn chế tham nhũng, tiêu cực… Để đánh giá đúng cán bộ, cần đánh giá đa chiều, thông qua năng lực, phẩm chất và uy tín; dựa vào kết quả, hiệu quả thực hiện từng công việc cụ thể. Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý, cần phải căn cứ vào kết quả, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị. Đồng thời, phải căn cứ vào kết quả đổi mới, sáng tạo; tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nói đi đôi với làm; khả năng thích ứng nhanh với tình hình thực tiễn, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành. Đánh giá để bổ nhiệm và bầu cử phải trực tiếp khảo sát, gặp gỡ trao đổi với các tổ chức, cá nhân có liên quan và tham khảo ý kiến phản ánh, đóng góp của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Bản thân cán bộ tự đánh giá, tập thể đánh giá, cấp trên đánh giá, cấp dưới đánh giá, huy động các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia đánh giá cán bộ.

Cần có cơ chế, chính sách thu hút, lựa chọn, bồi dưỡng, sử dụng người có đức, có tài. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương gắn với các chế độ, chính sách như tiền lương, thu nhập, cải thiện cuộc sống, môi trường, điều kiện làm việc… cho cán bộ. Việc đổi mới, thực hiện tốt cơ chế, chính sách trên cơ sở kiểm soát tốt quyền lực, vừa đảm bảo chất lượng cán bộ, vừa phát huy dân chủ, phòng, chống được tiêu cực…

Thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm, trong đó có trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp cũng là cách để rèn luyện tác phong dân chủ. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI, XII) của Đảng đều nêu rõ vấn đề về vai trò, trách nhiệm, thẩm quyền người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016, của Bộ Chính trị “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” cũng đã khẳng định quan điểm đó. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ, trong nhiệm kỳ qua, “việc đổi mới phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo Đảng từ Trung ương tới cơ sở có bước tiến bộ. Coi trọng việc phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức đảng, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội”.

Cán bộ phải sâu sát cơ sở, nắm vững thực tiễn, kịp thời giúp cơ sở giải quyết các khó khăn và vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. Đây vừa là trách nhiệm, vừa là tác phong công tác cần phải có của mỗi cán bộ. Đặc biệt với cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu, để có phong cách lãnh đạo sâu sát, cần phải dành thời gian đi cơ sở, trực tiếp trao đổi, đối thoại với người dân, doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức…, từ đó tránh được bệnh quan liêu, hạn chế tình trạng ra các quyết định, chủ trương thiếu tính thực tiễn, duy ý chí. Mặt khác, cần xem phong cách sâu sát cơ sở, thực tiễn là một tiêu chí, một yêu cầu cần thiết trong quy hoạch, đề bạt cán bộ giữ vị trí người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp.

Cùng với làm tốt các khâu trong công tác cán bộ, cần “có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân”. Như vậy đội ngũ cán bộ sẽ ngày càng trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao về chất lượng, góp phần thực hiện thắng lợi các nghị quyết của Đảng./.

TBQL 17

 

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHONG CÁCH LÀM VIỆC DÂN CHỦ

 


Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng dân chủ, coi thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Người khẳng định, bản chất của dân chủ tức là dân là chủ và dân làm chủ. Trong Đảng, Người căn dặn: “Để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ”; “Để lãnh đạo tốt, các cấp ủy phải thật đoàn kết, thật dân chủ, phải thực hành chế độ “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” và phê bình và tự phê bình để không ngừng tiến bộ”   . Đối với Nhà nước, Người cho rằng: “Nhà nước ta phát huy dân chủ đến cao độ, đó là do tính chất Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân. Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên”.

Người luôn coi trọng cán bộ, khẳng định “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Phong cách, tác phong công tác của cán bộ rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả công việc. Bởi vậy Người luôn căn dặn cán bộ “Tác phong phải dân chủ, dựa vào lực lượng quần chúng, học hỏi sáng kiến của quần chúng để lãnh đạo quần chúng”. Muốn có tác phong dân chủ, “cán bộ phải đi sát sản xuất, đi sát quần chúng và phải dân chủ với dân”. Như vậy, vừa là phát huy dân chủ nhân dân, vừa rèn luyện tác phong dân chủ của người cán bộ.

Trong cách thức, phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện phong cách làm việc giản dị, gần gũi nhưng sâu sắc, quyết đoán, hòa mình vào quần chúng nhân dân, coi nhân dân là cội nguồn của mọi thắng lợi. Người coi dân chủ là “chìa khóa vạn năng” để khơi dậy tính sáng tạo của nhân dân, huy động và sử dụng nguồn lực nhân dân vào các lĩnh vực, ngành, nghề hoạt động khác nhau, bảo đảm thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng ở mọi lúc, mọi nơi. Người đã nhấn mạnh: “Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái, và người khác cũng học theo. Và trong khi tăng thêm sáng kiến và hăng hái làm việc, thì những khuyết điểm lặt vặt, cũng tự sửa chữa được nhiều”.

Bởi vậy, Người nhắc nhở cán bộ, trong phong cách làm việc, phong cách công tác, phong cách lãnh đạo của cán bộ phải chống bệnh hẹp hòi, nghĩa là phải tuyệt đối vì lợi ích của Đảng, của Nhân dân. Người chỉ rõ: nguyên nhân của bệnh có nhiều, nhưng chủ yếu là do ham danh vọng và địa vị, nên khi ở cương vị phụ trách thì lôi người này, kéo người khác, ưa ai thì kéo vào, không ưa thì đẩy ra. Hậu quả của bệnh hẹp hòi là gây chia rẽ, mất đoàn kết giữa cán bộ cấp trên phái đến và cán bộ địa phương, cán bộ cũ và cán bộ mới, giữa bộ phận và toàn cục, cán bộ cơ quan này và cán bộ cơ quan khác, địa phương này và địa phương khác…

Phong cách làm việc dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là phải “nói đi đôi với làm”. Người yêu cầu cán bộ phải thống nhất giữa nói và làm, tư tưởng phải chuyển hóa thành hành động cụ thể, hoàn thành nhiệm vụ, thực hiện lý tưởng cao cả của Đảng và dân tộc. Người từng căn dặn “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Tức là để dân tin, dân quý, dân ủng hộ, người đảng viên phải làm trước, đi trước, dù có gian khổ, hy sinh cũng không kêu ca, phàn nàn. Nói đi đôi với làm còn là cách để cấp trên gương mẫu với cấp dưới, là để cầm tay, chỉ việc giữa người có kinh nghiệm với người mới, người chưa có kinh nghiệm. Ở bất kỳ đâu, làm bất cứ việc gì, ở cương vị nào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều tôn trọng, lắng nghe ý kiến của mọi người, phát huy trí tuệ của tập thể, đề cao những kinh nghiệm, sáng kiến, cách làm hay, sáng tạo đem lại hiệu quả cao trong công việc. Người chỉ rõ: “Gom góp mọi ý kiến rời rạc, lẻ tẻ của quần chúng, rồi phân tích nó, nghiên cứu nó, sắp đặt nó thành những ý kiến có hệ thống… Cứ như thế mãi thì lần sau chắc đúng mực hơn, hoạt bát hơn, đầy đủ hơn lần trước. Đó là cách lãnh đạo cực kỳ tốt”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cán bộ phải có ý thức tập thể cao, tạo được bầu không khí dân chủ, cởi mở trong làm việc, cũng như trong cuộc sống; từ đó, tạo động lực, niềm tin cho mỗi người có thể tham mưu, hiến kế, đề xuất những cách thức, biện pháp nâng cao năng suất lao động, xây dựng đơn vị, địa phương vững mạnh về mọi mặt. Đồng thời, đề cao phong cách làm việc dân chủ nhưng không đồng nghĩa với dân chủ quá trớn, mạnh ai người nấy làm, mà phải tuân theo nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”; làm bất kỳ việc gì phải đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết; phải nêu cao tính tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên./.

TBQL 17

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG BÍ THƯ: HỌC VÀ LÀM THEO BÁC HỒ LÀ MỘT NHU CẦU VĂN HÓA!

         Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lưu ý việc học tập và làm theo Bác cần luôn luôn được đổi mới để trở thành một nhu cầu tự thân của mỗi người và toàn xã hội, một nhu cầu văn hóa đầy tính nhân văn.

Sáng 2/11, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã gặp mặt thân mật Đoàn Đại biểu Điển hình Tiêu biểu Toàn quốc trong việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh năm 2023.

Cùng tham dự có: Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương Nguyễn Xuân Thắng; các Bí thư Trung ương Đảng: Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đỗ Văn Chiến, Trưởng ban Dân vận Trung ương Bùi Thị Minh Hoài, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Lê Minh Hưng... và 67 điển hình tiêu biểu toàn quốc trong việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh năm 2023.

Đây là những tập thể, cá nhân tiêu biểu đại diện các mô hình hay, cách làm sáng tạo trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh mang lại hiệu quả thiết thực trên các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, an sinh xã hội, phòng, chống tệ nạn xã hội.

Qua báo cáo của Ban Tuyên giáo Trung ương và ý kiến phát biểu của một số đại biểu, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vui mừng nhận thấy trong 5 năm gần đây, hằng năm Ban Tuyên giáo Trung ương đều phát động phong trào thi đua và tổ chức bình chọn, tôn vinh các tập thể, cá nhân điển hình tiêu biểu trong việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh tại thủ đô Hà Nội.

Trong 4 năm trước đã tôn vinh 102 đại biểu điển hình tiêu biểu. Riêng năm 2023, đã có tới 67 điển hình tiêu biểu. Các điển hình tiêu biểu đến từ mọi miền của Tổ quốc, hoạt động ở các ngành, các lĩnh vực, các địa phương khác nhau nhưng đều có chung một điểm là: tất cả đều có rất nhiều nỗ lực, cố gắng và đều đạt nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc trong việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; luôn luôn đoàn kết chặt chẽ, phấn đấu bền bỉ, vượt mọi khó khăn, nêu cao tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Hơn ai hết, các tập thể và cá nhân điển hình tiêu biểu được vinh danh và khen thưởng năm 2023 đều là những bông hoa đẹp trong vườn hoa tươi đẹp, ngạt ngào hương sắc của dân tộc Việt Nam anh hùng, Đảng quang vinh và Bác Hồ vĩ đại.

Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, nhiệt liệt chúc mừng, biểu dương và cảm ơn các điển hình tiêu biểu về sự cống hiến hết mình, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng ta, dân tộc ta, nhân dân ta một di sản vô cùng cao quý, đó là: tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và thời đại Hồ Chí Minh.

Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một kho báu tinh thần cách mạng vô giá mà chúng ta - mọi thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau, phải luôn luôn ra sức học tập và làm theo, mãi mãi giữ gìn và phát huy; coi đó là kết tinh giá trị tinh thần cao đẹp, trở thành chuẩn mực để xây dựng, chấn hưng văn hóa, xây dựng con người Việt Nam thời đại mới.

Gần 20 năm nay, kể từ năm 2006, Đảng ta đã có chủ trương mở cuộc vận động sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân học tập và làm theo Bác. Từ thực tiễn đổi mới, nhận thức về tư tưởng và di sản Hồ Chí Minh ngày càng trở nên sâu sắc và đầy đủ hơn.

♦️ Tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh là một hệ thống chỉnh thể, toàn vẹn

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Chúng ta không chỉ thấy ở Bác là tấm gương sáng về đạo đức, phong cách, mà còn thấy hệ thống chỉnh thể, toàn vẹn các giá trị, sức sống và ý nghĩa của tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh. Chúng ta không chỉ cố gắng nỗ lực học tập để nâng cao nhận thức, bồi đắp sự hiểu biết về cuộc đời và sự nghiệp của Người, mà còn ra sức làm theo những chỉ dẫn, những lời căn dặn của Người theo đúng phong cách giản dị, thiết thực, hiệu quả. Người thường xuyên nhắc nhở chúng ta, lý luận phải gắn liền với thực tiễn, học phải đi đôi với hành, nói phải đi đôi với làm; nhất quán giữa lời nói với việc làm, tư tưởng và hành động. Theo chỉ dẫn của Người, chúng ta phải gắn liền học tập với làm theo; học tập là tiền đề, là điều kiện; làm theo là thực hành và vận dụng sáng tạo, tích cực và tự giác. Đồng thời đề cao việc phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, từ đó cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân ra sức thi đua xây dựng và phát triển đất nước, tạo ra sự tiến bộ và phát triển thực chất, bền vững."

Học tập Bác, làm theo Bác, nêu gương trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là nội dung quan trọng, là nhiệm vụ chủ yếu, cũng là phương thức căn bản để tạo ra sức lan tỏa, ảnh hưởng và hiệu ứng xã hội rộng lớn, đưa tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người vào cuộc sống. Đó cũng chính là chủ trương lớn của Đảng, một lần nữa được khẳng định tại Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị khóa XIII.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết học tập và làm theo gắn với trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một chủ trương chiến lược, cơ bản, lâu dài để xây dựng, chỉnh đốn Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo và người đầy tớ trung thành của nhân dân.

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên sẽ trở nên đúng đắn, lành mạnh hơn trong nhận thức và hành động; ra sức nâng cao đạo đức cách mạng, có dũng khí đấu tranh, tự phê bình, quét sạch chủ nghĩa cá nhân; cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư; góp phần trực tiếp xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.

Nâng cao trách nhiệm vì dân, nhất là trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu, để Đảng ta thật sự "là đạo đức, là văn minh"; Nhà nước ta thật sự là "Nhà nước của dân, do dân, vì dân."

Mặt trận và các đoàn thể thật sự là môi trường dân chủ, đoàn kết và dân vận, làm hậu thuẫn thúc đẩy nhân dân nêu cao vai trò làm chủ, thực hiện quyền dân chủ và làm chủ đích thực của mình. Đó là mục đích sâu xa, là ý nghĩa quan trọng ở tầm chiến lược của việc học tập và làm theo Bác.

♦️ Học và làm theo Bác là một nhu cầu văn hóa

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lưu ý việc học tập và làm theo Bác cần luôn luôn được đổi mới để trở thành một nhu cầu tự thân của mỗi người và toàn xã hội; một nhu cầu văn hóa đầy tính nhân văn, sáng tạo về cách thức tổ chức giáo dục, tuyên truyền, đủ sức lôi cuốn, hấp dẫn, truyền cảm hứng cho mỗi người, mỗi nhà, mỗi tổ chức, đoàn thể, mỗi cơ quan, đơn vị, ở tất cả các cấp, các ngành, từ Trung ương tới địa phương và cơ sở; từ trong nước đến ngoài nước, trong đó có cả cộng đồng người Việt Nam đang học tập, làm ăn, sinh sống ở nước ngoài.

Nhiều năm nay, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một nhu cầu văn hóa tinh thần bền bỉ, là nét đẹp của giá trị và lối sống văn hóa của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Vượt lên quy mô một cuộc vận động những năm 2006, đến nay, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã trở thành nhu cầu văn hóa, thành giá trị trong đời sống tinh thần của mỗi người, mỗi tổ chức, trước hết là trong đời sống chính trị của Đảng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: "Cái gì trở thành văn hóa, cái đó trở nên sâu sắc, lắng đọng, bền vững và có sức truyền cảm mạnh mẽ. Nhận thức đúng, hành động sáng tạo, văn hóa Hồ Chí Minh sẽ truyền dẫn nguồn xung lực quan trọng để chúng ta xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, tạo động lực cho chúng ta tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, sáng tạo; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; nắm bắt thời cơ, vận hội mới, vượt qua mọi thách thức, nguy cơ để xây dựng đất nước phát triển nhanh và bền vững hơn."

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tin tưởng các tập thể và cá nhân được tôn vinh năm nay sẽ tiếp tục phấn đấu, học hỏi và rèn luyện thường xuyên; giữ gìn và phát huy danh hiệu cao quý được tôn vinh, lan tỏa tác dụng và ảnh hưởng nêu gương trong xã hội.

Với việc tuyên dương và khen thưởng hôm nay, phong trào thi đua yêu nước sẽ ngày càng phát triển sâu rộng; ngày càng có thêm nhiều tấm gương điển hình tiêu biểu từ tập thể đến cá nhân cả nước trong việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tạo ra một sức bật mạnh mẽ cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; phát triển đất nước ta ngày càng cường thịnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, như Bác Hồ muôn vàn kính yêu hằng mong đợi, góp phần làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người mãi mãi trường tồn cùng dân tộc Việt Nam văn hiến và anh hùng./.




Môi trường ST.

MỘT SỐ HÌNH ẢNH TIÊU BIỂU: TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG GẶP MẶT CÁC ĐIỂN HÌNH VỀ HỌC TẬP VÀ LÀM THEO GƯƠNG BÁC HỒ!

         Sáng 02/11/2023, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gặp mặt thân mật Đoàn đại biểu Điển hình Tiêu biểu Toàn quốc về Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh./.




Môi trường ST.

KẾT HỢP CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC CHÂN CHÍNH VỚI CHỦ NGHĨA QUỐC TẾ VÔ SẢN TRONG CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA!

         Cách mạng Tháng Mười đã mở đầu cho một thời đại mới trong lịch sử loài người, xây dựng một chế độ nhà nước xưa nay chưa từng có. Cách mạng Tháng Mười Nga để lại cho sự nghiệp cách mạng vô sản toàn thế giới nhiều bài học quý báu, trong đó có bài học về sự kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản.

SỰ KẾT HỢP CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC CHÂN CHÍNH VỚI CHỦ NGHĨA QUỐC TẾ VÔ SẢN CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA
Cũng như các cuộc cách mạng đã từng diễn ra trên thế giới, cội nguồn sức mạnh của cách mạng Tháng Mười Nga chính là sự đoàn kết, tập hợp quần chúng cách mạng dưới sự lãnh đạo của một chính đảng, mà Lênin vị lãnh tụ thiên tài đã vận dụng sáng tạo học thuyết Mác vào thực tiễn cách mạng ở nước Nga. Cách mạng Tháng Mười Nga không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên, nhất thời mà là một quá trình chính trị, nó đã mở ra một không gian chính trị rộng lớn cả trong và ngoài nước Nga, có diễn tiến trước, trong và sau hành động khởi nghĩa của quần chúng công nông và binh lính để lật đổ ách thống trị của đế quốc Sa Hoàng và chính quyền tư sản phản động, tạo ra động lực cách mạng vô cùng to lớn, mở ra kỷ nguyên mới của lịch sử, xác lập quyền lực nhân dân của nhà nước Xôviết, nhà nước kiểu mới đầu tiên xuất hiện trong lịch sử nhân loại. Đây là cuộc cách mạng có sức ảnh hưởng to lớn đến quá trình phát triển tiếp theo của xã hội loài người như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi đã mở đầu một thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội”. Cách mạng Tháng Mười Nga đã để lại cho sự nghiệp đấu tranh giành tự do, độc lập của các quốc gia nhiều giá trị và vấn đề có ý nghĩa, trong đó có sự kết hợp chặt chẽ giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, là vấn đề rất có ý nghĩa cho sự nghiệp cách mạng của các quốc gia, dân tộc muốn giành tự do, độc lập và đi lên chủ nghĩa xã hội.
Hơn một trăm năm nhìn lại, để Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Lênin và Đảng Bôn sê vích đã vận dụng sáng tạo học thuyết Mác về sự kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa bên trong và bên ngoài, bên trong thì tuyên truyền, giáo dục mục tiêu, lý tưởng cổ vũ quần chúng công nông vùng lên làm cách mạng, bên ngoài liên kết chặt chẽ với các đảng của giai cấp công nhân trên tinh thần “Vô sản toàn thế giới đoàn kết lại”, từ đó, nắm vững thời cơ, tạo ra động lực cách mạng.
Về chủ nghĩa yêu nước, trước đó, Lênin và những người đồng chí của ông đã dày công tuyên truyền, giáo dục, cổ vũ lòng yêu nước cho quần chúng công nông Nga; xây dựng cho họ tình cảm, ý chí và lòng yêu thương con người, yêu quý đất nước Nga vĩ đại. Chủ nghĩa yêu nước chân chính đã giúp cho quần chúng công nông Nga cảm thấy yêu mến, tự hào và có trách nhiệm hơn với vận mệnh quốc gia, dân tộc Nga. Cách mạng Tháng Mười Nga đã thúc đẩy chủ nghĩa yêu nước lên đỉnh cao mới, trở thành trào lưu chính trị sôi sục trong toàn bộ đất nước Nga. Ở đây, quần chúng công nông Nga được hun đúc ý thức về lợi ích quốc gia, dân tộc và tinh thần, ý chí cách mạng; chủ nghĩa yêu nước chân chính đã thôi thúc họ đứng lên làm cách mạng lật đổ chế độ phong kiến Sa Hoàng và giai cấp tư sản phản động. Rõ ràng, trong cuộc cách mạng này quần chúng công nông Nga đã phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước, họ đấu tranh cho tự do, độc lập của nước Nga, cho dân tộc Nga, cho người Nga, nếu họ có hy sinh là hy sinh cho dân tộc, cho đất nước Nga.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga trở thành niềm kiêu hãnh, tự hào của người Nga, của nước Nga, là biểu tượng tình yêu Tổ quốc, tình yêu nước Nga Xôviết. Từ Cách mạng Tháng Mười Nga, chủ nghĩa yêu nước chân chính được phát huy cao độ trong quá trình giành và giữ chính quyền, trong thời kỳ nội chiến khi chính quyền Xôviết phải đương đầu với thù trong, giặc ngoài trước sự trỗi dậy của bọn Bạch vệ và sự can thiệp của 14 nước đế quốc. Đặc biệt, chủ nghĩa yêu nước chân chính của Cách mạng Tháng Mười Nga được nâng lên một tầm cao mới trong chiến tranh vệ quốc, trên tiền tuyến và hậu phương họ đã hát vang những bài ca yêu nước, bài ca cách mạng để cổ vũ tinh thần và hành động yêu nước, hun đúc ý chí chiến đấu cho binh lính và nhân dân Nga để chiến thắng chủ nghĩa phát xít, bảo vệ đất nước Nga vĩ đại.           
Về chủ nghĩa quốc tế vô sản, Cách mạng Tháng Mười Nga là vấn đề có ý nghĩa lịch sử vì tính chất quốc tế vô cùng sâu, rộng; ảnh hưởng của nó lớn tới mức mà không có cuộc cách mạng nào nổ ra trong thời đại ngày nay lại không chịu sự ảnh hưởng sâu xa từ Cách mạng Tháng Mười Nga. Điều đó cho thấy, trong thời đại ngày nay sự kết hợp tự nhiên, tất yếu giữa đấu tranh vì dân chủ và đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội, đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực mạnh mẽ thúc đẩy tiến bộ xã hội, đưa xã hội loài người tiến tới mục tiêu công bằng, dân chủ, văn minh. Chủ nghĩa xã hội là xu thế tất yếu của nhân loại, tuy con đường đi lên của các quốc gia, dân tộc khác nhau song đích đến của nó là xây dựng một chế độ dân chủ, không còn người bóc lột người, một nhà nước kiểu mới, nhà nước của quần chúng lao động, và cuộc cách mạng đó phải có một chính đảng vô sản lãnh đạo. Cách mạng vô sản ở mỗi nước phải hòa trong dòng thác cách mạng thế giới. Có như vậy, cách mạng mới thành công, đất nước mới được tự do, độc lập, mới có đủ các yếu tố, các điều kiện để đi lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Chủ nghĩa quốc tế vô sản của Cách mạng Tháng Mười Nga đã trở thành nguồn động lực cổ vũ, lôi cuốn mạnh mẽ các dân tộc bị áp bức, bóc lột trên thế giới đứng dậy làm cách mạng giành độc lập dân tộc và lựa chọn con đường chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa quốc tế vô sản của Cách mạng Tháng Mười Nga có ảnh hưởng rất to lớn đến thắng lợi của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở những nước thuộc địa châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở một loạt nước như Ba Lan, Bungari, Hunggari, Cộng hòa Dân chủ Đức, Tiệp Khắc, Anbani, Mông Cổ, Trung Quốc, Triều Tiên, Cu Ba và Việt Nam. Sự ra đời của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa có vai trò chi phối quá trình phát triển của thế giới đương đại; làm thay đổi cán cân giữa chủ nghĩa tư bản với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Thành công của Cách mạng Tháng Mười cho thấy sự tài tình của Lênin và đảng Bônsêvích trong việc kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Sự kết hợp này được thể hiện ở mục tiêu của Cách mạng Tháng Mười Nga là lật đổ ách thống trị của giai cấp bóc lột của phong kiến Sa Hoàng Nga và bọn tư sản phản động, giành chính quyền về tay quần chúng công nông; sử dụng chính quyền ấy để tổ chức, xây dựng xã hội chủ nghĩa, đem lại tự do, hạnh phúc thực sự cho nhân dân, biến giấc mơ của nhân loại về một cuộc sống không còn áp bức, bóc lột, bất công thành hiện thực sinh động và sáng chói ở nước Nga Xôviết. Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga đã tạo động lực cho xu hướng vận động chủ đạo của lịch sử thế giới hiện đại, xu hướng phê phán, phủ định và thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chế độ xã hội chủ nghĩa tiến bộ, văn minh.
Sự kết hợp chặt chẽ đó còn biểu hiện ở mối quan hệ đoàn kết, thống nhất mục tiêu, ý chí, hành động cách mạng giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân, kiến thiết khối liên minh công nông vững chắc, tạo động lực cách mạng với khẩu hiệu: Vô sản toàn thế giới đoàn kết lại. Biểu hiện ở lợi ích mà cuộc cách mạng mang lại cho giai cấp công nhân, giai cấp nông dân; biến công nhân, nông dân từ địa vị làm thuê, bị bóc lột trở thành người làm chủ. Sự thống nhất đó làm thành nền tảng cho mối liên hệ bình đẳng về lợi ích, về tinh thần trách nhiệm với sự nghiệp chung của công nhân, nông dân vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội không chỉ ở nước Nga mà ở phạm vi toàn thế giới.
Cách mạng Tháng Mười Nga có sự hòa quyện chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản một cách hết sức trong sáng, được biểu hiện rõ nét ở tinh thần đoàn kết giai cấp, đoàn kết dân tộc vì lợi ích chung, họ tiến hành cách mạng vì mục tiêu, lợi ích chung. Mà nguyên tắc là lợi ích chung chỉ được xác lập và chia sẻ khi họ đấu tranh xóa bỏ quan hệ sở hữu cũ vì nó đã tạo điều kiện cho giai cấp này bóc lột giai cấp khác, dân tộc này bóc lột, xung đột với dân tộc khác mà nảy sinh thù hận giai cấp, dân tộc. Trong khi đó, chỉ có liên minh công nông dưới sự lãnh đạo của Lênin và chính đảng Bônsêvích mới tha thiết thủ tiêu, đấu tranh xóa bỏ quan hệ sở hữu tư nhân, tư bản chủ nghĩa để thiết lập quan hệ sở hữu xã hội chủ nghĩa, sở hữu toàn dân. Chiến thắng của Liên minh công nông Nga trước phong kiến, tư sản Nga đã chứng minh tính đúng đắn của học thuyết Mác - Lênin về vai trò, sứ mệnh của giai cấp công nhân, về sức mạnh khối đại đoàn kết liên minh công nông toàn thế giới trong sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng nhân loại.
Sự kết hợp chặt chẽ giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản còn biểu hiện ở sự thống nhất tư tưởng của liên minh công nông trong đấu tranh cách mạng đó là cuộc đấu tranh tự giải phóng, đập tan ách thống trị của tư bản, đế quốc. Sự thống nhất tư tưởng của liên minh công nông là kết quả của công tác tuyên truyền, giáo dục lâu dài và kỹ lưỡng của các tổ chức chính trị của giai cấp công nhân trên tinh thần bình đẳng, hữu nghị dân tộc đầy đủ nhất. Cách mạng chỉ thành công khi giai cấp công nhân các nước phải hết sức tin cậy lẫn nhau, đoàn kết anh em chặt chẽ và phải nhất trí trong hành động cách mạng. Sự thống nhất đó có được là từ chiều sâu nhận thức về nhu cầu phát triển nhân loại của giai cấp vô sản về một xã hội mới mà nguyên tắc quốc tế phải hòa bình.
Nó không chỉ là sự đồng cảm của những người cùng bị bóc lột mà còn là sự phát triển mạnh mẽ về lý luận từ đấu tranh tư tưởng, từ sự tuyên truyền, giáo dục, chuẩn bị chu đáo và kỹ lưỡng của các tổ chức chính trị, của giai cấp công nhân, của nông dân về tinh thần bình đẳng, bác ái giữa các giai cấp và tinh thần hữu nghị giữa các dân tộc trong mối quan hệ giữa nước Nga với quốc tế. Đó là sự tin cậy lẫn nhau, đoàn kết chặt chẽ, thống nhất cao trong ý chí và hành động cách mạng vì hòa bình, công lý và tiến bộ xã hội. Trong Cách mạng Tháng Mười Nga đã có sự gắn kết, mối quan hệ mật thiết giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Bởi, chủ nghĩa yêu nước chân chính, chủ nghĩa quốc tế trong sáng được thể hiện vô cùng đậm nét trong tư tưởng lãnh đạo của Đảng Bônsêvích, trong tư tưởng của quần chúng công nông khi họ làm cách mạng; vì ở đó không có biểu hiện lệch lạc của chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, hẹp hòi, chủ nghĩa sôvanh, sự phân biệt, kỳ thị dân tộc, chủng tộc hoặc chủ nghĩa bành trướng, bá quyền nước lớn. Mà ở đây, có sự tỏa sáng của tinh thần quốc tế vô sản nhằm mở rộng quan hệ hữu nghị hợp tác, có tác dụng thúc đẩy cách mạng vô sản trên toàn thế giới; tỏa sáng tinh thần đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế vì mục tiêu hòa bình, độc lập, giải phóng áp bức, bóc lột. Điểm đặc biệt của Cách mạng Tháng Mười Nga là phát triển chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản lên tầm cao mới, nó không còn thuần túy là chủ nghĩa yêu nước Nga truyền thống mà là chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa; kết hợp lòng yêu nước với yêu chủ nghĩa xã hội và tinh thần quốc tế vô sản; yếu tố đó đã góp phần làm cho Cách mạng Tháng Mười Nga giành thắng lợi một cách nhanh chóng, trọn vẹn. Chính đường lối cách mạng đúng đắn, sáng suốt của Lênin và đảng Bônsêvích đã thúc đẩy quần chúng công nông từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến chủ nghĩa quốc tế vô sản, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, là bài học chung cho cuộc đấu tranh giành tự do, độc lập, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc của các nước bị áp bức trên toàn thế giới.

VẬN DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN SỰ KẾT HỢP CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC CHÂN CHÍNH VỚI CHỦ NGHĨA QUỐC TẾ VÔ SẢN TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Ngay từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhận thức sâu sắc, luôn thấm nhuần bài học thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga về sự kết hợp chặt chẽ giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản, coi đó là bài học quan trọng, quyết định thành công của Cách mạng Việt Nam. Vì vậy, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo, phát huy cao độ sự kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để đấu tranh giành tự do, độc lập dân tộc và xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Cách mạng Việt Nam đã đi từ niềm tin vào sức mạnh của dân tộc đến nhận thức đầy đủ về sức mạnh thời đại; luôn gắn phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Được Cách mạng Tháng mười Nga soi sáng, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được phát huy cao độ thành ý chí quyết tâm giành tự do độc lập, lấy sự đoàn kết và sức mạnh dân tộc để vượt qua khó khăn trong đấu tranh giành quyền sống, quyền tự do, độc lập. Chủ nghĩa yêu nước và ý thức độc lập được phát triển thành hệ thống quan điểm, tư tưởng lý luận, trở thành hệ giá trị của dân tộc. Sự kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản là đóng góp quan trọng của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luận Mác - Lênin, với nguyên tắc bất di, bất dịch là Đảng Cộng sản người lãnh đạo công cuộc giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp phải là sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước vì Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là của giai cấp công nhân, vừa là của toàn dân tộc.
Thực tiễn cho thấy, trong quá trình tuyên truyền, vận động cách mạng Đảng ta đã kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản với phương châm bên trong liên hệ chặt chẽ với quần chúng công nông, trên tinh thần đoàn kết giai cấp, đoàn kết dân tộc; bên ngoài liên hệ chặt chẽ với quốc tế vô sản để xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng Việt Nam hòa vào dòng thác cách mạng thế giới. Trong công cuộc lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám, lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta đã vận dung linh hoạt chủ nghĩa yêu nước, tập hợp, đoàn kết lực lượng toàn dân tộc, với quyết tâm sắt đá “thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” và tinh thần “không có gì quý hơn độc lập tự do”.
Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình tìm đường cứu nước Người đã phát hiện nguyên nhân hạn chế, sự đơn độc trong mối quan hệ quốc tế của Việt Nam và các nước phương Đông “Không giống như các dân tộc phương Tây, các dân tộc phương Đông không có những quan hệ và tiếp xúc giữa các lục địa với nhau. Họ hoàn toàn không biết đến những việc xảy ra ở các nước láng giềng gần gũi nhất của họ, do đó, họ thiếu sự tin cậy lẫn nhau, sự phối hợp hành động và sự cổ vũ lẫn nhau. Cho nên, trả lời báo chí ngày 16/7/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đồng thời chúng tôi rất hoan nghênh tư bản Pháp và tư bản các nước khác thật thà cộng tác với chúng tôi. Một là để xây dựng lại Việt Nam sau lúc bị chiến tranh tàn phá, hai là để điều hoà kinh tế thế giới và giữ gìn hoà bình”, đã xác định rõ chủ trương, phương châm hòa hợp và hội nhập quốc tế, trở thành nền tảng lý luận cho sự mở cửa, hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Vì vậy, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng sự kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản và phát triển nó lên một tầm cao mới, coi đó là nguồn động lực to lớn để thúc đẩy cách mạng Việt Nam tiến lên, giành thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đặc biệt, từ bài học của Cách mạng Tháng Mười Nga mà trong những tình thế khó khăn, phức tạp nhất, cách mạng Việt Nam ta đã phát huy chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản để phá vỡ thế bao vây của thù trong, giặc ngoài (năm 1946). Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chúng ta đã tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của bè bạn quốc tế, đặc biệt là sự ủng hộ của hệ thống xã hội chủ nghĩa, của những người cộng sản để tạo thành sức mạnh chiến thắng quân thù. Khi hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ, Đảng ta đã chủ động bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ, từng bước tháo gỡ khó khăn, hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa. Thành công đó đã giúp đất nước ổn định chính trị, phát triển toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.
Hiện nay, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết Liên bang Nga và mô hình chủ nghĩa xã hội mà Liên Xô và Đông Âu do những người cộng sản và nhân dân các nước theo chủ nghĩa xã hội ở châu Âu dày công xây dựng đã không còn bởi cơn địa chấn chính trị lớn nhất thế kỷ XX. Nhưng, giá trị và bài học của Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn song hành cùng lịch sử nhân loại; là ngọn đèn soi sáng cho giai cấp công nhân, giai cấp nông dân bị áp bức, bóc lột đứng lên giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng và xây dựng xã hội mới. Lý tưởng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản vẫn là lý tưởng cao đẹp nhất mà nhân loại hướng tới. Cách mạng Tháng Mười Nga và Lênin đã đi vào lịch sử nhân loại với tư cách là một cuộc cách mạng vĩ đại nhất, một vị lãnh tụ sáng suốt nhất bởi chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản là tương lai của loài người./.
Yêu nước ST.

Thứ Sáu, 3 tháng 11, 2023

BẢO VỆ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN LÀ BẢO VỆ NIỀM TIN, LẼ SỐNG!

     Trong lúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang ra sức thi đua đẩy nhanh tiến độ, chất lượng thực hiện các chỉ tiêu, mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và các quyết sách mà Quốc hội khóa XV đã xác định. Đồng thời, chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết để triển khai, thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2024, thì các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị lại ra sức “đâm bị thóc, chọc bị gạo”, ráo diết đẩy mạnh xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Vì sao các thế lực thù địch lại “giở trò”, làm việc sai trái này vào thời điểm hiện nay? Điều gì khiến họ phải dồn sức, tăng cường chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta, cố tình xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ?

1. Cũng như trước đây, từ sau Đại hội lần thứ XIII của Đảng đến nay, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị ráo diết đòi xét lại chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bài xích, phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng hệ tư tưởng của giai cấp công nhân; viện dẫn các loại lý do để giải thích sự “sai lầm” về thế giới quan và phương pháp khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; vu khống, kết tội Đảng Cộng sản Việt Nam “khư khư bám giữ chủ nghĩa Mác – Lênin – một học thuyết đã lỗi thời, lạc hậu, không còn sức sống”, làm cho đất nước ta tụt hậu, sau gần 40 năm đổi mới mà vẫn là nước kém phát triển, dân còn đói nghèo…

Những luận điệu chống phá này hoàn toàn không mới, về thực chất, chỉ là “bồn cũ soạn lại”, được dàn dựng mới cho hợp mốt, hợp thời rồi chọn thời điểm “nhạy cảm” để tung lên mạng xã hội nhằm gây rối nhận thức, làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân vào đường lối đổi mới, hướng đến việc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; không muốn công cuộc đổi mới của chúng ta có thêm thành công, quan điểm, đường lối của Đảng không thể thực hiện hóa trong cuộc sống.

Đây là bản “điệp khúc” đã tua đi tua lại nhiều lần, kể từ khi học thuyết Mác chào đời cho đến khi đóng vai trò thống trị trong phong trào công nhân quốc tế, những kẻ thù của C. Mác đã dùng mọi thủ đoạn, biện pháp, kể cả những thủ đoạn, biện pháp hèn hạ nhất để xuyên tạc, chống phá, hạ bệ chủ nghĩa Mác, uy tín và vị thế của ông. Họ ý thức rõ ràng sự nguy hiểm của chủ nghĩa Mác, nhất là sự lan tỏa, ảnh hưởng thuyết phục và sức sống mãnh liệt của học thuyết Mác đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; họ không muốn chủ nghĩa Mác tồn tại, phát triển và xâm nhập ngày càng sâu rộng; không muốn chủ nghĩa Mác trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của các đảng cộng sản, phong trào công nhân quốc tế; trong đó có sự lớn mạnh, trưởng thành của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trước những biến động dữ dội của tình hình thế giới và khu vực, đặc biệt là sự sụp đổ chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và các nước Đông Âu cũng như việc chậm khắc phục những hạn chế, bất cập của nền kinh tế và một số hiện tượng tiêu cực trong quá trình đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta, một số người đã dao động, giảm lòng tin vào bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và con đường đi lên CNXH của Việt Nam.

Vin vào cái cơ đó, một số người nhân danh “cấp tiến” đã đề xuất giải pháp nhằm “thay máu cho hệ tư tưởng”, “sửa lại chủ nghĩa Mác – Lênin” cho hợp thời, “hợp mốt” và sát với thực tế Việt Nam đương đại. Có người còn tuyên bố rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam phải “giã từ CNXH” để đi theo con đường của CNTB, học tập, noi gương “các nước lớn” và coi đó là cái cách “tối ưu nhất để Việt Nam “cất cánh”…

Vì thế, một số người đã lợi dụng chiêu bài “dân chủ” và “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”, “đa nguyên chính trị” và “đa đảng đối lập” để công khai xét lại chủ nghĩa Mác – Lênin, vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam. Họ cho rằng, “chủ nghĩa Mác – Lênin là quá khứ”, không phù hợp với thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, v.v.. Có người còn xuyên tạc rằng: “C. Mác và V.I. Lênin là những nhà không tưởng”, “Việt Nam không cần chủ nghĩa Mác – Lênin”, “cần thay máu cho hệ tư tưởng”, v.v..

Lợi dụng internet, các trang mạng xã hội, một số người đã đưa ra lý lẽ sai trái để phê phán, bác bỏ, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận mục tiêu, con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH mà nhân dân ta đã chọn; cố tình xuyên tạc chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng và tính ưu việt của chế độ XHCN ở nước ta. Vì thế, họ đã và đang tạo nên các “điểm nóng”, gây “diễn biến bên trong” nội bộ Đảng, Nhà nước và xã hội ta, trước hết là gây tự diễn biến, tự chuyển hóa về nhận thức, tư tưởng; từ đó dẫn đến những diễn biến về các mặt khác.

 2. Vì sao những người có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước ta lại ra sức chống phá chủ nghĩa Mác – Lênin một cách quyết liệt như vậy? Hẳn là họ đã ý thức rất rõ sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa Mác – Lênin, nhất là khi chủ nghĩa Mác – Lênin trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Hơn thế, họ biết rõ rằng mọi thắng lợi của cách amngj Việt Nam đều do chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, dẫn lối, quyết định. Hẳn là họ hiểu rằng, chừng nào còn chủ nghĩa Mác – Lênin thì chừng ấy còn có Đảng Cộng sản lãnh đạo, còn có phong trào cách mạng và cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân tất yếu họ sẽ tiêu diệt; và do đó, CNXH và CNCS tất yếu sẽ được xây dựng thành công, sự nghiệp cách mạng sẽ thắng lợi. Và do đó, tất yếu họ sẽ bị diệt vong. Sự tồn tại, phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin là hoàn toàn có hại cho họ. Hẳn là họ không hề mong muốn có kết cục “bi thảm” như thế. Để duy trì sự tồn tại của mình, họ buộc phải dùng các biện pháp, mọi thủ đoạn có thể để chống phá, triệt hạ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Việc khẳng định Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam đã làm cho các thế lực thù địch căm giận đến tận xương tủy. Vì thế, họ viết bài, nói xấu, xuyên tạc, vu khống, bác bỏ bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự phản ứng tiêu cực cũng là điều không khó nhận thức.

Cho nên, sự cố tình xuyên tạc và phủ nhận các luận điểm khoa học, cách mạng, phủ nhận cội nguồn, gốc rễ, lịch sử sự hình thành, phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là vì họ hiểu rằng, người Việt Nam biết đến chủ nghĩa Mác – Lênin thông qua nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và các tài liệu dịch thuật do Hồ Chí Minh và những người yêu nước chuyển từ châu Âu về quê nhà. Vì lẽ đó, họ cho rằng, để hạ bệ chủ nghĩa Mác – Lênin, nhất thiết phải “tấn công” tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng của Đảng. Hơn thế, do nhiều lý do khác nhau, phần đông nhân dân lao động mới hiểu biết chủ nghĩa Mác – Lênin ở những điểm căn bản nhất, đại cương nhất, thông qua tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng. Lợi dụng sự khác biệt này, các thế lực thù địch đã xuyên tạc, bóp méo sự thật về nguồn gốc, bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Sử dụng chiêu bài “mưa dầm thấm sâu”, “nước chảy đá mòn”, các thế lực thù địch bằng nhiều cách đã và đang xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa Mác – Lênin, làm cho một số người dân do thiếu thông tin, nhẹ dạ, cả tin hay bất mãn với chế độ đã “tán thưởng, hùa theo”, nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, ca ngợi không công cho CNTB, hạ thấp uy tín, vị thế và sự ảnh hưởng của Đảng trong xã hội Việt Nam.

Với quyết tâm chính trị rất cao, chúng ta kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; chống lại mọi quan điểm, luận điệu sai trái của các thế lực thù địch và những kẻ “theo đuôi” để bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế XHCN và cuộc sống hòa bình, hạnh phúc của nhân dân; không cho phép bất cứ ai, thế lực nào lợi dụng mạng xã hội, lợi dụng các thời điểm họp Ban Chấp hành Trung ương, học Quốc hội và các sự kiện chính trị quan trọng khác để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng. Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng – Niềm vui, lẽ sống, trách nhiệm và hạnh phúc của chúng ta, là chìa khóa “vàng” để công cuộc đổi mới thành công./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHIẾC XE ĐẠP THỒ TRONG HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN!

     Chiếc xe đạp thồ được xem là sáng tạo đặc biệt góp phần rất quan trọng vào việc làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. 69 năm đã trôi qua, nhưng hình ảnh chiếc xe đạp thồ vẫn sống mãi với thời gian.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, việc cung cấp, tiếp tế vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm, đồ dùng, thuốc men được coi là vấn đề khó khăn nhất. Với địa hình hiểm trở, đường sá hư hỏng, tiền tuyến lại cách xa hậu phương đến 400- 500km, nhưng phải bảo đảm cung cấp một khối lượng lớn hàng hóa một cách nhanh chóng, liên tục. Để thực hiện nhiệm vụ này, nhân dân và chiến sĩ ta đã cải tiến chiếc xe đạp thô sơ thành chiếc xe đạp thồ để nâng mức chở lên 200kg, thậm chí hơn 300kg.

Mỗi chiếc xe đạp thồ được tháo yên xe và lắp thêm giá bằng sắt, gỗ hoặc tre ở bánh sau giúp xe chở thêm hàng. Khung xe cũng hay được gia cố thêm bằng cách gắn thêm các miếng sắt, gỗ hay tre. Một khi chất đầy hàng lên xe thì người thồ không thể sát xe để điều khiển ghi-đông. Do vậy, người ta gắn thêm một que gỗ hay sào tre đủ dài vào ghi-đông để người thồ có thể điều khiển được chiếc xe đạp. Ngoài ra trục đứng của yên xe còn được cắm thêm một chiếc gậy để đẩy xe tiến về phía trước hoặc hãm xe lại khi xuống dốc.

Đã có hơn hai vạn chiếc xe đạp được dùng để thồ lương thực, trở thành một loại “vũ khí đặc biệt” và làm nên con đường vận tải “huyền thoại”, góp phần vào chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử. Đội quân xe đạp thồ xuất hiện ở Điện Biên là một sự kỳ diệu chưa từng có trong lịch sử chiến tranh, không chỉ ở Việt Nam mà cả lịch sử chiến tranh thế giới.

Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, hơn một vạn chiếc xe đạp huyền thoại lại tiếp tục sứ mệnh của mình. Quân đội Việt Nam đã vô hiệu hóa tính cơ động và hiện đại của hỏa lực Mỹ bằng cách di chuyển về đêm. Những chiếc xe đạp thồ trung bình di chuyển mỗi ngày 40km để cung cấp lương thực và vũ khí cho bộ đội giải phóng. Việc vận chuyển bằng xe đạp tỏ ra rất hiệu quả trên những cung đường mòn nhỏ hẹp khúc khuỷu. Không những vậy, xe đạp còn có lợi thế yên lặng. Những người lái xe đạp có thể kịp thời nghe thấy tiếng máy bay Mỹ và chui vào các bụi cây để ẩn nấp.

Năm 2021, trong đợt dịch COVID-19 bùng phát, các chiến sĩ thuộc Sư đoàn 5 (Quân khu 7) đã dùng những chiếc xe đạp thồ để làm phương tiện vận chuyển lương thực, nhu yếu phẩm vào những hẻm nhỏ, hẻm sâu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh để trao tận tay người dân./.


Yêu nước ST.