Chủ Nhật, 5 tháng 11, 2023

Không thể làm sai lệch bản chất “gỡ rối” và “kiến tạo”

“Gỡ rối” và “kiến tạo” là nguyên tắc cơ bản trong triển khai thực hiện Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24-6-2023 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP Hồ Chí Minh (gọi tắt là Nghị quyết 98).

“Gỡ rối” và “kiến tạo” có mối quan hệ biện chứng, tạo nên tính thống nhất về nhận thức và hành động. Những thông tin xuyên tạc, cố tình làm sai lệch bản chất vấn đề do các đối tượng thù địch thực hiện, cần được nhận diện và kiên quyết đấu tranh, loại bỏ.

Những chuyển động tích cực trên thực tế

Nghị quyết 98 chính thức có hiệu lực từ ngày 1-8-2023. Sau hơn hai tháng triển khai thực hiện, thực tiễn hoạt động của bộ máy hành chính công đã ghi nhận những chuyển biến tích cực, khẳng định tính đúng đắn và hiệu quả của các cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội.

Trong lúc hệ thống chính trị TP Hồ Chí Minh đang từng bước vận hành hiệu quả các cơ chế, chính sách đặc thù, thì trên không gian mạng thời gian qua lại xuất hiện nhiều thông tin xuyên tạc của các đối tượng xấu, gieo rắc tâm lý bi quan, hoài nghi, tiêu cực...

Tại cuộc gặp gỡ lãnh đạo các cơ quan thông tấn, báo chí Trung ương và TP Hồ Chí Minh, triển khai thực hiện Nghị quyết 98, đồng chí Phan Văn Mãi, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh nguyên tắc cốt lõi trong vận hành cơ chế, chính sách đặc thù của Nghị quyết 98 là “gỡ rối” và “kiến tạo”.

Nguyên tắc này cùng với hệ thống kế hoạch, chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết 98 được Thành ủy, HĐND, UBND TP Hồ Chí Minh quán triệt sâu sắc, trở thành phương châm hành động của cả hệ thống chính trị thành phố và cộng đồng doanh nghiệp.

Nghị quyết 98 là sự cụ thể hóa về mặt luật pháp Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày 30-12-2022 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển TP Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết 98 là hệ thống những cơ chế, chính sách đặc thù, bảo đảm cho TP Hồ Chí Minh với vai trò là đô thị đầu tàu của cả nước, có hành lang pháp lý thông thoáng, có cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội so với quy định pháp luật hiện hành nhằm tháo gỡ khó khăn, phát triển nhanh và bền vững. Các điều khoản quy định trong Nghị quyết 98 giúp TP Hồ Chí Minh “gỡ rối” những vướng mắc, bất cập về cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính, cơ chế vận hành của bộ máy hành chính công.

Thành phố được phân cấp, phân quyền mạnh, có quyền tự chủ, tự quyết đối với nhiều phân khúc, hạng mục, lĩnh vực kinh tế-xã hội, đặc biệt là trong quy hoạch, sử dụng nguồn nhân lực, phê duyệt các dự án đầu tư, triển khai các công trình trọng điểm, giải ngân vốn đầu tư công, xây dựng mô hình chính quyền đô thị, hoạt động của TP Thủ Đức-mô hình “Thành phố trong thành phố” đầu tiên của cả nước...

Như vậy, với Nghị quyết 98, Đảng, Nhà nước ta đã trang bị cho TP Hồ Chí Minh công cụ pháp lý vượt trội, đáp ứng yêu cầu đặt ra từ thực tiễn về cơ chế, chính sách để giải quyết những bất cập, vướng mắc nội tại. Trên cơ sở đó, thành phố phát huy nội lực, tận dụng mọi nguồn lực để “kiến tạo” chính sách mới, vừa phát triển kinh tế, vừa mở lối, tạo cơ sở để Đảng, Nhà nước bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện cơ chế, chính sách xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Thực tế, sau hơn hai tháng có hiệu lực, Nghị quyết 98 đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, rõ nhất là sự đột phá ngay vào những “điểm nghẽn” đang tồn tại, gây cản trở, kìm hãm sự phát triển của thành phố. Kỳ họp lần thứ 11 của HĐND TP Hồ Chí Minh khóa X, cụ thể hóa Nghị quyết 98 vào từng nhiệm vụ, từng lĩnh vực, đã thông qua hơn 100 nghị quyết, tờ trình về cơ chế, chính sách, dự án...

Đồng chí Nguyễn Văn Nên, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh đánh giá, đây là kỳ họp HĐND “chưa từng có”. Các đại biểu đã thể hiện sự thống nhất cao, quyết tâm lớn, giải quyết một khối lượng công việc khổng lồ về cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính. Đó chính là biểu hiện sinh động của “gỡ rối”. Có “gỡ rối” suôn sẻ thì mới tạo hành lang thông thoáng để “kiến tạo” phát triển. “Gỡ rối” để “kiến tạo”, “kiến tạo” cách “gỡ rối”, vừa “gỡ rối” vừa “kiến tạo”... đó là phương châm hành động để các cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội của Nghị quyết 98 nhanh chóng có đáp số, có sản phẩm vật chất cân đo đong đếm được trên thực tế.

Hai lĩnh vực trọng tâm là tiến độ triển khai các dự án trọng điểm và kế hoạch giải ngân vốn đầu tư công thể hiện rõ nét nhất sự chuyển biến. Hàng loạt công trình giao thông, dự án cơ sở hạ tầng chậm tiến độ, đội vốn đầu tư hoặc rơi vào tình trạng “đắp chiếu” nhiều năm nay trên địa bàn thành phố đã được khởi công hoặc tái khởi động ngay sau khi Nghị quyết 98 có hiệu lực. Mũi nhọn đột phá vào các dự án, công trình trọng điểm đã góp phần “gỡ rối” cho giải ngân vốn đầu tư công.

Năm 2023, TP Hồ Chí Minh được giao kế hoạch đầu tư công với tổng số vốn 70.518 tỷ đồng. Đến hết quý II-2023, giải ngân vốn đầu tư công của thành phố chỉ đạt tỷ lệ 35%. Biểu đồ về tiến độ giải ngân vốn đầu tư công tăng mạnh từ cuối quý III-2023, khi Nghị quyết 98 có hiệu lực. Và với việc HĐND thành phố vừa thông qua hơn 100 tờ trình, nghị quyết về cơ chế, chính sách, dự án...

TP Hồ Chí Minh đặt mục tiêu trong 3 tháng cuối năm sẽ giải ngân 45.266 tỷ đồng vốn đầu tư công, hoàn thành 95% kế hoạch năm. Nguồn vốn đầu tư công này tập trung chủ yếu cho 38 dự án, công trình trọng điểm về giao thông, hạ tầng kinh tế đã và đang triển khai trên địa bàn thành phố.

Đó là những con số cụ thể, chứng minh những chuyển biến tích cực, hiệu quả bước đầu của các cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội được Đảng, Nhà nước áp dụng cho thành phố đầu tàu.

Đằng sau những quan điểm sai trái

Tất cả chúng ta đều nhận thức rõ, không một cơ chế, chính sách nào, dù ưu việt đến đâu, có thể mang lại hiệu quả toàn diện tức thì trong thực tiễn. Đường lối, chính sách ra đời từ sự đòi hỏi của thực tiễn và thực tiễn đời sống kinh tế-xã hội sẽ là thước đo, căn cứ để đánh giá hiệu quả của mọi chủ trương, chính sách. Nghị quyết 98 với hệ thống những cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội dành cho TP Hồ Chí Minh cũng vậy.

Để ban hành những điều khoản trong Nghị quyết 98, Quốc hội đã rà soát, đánh giá, tổng kết toàn diện thực tế sau hơn 5 năm thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP Hồ Chí Minh theo Nghị quyết 54 và hiện thực đời sống sau hơn 37 năm đổi mới.

Thế nên, đòi hỏi ngay lập tức Nghị quyết 98 phải đem lại sự thay đổi toàn diện, có hiệu quả vượt trội trong đời sống xã hội là chủ quan, duy ý chí. Nhấn mạnh vấn đề này là bởi, trên không gian mạng thời gian qua đã xuất hiện nhiều sản phẩm tuyên truyền có nội dung sai trái của một số phương tiện truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại mang tư tưởng thù địch với Việt Nam và nhiều tài khoản cá nhân của những đối tượng bất mãn, thù địch.

Đặc biệt là sau khi HĐND TP Hồ Chí Minh tổ chức phiên họp “chưa từng có” nêu trên, những đối tượng có tư tưởng chống đối Đảng, Nhà nước, đối tượng thù địch người Việt ở hải ngoại đã lên tiếng bình luận bằng giọng điệu chế giễu, bỉ bai, công kích, xuyên tạc. Họ cho rằng chúng ta đang “vẽ rắn thêm chân”, “mị dân bằng cơ chế”, “càng gỡ càng rối”, “kiến tạo kiểu con kiến mà leo cành đa”... Họ bám vào những khó khăn của nền kinh tế, khoét sâu vào những hạn chế, bất cập trong bộ máy hành chính công để xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực nội tại của hệ thống chính trị TP Hồ Chí Minh và đất nước.

Từ kiểu bỉ bai, xuyên tạc cơ chế, chính sách đặc thù, bôi nhọ, hạ thấp uy tín lãnh đạo và hệ thống chính trị, họ lèo lái dư luận theo hướng tiêu cực, gieo rắc tâm lý hoài nghi, kích động cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị từ bỏ khu vực công đi làm thuê cho doanh nghiệp nước ngoài.

Họ lồng ghép, liên hệ với các hoạt động đối ngoại cấp cao của Đảng, Nhà nước và những vấn đề trọng đại được Trung ương Đảng bàn bạc tại Hội nghị Trung ương 8 (khóa XIII) để tuyên truyền kích động, chống phá chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Họ kêu gọi giới trí thức ủng hộ quan điểm thân phương Tây, dựa hẳn vào phương Tây để phát triển đất nước...

Với thái độ khách quan, tỉnh táo, chúng ta không khó để nhận ra mưu đồ của những quan điểm sai trái nêu trên. Xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, bôi xấu chế độ, bỉ bai cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng... là những chiêu bài đã được các đối tượng cực đoan cấu kết với các thế lực thù địch thực hiện lâu nay.

Mỗi khi Đảng, Nhà nước ban hành các chủ trương, chính sách mới hoặc diễn ra những sự kiện chính trị quan trọng là lập tức các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện chiến dịch truyền thông xuyên tạc, chống phá. Họ thông qua những hoạt động này nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, gây mất lòng tin của nhân dân, gây rối ren, phân hóa nội bộ. Khi chúng ta đồng lòng “gỡ rối” thì họ tìm mọi cách để “gây rối”, làm rối ren, phức tạp tình hình, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.

Coi trọng “xây” và “chống” trong truyền thông chính sách

Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, “xây” và “chống” là hai nhiệm vụ được kết hợp chặt chẽ, trong đó “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. “Gỡ rối” và “kiến tạo” chính là sự cụ thể hóa của “xây” và “chống” trong triển khai, vận hành các cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội tại TP Hồ Chí Minh.

Chính vì vậy, để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 98, sớm có được những kết quả, mô hình điển hình trong thực tiễn, cùng với việc cụ thể hóa các cơ chế, chính sách thành chương trình, kế hoạch hành động ở từng ngành, từng khâu... chúng ta phải đặc biệt coi trọng vai trò của công tác truyền thông chính sách. Quán triệt phương châm “lấy xây để chống”, công tác truyền thông chính sách cần được thực hiện thường xuyên, liên tục, có trọng tâm, trọng điểm, tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động trong cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, người dân và đông đảo kiều bào yêu nước đang hướng các hoạt động đầu tư về quê hương.

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thông tin xấu độc của các thế lực thù địch cũng chính là giải pháp quan trọng để “gỡ rối” và “kiến tạo” hiệu quả.

Nghị quyết 98 đã đi vào đời sống và bước đầu tạo sự chuyển biến tích cực sau hơn hai tháng có hiệu lực. Để hệ thống cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội tạo động lực, sức mạnh nội sinh cho hệ thống chính trị của TP Hồ Chí Minh và cộng đồng doanh nghiệp, cần có thời gian để nâng cao tính khả thi và hiệu quả trên thực tế đời sống kinh tế-xã hội.

Trong quá trình đó, việc “gỡ rối” và “kiến tạo” phải được áp dụng, triển khai thông suốt từ lãnh đạo thành phố đến cơ sở, doanh nghiệp và người dân theo tinh thần “tiền hô hậu ủng”, “nhất hô bá ứng”, “trên dưới đồng lòng”, “dọc ngang thông suốt”. Không một thế lực nào, với bất cứ lý do gì có thể làm sai lệch bản chất “gỡ rối” và “kiến tạo”.

Sưu tầm.

NẮM VỮNG THỜI CƠ, CẢ NƯỚC MỘT LÒNG THỰC HIỆN KHÁT VỌNG PHỒN VINH, HẠNH PHÚC

 Đại thắng mùa xuân 1975 gắn liền với những quyết định mang tính lịch sử, thể hiện tài thao lược, bản lĩnh, sáng tạo của Đảng, sự đoàn kết nhất trí, với khát vọng độc lập, tự do, khát khao hòa bình thống nhất Tổ quốc, xây dựng xã hội phồn vinh hạnh phúc của cả dân tộc.

Ngày 30-4-1975 là một ngày lịch sử trọng đại đối với mỗi người dân Việt Nam. Nhân dân ta từ khắp mọi miền đất nước phấn khởi, vui mừng tự hào về thắng lợi của đại thắng mùa xuân 1975, kết thúc 21 năm cuộc kháng chiến chống Mỹ đầy gian khổ, hy sinh, kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc bảo vệ Tổ quốc. “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, đi sâu vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.
Chiến thắng 30-4-1975 để lại nhiều bài học quan trọng về lựa chọn mục tiêu, lựa chọn thời cơ; về sự linh hoạt, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, chủ động tạo lợi thế và giành thắng lợi quyết định; về sự phối hợp lực lượng, phát huy sức mạnh của toàn dân để giành chiến thắng.
Nhưng đặc biệt ấn tượng là bài học chớp thời cơ, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thần tốc, táo bạo, tạo nên sức mạnh đột phá giành thắng lợi quyết định. Đó là sự đúc rút bài học kinh nghiệm vô giá của Đảng ta và Bác Hồ kính yêu ngay từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 với sức mạnh như vũ bão của nhân dân, khi thời cơ đã đến thì dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập dân tộc.
Sau hơn 35 năm đổi mới chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển toàn diện mạnh mẽ, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Trong giai đoạn mới, khi đất nước đang hội nhập quốc tế sâu rộng, tình hình an ninh, chính trị trong khu vực đang có những diễn biến phức tạp nhất là những tranh chấp liên quan đến vấn đề chủ quyền lãnh thổ, sự cạnh tranh ảnh hưởng của một số nước lớn ở nhiều khu vực đang diễn ra khá mạnh mẽ. Đặc biệt, trước ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, thế giới đang chuyển sang trạng thái mới với sự khủng hoảng nhiều mặt về chính trị, kinh tế, y tế, xã hội trong tiến trình cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra. Lúc này, bài học phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tranh thủ thời cơ của chiến thắng 30-4-1975 vẫn còn nhiều giá trị lịch sử cho thời kỳ mới của cách mạng Việt Nam:
Thứ nhất, chủ động nghiên cứu, nắm bắt đúng tình hình, tuyệt đối không bị động bất ngờ, tranh thủ tối đa những điều kiện thuận lợi từ tình hình chính trị, an ninh thế giới. Kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đi đôi với giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn để phát triển đất nước.
Thứ hai, chủ động hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường để tạo thêm nguồn sức mạnh thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm đạt mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại vào giữa thế kỷ này.
Thứ ba, triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả công tác xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, bản lĩnh, trí tuệ, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và đảng viên để Đảng đủ sức lãnh đạo nhân dân ta trong giai đoạn lịch sử mới vì mục tiêu “dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Thứ tư, quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng, phát huy quyền làm chủ, ý chí tự lực, tự cường, truyền thống yêu nước, ý chí cách mạng của các tầng lớp nhân dân, xây dựng vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo thế và lực mới cho quá trình hiện thực hóa khát vọng phồn vinh hạnh phúc của nhân dân.
Thứ năm, giữ mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, thông qua mặt trận Tổ quốc và hệ thống tổ chức chính trị - xã hội; thực hiện tốt công tác đóng góp ý kiến và phản biện trong quá trình hoạch định đường lối, chính sách và lãnh đạo cách mạng, lợi ích của Đảng phải được thể hiện trong mối tương quan mật thiết với lợi ích của nhân dân. Kiên trì thực hiện phương châm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng.
Thứ sáu, trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, thể hiện quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, sáng tạo, tích cực, có bước đi phù hợp, phát huy mọi nguồn lực, động lực và tính ưu việt của chế độ XHCN. Đề cao trách nhiệm người đứng đầu gắn liền với phát huy sức mạnh đồng bộ của cả hệ thống chính trị, tạo ra những đột phá mạnh mẽ để phát triển.
48 năm đã trôi qua, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đã để lại cho cách mạng Việt Nam rất nhiều bài học vô giá, không chỉ có ý nghĩa đối với hôm nay mà còn với cả mai sau. Những bài học ấy đã, đang và sẽ tiếp tục là sức mạnh, là khởi nguồn cho những thành tựu to lớn hơn của cả dân tộc trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN./.
St


HỆ LỤY NGHIÊM TRỌNG KHI CÁN BỘ ‘NÉ VIỆC, NGỒI YÊN’

 Căn bệnh sợ trách nhiệm, né việc trong đội ngũ cán bộ đã và đang tạo ra những điểm nghẽn, làm chậm trễ và trì trệ hoạt động công vụ, bào mòn và làm suy giảm niềm tin của người dân, doanh nghiệp, cản trở động lực và nguồn lực phát triển, ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội.

Lực cản với sự phát triển của đất nước

Tại diễn đàn của Quốc hội, trong Kỳ họp thứ 5 vừa qua và Kỳ họp thứ 6 đang diễn ra, nhiều đại biểu đã nêu vấn đề ra trước nghị trường để phân tích, mổ xẻ với quan điểm nếu căn bệnh này không được chấn chỉnh, điều trị kịp thời, nó sẽ là lực cản phát triển của đất nước.

Theo các đại biểu, thái độ "thà đứng trước hội đồng kỷ luật, còn hơn phải đứng trước tòa" trở thành "phương châm" hành động của không ít cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.

Ở nhiều nơi, tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm, không dám làm, không dám quyết, đùn đẩy trách nhiệm thuộc về phần mình qua lại giữa các bộ phận khiến nhiều công việc bị đình trệ, người dân và doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn.

Không ít dự án, công trình đầu tư bị kéo dài tiến độ hoặc bị ngưng trệ chỉ vì chậm được duyệt, cấp phép và triển khai. Trong lĩnh vực đầu tư công, nhiều công trình trọng điểm bị chậm tiến độ, tốc độ giải ngân tại một số địa phương, bộ, ngành còn thấp…

Không dừng lại ở đó, tình trạng "ba không" gồm không nói, không tham mưu và không làm nếu ở mức độ nghiêm trọng và là sự cố ý còn gây ra những hậu quả, tác hại lớn.

"Không trình, không làm" chính là một trong số nhiều thủ đoạn mà một số cán bọ thoái hóa, biến chất áp dụng trong xử lý công viêc, ở một góc nhìn khác là hình thức "vòi vĩnh" tiền bôi trơn của người dân, doanh nghiệp.

Thực tế thời gian qua, Thủ tướng Chính phủ đã có nhiều văn bản chỉ đạo chấn chỉnh, tăng cường trách nhiệm trong xử lý công việc của các bộ, cơ quan, địa phương và thực hiện nghiêm Quy chế làm việc của Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 39/2022/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2022, quy chế làm việc của các bộ, cơ quan, địa phương.

Tuy nhiên, như Công điện gần đây của Thủ tướng Chính phủ đã chỉ ra, tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, sợ sai khi xử lý công việc của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức trong một số cơ quan hành chính nhà nước các cấp vẫn chưa được khắc phục hiệu quả; công tác phối hợp giữa các cơ quan, địa phương, đơn vị trong xử lý công việc chưa chặt chẽ, kịp thời, còn trường hợp chậm tham gia ý kiến hoặc tham gia ý kiến nhưng không có chính kiến, quan điểm rõ ràng, kéo dài thời gian xử lý, ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng, hiệu quả công việc.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Tín, nguyên Phó Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam nhận định: "Tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm, không dám làm" thực sự để lại những hậu quả xấu, tác động lớn tới mỗi đơn vị, mỗi tập thể, mỗi tổ chức và tới cả nước".

Lấy ví dụ thêm, Thiếu tướng Nguyễn Văn Tín nhắc tới những trường hợp không dám đấu thầu, đấu giá để xảy ra khan hiếm thuốc và vật tư y tế đã làm cho nhiều bệnh viện bị ảnh hưởng, nhiều bệnh nhân mất cơ hội chữa trị. "Cũng vì sợ trách nhiệm mà 22.000 hộp sữa viện trợ từ Australia cho trẻ em nghèo, khó khăn trong đại dịch chậm đến được với người cần nhận", ông Tín dẫn chứng.

Căn bệnh né tránh, sợ trách nhiệm của người lãnh đạo, của người đứng đầu ở mỗi tổ chức còn gây trở ngại cho công tác và cho mọi hoạt động của tổ chức, làm cán bộ, đảng viên trong tổ chức đó mất niềm tin, mất động lực phấn đấu, mất cảm hứng sáng tạo, dẫn đến tư tưởng cầm chừng, không muốn làm, không dám làm.

Cán bộ vẫn là cái gốc của công việc

PGS.TS Lê Văn Chiến, Viện trưởng Viện Lãnh đạo học và Chính sách công (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) nhận định rằng cuộc chiến với căn bệnh "sợ trách nhiệm, không dám làm", về chủ trương đã có, những bước thực hiện cũng đã dần triển khai, việc còn lại nằm ở yếu tố con người. Trong đó, tinh thần học tập, tu dưỡng đạo đức cách mạng và năng lực chuyên môn ở mỗi cán bộ, đảng viên là vô cùng quan trọng.

Theo ông Chiến, vấn đề cơ bản ở đây vẫn là việc đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng công việc và đánh giá sử dụng cán bộ. Bên cạnh việc loại bỏ những cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức không làm được việc, đùn đẩy, né tránh, sợ sai, sợ trách nhiệm thì cần phải có cơ chế, chính sách để khuyến khích, động viên cán bộ, đảng viên phát huy năng động, sáng tạo; khắc phục tư tưởng chưa làm đã sợ sai, sợ trách nhiệm.

Muốn vậy, cơ chế, chính sách phải đủ mạnh, hiệu lực và hiệu quả, có tính khả thi cao. Phải bảo đảm sự đầy đủ, đồng bộ, không bị chồng chéo và phải kịp thời. Bên cạnh đó, phải tường minh, rõ ràng, cụ thể, dễ vận dụng trong thực tiễn. Cuối cùng, phải rất quyết liệt, có niềm tin, có quyết tâm cao.

Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Trà Vinh Trần Quốc Tuấn lại cho rằng, cần phân hóa, phân định một bộ phận cán bộ sợ trách nhiệm là những ai, nguyên nhân nào dẫn đến sự tồn tại của những cán bộ này để từ đó tìm ra giải pháp khắc phục kịp thời, hiệu quả.

Với nhóm cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, không muốn làm vì không có lợi ích riêng, ông Tuấn cho rằng, có thể khắc phục được ngay, ưu tiên thay thế bằng những cán bộ tốt, có đủ tâm huyết và trách nhiệm.

Riêng nhóm cán bộ sợ vi phạm pháp luật nên không dám làm, Quốc hội, Chính phủ cần rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan đến cán bộ, công chức, viên chức để bảo đảm tính đồng nhất, không chồng chéo, mâu thuẫn. Trên cơ sở đó, hệ thống pháp luật đồng nhất sẽ bảo vệ, khuyến khích cán bộ, công chức năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Còn nguyên Vụ trưởng Vụ Cơ sở Đảng, Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Đức Hà nhận định, phải sử dụng đồng bộ rất nhiều giải pháp để tất cả cán bộ tùy theo chức trách, nhiệm vụ phải thấy rõ được trách nhiệm của mình.

"Muốn làm tròn chức trách, nhiệm vụ của mình phải hiểu được, nắm được, phải "đúng vai, thuộc bài" như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vẫn thường nói. Đúng vai là làm đúng việc của mình chứ không "chèo" sang việc của người khác. Thuộc bài là phải nắm được chính sách, pháp luật, nắm được quan điểm, chủ trương, đường lối, phải nắm được kiến thức, phải có kinh nghiệm", ông Nguyễn Đức Hà phân tích.

Bên cạnh đó, theo ông Nguyễn Đức Hà, chúng ta phải rất chú trọng đến công tác cán bộ. "Đừng đưa thợ nề sang làm thợ mộc, đừng đưa thợ mộc đi làm thợ sơn. Tóm lại, lựa chọn cho đúng người mà lại phải bố trí đúng việc để khai thác, phát huy tất cả phẩm chất, năng lực, sở trường của mỗi người".

Điều chuyển ngay cán bộ năng lực hạn chế, nhất là cán bộ lãnh đạo

Đề cập đến những giải pháp then chốt để chấm dứt căn bệnh "sợ trách nhiệm", Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà cho rằng, trước hết phải nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, công chức. Trong từng cơ quan, đơn vị phải hết sức chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và đạo đức công vụ, chấn chỉnh ngay một cách quyết liệt để thực hiện nghiêm túc các nghị quyết của Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với trách nhiệm của đảng viên, cán bộ, công chức.

Cùng với đó, phải thay đổi và xóa bỏ nhận thức của một số cán bộ, công chức là "không làm thì không sai". Theo Bộ trưởng, "đây chính là dấu hiệu của một loại tự diễn biến, cản trở nghiêm trọng sự phát triển". Vì vậy, cần khơi dậy lòng tự trọng, bản lĩnh chính trị, tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức.

Nhóm nhiệm vụ thứ hai được người đứng đầu ngành Nội vụ nêu lên là cần đẩy mạnh việc rà soát, đề xuất bổ sung, hoàn thiện thể chế, chính sách, nhất là lĩnh vực kinh tế-xã hội còn phát sinh những khó khăn, vướng mắc trên thực tiễn và những nội dung liên quan đến quyền hạn, thẩm quyền ở các cơ quan, tổ chức, đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, ủy quyền.

Nhóm nhiệm vụ thứ ba, đó là đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và đổi mới công vụ, công chức, kịp thời biểu dương cơ quan, tổ chức, cá nhân làm tốt và xử lý nghiêm cán bộ, công chức không làm tròn trách nhiệm của mình, sợ sai trong thực thi công vụ.

Cùng với đó, kịp thời thay thế, điều chuyển cán bộ năng lực hạn chế, nhất là cán bộ lãnh đạo, không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ cũng nêu giải pháp về xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong thực thi công vụ. "Ở đâu người đứng đầu quyết tâm, quyết liệt, dám nghĩ, dám làm, thể hiện rõ vai trò lãnh đạo, dẫn dắt, thì ở đó thành công, kỷ cương, kỷ luật công vụ rất tốt".

Bộ trưởng Phạm Thị Thanh Trà đề nghị huy động cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc một cách đồng bộ để thực hiện các giải pháp với ý thức và trách nhiệm cao nhất, quyết tâm công phá tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm và không dám làm trong thực thi công vụ; phát huy cao độ vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội, của Nhân dân./.

ST

TRỊ TẬN GỐC “BỆNH” SỢ TRÁCH NHIỆM

 Thực hiện chủ trương của Đảng, sự ra đời của Nghị định 73 có ý nghĩa rất quan trọng thúc đẩy cán bộ dám nghĩ, dám làm, năng động, sáng tạo vì lợi ích chung; là biện pháp khắc phục căn bệnh "ngồi im, thụ động" trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương.


Nhận thấy được tính chất nghiêm trọng và mức độ nguy hại của căn bệnh sợ trách nhiệm trong đội ngũ cán bộ, thời gian qua, nhất là trong nhiệm kỳ này, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định nhằm xử lý mạnh hơn, quyết liệt hơn, hiệu quả hơn căn bệnh nguy hiểm này, như Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới.

Đặc biệt, Bộ Chính trị đã có Kết luận số 14-KL/TW về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Cùng với đó là các nghị quyết, kết luận, chỉ đạo về kiểm soát quyền lực, tăng cường công tác quản lý cán bộ và kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên.

Đơn cử, cách đây ba tháng, ngày 11/7, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định 114-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền. Mới đây, ngày 27/10, Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Quy định số 131-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán.

Ngày 10/5/2023, phát biểu tại cuộc họp của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu phải tập trung rà soát, chấn chỉnh, khắc phục ngay những biểu hiện đùn đẩy, né tránh, làm việc cầm chừng, sợ sai không dám làm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

Thực hiện chủ trương của Đảng và các chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với phân bổ nguồn lực phù hợp, nâng cao năng lực cán bộ thực thi và tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, siết chặt kỷ luật, kỷ cương.

Ngày 19/4/2023, Thủ tướng Chính phủ có Công điện số 280/CĐ-TTg về chấn chỉnh, tăng cường trách nhiệm trong xử lý công việc của các bộ, cơ quan, địa phương. Gần đây nhất, Thủ tướng tiếp tục ban hành Công điện số 968/CĐ-TTg ngày 16/10/2023 yêu cầu các Bộ ngành, địa phương tiếp tục chấn chỉnh, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong cơ quan hành chính nhà nước các cấp.

Trong đó yêu cầu rõ, phải kiên quyết khắc phục tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm trong xử lý công việc, không dám làm, không dám tham mưu, đề xuất, không dám chịu trách nhiệm ở các cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức.

Đáng chú ý, ngày 29/9/2023, Chính phủ ban hành Nghị định 73/2023/NĐ-CP về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Điều cốt lõi trong Nghị định là chỉ rõ nguồn cơn và biện pháp khắc phục căn bệnh "ngồi im, thụ động" trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, tạo cơ sở pháp lý vững chắc, xây dựng môi trường thuận lợi để cán bộ, công chức, viên chức yên tâm trong thực hiện trách nhiệm công vụ, góp phần nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành và xử lý công việc.

Nghị định 73 mở ra những "cơ chế đặc biệt"

Theo nguyên Vụ trưởng Vụ Cơ sở Đảng, Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Đức Hà, Nghị định 73 đã cởi nút thắt cho sự năng động sáng tạo, dám nói, dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới vì sự nghiệp chung. Nghị định này chính là bước cụ thể hóa Kết luận số 14 của Bộ Chính trị, trở thành cơ chế, chính sách của Nhà nước.

"Khi một chủ trương của Đảng được ban hành, các tổ chức của Đảng và tất cả đảng viên phải nghiêm chỉnh chấp hành. Nếu các tổ chức Đảng và một đảng viên nào đó không chấp hành, tức là đã vi phạm quy định của Điều lệ Đảng và phải xử lý.

Còn khi một chủ trương được Chính phủ cụ thể hóa bằng Nghị định quy định của Chính phủ, tức là của Nhà nước thì không phải chỉ có các tổ chức Đảng, tất cả đảng viên mà tất cả mọi công dân Việt Nam đều phải chấp hành", đồng chí Nguyễn Đức Hà nhận định.

Việc cụ thể hóa những chủ trương của Đảng thành cơ chế, chính sách pháp luật của Nhà nước là rất quan trọng. Nghị định 73 đã làm rõ nhiều vấn đề, tạo hành lang pháp lý để cán bộ yên tâm dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng đương đầu với khó khăn, thử thách.

Nghị định này của Chính phủ đã đưa ra 5 nguyên tắc khuyến khích, bảo vệ cán bộ. Trong đó, Nghị định khẳng định: Cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung phải được khuyến khích, bảo vệ. Cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung có thể không bị xử lý trách nhiệm, được loại trừ, miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm theo quy định nếu có liên quan đến sai phạm.

Theo đó, Nghị định đưa ra các biện pháp bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo trong các trường hợp cụ thể. Đó là: Cán bộ thực hiện đề xuất đổi mới, sáng tạo được cơ quan sử dụng cán bộ đánh giá là hoàn thành thì không bị xử lý trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

Cán bộ thực hiện đề xuất đổi mới, sáng tạo mà không hoàn thành hoặc chỉ hoàn thành một phần mục tiêu đề ra nhưng được cơ quan sử dụng cán bộ xem xét, đánh giá đã thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung được loại trừ trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

Cán bộ thực hiện đề xuất đổi mới, sáng tạo mà không hoàn thành hoặc chỉ hoàn thành một phần mục tiêu đề ra và gây ra thiệt hại nhưng được cơ quan sử dụng cán bộ xem xét, đánh giá đã thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung sẽ được xem xét loại trừ, miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, các quy định của Nghị định từ nguyên tắc khuyến khích, bảo vệ cán bộ; điều kiện áp dụng chính sách khuyến khích, biện pháp bảo vệ cán bộ; những việc cơ quan, tổ chức, cán bộ và cá nhân không được làm trong khuyến khích, bảo vệ cán bộ; trình tự, thủ tục đề xuất đổi mới sáng tạo, trách nhiệm của cơ quan và người đứng đầu cơ quan sử dụng cán bộ và đặc biệt, quy định về đánh giá kết quả thực hiện đề xuất… đã thể hiện rõ nét, xuyên suốt và nhất quán cơ chế bảo vệ đối với cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, vì lợi ích chung.

Đồng thời, Nghị định giao cơ quan và người đứng đầu cơ quan sử dụng cán bộ quyết định cho phép thực hiện đề xuất đổi mới, sáng tạo phải kịp thời xem xét, đánh giá kết quả thực hiện, xác định rõ các nguyên nhân khách quan, chủ quan, đánh giá khách quan, toàn diện đối với các trường hợp này.

Theo đồng chí Nguyễn Đức Hà, đây có thể nói là những quy định góp phần khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định "cơ chế đặc biệt" trong khuyến khích, bảo vệ cán bộ. Một trong những việc cơ quan, tổ chức, cán bộ và cá nhân không được làm là "xử lý trách nhiệm đối với cán bộ năng động, sáng tạo, cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan trong quá trình đề xuất, thực hiện đề xuất đã được đánh giá là hoàn thành".

Bước chuyển biến tích cực trong công tác quản lý cán bộ

Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà cho biết, trong quá trình nghiên cứu, đề xuất Chính phủ xem xét, ban hành Nghị định 73, Bộ Nội vụ đã nghiên cứu đầy đủ các quan điểm, chủ trương của Đảng, đặc biệt là quan điểm, chủ trương về cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung trong giai đoạn hiện nay (Kết luận số 14-KL/TW) nhằm tạo hành lang pháp lý để cán bộ yên tâm dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng đương đầu với khó khăn, thử thách, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung, đồng thời góp phần ngăn ngừa, xử lý cán bộ lợi dụng chủ trương trên để làm trái, vụ lợi...

Vừa qua, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số quy định về đánh giá, xếp loại và kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, về quản lý người giữ chức danh, người đại diện phần vốn nhà nước ở doanh nghiệp… để bảo đảm thống nhất, đồng bộ với quy định của Đảng và phù hợp với tình hình thực tiễn.

Theo Bộ trưởng Bộ Nội vụ, các nghị định này sẽ tạo bước chuyển biến tích cực trong công tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Phó Trưởng Ban Dân nguyện của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Lưu Bình Nhưỡng cho rằng, việc ban hành Nghị định này sẽ góp phần hoàn thiện các quy định về công tác cán bộ; quản lý cán bộ, công chức, tạo cơ sở phát huy sức mạnh ẩn tàng trong đội ngũ cán bộ giàu năng lực, có phẩm chất lâu nay chưa được kích hoạt.

Đồng thời, cũng sẽ tạo ra sự đồng bộ về pháp luật cho việc đánh giá, cất nhắc, đề bạt cán bộ đúng đắn, chất lượng hơn. Đặc biệt, sẽ góp phần tạo ra chính sách, pháp luật giúp các cấp, các ngành phát hiện, thu hút, trọng dụng, bảo vệ và bảo đảm cho việc sử dụng hiền tài, xây dựng hệ thống "nguyên khí" quốc gia.

Khơi dậy được khát vọng rất to lớn của cả đội ngũ

Ông Nguyễn Túc, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, chia sẻ: Trước đây có những cán bộ dám nghĩ, dám làm đã bị làm khó, thậm chí bị xử lý kỷ luật, nhưng sau đó người đứng đầu nhận ra rằng cán bộ dưới quyền làm việc vì mục tiêu chung, nên kiên quyết bảo vệ.

Giờ đây, Nghị định 73 đã quy định, cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung phải được khuyến khích, bảo vệ. Khuyến khích, bảo vệ cán bộ có đề xuất đổi mới, sáng tạo được cơ quan sử dụng cán bộ xem xét, quyết định cho thực hiện trong phạm vi thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật, bảo đảm không trái quy định của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cơ quan nhà nước cấp trên và Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên.

Ông Nguyễn Túc cho rằng, nhờ những chỉ đạo tích cực, quyết liệt của Đảng và Nhà nước, các tỉnh, thành phố, địa phương, bộ, ngành, cơ quan, đơn vị trong cả nước đã tích cực vào cuộc, triển khai nhiều biện pháp để ngăn chặn, xử lý tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm khi giải quyết công việc. Bước đầu đã ghi nhận những chuyển biến tích cực, đặc biệt là đã có những kết quả mới trong việc xem xét, xử lý trách nhiệm chính trị của người đứng đầu có sai phạm ở một số ngành, địa phương như có những lãnh đạo cấp cao đã được Đảng, Nhà nước xem xét cho miễn nhiệm. Mặt khác, nhiều cán bộ đã dần thoát khỏi tâm lý e dè, sợ sai, sợ trách nhiệm... khi thực hiện các nhiệm vụ được giao.

Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái Đỗ Đức Duy nhận định, công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế tiếp tục được Chính phủ quan tâm, xác định là một trong những nhiệm vụ hàng đầu, trong đó, ngoài việc rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định cũ, nhiều văn bản quy phạm pháp luật lần đầu tiên được ban hành, như Nghị định 73/2023/NĐ-CP.

Theo Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái Đỗ Đức Duy, nhờ có Nghị định 73, cũng như chủ trương của Trung ương, nhiều địa phương đã mạnh dạn, sáng tạo ban hành cơ chế, chính sách phục vụ phục hồi phát triển kinh tế-xã hội.

Để Nghị định này đi vào cuộc sống, đồng chí Nguyễn Đức Hà nhấn mạnh phải nghiên cứu, học tập, quán triệt rất sâu sắc, nắm cho chắc, thực hiện quyết liệt; nếu thực hiện được chủ trương này thì có thể tạo nên một động lực mới, khơi dậy được khát vọng rất to lớn của cả đội ngũ cán bộ.

Cũng theo nguyên Vụ trưởng Vụ Cơ sở Đảng, khi đã có nghị định, quy định, những cán bộ mà thoái thác trách nhiệm, những cán bộ nào đùn đẩy trách nhiệm… phải xử lý nghiêm minh, phải thay đổi cán bộ, bố trí cán bộ một cách kịp thời để khắc phục sự trì trệ trong công tác cán bộ. "Như vậy cũng là thực hiện đúng quan điểm của Đảng, có lên có xuống, có vào có ra trong công tác cán bộ là điều bình thường và lúc đó trở thành văn hóa trong Đảng", đồng chí Nguyễn Đức Hà khẳng định. Cái gốc của vấn đề, đó là công tác cán bộ.

Đồng chí cũng cho rằng: "Khi chưa có Nghị định của Chính phủ thì việc triển khai thực hiện còn ở mức độ nhất định, nhưng khi Chính phủ đã có Nghị định quy định rõ về vấn đề này, tôi tin rằng việc sợ sai, không dám quyết, không dám làm, thậm chí đẩy "quả bóng" trách nhiệm sang cho người khác hoặc đơn vị khác… từng bước sẽ khắc phục được".

Như vậy, sau Đại hội XIII, Đảng, Nhà nước đã có nhiều Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận, chỉ đạo, quy định đồng bộ, toàn diện để vừa xử lý nghiêm các sai phạm, ngăn chặn và đẩy lùi căn bệnh "sợ sai, sợ trách nhiệm", vừa khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.

Chúng ta có quyền hy vọng về những thắng lợi của những chủ trương hết sức đúng đắn, kịp thời, nhân văn này của Đảng và Nhà nước ta. Và đặc biệt sắp tới đây, việc chuẩn bị và tiến hành đại hội Đảng các cấp chính là điều kiện và cơ hội rất tốt để rà soát, sàng lọc đội ngũ cán bộ, lựa chọn những người xứng đáng nhất, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ để để đảm đương công việc mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó./.

ST

10 ĐIỂM KHÔNG CÓ NHƯNG !!!

 Mới đây, hãng đồng hồ Nga Russian Time (Русское время) một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên mẫu đồng hồ đặc biệt về Việt Nam vừa ra mắt ngày 31/10/2023 tại Nga.

Lấy cảm hứng từ biểu tượng văn hóa Trống đồng Đông Sơn gắn liền với nền văn minh Sông Hồng của người Việt cổ, mặt trước của đồng hồ nổi bật với biểu tượng trống đồng Đông Sơn được chạm khắc 3D cực kỳ tinh xảo, cùng hình ảnh bản đồ Việt Nam quen thuộc. Bản đồ Việt Nam với sắc màu đỏ khắc 3D rực rỡ cùng ngôi sao vàng 5 cánh ở phía trên gợi nhắc đến Quốc kỳ Việt Nam (cờ đỏ sao vàng), đồng thời ngôi sao vàng cũng được đặt ở vị trí trùng với vị trí của thủ đô Hà Nội. 4 TP trực thuộc TW cũng được đánh dấu bằng những điểm chấm vàng nhỏ, và dĩ nhiên không thể thiếu sự khẳng định CHỦ QUYỀN của Việt Nam đối với các quần đảo HOÀNG SA, TRƯỜNG SA cũng như các đảo nhỏ khác như Côn Đảo, Phú Quốc…Mặt sau đồng hồ được khắc họa bằng quốc huy Việt Nam mạ vàng với dòng chữ “CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM” đầy tự hào.
Phiên bản LIMITED 999 CHIẾC trên toàn thế giới này được nhà máy đồng hồ Nga Russian Time ưu ái thiết kế và sản xuất trên một bộ vỏ hoàn toàn mới 5706309 được mạ vàng Nga sang trọng, bền bỉ. Đồng hồ được trang bị bộ máy AUTOMATIC với size 39,9mm. Mức size này được đánh giá là mức size tiêu chuẩn, phù hợp với đại đa số cổ tay người Việt, kính saphire nguyên khối chống xước, chịu nước 30m. Hộp đồng hồ là hộp da sần dài được in quốc huy Việt Nam rất đẹp và ý nghĩa.
Quá đẹp, quá tỉ mỉ và sang trọng. Ai mà đeo chiếc này thì auto 10 điểm khỏi phải bàn./.
ST


BÁC HỒ NÓI VỀ Ý NGHĨA CÁCH MẠNG THÁNG 10 NGA !

 Chủ tịch Hồ Chí Minh - người kế tục trung thành và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác-Lênin khi nói về Cách mạng Tháng Mười Nga đã khẳng định: Cách mạng Tháng Mười là cuộc cách mạng triệt để nhất và ngọn đuốc lý luận Mác-Lênin, kinh nghiệm của nó soi sáng con đường cách mạng Việt Nam.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga là nguồn cổ vũ to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Trong bài viết “Cách mạng Tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc” viết tháng 11-1967, Bác chỉ rõ sáu bài học lớn mà cách mạng Việt Nam được kế thừa từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga.
Bài học đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Cần có sự lãnh đạo của một đảng cách mạng chân chính của giai cấp công nhân, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân”. 85 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, cách mạng Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được nhiều thắng lợi vẻ vang, đã chứng minh nhận định của Bác là hoàn toàn đúng đắn.
Bài học thứ hai của Cách mạng Tháng Mười Nga được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng vào cách mạng Việt Nam, đó là: “Thực hiện cho được liên minh công nông... Chỉ có khối liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo mới có thể kiên quyết và triệt để đánh đổ các thế lực phản cách mạng, giành lấy và củng cố chính quyền nhân dân lao động, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của cách mạng dân tộc, dân chủ tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất thành công khi xác định lực lượng cách mạng. Theo Người, quần chúng nhân dân là lực lượng cách mạng, nhưng trong khối đại đoàn kết đông đảo ấy phải lấy liên minh công nông làm gốc.
Bài học thứ ba mà Bác chỉ ra là, “Dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”. Bài học phương pháp bạo lực cách mạng từ Cách mạng Tháng Mười Nga đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng trong phương pháp cách mạng bạo lực, trong nghệ thuật chớp thời cơ lãnh đạo toàn dân tộc làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945 – cuộc cách mạng giải phóng dân tộc duy nhất do Đảng cộng sản lãnh đạo giành chính quyền về tay nhân dân ở một nước thuộc địa.
Bài học thứ tư là, “Không ngừng tăng cường và củng cố nền chuyên chính vô sản”. Bài học này đã được Bác nhận thức đầy đủ và vận dụng thành công vào cách mạng Việt Nam, điển hình như: sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Người đã lãnh đạo nhân dân xây dựng và củng cố chính quyền-công cụ thực hiện chuyên chính vô sản.
Bài học thứ năm - một bài học rất sâu sắc của Cách mạng Tháng Mười Nga là, “cần có tinh thần cách mạng triệt để, luôn luôn giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, không sợ gian khổ, hy sinh, kiên quyết đấu tranh đến cùng vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Vận dụng bài học này vào Việt Nam, Bác chỉ rõ: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” và “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng quyết giành cho được độc lập”... Thực hiện những lời kêu gọi của Bác, nhân dân Việt Nam ở cả hai miền đã chiến đấu cực kỳ anh dũng để đất nước được hoàn toàn độc lập, giang sơn thu về một mối.
Bài học thứ sáu của Cách mạng Tháng Mười Nga được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, đó là “Kết hợp chặt chẽ lòng yêu nước với tinh thần quốc tế vô sản”.
Ði theo con đường của Cách mạng Tháng Mười, Ðảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện đã giành được nhiều thắng lợi vẻ vang, ghi lại những mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước./.
ST

"CHẮC THẮNG MỚI ĐÁNH NHƯNG TUYỆT ĐỐI CHỚ CHỦ QUAN KHINH ĐỊCH..."

 Trong “Thư gửi các cán bộ, chiến sĩ chủ lực và dân quân du kích trong Chiến dịch Hòa Bình”, tháng 11-1951, Bác Hồ viết: “… Muốn thắng, thì ta phải tích cực, tự động, bí mật, mau chóng, kiên quyết, dẻo dai. Chắc thắng mới đánh. Nhưng tuyệt đối chớ chủ quan khinh địch...”.

Đây là thời điểm Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình nhằm mục đích tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng thị xã Hòa Bình, đập tan phòng tuyến sông Đà và tạo điều kiện phát triển chiến tranh du kích ở đồng bằng Bắc Bộ. Đây là sự chỉ đạo sát sao, sự động viên khích lệ của Bác, thể hiện nhãn quan chính trị, quân sự thiên tài nhạy bén của Người đã đánh giá đúng tình hình địch, ta, phán đoán trước được âm mưu, hành động xảo quyệt của những tên đế quốc, thực dân xâm lược. Đó còn là phương châm, tư tưởng, nguyên tắc chỉ đạo tác chiến của chiến dịch, đồng thời phản ánh rõ nét tư tưởng “đánh chắc thắng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh-một tư tưởng đã trở thành nguyên tắc chỉ đạo cao nhất, đem lại niềm tin, nguồn sức mạnh chính trị, tinh thần to lớn để tiếp thêm sức mạnh và ý chí quyết chiến, quyết thắng cho các chiến sĩ ngoài mặt trận.
Quán triệt lời dạy của Người, quân và dân ta đã chiến đấu anh dũng, lập công xuất sắc, đập tan cuộc tiến công lên Hòa Bình cùng với âm mưu lập “Xứ Mường tự trị” của thực dân Pháp. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình là thành công của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc chỉ đạo tiến công chiến dịch và đưa quân đội ta có bước tiến mới về trình độ chiến thuật, kỹ thuật, về khả năng chiến đấu liên tục dài ngày trên hai mặt trận rộng lớn và phức tạp; tạo ra cơ hội thuận lợi cho các chiến trường khác đẩy mạnh chiến tranh du kích, liên tục tiến công, tiêu diệt sinh lực địch, phát triển lực lượng kháng chiến và mở rộng thêm nhiều vùng căn cứ làm cho cục diện chiến trường thay đổi ngày càng có lợi cho ta, góp phần cổ vũ, động viên tinh thần chiến đấu của quân và dân ta trên các chiến trường.
Hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ” đối với cách mạng nước ta và sẵn sàng can thiệp bằng vũ trang khi cần thiết. Để đánh thắng các thế lực thù địch, Quân đội ta cần chủ động nắm chắc tình hình, đánh giá và dự báo đúng các tình huống phức tạp có thể xảy ra; phát hiện kịp thời âm mưu, hành động của chúng để chuẩn bị lực lượng đủ mạnh và các kế hoạch, phương án tác chiến cụ thể sẵn sàng ngăn chặn, đẩy lùi từ xa; duy trì nghiêm chế độ SSCĐ, quản lý chặt chẽ biên giới, vùng trời, vùng biển, hải đảo, nhất là các khu vực còn tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, không để bị động bất ngờ trong mọi tình huống. Mỗi cán bộ, chiến sĩ cần xây dựng cho mình bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí quyết tâm cao, sẵn sàng đập tan mọi ý đồ xâm lược của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN./.
ST


TIỂU ĐỘI DÂN QUÂN NỮ DIỆT MÁY BAY MỸ !

 Tiểu đội dân quân nữ xã Kỳ Phương (Kỳ Anh, Hà Tĩnh) thành lập ngày 3-4-1968, gồm 9 người, tuổi đời từ 17 đến 19, do Tưởng Thị Diên làm Tiểu đội trưởng và Trần Thị Lan làm Tiểu đội phó, được trang bị 4 khẩu trung liên, còn lại là súng tiểu liên và súng trường; tổ chức trận địa trên dải đồi thoải ven biển xã Kỳ Phương để làm nhiệm vụ trực chiến và cơ động bắn máy bay địch dọc bờ biển và trên trục đường Quốc lộ 1A.

Sau một thời gian huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật, làm nhiệm vụ trực chiến; ngày 14-5-1968, Tiểu đội dân quân nữ xã Kỳ Phương phục kích nổ súng đánh địch trận đầu, cùng dân quân xã Kỳ Phương bắn cháy một chiếc F-4H của không quân Mỹ, khiến nó rơi xuống biển (cách trận địa khoảng 1km). Sau chiến thắng đó, khí thế của tiểu đội sôi nổi hẳn lên, mọi mặc cảm, tự ti về khả năng chiến đấu của nữ dân quân trong đánh máy bay Mỹ bằng súng bộ binh được giải tỏa. 6 giờ 35 phút ngày 6-8-1968, 6 chiếc máy bay phản lực thành hàng dọc từ biển bay vào, lướt qua trận địa và bay về phía Tây. Phát hiện mục tiêu, chúng vòng lại và bổ nhào đánh vào đoàn thuyền. Tiểu đội trưởng Tưởng Thị Diên hạ lệnh nổ súng, 4 khẩu trung liên đồng loạt nhả đạn. Chiếc F-4H chưa kịp cắt bom, bị trúng đạn lao thẳng xuống biển ngay trước trận địa. Những chiếc còn lại phát hiện trận địa của ta liền lao vào đánh phá. Ngoài khơi, 2 chiếc máy bay lên thẳng và 4 chiếc F-4H bay vào khu vực chiếc vừa rơi để cứu giặc lái. Tiểu đội trưởng phân công một tổ ở lại chiến đấu, còn hai tổ cơ động ra cồn cát sẵn sàng bắn máy bay trực thăng vào cứu giặc lái. 7 giờ 30 phút, khi số phận những tên giặc lái đã được định đoạt, máy bay trực thăng địch kéo nhau chuồn khỏi khu vực tác chiến.
Hơn 6 tháng bám trụ ven biển Kỳ Anh, Tiểu đội dân quân nữ xã Kỳ Phương đã đánh hàng trăm trận, bắn rơi 3 máy bay, phối hợp với các lực lượng khác bắn rơi 12 máy bay của đế quốc Mỹ, bảo vệ an toàn các mục tiêu giao thông, trận địa pháo cao xạ, pháo bờ biển.
Với những thành tích xuất sắc trong chiến đấu, Tiểu đội dân quân nữ xã Kỳ Phương được tặng thưởng Huy hiệu Bác Hồ, 1 Huân chương Quân công hạng Ba, 3 lần được nhận Cờ thưởng luân lưu của Quân khu và tỉnh Hà Tĩnh. Đặc biệt, tháng 10-1972, Tiểu đội dân quân nữ xã Kỳ Phương được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân./.
St


Nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta

 Những năm qua, các đối tượng phản động và thế lực thù địch thường sử dụng một số phương thức, chiêu trò để chống phá Đảng và Nhà nước, như:

Thứ nhất, lợi dụng triệt để sự phát triển của internet, mạng xã hội nhằm tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin xấu độc, bịa đặt, thật giả lẫn lộn, hòng gây nhiễu loạn thông tin, gieo rắc tư tưởng hoài nghi, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ hai, các thế lực thù địch, phản động cố tình xuyên tạc chủ nghĩa xã hội (CNXH), chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) và con đường đi lên CNXH của Việt Nam, công kích, phản bác CNXH, ngợi ca một chiều chủ nghĩa tư bản (CNTB), phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xuyên tạc về những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước ta sau 37 năm đổi mới.

Thứ ba, chúng tiếp tục đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ với âm mưu thủ đoạn tinh vi, thâm hiểm hơn, nhất là thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, phá hoại từ bên trong, tạo mâu thuẫn chia rẽ nội bộ, đặc biệt là chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sự gắn bó giữa nhân dân với Đảng và khi có thời cơ, chúng sẽ kích động người dân biểu tình, bạo loạn, gây bất ổn chính trị, tạo ra những cuộc cách mạng đường phố, "cách mạng màu" nhằm lật đổ chính quyền.

Thứ tư, chúng đưa ra các “kiến nghị” nhằm hướng lái dư luận theo ý đồ xấu; triệt để lợi dụng tâm lý hiếu kỳ của một số người dân, đưa ra những thông tin mập mờ đúng - sai để gây hoài nghi cho nhân dân; cổ súy cho cái gọi là “nhận thức đa chiều” hay “nhìn nhận đa chiều”, hòng xuyên tạc, chống phá chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Các chiêu trò chống phá nêu trên đều hướng tới mục đích cuối cùng là hòng tạo nên bức tranh bi quan về tình hình Việt Nam, gây mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ XHCN, dọn đường dư luận để tiếp tục đưa ra những luận điệu phủ nhận vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Phòng chống "DBHB" trên lĩnh vực ngoại giao

 Để làm tốt họạt động đối ngoại trong phòng, chống DBHB, bạo loạn lật đổ, cần tiếp tục quán triệt đường lối đối ngoại của Đảng đó là: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một đất nước Việt Nam XHCN giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệm hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Đổi mới tư duy đối ngoại để phù hợp với sự phát triển mau lẹ của tình hình thế giới. Có dự báo đúng tình hình thế giới, khu vực, chiều hướng vận động của các mối quan hệ quốc tế và âm mưu, thủ đoạn chiến lược DBHB, bạo loạn lật đổ của kẻ thù đối với Việt Nam; cảnh giác, nhận rõ âm mưu, thủ đoạn DBHB bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch trên lĩnh vực ngoại giao để có biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa.

Xác định đúng đối tượng, đối tác trên các lĩnh vực; khai thác sự đồng thuận trong các quan hệ lợi ích đan xen, phụ thuộc lẫn nhau trên thế giới, trong khu vực và với Việt Nam, để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ động tiến công trên hoạt động đối ngoại, vạch trần và làm thất bại các luận điệu xuyên tạc, vu cáo, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam dưới mọi hình thức.

Vận động Việt kiều tham gia phát hiện, đấu tranh với những âm mưu và hành động chống phá của bọn phản động người Việt lưu vong.

Phối hợp đối ngoại với an ninh - quốc phòng trong phòng, chống DBHB, bạo loạn lật đổ. Không cho địch lợi dụng lãnh thổ các nước láng giềng để xâm nhập, hỗ trợ, chỉ đạo chống phá Việt Nam.

Làm tốt công tác đối ngoại Nhân dân, nhất là khu vực các tỉnh biên giới, hải đảo, các thành phố, thị xã và các khu công nghiệp tập trung nhiều nhà đầu tư nước ngoài.

BÁC HỒ VỚI VĂN HỌC DÂN GIAN

 Sự quan tâm của Bác Hồ đối với văn học dân gian trước hết biểu hiện ở thái độ trân trọng, khẳng định vai trò và sức sáng tạo, giá trị văn hóa tinh thần của nhân dân trong lịch sử, ở việc vận dụng linh hoạt những hình tượng, truyền thuyết dân gian, những câu ca dao, tục ngữ vào những tác phẩm, những bài báo, những bức thư và lời phát biểu của Bác.

Cuộc đời, sự nghiệp của Bác Hồ là cuộc đời, sự nghiệp của một lãnh tụ cách mạng vĩ đại, đồng thời là cuộc đời, sự nghiệp của một nhà văn, nhà thơ lớn. Từ trước tới nay đã có nhiều bài báo, nhiều công trình nghiên cứu văn thơ của Bác, nghiên cứu ý kiến của Bác Hồ đối với văn nghệ. Trong bài viết này, tôi muốn qua những lời dạy và những tác phẩm của Bác, tìm hiểu những ý kiến của Bác về văn học dân gian và phong cách dân gian trong thơ văn của Bác.
Sự quan tâm của Bác Hồ đối với văn học dân gian trước hết biểu hiện ở thái độ trân trọng, khẳng định vai trò và sức sáng tạo, giá trị văn hóa tinh thần của nhân dân trong lịch sử, ở việc vận dụng linh hoạt những hình tượng, truyền thuyết dân gian, những câu ca dao, tục ngữ vào những tác phẩm, những bài báo, những bức thư và lời phát biểu của Bác. Bác Hồ bàn về văn học dân gian không nhiều nhưng ý kiến của Bác vô cùng cô đọng, súc tích và trong cái cô đọng, súc tích ấy vẫn đầy đủ những quan niệm của Bác về văn học dân gian.
Năm 1958, tại Hội nghị cán bộ văn hóa, Bác nêu rõ quần chúng là người sáng tạo ra lịch sử, ra của cải vật chất cho xã hội; đồng thời là người sáng tạo ra tinh thần, sáng tạo ra văn nghệ: “Quần chúng là những người sáng tạo, công nông là những người sáng tạo. Nhưng quần chúng không chỉ sáng tạo ra những của cải vật chất cho xã hội. Quần chúng còn là người sáng tác nữa… Những câu tục ngữ, những câu vè, ca dao rất hay là những sáng tác của quần chúng, các sáng tác ấy rất hay mà lại ngắn chứ không trường giang đại hải, dây cà ra dây muống”. Bác đánh giá cao các sáng tác của nhân dân, coi “những sáng tác ấy là những hòn ngọc quý”. Bác chỉ ra cho chúng ta thấy văn nghệ của dân tộc ta rất phong phú, phải chú ý khôi phục và bảo vệ. Những sáng tác dân gian qua nhiều năm được nhân dân giữ gìn mài giũa còn lại đến ngày nay đã và đang cổ vũ, động viên mọi người xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chứng minh thuyết phục ý kiến của Bác.
Bác rất chú ý đến việc khôi phục vốn cũ của dân tộc. Nhưng khôi phục như thế nào? “Nói là khôi phục vốn cũ, thì nên khôi phục cái gì tốt, còn cái gì không tốt thì phải loại dần ra”. Văn học dân gian cũng vậy, học tập văn học dân gian là tiếp thu có sáng tạo, có phê phán, gạt bỏ những yếu tố lạc hậu, phát huy những cái hay, cái tốt phục vụ cho cuộc sống hiện đại.
Đọc thơ văn của Bác, chúng ta thấy vốn văn học dân gian của Bác rất phong phú, trí tưởng tượng của Bác rất dồi dào. Trí tưởng tượng đó gắn liền với hiện thực. Nhiều hình tượng Bác dùng bắt nguồn từ cuộc sống, chứa đựng những suy nghĩ có tính triết lí sâu sắc. Bác thường vận dụng những hình ảnh tráng lệ quen thuộc trong truyền thuyết dân gian.
Truyền thuyết về con Lạc cháu Hồng đối với nhân dân ta là một niềm tin về cội nguồn chung của đại gia đình dân tộc. Con Lạc cháu Hồng được xem như một biểu tượng về sự đoàn kết dân tộc, như một lời kêu gọi thiêng liêng tập trung lực lượng nhân dân dựng nước và giữ nước. Biểu tượng này thường được Bác nhắc tới. Khi giác ngộ, kêu gọi nhân dân đứng lên giành độc lập cho Tổ quốc: “Hơn hai mươi triệu con cháu Lạc Hồng quyết không chịu kéo dài cuộc đời nộ lệ...”. Khi kêu gọi mọi người hướng vào mục đích chung là đấu tranh để thống nhất nước nhà: “Hễ là con Hồng cháu Lạc, người có lương tâm thì chắc ai cũng tán thành và ủng hộ mục đích cao cả ấy”. Trong một số trường hợp khác, hình tượng người anh hùng Thánh Gióng tượng trưng cho lòng yêu nước và sức mạnh chống ngoại xâm của dân tộc ta cũng được Bác sử dụng. Nhân một năm ngày toàn quốc kháng chiến, Bác gửi thư cho các tầng lớp nhân dân, trong đó có đoạn khen ngợi các cháu nhi đồng: “Các cháu nhi đồng, có cháu thì giúp bộ đội lập chiến công, có cháu thì giúp tăng gia sản xuất hoặc tuyên truyền cổ động, thật xứng đáng là con cháu Phù Đổng Thiên Vương và Trần Quốc Toản”. Khi nêu lên tính chất anh hùng, vĩ đại của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác lại nhắc đến hình tượng người anh hùng dân tộc này: Trong lịch sử ta có ghi truyện vị anh hùng dân tộc là Thánh Gióng đã dùng gốc tre đánh đuổi giặc ngoại xâm. Trong những ngày đầu kháng chiến, Đảng ta đã lãnh đạo hàng nghìn hàng vạn anh hùng noi gương Thánh Gióng dùng gậy tầm vông đánh thực dân Pháp…
Trong những bài báo, những bức thư và lời phát biểu của Bác, chúng ta còn gặp rất nhiều câu tục ngữ, ca dao cổ truyền, có khi được sử dụng nguyên vẹn, có khi thay đổi đôi chút cho phù hợp với nội dung vấn đề của Bác nêu lên. Ví dụ ở Hội nghị đại biểu những người tích cực làm công tác văn hóa quần chúng toàn miền Bắc lần thứ nhất (ngày 11/2/1960), khi đặt vấn đề muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hóa nhưng nhấn mạnh đến vai trò trước hết của kinh tế, Bác vận dụng cách nói: “Vì sao không nói phát triển văn hóa và kinh tế? Tục ngữ ta có câu: Có thực mới vực được đạo; vì thế kinh tế phải đi trước”.
Khi phê phán bệnh hay nói chữ, dùng chữ không đúng, Bác viết: “Tục ngữ nói Xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ. Cái bệnh nói chữ đó đã lan ra, đã làm hại đến quần chúng. Vì vậy có người đã nói: “Chúng tôi xin thông phong (xung phong)”; “Các đồng chí phải luyến ái (thân ái) nhau”. Không, đó không phải là những chuyện cười, đó là những chuyện thật. Những chuyện thật đáng đau lòng, do bệnh hay nói chữ sinh ra, hoặc do bệnh dốt sinh ra”. Khi động viên nhân dân xây dựng đất nước, Bác viết: “Mọi người phải ra sức góp công góp của để xây dựng nước nhà. Chớ nên Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau”. Tại Hội nghị cán bộ thảo luận Dự thảo Luật Hôn nhân và gia đình tháng 10/1954, nêu lên mối quan hệ giữa xã hội và gia đình, nêu lên việc cần thiết phải củng cố gia đình, Bác nói: “Tục ngữ ta có câu Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn.” Nhân dịp kỉ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Bác nhắc lại truyền thống đấu tranh anh dũng của phụ nữ ta và dẫn câu tục ngữ Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Khi biểu dương truyền thống đoàn kết của nhân dân ta, Bác sử dụng câu ca dao: Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng. Nhưng khi kêu gọi ngụy binh trở về với dân tộc, nhắc cho họ nhớ nguồn gốc của dân tộc ta là cùng một bọc sinh ra, là con Hồng cháu Lạc vì vậy phải đoàn kết cùng nhau chống ngoại xâm, Bác đã chữa lại câu ca dao trên cho hợp với ý này: Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Con Hồng cháu Lạc phải thương nhau cùng.
Năm 1951, khi lực lượng giữa ta và địch còn chênh lệch nhau, có người cho rằng cuộc kháng chiến của ta là châu chấu đá voi. Nhưng với cái nhìn sáng suốt, thấy trước được bước đi tất yếu của cách mạng, sau khi phân tích, giải thích tình hình hiện tại và thế thắng của ta, Bác khẳng định: “Chúng ta quyết trả lời cho những người lừng chừng và bi quan kia rằng: Nay tuy châu chấu đá voi/ Nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra”. Sự thực chứng minh rằng, “voi” thực dân đã bắt đầu lòi ruột, mà bộ đội ta đã trưởng thành như con hổ oai hùng. Từ thành ngữ châu chấu đá voi, Bác đã chuyển thành câu ca dao hàm súc với nội dung đầy ý nghĩa cách mạng.
Việc sử dụng tục ngữ, ca dao đã góp phần quan trọng tạo nên một văn phong đặc sắc, sinh động mà chúng ta chỉ thấy ở văn thơ của Bác. Lời thơ câu văn của Bác ngắn gọn, giàu hình ảnh, có sức tác động lớn đến tình cảm của quần chúng, khiến người đọc người nghe tưởng như đó là tiếng nói lời thơ của người bạn tâm tình gần gũi. Chính văn phong này đã làm cho những ý trừu tượng trở nên cụ thể, dễ hiểu, dễ nhớ. Và Bác khuyên cán bộ tuyên truyền phải học. Người viết: “Tục ngữ có câu: Học ăn, học nói, học gói, học mở. Nói cũng phải học, mà phải chịu khó học mới được. Vì cách nói của dân chúng rất đầy đủ, rất hoạt bát, rất thiết thực, mà lại rất giản đơn. Anh em đi tuyên truyền chưa học được cách nói đó, cho nên khi viết, khi nói khô khan, cứng nhắc, không hoạt bát, không thiết thực”.
Ngôn ngữ của Bác trong các bài nói và viết rất đậm đà màu sắc dân tộc. Nhiều tư tưởng lớn của đường lối cách mạng đã được Người dùng lối nói của tục ngữ để diễn đạt. Chẳng hạn khi nói về mối quan hệ giữa thế hệ già và thế hệ trẻ trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta, Người dùng câu Măng mọc quá tre hay Con hơn cha là nhà có phúc... Khi vận dụng tục ngữ vào bài viết cũng như bài nói nhiều trường hợp Bác giữ nguyên dạng tục ngữ: “Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón dài ngón ngắn. Nhưng ngắn dài đều hợp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ...” Trong bài nói chuyện tại lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp huyện ở Thái Nguyên (18/1/1967), Bác tuyên dương xã Đ: “Mười trận máy bay địch ném bom, bắn phá, nhiều nhà cửa và tài sản của nhân dân bị hư hại. Song nhờ tổ chức phòng tránh tốt, cả xã không có người chết và bị thương. Bà con bảo nhau “còn người còn của”, họ giúp đỡ nhau lương thực, quần áo, nồi niêu, bát đĩa, chăn màn, không phải xin nhà nước một đồng nào".
Những tác phẩm thơ ca của Bác, phong cách dân gian biểu hiện rất đa dạng. Từ cách đặt tên các bài thơ của Người, chúng ta đã nhận ra chất dân gian rõ nét. Nội dung cách mạng của Ca công nhân, Ca dân cày, Ca binh lính… đều được Bác diễn đạt theo cách diễn đạt dân gian. Đây là tình cảnh người công nhân trước Cách mạng 1945: Công nhân sức mạnh nghề quen/ Làm ra của cải cho thiên hạ nhờ/ Mà mình quần rách áo xơ/ Tiền công thì bớt mà giờ thì thêm. Và người nông dân cũng chịu cảnh thảm thương như thế: Thương ôi những bạn dân cày/ Chân bùn tay lấm suốt ngày gian lao/ Lại còn thuế nặng sưu cao. Ngôn ngữ bình dị, âm điệu quen thuộc như ca dao truyền thống nhưng ý nghĩa xã hội của bài thơ được mở rộng và nâng cao. Kết thúc bài thơ bao giờ cũng là một viễn cảnh tươi sáng: Bao giờ khôi phục nước nhà/ Của ta ta giữ, công ta ta cầm (Ca công nhân); Nông dân có đủ ruộng mình làm ăn (Ca dân cày)…
Ngay như Nhật kí chìm tàu, Bác viết vào cuối năm 1930 bằng thể hồi kí du lịch cũng sử dụng thể thơ và biện pháp trùng điệp của ca dao, nhiều câu thơ trong sáng giản dị: Nước Nga có ruộng mà cày/ Cũng nhờ cách mạng ra tay đỡ đần. Vì vậy, tác phẩm giới thiệu cuộc Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại và việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga vào những năm đầu cách mạng là việc hoàn toàn mới lạ đối với toàn thể loài người mà vẫn dễ đọc, dễ nhớ và đã được lưu hành rộng rãi trong đảng viên quần chúng những năm 1930 - 1931 thời kì Xô Viết - Nghệ Tĩnh.
Đọc bài thơ Khen tặng hai cháu liên lạc trong bộ đội chiến khu II của Bác, chúng ta như được nghe kể lại chiến công của hai em liên lạc dưới hình thức một bài vè sinh động. Con người, sự việc đều là con người, sự việc có thật, cụ thể. Cách hiệp vần cũng là cách hiệp vần liền, một trong hai cách hiệp vần của vè bốn chữ: Bác được tin rằng/ Cháu làm liên lạc/ Bị giặc bắt được/ Lại trốn thoát ngay/ Mang hai lính Tây/ Theo về bộ đội. Một bài khác, bài Gửi các cháu nhi đồng nhân dịp tết Trung thu 1953, đề cập đến nhiều vấn đề thời đại như kháng chiến thắng lợi, đời sống nhân dân, chỉnh huấn chỉnh quân và lối kết thúc có tính chất “sấm kí” mở ra tương lai triển vọng của cách mạng nhưng vẫn đậm đà phong vị dân gian, giàu nhạc điệu uyển chuyển, kết hợp thể thơ bốn chữ và lục bát dưới hình thức kể chuyện tâm tình ngắn gọn. Bài thơ mở đầu: Chín tết Trung thu/ Tám năm kháng chiến/ Các cháu khôn lớn/ Bác cũng vui lòng/ Thu này Bác gửi thơ chung/ Bác hôn các cháu khắp vùng gần xa. Và cuối bài: Các cháu vui thay! Bác cũng vui thay! Thu sau so với thu này vui hơn. Khi ghé thăm một lán trại của thanh niên xung phong làm đường thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác khuyên thanh niên: Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên. Năm 1951, gửi thư động viên nông dân thi đua sản xuất, Bác viết: Ruộng rẫy là chiến trường/ Cuốc cày là vũ khí/ Nhà nông là chiến sĩ/ Hậu phương thi đua với tiền phương. Đó là những bài thơ động viên chính trị nhưng là những bài thơ được kết bằng những câu tục ngữ ngắn gọn, giàu hình ảnh so sánh ví von, gây ấn tượng mạnh mẽ, dễ hiểu, dễ nhớ. Trong chúng ta không mấy người không thuộc những bài thơ đó.
Chúng ta có thể dẫn ra rất nhiều dẫn chứng về hiện tượng “dân gian hóa” những câu nói, những câu thơ của Bác. Đây là lời phát biểu trong dịp khai mạc Đại hội các chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc năm 1952: Người người thi đua/ Ngành ngành thi đua/ Ta nhất định thắng/ Địch nhất định thua. Đến hai câu thơ trong diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam năm 1960, khi chào mừng đại biểu các đảng cộng sản anh em đến dự đại hội: Quan san muôn dặm một nhà/ Bốn phương vô sản đều là anh em. Và rất nhiều câu nói khác nữa của Bác đã đi vào nhân dân như những câu tục ngữ: Trung với nước hiếu với dân; Không có gì quý hơn độc lập, tự do.
Ở những bài thơ của Bác, chúng ta còn gặp hình thức ngụ ngôn. Ngụ ngôn là tưởng tượng, là trí tuệ của nhân dân. Nhân vật của ngụ ngôn có thể là con người, là động vật, sự vật… Trong bài thơ Con cáo và tổ ong, Bác kể chuyện con cáo già đến cướp con của ong để ăn nhưng bị ong xúm lại châm vào mắt, cáo già đau quá rơi xuống đất. Triết lí của bài thơ được hiện rõ ở phần kết thúc: Ong đoàn kết đuổi được loài cáo, vậy nhân dân ta đoàn kết cũng đánh đuổi được Nhật, Tây áp bức, giành tự do cho đất nước. Ở đây, Bác đã kết hợp một cách tài tình trí tưởng tượng với thực tế của nước ta trước Cách mạng tháng Tám 1945. Cũng cùng một mục đích kêu gọi đoàn kết đấu tranh, cùng hình thức thơ ngụ ngôn, trong Bài ca sợi chỉ, Bác nêu lên quá trình trưởng thành của sợi chỉ từ chỗ là cái bông yếu ớt “ai vò cũng đứt, ai rung cũng rời” đến khi thành chỉ và chỉ đó nhờ có lắm “đồng bang” họp lại nhau: Dệt nên tấm vải mĩ miều/ Đã bền hơn lụa lại điều hơn da/ Đố ai bứt xé cho ra/ Đó là lực lượng đó là vẻ vang. Đến đây ngụ ý của bài thơ có thể thấy được: đoàn kết là sức mạnh; nhưng bài thơ chưa dừng lại ở đó mà còn tiếp tục: Hỡi ai con cháu Hồng Bàng/ Chúng ta phải biết kết đoàn mau mau/ Yêu nhau xin nhớ lời nhau/ Việt Minh hội ấy mau mau tìm vào. Thơ Bác càng dễ hiểu càng có hiệu lực, vì vậy từ ý niệm trừu tượng, từ triết lí sâu xa của ngôn ngữ, Bác vẫn làm cho quần chúng tiếp nhận một cách dễ dàng, trực tiếp.
Văn thơ của Bác tự nhiên giản dị trong sáng, giàu hình ảnh nhịp điệu như lời nói của quần chúng. Nhiều biện pháp nghệ thuật của văn học dân gian được Bác sử dụng nhuần nhị nên có những bài thơ câu thơ của Bác quen thuộc, gần gũi và dễ nhớ, dễ thuộc như ca dao và nhiều câu nói, câu thơ của Bác đã trở thành những câu tục ngữ mới, trở thành “những hòn ngọc quý” của dân tộc, bổ sung vào vốn văn hóa chung của dân tộc. Chính bởi tiếp thu văn học dân gian một cách sáng tạo, thơ văn của Bác có được văn phong hết sức đặc biệt: súc tích mà dễ hiểu dễ nhớ, giàu tính dân tộc mà hiện đại, đồng thời có sức sống sâu rộng trong nhân dân./.
ST