Chủ Nhật, 5 tháng 11, 2023

Cứ mãi bổn cũ soạn lại

Thời gian qua, trong khi dư luận quốc tế đánh giá cao những thành tựu về nhân quyền mà Việt Nam đạt được, trên mạng internet lại xuất hiện những thông tin sai trái, không đúng thực tế tình hình nhân quyền tại Việt Nam.

Gần đây cũng vậy, khi Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Hoàng Thị Minh Hồng (Giám đốc Trung tâm Change) 3 năm tù về tội “trốn thuế”; Cơ quan an ninh điều tra Công an thành phố Hà Nội khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam Ngô Thị Tố Nhiên (Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sáng kiến về chuyển dịch năng lượng Việt Nam) để điều tra về hành vi chiếm đoạt tài liệu của cơ quan, tổ chức quy định tại điều 342 Bộ luật Hình sự, các đối tượng tiếp tục “bổn cũ soạn lại”.

Theo cáo trạng được công bố tại Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, từ năm 2012 - 2022, Trung tâm Change đã phát sinh doanh thu 69 tỷ đồng nhưng Hoàng Thị Minh Hồng chỉ đạo nhân viên không xuất hóa đơn thuế giá trị gia tăng, kê khai thuế... trốn thuế hơn 6,7 tỷ đồng. Tại tòa, Hoàng Thị Minh Hồng thừa nhận hành vi vi phạm và đã vận động gia đình khắc phục hơn 3,5 tỷ đồng.

Hội đồng xét xử nhận định, lời khai của bị cáo Hồng tại tòa phù hợp với kết quả điều tra nên cáo trạng truy tố là có căn cứ. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Hồng như: khắc phục hậu quả, khai báo thành khẩn…

Về vụ án đối với Ngô Thị Tố Nhiên, ngày 20/9, Cơ quan an ninh điều tra Công an thành phố Hà Nội đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam Ngô Thị Tố Nhiên để điều tra về hành vi chiếm đoạt tài liệu của cơ quan, tổ chức quy định tại điều 342 Bộ luật Hình sự. Cùng bị bắt với Ngô Thị Tố Nhiên còn có Dương Đức Việt (chuyên viên cao cấp Ban Quản lý đầu tư Tổng Công ty Truyền tải điện quốc gia, thuộc Tập đoàn EVN) và Lê Quốc Anh (sinh năm 1984, Trưởng Phòng phân tích hệ thống Công ty Tư vấn điện 1). Cả hai bị bắt về tội chiếm đoạt tài liệu của cơ quan, tổ chức.

Kết quả điều tra, tài liệu chứng cứ thu thập được xác định từ năm 2020, Ngô Thị Tố Nhiên đã biết Việt và Anh là những người có quyền tiếp cận các thông tin, tài liệu liên quan đến hoạch định chính sách phát triển lưới điện của Tập đoàn EVN, về lưới điện 500kV, 220kV. Ngô Thị Tố Nhiên đã hợp thức hóa việc chiếm đoạt tài liệu bằng cách ký hợp đồng lao động, hợp đồng chuyên gia với Việt, Anh theo hình thức bán thời gian, có trả lương. Hai bị can trên đã cung cấp các tài liệu của EVN cho Nhiên. Các hành vi vi phạm của Ngô Thị Tố Nhiên, Dương Đức Việt, Lê Quốc Anh đã phạm tội chiếm đoạt tài liệu của cơ quan, tổ chức.

Cơ quan Công an đang tiếp tục mở rộng điều tra vụ án này.

Vậy rõ ràng, bản chất hai vụ việc trên là hoạt động điều tra, truy tố và xét xử theo đúng quy định pháp luật, với các tài liệu, chứng cứ kết tội rõ ràng, khách quan đối với những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật.

Thế nhưng, sau khi Hoàng Thị Minh Hồng bị tuyên án, Ngô Thị Tố Nhiên bị khởi tố, đã có những thông tin sai lệch đăng tải với những nội dung bóp méo, vu cáo là kết án Hoàng Thị Minh Hồng, một nhà hoạt động môi trường nổi tiếng, 3 năm tù vì tội “trốn thuế”, một bản án minh họa cho bầu không khí đàn áp nhắm vào những nhà bảo vệ môi trường ở Việt Nam.

Những thông tin này cho rằng: “Đằng sau việc Hà Nội đàn áp giới hoạt động môi trường”, “Việt Nam: Cần cải cách nhân quyền gấp”, “Việt Nam: Hãy hủy bỏ các cáo buộc với nhà hoạt động khí hậu”. Họ hồ đồ kết luận “các vụ bắt giữ là một phần của chiến dịch đàn áp các nhóm xã hội dân sự trong những năm gần đây của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Có thông tin vô căn cứ cho rằng dường như “có động cơ chính trị”, nhằm mục đích trấn áp rộng rãi hơn đối với những người bảo vệ quyền đất đai và môi trường ở Việt Nam và đòi “can thiệp khẩn cấp” (!?).

Những người đưa thông tin trên cố tình lờ đi sự thật rằng, những vụ án nêu trên đã được các cơ quan chức năng thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng hình sự, xét xử đúng người, đúng tội, thể hiện tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật Việt Nam. Các phiên tòa đều diễn ra công khai, nội dung, diễn biến vụ án đã được đăng tải đầy đủ trên các mặt báo chứ không có chuyện “úp mở, che giấu thông tin”.

Chúng cố tình tự “bưng tai”, “bịt mắt” về việc ngày 28/9 tại phiên xét xử sơ thẩm, bị cáo Hoàng Thị Minh Hồng đã thành khẩn thừa nhận: "Sai phạm của bị cáo là quá tập trung vào vấn đề chuyên môn nghiệp vụ mà không cập nhật thông tin, kiến thức về thuế. Để đến hôm nay, phải đứng trước tòa là bài học rất đắt giá. Bị cáo cảm ơn các cơ quan chức năng giúp bị cáo hiểu rõ các quy định về thuế".

Theo bị cáo Hồng, vụ án không chỉ là bài học cho mình mà còn cho các tổ chức đang giải quyết các vấn đề xã hội, cần phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước trong quá trình hoạt động. Bị cáo đã xin tòa xem xét cho mức án thấp để sớm về với gia đình, tiếp tục cống hiến cho xã hội.

Đến đây, có lẽ không cần bàn luận thêm!

Mục đích “bổn cũ soạn lại” là muốn dẫn dắt cộng đồng quốc tế và trong nước tới sự hiểu lầm tai hại về bức tranh nhân quyền ở Việt Nam, chúng lấy danh nghĩa “nhân quyền quốc tế” ra các thông cáo sai lệch về tình hình Việt Nam hòng tìm kiếm sự can thiệp vào nội bộ nước ta. Phương thức quen thuộc vẫn là khoác lên các vụ án, bị can, bị cáo phạm tội hình sự, kinh tế, những nhãn mác rởm như: “nhà hoạt động nhân quyền, dân chủ”, “nhà hoạt động tôn giáo”, “nhà hoạt động môi trường”…

Trước những chiêu trò này, tại cuộc họp báo Chính phủ chiều 30/9, Trung tướng Tô Ân Xô - Người Phát ngôn Bộ Công an đã chỉ rõ: Các hành vi vi phạm của Ngô Thị Tố Nhiên, Dương Đức Việt, Lê Quốc Anh đã phạm tội chiếm đoạt tài liệu của cơ quan, tổ chức. Sau khi Nhiên bị khởi tố, có thông tin xuyên tạc, vu cáo Việt Nam bắt giam các nhà hoạt động môi trường. Bộ Công an bác bỏ luận điệu xuyên tạc kể trên và coi đó là hành vi can thiệp hoạt động nội bộ của Việt Nam. Hoàn toàn không có chuyện bắt các nhà hoạt động môi trường.

“Đây là việc chiếm đoạt thông tin, tài liệu của tổ chức, cơ quan, vì đây là các tài liệu nội bộ không được chia sẻ, không được công bố công khai, thuộc danh mục tài liệu mật", ông Tô Ân Xô nhấn mạnh.

Phải khẳng định, ở Việt Nam, mọi cá nhân, hội, tổ chức phi chính phủ đều được bảo đảm hoạt động bình thường theo đúng quy định, đồng thời tuân thủ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hoạt động của mình. Chỉ những người vi phạm pháp luật, những người phạm tội mới bị bắt, giam giữ và điều tra, xét xử. Công - tội phân minh. Không có việc Việt Nam “giam giữ tùy tiện các nhà bảo vệ môi trường” hay bắt giữ những người “bất đồng chính kiến” như những kẻ nhân danh tổ chức nào đó rêu rao.

Nhân đây cũng nhắc thêm, bảo vệ sức khỏe nhân dân, bảo vệ môi trường, chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm. Nhiều chủ trương, chính sách về các vấn đề này đã được ban hành xử lý những vấn đề thực tiễn đặt ra. Kể từ khi đất nước đổi mới, một hệ thống các quan điểm về bảo vệ môi trường của Đảng ta đã thể hiện sự nhất quán, xuyên suốt. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (1991) đã đề ra phương hướng: “Tuân thủ nghiêm ngặt việc bảo vệ môi trường, giữ gìn cân bằng sinh thái cho thế hệ hiện tại và mai sau”. Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định bảo vệ, cải thiện môi trường; chủ động, tích cực triển khai các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu, thiên tai khắc nghiệt là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ nhằm phát triển đất nước nhanh và bền vững.

Việt Nam luôn nhất quán phát triển kinh tế phải hài hòa với thiên nhiên, không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế; phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, cac-bon thấp… Tại COP26, Việt Nam đã cùng gần 150 quốc gia cam kết đưa mức phát thải ròng về “0” vào đến năm 2050. Chính với quan điểm “Vì một Việt Nam xanh”, Chương trình trồng mới 1 tỷ cây xanh giai đoạn 2021-2025 do Chính phủ đề ra đã được dư luận hết sức đồng tình, hưởng ứng. Nhiều hoạt động hưởng ứng Tết trồng cây đã diễn ra trên khắp cả nước thời gian qua đã cho thấy quyết tâm hoàn thành mục tiêu phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, phục hồi hệ sinh thái, tăng cường màu xanh cho mỗi góc phố, con đường, từng công sở, sân trường hay chính mỗi gia đình tại khu đô thị, nông thôn nước ta.

Đối với việc bảo đảm thực thi quyền con người, thực tế cũng cho thấy, sau 37 năm tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong lĩnh vực thúc đẩy, bảo vệ quyền con người. Các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên, chúng ta đều cam kết thực hiện và coi đó là trách nhiệm chính trị, pháp lý của Nhà nước. Nhờ thành tựu trong hoạt động lập hiến, lập pháp, việc bảo đảm quyền con người đã có những bước tiến vượt bậc trên tất cả các khía cạnh của đời sống xã hội.

Không chỉ nỗ lực thực hiện các cam kết quốc tế, Việt Nam trong những năm gần đây còn tích cực, chủ động và có nhiều đóng góp trong lĩnh vực thúc đẩy và bảo vệ quyền con người trong khu vực và thế giới. Điều này thể hiện rõ thông qua mức độ tín nhiệm với tỷ lệ phiếu đồng ‎thuận rất cao những lần Việt Nam gia nhập Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

Với những nỗ lực chung trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trong phạm vi quốc gia và khu vực, các nước thành viên ASEAN chính thức đề cử Việt Nam là ứng cử viên duy nhất đại diện cho ASEAN làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023 - 2025. Và vừa qua, với số phiếu cao, Việt Nam đã chính thức trúng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền, nhiệm kỳ thứ 2 (2023 - 2025).

Như vậy, có thể khẳng định rằng những kết quả, thành tựu to lớn trên lĩnh vực thúc đẩy, bảo vệ, bảo đảm quyền con người mà Việt Nam đã đạt được chính là minh chứng sinh động cho thấy quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam là đúng, là vì quyền con người. Vì vậy, những luận điệu sai trái này chỉ là những tiếng nói lạc lõng, đơn lẻ, nhằm bối xấu Việt Nam, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước Việt Nam với cộng đồng quốc tế. Âm mưu thâm độc của chúng là muốn can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đó chính là hành vi, thủ đoạn vi phạm nhân quyền ở mức cao nhất, hành vi xâm phạm quyền tự quyết của một quốc gia độc lập, có chủ quyền.

Việc bắt giữ, điều tra, xét xử đối với công dân vi phạm pháp luật là công việc nội bộ của Việt Nam. Các tổ chức, cá nhân nào đứng ra bênh vực và đòi trả tự do ngay lập tức cho những người vi phạm pháp luật như Hoàng Thị Minh Hồng, Ngô Thị Tố Nhiên là hành động can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam. Việc làm ấy vừa vi phạm nghiêm trọng công ước, vừa trái nguyên tắc quốc tế về cấm can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác!

Sưu tầm.

Hành động “ném đá giấu tay” và cuộc đấu tranh với “địch bên trong ta”

Cứ mỗi dịp diễn ra đại hội đảng các cấp, đơn thư nặc danh, mạo danh, thông tin lan truyền về công tác nhân sự đại hội lại rộ lên. Điều rất đáng bàn là nhiều thông tin sai trái, xuyên tạc xuất phát từ động cơ không trong sáng, “ném đá giấu tay”; tiềm ẩn nguy cơ chia rẽ, bè phái, mất đoàn kết; cán bộ, đảng viên và quần chúng dễ nảy sinh tư tưởng nghi ngờ, đố kỵ, thậm chí gây hoang mang, lo lắng. Đấu tranh mạnh mẽ xua tan “đám mây mù” làm thanh sạch bầu không khí thông tin không chỉ là trách nhiệm chính trị của từng tổ chức và mỗi người, mà còn là yếu tố cơ bản để tổ chức đại hội thành công…

“Địch bên trong ta đáng sợ hơn”

Theo Từ điển Thành ngữ và Tục ngữ Việt Nam do Nhà xuất bản Văn hóa phát hành năm 1997 thì thành ngữ “ném đá giấu tay” chỉ hành động "làm những việc độc ác một cách lén lút không dám công khai, cố tỏ ra không liên quan gì đến hậu quả của nó". Những kẻ “ném đá giấu tay” hay “ném đá” rồi giấu mặt, hoặc xúi giục người khác “ném đá” thay mình thường đứng đằng sau cổ xúy, bơm thổi, khuếch tán… Mục đích của họ là làm cho người khác ngộ nhận về những thông tin sai trái, xuyên tạc, qua đó hướng lái dư luận theo ý đồ, động cơ không trong sáng của một hoặc nhóm người.

Xuyên tạc, gây nhiễu thông tin, phá hoại tổ chức theo kiểu “ném đá giấu tay” không chỉ là những đối tượng phản động, thù địch với Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa mà trong bài viết này, chúng tôi tập trung vào đối tượng là cán bộ, đảng viên, hoặc những phần tử thoái hóa biến chất, cơ hội có nhận thức, hành động sai trái trên.

Qua các kỳ đại hội đảng trước đây, cũng như diễn biến gần đây cho thấy, những người có hành vi “ném đá giấu tay” tiến hành với nhiều chiêu thức, thủ đoạn, ngày càng tinh vi để bôi nhọ, xuyên tạc về công tác nhân sự. Họ thường lôi kéo, mua chuộc, xúi giục những người bất mãn, nhẹ dạ, hoặc đang có mâu thuẫn, xung đột trong nội bộ để kích động, tuyên truyền, xuyên tạc thông tin. Họ lợi dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội, dưới nhiều danh nghĩa hoặc mạo danh, nặc danh để đăng tải những tài liệu dưới dạng “kiến nghị”, “thư ngỏ”, “tâm thư”, lồng vào đó là nội dung tố cáo người này, người khác, nhất là những người dự kiến quy hoạch nhân sự của khóa mới. Cũng có thể chỉ với một chiếc điện thoại, máy tính, họ núp bóng để tán phát thông tin tới cơ quan chức năng, các tổ chức, cá nhân liên quan gây nên các “đám mây mù”, nhiễu loạn thông tin, chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong quần chúng, hòng phá hoại sự thành công của đại hội. Điều này được Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ rõ: “Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân”.

Thủ đoạn, luận điệu xuyên tạc mà các đối tượng “ném đá giấu tay” hay sử dụng thường là: Tung tin thất thiệt, xuyên tạc về phẩm chất, đạo đức, lối sống cán bộ; phán xét về trình độ năng lực, chuyên môn cán bộ thông qua việc khoét sâu những hạn chế, khuyết điểm ở những lĩnh vực mà cán bộ đó phụ trách, hoặc công việc cụ thể theo kiểu “bới lông tìm vết”, “bé xé ra to”, thậm chí “đổi trắng thay đen”, dựng chuyện để hạ thấp uy tín; bịa đặt về tình hình sức khỏe, các quan hệ xã hội, gia đình, thậm chí bới móc chuyện riêng tư để bôi nhọ hoặc kê kích, cường điệu hóa…

Ở trong nội bộ cơ quan, đơn vị có những người mang thói “ném đá giấu tay” sẽ làm tiềm ẩn nguy cơ chia rẽ, bè phái, mất đoàn kết; cán bộ, đảng viên và quần chúng dễ nảy sinh tư tưởng nghi ngờ, đố kỵ, thậm chí có thể gây hoang mang, lo lắng, nhất là vào thời điểm tổ chức đại hội đảng các cấp.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới công tác xây dựng nội bộ, bồi dưỡng đạo đức, tư cách cán bộ, đảng viên. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Người đề cập hàng loạt chứng bệnh và mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Người phân tích sâu sắc: “Mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra”. Nguồn gốc bắt nguồn từ “bệnh cá nhân”: “Tất cả đều vì cá nhân, vì gia đình mình, vì phe nhóm mình... Mắc những căn bệnh đó là do “kém tính Đảng”, mắc một trong những bệnh đó “là hỏng việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định.

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên Tư lệnh Quân khu 4 đã nói với chúng tôi: Ông từng chứng kiến trong chiến tranh, kẻ thù đã tung tin đích danh vị chỉ huy cấp cao của ta đầu hàng, hay tuyên truyền, nói xấu cán bộ, hòng làm cho bộ đội ta hoang mang. Tuy nhiên, khi ấy kỷ luật chiến trường rất nghiêm nên những luận điệu ấy luôn thất bại. Giờ đây, khi khoa học-công nghệ phát triển thì thông tin xấu tác động và lây lan rất nhanh. Nguy hiểm hơn khi thông tin ấy lại phát nguồn từ nội bộ, từ những người có hành vi “ném đá giấu tay”. Vì thế chúng ta phải có biện pháp mạnh, xử lý nghiêm những vi phạm cả về đạo lý và pháp lý đó.

Làm thanh sạch bầu không khí đại hội

Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng là đợt sinh hoạt chính trị quan trọng, phải được chuẩn bị và tiến hành chặt chẽ, nghiêm túc, trong đó nội bộ ổn định, đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động là yếu tố có tính quyết định tới thành công đại hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Đại hội Đảng rất quan hệ đến tương lai cách mạng của Đảng ta và của nhân dân ta. Đại hội sẽ làm cho Đảng ta đã đoàn kết càng đoàn kết hơn nữa, tư tưởng và hành động đã nhất trí, càng nhất trí hơn nữa. Cho nên, toàn thể đồng chí ta phải thảo luận kỹ càng các đề án và đóng góp ý kiến dồi dào, để đảm bảo Đại hội thành công thật tốt đẹp”.

Để chuẩn bị cho đại hội đảng các cấp, nhất là công tác nhân sự, Trung ương đã có các chỉ thị, hướng dẫn chặt chẽ và toàn diện. Kết luận số 55-KL/TW ngày 15-8-2019 của Ban Bí thư về việc tiếp tục chấn chỉnh công tác cán bộ để chuẩn bị tốt nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng, nhấn mạnh: Chủ động phòng ngừa, cảnh giác, ngăn chặn, đấu tranh, không để tác động, chi phối bởi những thông tin giả, thông tin không chính thức, xấu độc, có dụng ý bịa đặt, xuyên tạc, gán ghép trên internet, mạng xã hội liên quan đến công tác chuẩn bị nhân sự.

Trong cuộc họp Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIII ngày 19-3 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tiếp tục chỉ đạo: Phải làm tốt công tác nhân sự từ đại hội đảng bộ các cấp để góp phần chuẩn bị tốt nhân sự Đại hội XIII của Đảng; phải xác định đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, là nhiệm vụ “then chốt” của “then chốt,” có liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ. Công tác nhân sự, đặc biệt là nhân sự cấp cao phải được tiến hành theo quy trình chặt chẽ, khoa học và nhất quán, bảo đảm thật sự dân chủ, công tâm, thật sự trong sáng, khách quan; cách làm phải thận trọng, làm từng khâu, từng công đoạn, theo một quy trình chặt chẽ, làm đến đâu chắc đến đó.

Quán triệt tinh thần đó, trong quá trình làm công tác nhân sự các cấp, Đảng ta luôn chú trọng phát huy dân chủ, trân trọng lắng nghe và tiếp thu các ý kiến đóng góp với tinh thần xây dựng để phát hiện được nhiều nhân tố mới, cán bộ có đức, có tài. Mặt khác, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh với các tư tưởng, hành động lợi dụng dân chủ để xuyên tạc, bôi nhọ, hạ uy tín, kích động gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ. Trả lời báo chí mới đây, ông Vũ Quốc Hùng, nguyên Phó chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Kiểm tra Trung ương cho rằng: Phải hết sức khách quan, phân biệt rõ những người tố cáo sai, những người có động cơ xấu. Nếu là đảng viên, tổ chức đảng thì phải làm đến nơi đến chốn. Kết luận là tố cáo sai, động cơ không đúng như làm mất đoàn kết, đại diện phe này, phe kia trong tổ chức đảng thì phải xử lý kỷ luật theo các quy định của Đảng. Nếu người đó chỉ do hồ đồ thì cũng phải xử lý bằng một hình thức thích hợp. Còn những người cố ý, muốn bôi nhọ thì luật cũng đã quy định hình thức xử lý.

Để đấu tranh với các “đám mây mù”, “virus” thông tin, tác động tiêu cực, làm “ô nhiễm” bầu không khí khi tiến hành đại hội đảng, cấp ủy, cơ quan chức năng các cấp một mặt phải thực hiện nghiêm các nguyên tắc, quy trình công tác nhân sự, đồng thời phải công minh, khách quan, tỉnh táo khi tiếp nhận và xử lý các thông tin. Cung cấp kịp thời các thông tin chính thống, xác minh, kết luận của tổ chức, cơ quan có thẩm quyền nhằm vạch trần các luận điệu xuyên tạc, vu khống, bảo vệ cán bộ và định hướng dư luận.

Không ít người có hành vi “ném đá giấu tay” là những cán bộ hoặc nguyên cán bộ có chức, có quyền, biết rõ tình hình nội bộ nhưng do động cơ cá nhân không trong sáng đã đứng đằng sau để “giật dây”, “tiếp sức”, tuyên truyền các thông tin sai trái. Cho nên, vừa phải xử lý đối tượng tung tin xấu độc, vừa phải điều tra, làm rõ và xử nghiêm cả những người tiếp tay, làm cho thông tin lan truyền với động cơ xấu. Việc xử lý ấy cần căn cứ vào các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm chặt chẽ, đúng người, đúng việc, đúng khuyết điểm.

Một giải pháp rất căn bản là phải nâng cao khả năng “đề kháng”, “miễn dịch” cho cán bộ, đảng viên trước thông tin thất thiệt, gây chia rẽ nội bộ. Mỗi người phải nâng cao trình độ, kiến thức về mọi mặt, bình tĩnh, sáng suốt để phân biệt thông tin, đồng thời phải có thái độ kiên quyết bảo vệ cái đúng, cái tích cực; đẩy lùi bóng tối thông tin, làm trong sạch nội bộ, góp phần vào thành công đại hội đảng.

Sưu tầm.

Ngăn chặn hiệu quả “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” - nhiệm vụ quan trọng hàng đầu bảo đảm cho Đảng ta vững mạnh

Để xây dựng Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ, thì Đảng cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp; trong đó, ngăn chặn hiệu quả biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên là nhiệm vụ cơ bản, quan trọng hàng đầu hiện nay.

Trong công tác xây dựng Đảng, yêu cầu về nâng cao phẩm chất chính trị, chống suy thoái, biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên là một trong những vấn đề căn cốt nhất. Để làm được điều đó, đòi hỏi Đảng phải giữ vững nền tảng tư tưởng, thường xuyên giáo dục chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ cách mạng và yêu cầu đặt ra đối với cán bộ, đảng viên trong từng giai đoạn cách mạng. Bởi, chỉ có nắm vững chủ nghĩa Mác – Lê-nin và đường lối cách mạng của Đảng, mới bảo đảm cho cán bộ, đảng viên xác định đúng mục tiêu, lý tưởng, trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Có thấm nhuần đạo đức cách mạng, cán bộ, đảng viên mới giữ gìn được lối sống trong sạch, kiên quyết đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng và mọi tệ nạn xã hội. Chính phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên là sức “đề kháng” mạnh mẽ chống lại mọi suy thoái, biến chất; nhân tố quan trọng tạo nên uy tín của Đảng, làm cho dân tin yêu, nguyện một lòng theo Đảng và quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng.

Thực tiễn cách mạng cho thấy, nhờ Đảng ta coi trọng xây dựng phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, mà tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên trung thành và sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng. Khi Đảng mới ra đời, mặc dù bị kẻ thù đàn áp gắt gao, tù đày, khổ cực, nhưng chính niềm tin vào lý tưởng và bằng phẩm chất cao đẹp, trong sáng, các chiến sĩ cách mạng tiền bối đã chịu đựng mọi hy sinh, gian khổ, không “phản bội, xưng khai”, dũng cảm đấu tranh với kẻ thù, lãnh đạo nhân dân làm cách mạng thắng lợi. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược trước đây và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay, dù phải đương đầu với các thế lực xâm lược hùng mạnh, trải qua những biến động chính trị - xã hội to lớn, nhưng cán bộ, đảng viên vẫn tin tưởng sâu sắc vào thắng lợi cuối cùng, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Toàn Đảng thống nhất thành một khối, đoàn kết chặt chẽ xung quanh Ban Chấp hành Trung ương, lãnh đạo toàn dân tiến hành cách mạng, giành những thắng lợi to lớn: đất nước độc lập, thống nhất, công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày càng đạt được những thành tựu quan trọng, v.v.

Tuy nhiên, trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù, ảnh hưởng của mặt trái xã hội, một số đảng viên, do chủ nghĩa cá nhân, lại thiếu rèn luyện, phấn đấu, nên đã sa ngã, từ bỏ lý tưởng, thậm chí phản bội cách mạng. Đặc biệt, sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, những tác động tiêu cực từ mặt trái kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, “… một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí,… suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”1. Đó là một trong những nguyên nhân làm cho đất nước phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh và làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ, tạo điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là quá trình tự biến đổi về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng phản tiến bộ, có hại cho cách mạng. Đây là cuộc đấu tranh tư tưởng giữa lập trường, quan điểm xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; giữa lợi ích giai cấp công nhân, lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân trong người đảng viên. Trong quá trình đó, lập trường, quan điểm thiên về tư bản chủ nghĩa và việc đề cao lợi ích cá nhân dần tăng lên, còn quan điểm kiên định với chủ nghĩa xã hội, với lợi ích giai cấp công nhân và lợi ích của tập thể phai nhạt dần. Đó thực sự là một quá trình mà nhận thức và hành động của người đảng viên chuyển biến từ đúng thành sai, từ tiến bộ thành lạc hậu; từ tin tưởng và quyết tâm phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, sang hoài nghi, đi đến phủ nhận lý tưởng đó. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã nêu rõ 09 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên. Trong đó, đáng chú ý là những quan điểm đòi phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các nguyên tắc tổ chức của Đảng; đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”, “tam quyền phân lập”, “xã hội dân sự”, v.v. Không những thế, một số người còn công khai nói, viết và làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thổi phồng khuyết điểm, thiếu sót của Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp; xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước; kích động tư tưởng bất đồng chính kiến, chống đối, v.v. Họ lợi dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để bôi nhọ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ; thực hiện “phi chính trị hóa”, ‘dân sự hóa” lực lượng vũ trang, v.v. Rõ ràng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không chỉ làm biến chất đội ngũ cán bộ, đảng viên mà còn phá hoại nghiêm trọng uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước và chính quyền các cấp; thậm chí, còn đe dọa đến sự tồn vong của chế độ. Vì vậy, ngăn chặn kịp thời và hiệu quả “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là yêu cầu cấp thiết hiện nay và là nhiệm vụ cơ bản, quan trọng, bảo đảm cho Đảng vững mạnh, đủ sức lãnh đạo công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đến thắng lợi.

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã xác định các nội dung quan trọng để ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; trong đó, nhấn mạnh phải: tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức trong toàn Đảng về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Quán triệt tinh thần đó, công tác lý luận, tư tưởng của Đảng cần phải tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng cho cán bộ, đảng viên; chú ý nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng cách mạng, về tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội và những hạn chế không tránh khỏi trong thực hiện kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế. Cần hết sức coi trọng công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, đề xuất những vấn đề mới, tìm ra những mô hình hiệu quả để bổ sung và làm phong phú, sâu sắc hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Cần khẳng định rằng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó có nguyên nhân cán bộ, đảng viên coi nhẹ học tập lý luận, hoặc “có học nhưng không hành”, “học để có bằng”, “để tiến thân” chứ không vận dụng vào giải quyết những vấn đề thực tiễn. Vì vậy, để nâng cao chất lượng công tác giáo dục lý luận, cần làm tốt việc quản lý học tập của cán bộ các cấp, bảo đảm “học thật, bằng thật”, không để tiêu cực xảy ra. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vững mạnh, nhất là về phẩm chất, đạo đức, lối sống; tăng cường vai trò lãnh đạo của Ðảng, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong mọi quá trình đổi mới, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.

Một vấn đề rất quan trọng là xác định tiêu chí và thực hiện có hiệu quả nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, chú trọng hệ thống chuẩn mực các mối quan hệ của cán bộ, đảng viên với tổ chức đảng và với nhân dân. Quá trình thực hiện, cần gắn chặt với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Chú ý phát huy tốt vai trò của người đứng đầu và của từng cán bộ, đảng viên trong thực hành rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Các cấp ủy, tổ chức đảng phải có biện pháp kiểm tra, giám sát việc thực hiện cam kết của cán bộ, đảng viên ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình. Từng tổ chức cơ sở đảng cần hoàn thiện và thực hiện nghiêm quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là của bí thư, cấp ủy các cấp. Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; đề cao tinh thần tự phê bình và phê bình, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại đấu tranh với những biểu hiện vi phạm. Đồng thời, có cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dám đấu tranh,… bảo đảm ngăn chặn kịp thời mọi biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay từ cơ sở. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, bảo vệ chính trị nội bộ. Trước tình hình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn biến phức tạp, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng cần tích cực, chủ động và kịp thời bổ sung những nội dung phù hợp; phối hợp chặt chẽ với công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong phát hiện, xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm. Từng cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp cần nắm rõ thực trạng và nguy cơ của tình hình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong tổ chức mình; kịp thời phát hiện và ngăn chặn hiệu quả mọi biểu hiện vi phạm ngay từ lúc mới manh nha.

Các cơ quan chức năng cần quản lý tốt các hoạt động báo chí, xuất bản, internet và mạng xã hội; phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan báo chí trong đấu tranh với các luận điệu thù địch, sai trái, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Các cấp cần chủ động cung cấp thông tin định hướng, cả thường xuyên và đột xuất, làm cho mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những thành quả trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,… đến với mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân để góp phần triệt tiêu mọi thông tin xuyên tạc, bịa đặt, chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch.

Ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là yêu cầu quan trọng của công tác xây dựng Đảng hiện nay. Đây là nhiệm vụ vừa cơ bản lâu dài, vừa cấp bách đối với các tổ chức đảng và mọi cán bộ, đảng viên, nhằm bảo đảm cho Đảng ta vững mạnh, hoàn thành tốt sứ mệnh mà nhân dân tin tưởng giao phó.

Sưu tầm.

Kiên cường, bền bỉ trong “cuộc chiến” giữ vững vị thế, uy tín, thanh danh của Đảng Cộng sản Việt Nam

Để góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, vấn đề cần quan tâm hiện nay là phải nhận thức đúng đắn, thực hiện đồng bộ việc nâng cao hiệu quả, tăng cường tính chiến đấu và bảo đảm tính thuyết phục trong “cuộc chiến” giữ gìn, bảo vệ vị thế, uy tín, thanh danh của Đảng Cộng sản Việt Nam và bản chất chế độ chính trị-xã hội ưu việt mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Kiên trì bồi đắp niềm tin, lý tưởng cao đẹp cho cán bộ, đảng viên và nhân dân

Mục tiêu của việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch là giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, sự ổn định chính trị-xã hội, nâng cao nhận thức chính trị cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Nếu xa rời nguyên tắc này thì việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch cũng không có tính mục đích.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch phải góp phần vào việc tuyên truyền Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu, phổ biến, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và quần chúng. Mặt khác, thực hiện hiệu quả nhiệm vụ này sẽ góp phần bồi dưỡng lập trường, tư tưởng, ý thức hệ, thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, hình thành tư duy lý luận chính trị cho những người xây dựng và hoạch định chính sách, cũng như những nhà nghiên cứu khoa học lý luận nói chung; góp phần vào việc bổ sung, phát triển những nguyên lý, lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận trong nền tảng tư tưởng của Đảng.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch phải góp phần hình thành, bồi đắp niềm tin, lý tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng trong công cuộc xây dựng xã hội mới, con người mới. Sự vững vàng về lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước các cấp trong hệ thống chính trị chính là hiệu quả thiết thực trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần củng cố niềm tin vững chắc vào con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn.

Vận dụng phương pháp đấu tranh mác-xít trong “cuộc chiến” bảo vệ Đảng

Trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, chúng ta cần vận dụng phương pháp mà các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lênin đã đấu tranh trực diện với những quan điểm sai trái, thù địch nhằm phủ nhận, xuyên tạc, bôi nhọ Chủ nghĩa Mác – Lê nin..

Ngay từ đầu năm 1842 đến tháng 3-1843, C.Mác và Ph.Ăngghen đã tích cực đấu tranh, vạch trần bản chất vụ lợi, sự lừa gạt của luật pháp và nhà nước Phổ; thể hiện sự cảm thông sâu sắc với tình cảnh khổ cực của những người nông dân trồng nho xứ Môden. Những bài viết đăng trên Báo Sông Ranh thời gian này bước đầu hình thành tính phê phán, tính chiến đấu mạnh mẽ của C.Mác và Ph.Ăngghen đối với những khuynh hướng duy tâm và lập trường chính trị thỏa hiệp, phản động của một số nhà triết học, nhà tư tưởng, nhất là những đại biểu của phái Hêghen trẻ.

Thông qua các tác phẩm: “Vấn đề Do Thái”, “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen-Lời nói đầu”, “Tình cảnh giai cấp công nhân Anh”, “Lược khảo phê phán khoa kinh tế chính trị”, “Gia đình thần thánh”, “Tư bản”..., C.Mác và Ph.Ăngghen tiếp tục làm rõ những hạn chế của cách mạng tư sản và phê phán những quan điểm phản động, phản cách mạng, chủ nghĩa vô chính phủ, trực tiếp phân tích và phê phán xã hội tư bản. Đặc biệt, “Chống Đuyrinh” là một tác phẩm kiểu mẫu đấu tranh chống kẻ thù của Chủ nghĩa Mác.
V.I.Lênin đã khẳng định rằng, toàn bộ giá trị của học thuyết Mác là ở chỗ, lý luận đó về bản chất là một lý luận có tính chất phê phán và cách mạng. V.I.Lênin đã phê phán toàn diện triết học duy tâm tư sản và chủ nghĩa xét lại trong triết học. Các tác phẩm của V.I.Lênin đã kết hợp một cách hữu cơ tinh thần cách mạng chiến đấu với tính khoa học sâu sắc, góp phần nâng cao nhận thức và sự nghiệp cải tạo thế giới bằng con đường cách mạng.
Ngày nay, những quan điểm sai trái, thù địch núp bóng ở nhiều vấn đề khác nhau và rất khó nhận diện. Tuy nhiên, kiên định với những nguyên lý căn bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin và giữ vững nguyên tắc của Đảng thì chúng ta hoàn toàn có thể phát hiện, nhận diện và có dũng khí đấu tranh với mọi quan điểm sai trái, thù địch.

Khẳng định sức sống không thể phủ nhận của Chủ nghĩa Mác – Lênin

Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết khoa học, vì chủ nghĩa ấy đã chỉ ra được những quy luật khách quan trong sự vận động của tự nhiên, xã hội và tư duy; đồng thời lần đầu tiên, chủ nghĩa ấy đã tạo ra bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học khi làm cho lý luận gắn với hoạt động thực tiễn của con người. Tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa ấy có cơ sở từ sự tiếp thu toàn bộ những tinh hoa trong lịch sử tư tưởng của nhân loại từ thời cổ đại đến thời đại các ông, mà trực tiếp nhất là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị cổ điển Anh, chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp.

C.Mác đã tiến hành tổng kết lịch sử, kế thừa có chọn lọc, có phê phán toàn bộ tư tưởng xã hội trên cơ sở khái quát thực tiễn thời đại. Chủ nghĩa ấy được xây dựng trên cơ sở những thành tựu của khoa học tự nhiên, thông qua sự khái quát của C.Mác và Ph.Ăngghen nên nó là học thuyết chính xác. Cơ sở cho tính khoa học và tính cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin còn là thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản. Cho nên học thuyết ấy còn mang tính thực tiễn.

Lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin tuyệt đối không phải là khoa học trừu tượng, tư biện mà là khoa học về cách mạng, khoa học của thực tiễn và vì thực tiễn hướng tới mục tiêu giải phóng con người khỏi sự chế ngự bởi “vương quốc tất yếu”, để bước tới “vương quốc tự do”. Xuyên suốt toàn bộ di sản lý luận đồ sộ, sâu sắc của C.Mác là một thế giới quan mới và phương pháp luận khoa học và cách mạng, đem lại cho nhân loại tiến bộ và nhất là cho giai cấp công nhân một công cụ vĩ đại để nhận thức và cải tạo thế giới. Hạt nhân làm nên tính khoa học và cách mạng của học thuyết Mác chính là thế giới quan duy vật biện chứng-thế giới quan đã xây dựng nên học thuyết triết học mới, trong đó chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thống nhất với nhau một cách hữu cơ thành một hệ thống chỉnh thể-chủ nghĩa duy vật biện chứng.

Trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng, C.Mác đã đưa ra hai phát minh khoa học vĩ đại là quan niệm duy vật lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư. Với quan niệm duy vật lịch sử, C.Mác đã thực hiện một cuộc cách mạng trong toàn bộ quan niệm về lịch sử thế giới. Lần đầu tiên trong lịch sử, các quy luật phát triển của xã hội loài người được phát hiện. Ph.Ăngghen viết: “Trên hành tinh của chúng ta, Sáclơ Đácuyn đã tìm ra quy luật phát triển của thế giới hữu cơ. Mác đã phát hiện ra quy luật cơ bản chi phối sự vận động và phát triển của lịch sử loài người”(1). V.I.Lênin khẳng định: “Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học. Một lý luận khoa học hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự lộn xộn và sự tùy tiện vẫn ngự trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị”(2) .
Với thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917, chủ nghĩa xã hội từ một học thuyết trở thành một chế độ chính trị-xã hội tồn tại đến ngày nay đã minh chứng hùng hồn cho giá trị và sức sống mãnh liệt, trường tồn và vai trò to lớn của Chủ nghĩa Mác-Lênin trong sự phát triển của lịch sử nhân loại.

Thực tiễn là chân lý chứng minh sự lựa chọn đúng đắn của chúng ta

Thước đo quan trọng nhất thể hiện tính hiệu quả của việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch chính là thành quả của sự nghiệp đổi mới, cuộc sống hạnh phúc của nhân dân ta.
Thông qua các hình thức tuyên truyền, truyền thông đa dạng, phong phú trên các kênh, chúng ta cần làm cho thế giới biết đến Việt Nam ngày nay đã có vị thế mới trong cộng đồng quốc tế, quy mô nền kinh tế ngày càng lớn mạnh. Từ một nước nông nghiệp, lạc hậu, quy mô nền kinh tế nhỏ bé, chỉ với 14 tỷ USD và thu nhập bình quân đầu người chỉ khoảng 250USD trong những năm đầu đổi mới, sau gần 4 thập niên, Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình và có quan hệ kinh tế-thương mại với hầu hết các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới.

Việt Nam đã tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và các hiệp định thương mại tự do (FTA), nhất là các FTA thế hệ mới, là nước thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ổn định nhất trong ASEAN. Việc ký kết và thực thi các FTA, nhất là các FTA thế hệ mới, chủ trì các hội nghị đa phương lớn của Việt Nam trong thời gian qua, đặc biệt là FTA giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) với 28 nước thành viên EU, đã đánh dấu bước tiến mới của Việt Nam trong hội nhập quốc tế. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với nhiều nước, trong đó có tất cả các nước lớn trong khu vực và trên thế giới. Việt Nam đã thực sự chủ động, tích cực tham gia hội nhập quốc tế với một vị thế mới, bắt kịp với xu thế của thời đại.
Việt Nam đã được tín nhiệm bầu vào các cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc, như: Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009 và nhiệm kỳ 2020-2021; Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016 và nhiệm kỳ 2023-2025; Ủy ban Di sản thế giới của UNESCO nhiệm kỳ 2013-2017; Hội đồng Kinh tế-Xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016-2018. Năm 2020, Việt Nam cùng lúc đảm nhận, hoàn thành tốt 3 trọng trách: Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch AIPA, góp phần nâng cao uy tín, vị thế trong khu vực và trên thế giới.
Mới đây, Việt Nam đề xuất và soạn thảo Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna (VDPA), được Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thông qua. Điều này đã hiện thực hóa chính sách đối ngoại chủ động, tích cực, có trách nhiệm tham gia giải quyết các vấn đề của cộng đồng quốc tế. Việt Nam đang trở thành nước có quan điểm, cách tiếp cận mới, góp phần định hướng những giá trị chung cho nhân loại.

Hiện nay, các nhà đầu tư quốc tế luôn coi Việt Nam là nước có nhiều tiềm năng, lợi thế cũng một phần bởi giá trị văn hóa, con người Việt Nam. Bên cạnh đó, với sự định hướng đúng đắn, quyết tâm cao của Đảng, Nhà nước và trên hết là một thể chế chính trị có vai trò định hướng, dẫn dắt và quản trị tốt, Việt Nam hoàn toàn có thể đạt được những bước tiến mới mạnh mẽ trong tương lai.

Những thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới đã chứng tỏ những người cách mạng chúng ta đang đi đúng hướng. Vì vậy, những quan điểm sai trái, thù địch cần phải được quét sạch trên con đường đi của chúng ta!

Sưu tầm.

Trị bệnh “ngáo chữ” trong hội thảo

Hội thảo là một dịp quan trọng để các đại biểu phát huy trí tuệ, tâm huyết, luận bàn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực tiễn. Thế nhưng đáng buồn thay, không ít đại biểu lại xem hội thảo như sân khấu để phô trương, chứng tỏ bản thân với những mỹ từ sáo rỗng. Hành vi ấy là biểu hiện của căn bệnh “ngáo chữ”, khiến không ít hội thảo trở nên thiếu dân chủ, thiếu khoa học, gây lãng phí, nguy cơ dẫn tới nhiều mối nguy, hệ lụy.

Mối nguy từ bệnh “ngáo chữ”

Tại một cuộc hội thảo của ngành, chủ đề được xác định khá thiết thực, có ý nghĩa cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Một nữ đại biểu trước hội thảo báo với ban tổ chức: “Bài tham luận của tôi dài 3 trang đã được in trong kỷ yếu nên tôi xin phép không đọc lại để khỏi làm mất thời giờ”. Một vị chủ tọa liền nói: “Không, cô cứ đọc bài tham luận của mình để bảo đảm đúng thời gian”. Những tưởng đã xong, nữ đại biểu nọ sau khi đọc xong tham luận của mình, liền xin phép chia sẻ một số “điều tâm huyết bấy lâu”. Chẳng quan tâm phía dưới nghĩ gì, nữ đại biểu cứ phát biểu tràng giang đại hải, khoe mẽ, tung hô, kể lể quá trình mình làm việc khó khăn thế nào, thành tích ra sao, rồi lên án, phê phán cá nhân này, tổ chức khác, khiến nhiều người nghe tỏ vẻ bức bối, khó chịu; ban tổ chức phải nhiều lần ngắt lời mới dừng được nữ đại biểu. Một số người chứng kiến tỏ ra ái ngại: Hội thảo chứ có phải buổi liveshow cá nhân đâu mà “ngáo chữ” đến vậy?

Thực tế, tại nhiều hội thảo hiện nay, bên cạnh những ý kiến tâm huyết, đi sâu vào vấn đề trọng tâm, cống hiến nhiều luận cứ khoa học, có tính lý luận và thực tiễn thì chúng ta vẫn gặp khá nhiều trường hợp bị “ngáo chữ” như vậy. Biểu hiện thường thấy của căn bệnh này là người phát biểu thao thao bất tuyệt, kiểu “nói như rồng leo”, không bám sát nội dung đề dẫn hội thảo, các vấn đề cốt lõi, những khó khăn, hạn chế, đề xuất giải pháp mà lại lạc đề, sa vào kể lể, tung hô thành tích bằng những mỹ từ sáo rỗng, sáo ngữ, lập ngôn, vừa máy móc, vừa thiếu khoa học, thiếu dân chủ. Thậm chí có đại biểu bước lên diễn đàn thì quên mất mình là ai, bỗng hóa thành “anh hùng”, có quyền phê phán, lời lẽ cay độc với người này, người nọ, tự huyễn hoặc bản thân... Lại có đại biểu “ngáo chữ”, không biết mình đang nói cái gì, nói đến đâu. Ngôn ngữ thì “đao to búa lớn”, sặc mùi sính ngoại, câu nào cũng phải thêm vào vài từ tiếng Anh như: “4.0”; thời đại “@”, “business”... mà quên mất rằng ngồi phía dưới toàn là các bậc tiền bối khoa học nước nhà.

Xét về mặt ngữ nghĩa, “ngáo chữ” và “sáo ngữ” hay “ngộ chữ” đều có nét tương đồng với nhau, ấy là hành vi đều dùng lời nói theo dạng rập khuôn máy móc, không truyền tải thông tin cần thiết, thiếu lý luận, thiếu thực tiễn. Nếu như “sáo ngữ” là hành vi người nói có dụng ý dùng lời lẽ mỹ miều, bùi tai, thuận chiều để “che lấp” những vấn đề không muốn nói, thì “ngáo chữ” là hành vi người nói không kiềm chế được lời nói của mình, ảo tưởng về bản thân, thậm chí là hành động phụ họa không bình thường trên hội thảo. Hành vi này vừa gây mất thời gian hội thảo, vừa vô bổ, lạc lõng, phiến diện. Người nghe vì thế cảm thấy mình như là “nạn nhân”, bị tra tấn tinh thần. Thậm chí, có chuyên gia còn đem so sánh hành vi “ngáo đá” và “ngáo chữ” trong các hội thảo trá hình xuất hiện lâu nay; tuy khác nhau về hành vi nhưng đều có điểm chung đó là nói về những đối tượng không còn ý thức được hành vi của mình, thường có hành động gây nguy hiểm cho bản thân, gia đình và cộng đồng.

Bệnh “ngáo chữ” có nhiều nguyên nhân, song cơ bản bắt nguồn sâu xa từ thói phô trương, ưa hình thức, sính dùng từ ngữ to tát, mỹ miều để chứng tỏ bản thân là người học cao, hiểu rộng, am tường thời cuộc, trí tuệ hơn người... Hành vi này thật sự nguy hiểm khi nó lan truyền từ người này sang người khác, bởi hiệu ứng “con gà tức nhau tiếng gáy”. Những người “ngáo chữ” chẳng những gây bực tức cho người nghe mà còn làm ảnh hưởng đến nội dung chương trình, kịch bản, chất lượng của cuộc hội thảo. Các vấn đề mang tính khoa học, lý luận và thực tiễn không được tập trung bàn luận, tháo gỡ, thậm chí đi lệch hướng, không bảo đảm tính khoa học, thiếu dân chủ, thiếu khách quan.

Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng chỉ rõ những biểu hiện: “Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu...”, được xác định là một trong số những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bệnh “ngáo chữ” trong hội thảo, sáo rỗng, phát biểu xa rời thực tiễn chính là nguyên nhân làm mất niềm tin của nhân dân, cấp dưới, về lâu dài là mối nguy xói mòn niềm tin trong Đảng, kìm hãm sự phát triển của xã hội.

Mạnh mẽ thay đổi tư duy, thực hành nói đi đôi với làm

Hội thảo là cuộc gặp gỡ của những đại biểu có cùng mối quan tâm về một vấn đề khoa học hoặc thực tiễn cấp thiết. Cái đích cao nhất của hội thảo là đi đến tận cùng các vấn đề tri thức khoa học, tìm ra giải pháp để giải quyết vấn đề mà thực tiễn đang cần, lòng dân đang mong. Sẽ rất đáng quý nếu các đại biểu mang đến hội thảo những ý kiến hay, phát kiến mới, đóng góp cho nội dung trọng tâm hội thảo, giải quyết những khâu khó, việc yếu, cấp thiết.

Để hội thảo đạt hiệu quả thực chất, việc trước hết và quan trọng hàng đầu hiện nay là đòi hỏi những người đứng đầu, những người làm công tác tổ chức cần thay đổi tư duy, đặt ra yêu cầu cao trong công tác chuẩn bị và vận hành hội thảo. Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6-2021, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã chỉ đạo cần tiếp tục đổi mới cách thức tổ chức các phiên họp, từ khâu tổ chức, báo cáo tới khâu thảo luận, phát biểu. Trong đó, việc xây dựng các báo cáo phải theo hướng ngắn gọn, súc tích, dễ nghe, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm, dễ kiểm tra, dễ đánh giá, tập trung vào những công việc trọng tâm...

Với tinh thần ấy, đã đến lúc cần kiên quyết nói không với bệnh “ngáo chữ” trong hội thảo. Cần phải xem đây là hành vi lệch chuẩn và vi phạm kịch bản, quy định của hội thảo để kịp thời xử lý. Theo đó, trước mỗi cuộc hội thảo, ban tổ chức cần phải xem xét, xây dựng kỹ lưỡng kịch bản, các đại biểu tham luận; trong đó làm rõ yêu cầu về thời gian, chủ đề, ý kiến phản biện... Việc mời các đại biểu tham luận, đóng góp ý kiến phải được xem xét phù hợp; đó phải là những người có học vấn, am hiểu, chuyên sâu về lĩnh vực hội thảo; có lý lịch khoa học tốt. Tránh việc mời đại biểu tham luận như một dịp để tri ân và giải quyết những mối quan hệ trong công tác. Quá trình điều hành hội thảo, người chủ trì cần linh hoạt, có phương pháp xử lý kịp thời, dứt khoát với các đại biểu mắc bệnh “ngáo chữ”.

Bản thân các đại biểu tham luận tại hội thảo cần phải xem đây là cơ hội quan trọng để đóng góp tâm huyết, trí tuệ, sáng kiến cho hội thảo. Từng người cần tích cực, chủ động nghiên cứu kỹ lưỡng chủ đề hội thảo và chắt lọc, cân nhắc kỹ lưỡng vấn đề mà mình được tham luận, bảo đảm tính lý luận, thực tiễn, thiết thực. Tránh trường hợp nói trong hội thảo khác, ra ngoài hội thảo nói khác, hay nói trong kỷ yếu khác nhưng tham luận trực tiếp lại khác. Hội thảo là cuộc hội ngộ của các chuyên gia, nhà khoa học, các đại biểu, thành công của cuộc hội thảo đó là công sức, trí tuệ, tâm huyết của tập thể được kết tinh, đúc rút, cung cấp nhiều luận cứ về mặt lý luận và thực tiễn, góp phần giải quyết thấu đáo vấn đề mà quần chúng nhân dân mong chờ. Bởi vậy, đứng trước hội thảo, mỗi đại biểu cần phải khiêm tốn, đúng mực, tránh hành vi lộng ngôn, cao ngạo, tự cho mình cái quyền được phê phán người này, người nọ. Muốn vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng trau dồi kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức khoa học cả về lý luận và thực tiễn.

Một tham luận hay trong hội thảo cũng không phải là đọc nguyên văn như một bản báo cáo thành tích đã soạn sẵn, mà cần phải có những yếu tố phản biện, tranh luận, đóng góp, phát kiến. Bởi vậy cần phân biệt rõ việc phản biện và bệnh “ngáo chữ” trong hội thảo. Phản biện được hội thảo ghi nhận, đánh giá cao nếu đại biểu tham luận nêu lên được cái mới, tính đột phá, sáng tạo, thể hiện tinh thần dám nghĩ, dám nói, dám đột phá sáng tạo. Còn “ngáo chữ” lại là hành vi đáng phê bình bởi lối hoang tưởng, ảo tưởng sức mạnh cá nhân, khoe mẽ, sáo rỗng.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm nhắc nhở, giáo dục cán bộ, đảng viên phải nói những điều thiết thực, dễ hiểu, dễ thực hiện, tránh lời nói đao to búa lớn, sáo rỗng, nói không đi đôi với làm. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” được Người viết năm 1947 với bút danh X.Y.Z, Bác chỉ rõ “ba chứng bệnh phải tẩy sạch” đó là bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi và bệnh ba hoa. Người yêu cầu: Phải tự phê bình và phê bình nghiêm khắc khi mắc vào những bệnh rất có hại ấy và phải quyết tâm sửa chữa trong tư tưởng và trong hành động, trong các mối quan hệ.

Trong bối cảnh toàn Đảng đang tích cực đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới phong cách lãnh đạo, phương pháp công tác, lề lối làm việc trong các cơ quan của Đảng từ Trung ương tới cơ sở, bảo đảm tính khoa học, dân chủ, sâu sát, cụ thể, thì việc nói không với bệnh “ngáo chữ” trong hội thảo như nêu ở trên cần được nhận diện và sớm khắc phục. Muốn làm được điều này cần sự thay đổi trong tư duy của cả hệ thống chính trị, nhất là những người đứng đầu. Song hành với đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, thực hành nói đi đôi với làm, gắn lý luận với thực tiễn, có như vậy mới tạo động lực cho sự phát triển nói chung.

Sưu tầm.

Phạt nghiêm... là rất đúng!

Nếu ai vừa uống rượu, bia cũng điều khiển phương tiện tham gia giao thông, khi bị thổi nồng độ cồn lại xin được bỏ qua thì còn gì là kỷ cương phép nước?

Tối chủ nhật, ông Hòa đang vui vẻ uống trà cùng 3 người bạn hàng xóm thì con trai ông tên là Minh đi bộ vào cổng. Cậu ta không chào ai mà thở dài, rồi than:

- Mấy ông công an "ác" thật. Con đi dự sinh nhật bạn, uống có 2 chén rượu thôi. Thế mà về đến đầu phố bị thổi nồng độ cồn, con xin thế nào cũng không tha dù đã nói nhà tôi ở ngay phố này. Họ lập biên bản phạt 3 triệu đồng, lại còn tước giấy phép lái xe trong một năm. Gọi là Công an nhân dân mà chẳng thông cảm cho dân gì cả.

Nghe cháu Minh than vãn, ông Hùng đặt chén trà đang nhâm nhi xuống mặt bàn, nói hùa theo với giọng oang oang:

- Tháng trước, khi bác đi ăn cỗ ở nhà bạn, về gần đến nhà thì cũng bị thổi nồng độ cồn. Mấy cậu công an trẻ tuổi hơn bác nhiều mà chẳng nể nang gì cả, bác đã xin được thông cảm, bỏ qua mà vẫn cứ phạt. Thật là quá đáng với dân!

- Bác để cháu đăng chuyện này lên Facebook và hỏi xem có bao nhiêu người quen của cháu bị phạt không hợp lý như bác cháu mình. Chắc chắn nhiều người cũng sẽ bất bình...

- Thôi con ơi, việc uống rượu, bia điều khiển phương tiện giao thông, bố đã dặn con rồi. Con có hành vi vi phạm pháp luật thì các chú công an xử phạt nghiêm túc là rất đúng, chứ sao lại bất bình? Mình đã sai, lại còn trách những người thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ để giữ gìn trật tự, an toàn giao thông cho mình và cộng đồng thì thật là vô lý. Nếu ai vừa uống rượu, bia cũng điều khiển phương tiện tham gia giao thông, khi bị thổi nồng độ cồn lại xin được bỏ qua thì còn gì là kỷ cương phép nước?

Người uống rượu, bia mà vẫn điều khiển ô tô, xe máy sẽ rất dễ gây tai nạn, làm hại chính mình và những người đang ở trên đường. Con bị xử phạt, nhưng lại được bài học sâu sắc, thiết thực để từ nay không vi phạm, hạn chế được nguy cơ gây tai nạn làm khổ gia đình và nhiều người khác. Đúng ra, con phải cảm ơn các chú công an đã xử phạt nghiêm khắc đấy!

Thấy ông Hòa bày tỏ thái độ khách quan, nghiêm túc, ông Hùng nghĩ cũng đúng, nhưng vẫn cố lý sự:

- Nói như ông thì chỉ hợp lý chứ chưa thật hợp tình. Người Việt Nam mình vốn duy tình hơn duy lý. Người dân chỉ uống chút rượu, bia cũng phạt, thậm chí đã đi xe máy về gần đến nhà rồi như tôi và cháu Minh đây mà vẫn phạt thì xem ra hơi "ác". Thế nên, các trang tin “lề trái” mới lấy cớ này để kích bác, chia rẽ đoàn kết giữa công an với nhân dân.

Ông Hòa nghe ông Hùng lập luận không hợp lý chút nào, nhưng cố kìm lòng, nói giọng nhẹ nhàng:

- Luật pháp phải rất nghiêm minh, không có châm chước thì đất nước, xã hội mới văn minh ông ạ. Nếu công an cứ nể tình mà bỏ qua vi phạm thì người dân sẽ càng nhờn luật, dần dần dẫn tới mất trật tự an ninh, xã hội rối loạn. Khi đó, chính chúng ta sẽ trở thành nạn nhân và các đối tượng phản động, bất mãn lại càng có cớ để nói xấu chế độ ta, đất nước ta.

Do đó, chúng ta phải ủng hộ cái đúng, ủng hộ lực lượng công an thực thi công vụ thật nghiêm túc để đất nước giữ vững sự ổn định, văn minh và để các thế lực thù địch, phản động không có cớ chống phá. Như thế là chúng ta đã góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm cho đất nước ngày càng tốt hơn, phải không nào?

Nghe những lời phân tích rất thuyết phục của ông Hòa, tất cả mọi người đều hiểu ra và gật đầu đồng tình.

Sưu tầm.