Thứ Tư, 27 tháng 12, 2023

TỰ SOI, TỰ SỬA - VŨ KHÍ SẮC BÉN NGĂN CHẶN VÀ ĐẨY LÙI CÁC BIỂU HIỆN SUY THOÁI

 

Cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Song để Đảng trở thành lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng luôn không ngừng tự chỉnh đốn để thực sự là một Đảng cách mạng chân chính.

Ngay từ khi chưa trở thành Đảng cầm quyền, năm 1939, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã viết tác phẩm “Tự chỉ trích” để chỉnh đốn Đảng. Mục đích của “Tự chỉ trích” là thông qua phê bình và tự phê bình trong Đảng để “tìm ra những nguyên nhân thất bại và nghiên cứu phương pháp sửa lỗi và tiến thủ”. Đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã chỉ rõ: “Người cộng sản có bổn phận nói sự thật với quần chúng, dẫn đường cho quần chúng chớ không phải theo đuôi họ, hay phỉnh họ…”. Đồng chí cũng yêu cầu “Phê bình và tự phê bình phải tôn trọng sự thật, công khai, mạnh dạn, thành thực vạch những lỗi lầm của mình và tìm phương châm sửa đổi, chống những xu hướng hoạt đầu, thỏa hiệp, như thế không phải làm yếu Đảng, mà làm cho Đảng được thống nhất, mạnh mẽ”.

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, tháng 10/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Luôn luôn dùng và khéo dùng cách phê bình và tự phê bình, thì khuyết điểm nhất định sẽ hết dần, ưu điểm nhất định sẽ thêm lên và Đảng ta nhất định thắng lợi”. Người cũng khẳng định: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình... là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn”.

Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh đòi hỏi Đảng phải giải quyết, một trong những vấn đề nổi cộm đó là phải xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh. Do vậy, các nhiệm kỳ Đại hội của Đảng gần đây đều chú trọng công tác xây dựng Đảng mà tập trung thể hiện cao nhất tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII với việc Trung ương ban hành Kết luận số 21-KL/TW về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm với nhiều điểm mới nổi bật.

Kết luận số 21-KL/TW đã khẳng định: Phải tiến hành quyết liệt và đồng bộ hơn nữa nhiều công việc cụ thể, thiết thực, tập trung vào 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp mà Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã đề ra; đồng thời bổ sung nhấn mạnh thêm 2 nhóm nhiệm vụ, giải pháp là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm cán bộ sai phạm”. Để thực hiện được nhiệm vụ trên, phải chú trọng nêu gương người tốt, việc tốt; ngăn ngừa, phê phán những việc làm sai. Đấu tranh mạnh mẽ chống chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm. Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước. Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, phát huy vai trò giám sát của Nhân dân...

Những nội dung mới đó đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức đầy đủ với quyết tâm cao trong tổ chức thực hiện, nhằm tạo chuyển biến mới, tích cực trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị thật sự trong sạch vững mạnh, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn hiện nay.

 

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THI ĐUA YÊU NƯỚC

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước là hệ thống quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước, được hình thành trên cơ sở tiếp thu và vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản chủ nghĩa Mác-Lênin về thi đua, về thi đua xã hội chủ nghĩa, về vai trò của quần chúng và truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm của dân tộc, cùng đường lối và thực tiễn đấu tranh cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ nội dung của “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” và những bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, rút ra một số điểm cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước như sau:

- Quan điểm về thi đua: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng thi đua lên tầm tư tưởng, đường lối chính trị và phương pháp cách mạng. Theo Người thi đua là một trong những biện pháp của quá trình vận động cách mạng, có ý nghĩa sâu sắc, rộng lớn, thi đua không chỉ khơi dậy tiềm năng sáng tạo của con người, mà quan trọng hơn là cải tạo bản thân con người, nêu cao tinh thần yêu nước, tinh thần quốc tế, làm cho già, trẻ, gái, trai và tất cả các tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội đều hướng tới mục đích chung. Thi đua để mọi người đều làm việc tốt hơn, nhiều hơn và “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và, những người thi đua là những người yêu nước nhất”.

- Mục đích thi đua yêu nước: Là để thực hiện tốt nhiệm vụ chủ yếu của mỗi thời kỳ cách mạng trong tình hình và điều kiện lịch sử cụ thể. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ mục đích thi đua yêu nước là

“Diệt giặc đói,

Diệt giặc dốt,

Diệt giặc ngoại xâm”, để đem lại kết quả đầu tiên là:

“Toàn dân đủ ăn, đủ mặc,

Toàn dân biết đọc, biết viết,

Toàn bộ đội đầy đủ lương thực, khí giới để diệt ngoại xâm

Toàn quốc sẽ thống nhất độc lập hoàn toàn”.

- Nội dung thi đua yêu nước: Phải toàn diện, phải xuất phát và phục vụ nhiệm vụ chính trị của từng giai đoạn cách mạng, phải thiết thực, ở tất cả các lĩnh vực hoạt động của đất nước, gắn với nhiệm vụ cụ thể của từng ngành, từng cấp, hướng vào cải tạo và xây dựng con người mới, hướng vào giải quyết những vấn đề cơ bản thiết thực của nhân dân; thi đua phải gắn với công việc hằng ngày của mỗi người. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi “Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hóa. Thực hiện khẩu hiệu:

Toàn dân kháng chiến,

Toàn diện kháng chiến”

- Cách tổ chức phong trào thi đua yêu nước: Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “Phải dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân, để gây: hạnh phúc cho dân”; các phong trào thi đua yêu nước cần phải đa dạng, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần tự giác, sáng tạo và sức lực của các tầng lớp nhân dân trong từng giai đoạn cách mạng.

- Phương châm thi đua yêu nước: Người chỉ rõ: “thi đua chứ không phải ganh đua” nên cần phải đoàn kết, thân ái giúp đỡ lẫn nhau để đạt thành tích cao. “giúp đỡ những người và những nhóm còn kém theo kịp mức cao hiện nay”; thi đua phải gắn liền với công tác khen thưởng; khen thưởng là kết quả của phong trào thi đua; khen thưởng đúng người, đúng việc, kịp thời sẽ động viên, giáo dục và thúc đẩy phong trào thi đua phát triển liên tục.

Cùng với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng, tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước có ý nghĩa to lớn trong việc chỉ đạo, định hướng các phong trào thi đua yêu nước và công tác khen thưởng; lôi cuốn, động viên toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đoàn kết, nỗ lực phấn đấu, không quản hy sinh gian khổ, sẵn sàng đem hết trí tuệ, sức lực phục vụ sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

                                                 

TỰ SOI, TỰ SỬA, TỰ CHỮA “BỆNH CHỦ QUAN”

 

Nhận diện đúng và chủ động đấu tranh phòng, chống bệnh chủ quan, duy ý chí có ý nghĩa rất quan trọng trong đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, phòng tránh và khắc phục “bệnh công thần”, “kiêu ngạo cộng sản”, chủ nghĩa cá nhân và mọi thói hư, tật xấu cản trở sự phát triển, tiến bộ, trưởng thành của cán bộ, đảng viên; đẩy lùi nguy cơ đe dọa uy tín, danh dự của Đảng.

Biểu hiện rõ nhất của bệnh chủ quan, duy ý chí là đề cao cái “tôi”, ngộ nhận mình ở thế trên, luôn dựa vào thế mạnh của tuổi tác, chức quyền, tự cao, tự đại, tự mãn, tự cho mình “cái gì cũng biết, cũng hay”, mình là hiện thân của “chân lý”, muốn người khác phải phục tùng ý kiến của mình; thậm chí áp đặt ý chí, thiên kiến của mình lên người khác một cách cứng nhắc, bảo thủ; không chịu lắng nghe ý kiến của người khác dù có lý, có tình. Hệ quả không thể tránh khỏi là nó sản sinh thêm bệnh bè phái, cục bộ, sùng bái cá nhân.

Bác Hồ khẳng định bệnh chủ quan, duy ý chí là khuyết tật của tư tưởng phong kiến còn rớt lại, là “căn bệnh trầm kha” của người lười rèn luyện, tu dưỡng, xa rời quần chúng. Bệnh chủ quan, duy ý chí không chỉ gây hại cho bản thân cán bộ, đảng viên mà còn làm tổn thương, gây hại cho phong trào cách mạng. Vì vậy, cần “phải dùng trí khôn và tấm lòng cộng sản” để nhận diện đúng, có biện pháp hữu hiệu để trị bệnh cứu người, “vạch mặt, chỉ tên” bản chất, nguồn gốc bệnh chủ quan, duy ý chí; không để nó lây lan, truyền nhiễm, làm khổ người khác.

Dấu hiệu của bệnh chủ quan, duy ý chí là “phớt lờ thực tế khách quan”, không có cái nhìn biện chứng, xem xét sự vật, hiện tượng phiến diện, một chiều, “bất động”. Người mắc bệnh chủ quan, duy ý chí thường “nhìn đời bằng mắt nhắm, mắt mở” với tâm thế xem xét, giải quyết mọi việc đều thiên lệch, sơ sài, đại khái, qua loa; không thấy mối quan hệ đan cài, chằng chịt giữa các sự vật, hiện tượng và sự tác động, chi phối lẫn nhau giữa chúng. Họ “nhìn thấy cây mà không thấy rừng”, “chỉ biết một mà không biết hai”. Do đó, giống như “con ếch ngồi đáy giếng”, phán xét mọi việc bằng đôi mắt nhìn trời qua vòm giếng, thiếu tính bao quát, tính tổng thể, không có sự khái quát, bao trùm, không nhận rõ bản chất và tính quy luật của hiện thực khách quan.

Thành thử, dưới tầm nhìn của “mắt ếch” thông qua vòm trời trên miệng giếng, mọi thứ đều giản đơn, giải quyết mọi việc chỉ áng chừng, theo kinh nghiệm của chủ thể. Họ không có vốn sống, kinh nghiệm thực tiễn sinh động nên khi vận dụng vào xem xét sự việc ở hoàn cảnh khác thì đều sai lệch; “cái tôi” lạc điệu với “cái ta” là thế giới xung quanh.

Rõ ràng, phương pháp xem xét sự vật, hiện tượng của người mắc bệnh chủ quan, duy ý chí là siêu hình, bị chi phối bởi “cặp kính màu duy tâm”. Nó là “cái ung nhọt hiểm nghèo” trong cơ thể, có thể tạo nên mầm chứng bệnh khác rất nguy hiểm bởi lúc nào họ cũng đề cao thái quá “cái tôi”, tuyệt đối hóa vai trò của chủ thể. Chủ quan, duy ý chí là một “căn bệnh nan y”, rất cần phải “nhận diện đúng, bắt mạch chính xác, chuẩn trị, kê đơn, bốc thuốc kịp thời” để cứu người vì nếu không làm như thế, nó sẽ lây lan thành dịch bệnh, để lại hậu quả khôn lường cho cá nhân và tập thể, lây nhiễm sang hoạt động của Đảng, làm sai lệch nguyên tắc tự phê bình và phê bình.

Trong sinh hoạt Đảng, nếu đeo cặp kính màu, nhìn đời, đánh giá sự việc theo ý kiến chủ quan với tiêu chuẩn riêng của mình sẽ rất nguy hại. Cán bộ, đảng viên mắc bệnh chủ quan, duy ý chí sẽ đưa ra quan điểm lệch lạc, thiếu tính khách quan, nhìn nhận sự việc từ một phía, một chiều không tránh khỏi võ đoán. Đó là cách nhìn phi thực tế, chỉ thấy đồng chí, đồng đội toàn yếu kém, khuyết điểm; còn mình chỉ toàn ưu điểm, thậm chí cường điệu, phóng đại những cống hiến của mình, những người thuộc “phe của mình”. Từ đó chỉ chích, khích bác, gán ghép những khuyết điểm, sai phạm cho người khác mà họ không có; gây nghi kỵ, bất đồng chính kiến, mất đoàn kết nội bộ, làm phức tạp tình hình trong Đảng.

Sinh thời, Bác Hồ đã phê phán gay gắt những cán bộ, đảng viên lợi dụng phê bình và tự phê bình để “thanh toán, “triệt hạ lẫn nhau”, “làm cho nhau không thể mở mày mở mặt”. Bác chỉ ra hạn chế cơ bản của biện pháp phê bình này là “nhỏ nhen, hẹp hòi, ích kỷ”, “chỉ suy từ bụng ta ra bụng người”, ghen tỵ, đố kỵ; lúc nào cũng “sợ người khác hơn mình. Tính nguy hại của sự góp ý, phê bình kiểu này là “làm thui chột ý chí phấn đấu” của đồng chí, đồng đội vì nó không động viên, cổ vũ người khác, làm cho họ ngại phấn chấn, thiếu hăng hái, và ngược lại, nó tạo ra bầu không khí căng thẳng, “gây mất đoàn kết”, làm cho đồng chí mình “tự ty”, mặc cảm, giảm nhuệ khí, mất động lực, không còn ý chí khắc phục khó khăn, phấn đấu vươn lên. Bác gọi cách làm này là hại cho mình, hại cho tập thể. Cán bộ, đảng viên nào đã mắc phải bệnh này cần chữa trị ngay, không để nó tái diễn, lay lan sang người khác.

Chủ quan, duy ý chí là bạn đồng hành của thái độ, cách làm việc áng chừng, qua loa, đại khái; hay bao biện, rập khuôn máy móc và giáo điều trong tự phê bình và phê bình. Đây là môi trường thuận lợi cho những thói hư, tật xấu và chủ nghĩa cá nhân “ẩn nấp”, chờ cơ hội mọc mầm, nảy nở; làm tha hóa, biến chất cán bộ, đảng viên. Trên mảnh “ít tính người, nhiều tính ma quỷ” này, chủ nghĩa cá nhân trỗi dậy, trở thành “con ngựa bất kham”, không dây cương, chạy lung tung, rất khó quản lý.

Thực tế chỉ ra rằng, ở đâu, nơi nào và ở người nào đó, chủ nghĩa cá nhân trỗi dậy, phát triển thì ở nơi đó, người ấy tạo ra mâu thuẫn nội bộ, bất đồng chính kiến diễn ra liên miên, tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” rất khó khắc phục. Các căn bệnh tha hóa, biến chất, nghi kỵ, kèn cựa, làm thui chột ý chí, động cơ phấn đấu, rèn luyện, cống hiến của những cán bộ, đảng viên thực đức, thực tài; làm cho tổ chức Đảng suy yếu, thậm chí không hoàn thành nhiệm vụ đã xuất hiện, rất cần phòng tránh, không để tái hiện.

Cần nhận thức đúng vấn đề có tính hệ thống: Bệnh chủ quan, duy ý chí là khởi nguồn và chỗ dựa của thói hư, tật xấu: Tự kiêu, tự mãn, tự cao, tự đại; thiên vị, ưu ái bản thân, dễ dãi với khuyết điểm của mình nhưng khắt khe với khuyết điểm của người khác; tự cho mình là ưu tú, nổi trội; không thấy khuyết điểm hoặc được nhắc nhở thì cho rằng khuyết điểm không cơ bản, vô hại; tự biện bạch khuyết điểm ai cũng có, rồi tìm lấp liếm, cách che đậy, bưng bít, “giấu trên, lừa dưới”, thậm chí vô hiệu hóa khuyết điểm. Những cán bộ, đảng viên này không “tự nội soi” được khuyết điểm của mình và do đó, không thể “tự sửa” được khuyết điểm vì sợ khuyết điểm giống như người đau ốm giấu bệnh, sợ thuốc, dẫn đến bệnh lý ngày càng nặng thêm.

Nguyên nhân của căn bệnh chủ quan, duy ý chí thì nhiều, cả khách quan và chủ quan; song đáng kể là do “Kém lý luận, khinh lý luận hoặc lý luận suông”; không nắm vững và vận dụng sáng tạo phép biện chứng duy vật nên rơi vào bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa hoặc bệnh giáo điều. Mặt khác, do óc bè phái, hẹp hòi, ích kỷ, cục bộ, quân phiệt, quan liêu, hám quyền lực, lạm quyền, công thần, kiêu ngạo công sản đẻ ra chứng bệnh ấy.

Điều quan trọng là cán bộ, đảng viên này thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, hay nể nang, lừa cấp dưới, dối cấp trên, khinh thường tập thể. Thật buồn cho tổ chức đảng và cá nhân cán bộ, đảng viên đã mắc bệnh, hoặc đang ủ căn bệnh tai quái này. Họ rất cần phải chữa trị.

Phương cách tốt nhất để trị bệnh, cứu người là:

(1) Quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc “tự phê bình và phê bình” trong sinh hoạt Đảng, bảo đảm cho nguyên tắc này được triển khai thông suốt từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên; cấp dưới phải phục tùng cấp trên; cá nhân phải phục tùng tập thể một cách dân chủ, công khai, minh bạch, hợp lý.

(2) Thật thà tự phê bình và phê bình; bảo đảm tính khách quan, chính trực, công bằng, không thiên vị, không bao biện trong kiểm điểm bản thân và người khác để “tự soi, tự sửa”, chỉ ra thói hư, tật xấu, khuyết điểm của chính bản thân mình và từng cán bộ, đảng viên. Qua đó, tìm ra biện pháp phù hợp nhất để kiên quyết khắc phục hạn chế, khuyết điểm.

(3) Có thiện chí trong việc tranh thủ “tai mắt” và góp ý, phê bình, xây dựng của tập thể, của nhân dân, của đồng chí, đồng đội; từ đó có kế hoạch, biện pháp thực thi nghiêm túc kỷ cương, kỷ luật Đảng; phát huy quyền “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

(4) Rà soát, bổ sung, hoàn chỉnh các tiêu chí, chuẩn mực đạo đức cách mạng phù hợp với từng đối tượng cán bộ, đảng viên và đặc điểm cơ quan, đơn vị công tác; thực hiện tốt Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2021 về những điều đảng viên không được làm.

(5) Đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, tổ đảng; làm tốt hơn nữa công tác cán bộ, xử lý nghiêm minh, đồng bộ kỷ luật Đảng, kỷ luật hành chính và xử lý bằng luật pháp đối với cán bộ có vi phạm, kể cả cán bộ, đảng viên đang công tác hay đã nghỉ hưu.

(6) Tự soi, tự sửa nghiêm túc; tự rèn luyện đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; gắn bó với tập thể, đồng chí, đồng đội; thành khẩn lắng nghe ý kiến của họ để đề ra kế hoạch, biện pháp cụ thể, quyết tâm khắc phục bệnh chủ quan, duy ý chí.

Dẫu biết “nhân vô thập toàn”, trong cuộc sống và trong công việc, ai cũng có những thành công và cũng có lúc không tránh khỏi thiếu sót, khuyết điểm, thậm chí mắc sai lầm. Song, điều quan trọng là khi tổ chức Đảng và đồng chí của mình đã chân thành góp ý, chỉ ra khuyết điểm, cá nhân cán bộ, đảng viên nên thành khẩn tiếp nhận, cố gắng sửa chữa để tiến bộ, trưởng thành. Khắc ghi và thực hiện tốt Lời Bác Hồ dạy: “Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ” để “tự soi, tự sửa”, tự chữa bệnh, cứu mình, làm cho mình và tập thể mạnh lên mãi./.

                                                 

 

 

 

33

 

“TRUNG VỚI ĐẢNG, HIẾU VỚI DÂN” - GIÁ TRỊ HÌNH MẪU CỦA NGƯỜI QUÂN NHÂN CÁCH MẠNG

 

Tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân - vừa là vấn đề có tính nguyên tắc, vừa là bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Đây cũng là giá trị hình mẫu hàng đầu của người quân nhân cách mạng Việt Nam. "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Đây là lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Quân đội Nhân dân Việt Nam nhân kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập 22 tháng 12 năm 1964 và đó cũng chính là truyền thống vẻ vang của Quân đội ta, là chuẩn mực của “Bộ đội Cụ Hồ”.

Quân đội Nhân dân Việt Nam được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, luôn vững vàng trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, hy sinh phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xứng đáng với vai trò là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị đặc biệt tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Hiện nay có người cho rằng, quân đội chỉ cần "trung với nước, hiếu với dân" là đủ? Nhưng đó là những người lập lờ, ba phải! Thực tế lịch sử loài người chưa bao giờ tồn tại một nhà nước chung chung, trừu tượng. Quân đội của bất kỳ quốc gia nào hiện nay cũng đều tuyên thệ trung thành với hiến pháp và với nguyên thủ hợp hiến (nhà vua, tổng thống, thủ tướng hoặc chủ tịch nước).

Ở Việt Nam, Hiến pháp 2013 đã quy định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động không có mục đích tự thân, Đảng hoạt động vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Cho nên, xây dựng “Quân đội nhân dân Việt Nam trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân” là một chỉnh thể, nhằm bảo đảm tính lịch sử, cụ thể cho mục tiêu xây dựng quân đội về chính trị. Chỉ khi xây dựng được một quân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, có nguồn gốc vững chắc “từ nhân dân mà ra”, có lý tưởng cao đẹp “vì nhân dân mà chiến đấu”, cán bộ, chiến sĩ của quân đội mới giành chiến thắng trong cuộc chiến tâm lý về “vũ khí luận” của đối phương.

Trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân trở thành phẩm chất hàng đầu của người cách mạng và mỗi quân nhân trong Quân đội Nhân dân Việt Nam. Phẩm chất đó là cơ sở vững chắc của sức mạnh đoàn kết, thống nhất về tư tưởng và hành động; là động lực mạnh mẽ thúc đẩy cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn nêu cao ý chí quyết tâm, huy động mọi sức lực và trí tuệ, phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất mọi nhiệm vụ được giao.

Trung với Đảng, trung với nước của quân đội ta trước hết thể hiện ở sự tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước, là trung thành với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước.

Hiếu với dân là phải gắn bó với nhân dân, gần gũi nhân dân, dựa vào dân, nắm vững dân tình, dân tâm, dân trí, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, để dân tin, dân yêu, dân giúp đỡ, bao bọc chở che.

Gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, cùng với toàn dân tộc kinh qua các cuộc trường chinh kháng chiến, Quân đội Nhân dân Việt Nam luôn kiên cường, bất khuất dù phải đối mặt với đế quốc, thực dân hung bạo. Với niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng, thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, với tinh thần tự tôn dân tộc; tinh thần bất khuất, kiên trung, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân đã được lớp lớp cán bộ, chiến sĩ kế thừa và phát huy làm cho bản chất và truyền thống cách mạng của quân đội ta càng thêm sâu sắc, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” ngày càng tỏa sáng.

Đó là cội nguồn tạo nên sức mạnh thần kỳ; là sức mạnh giúp quân đội ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách để tiến lên chính quy, hiện đại đủ sức hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, góp phần hoàn thành thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

                                                 

 

Từ năm 1986, trong tinh thần đổi mới chung của toàn xã hội, Đảng đã xác định văn hóa là nhu cầu thiết yếu của đời sống con người, thể hiện trình độ phát triển chung của đất nước, là lĩnh vực sản xuất tinh thần, tạo ra các giá trị, sản phẩm làm giàu đẹp cuộc sống. Quan điểm này đưa đến nhận thức rõ nét về sự gắn bó mật thiết của văn hóa với mọi mặt đời sống và sự phát triển của văn hóa là thước đo sự phát triển chung của đất nước. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII "Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đã khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Hàm nghĩa phát triển văn hóa ở đây được thể hiện rõ hơn, phát triển nền văn hóa tiên tiến vừa tiếp thu được tinh hoa văn hóa thế giới, vừa giữ được bản sắc văn hóa dân tộc.

Tiếp đó, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI, “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” nhấn mạnh, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội. Đại hội XII của Đảng cũng nhấn mạnh quan điểm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh hun đúc nên phẩm chất, cốt cách con người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước; khẳng định cần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Phát triển văn hóa là thúc đẩy sức mạnh nội sinh, đưa văn hóa vào trung tâm của quá trình phát triển phù hợp với bối cảnh mới, văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với quá trình phát triển kinh tế - xã hội.

Trên tinh thần đó, hiện nay khái niệm phát triển văn hóa đã trở nên phổ biến với cách hiểu rộng hơn và những ý nghĩa sâu sắc hơn. Phát triển văn hóa với ý nghĩa hướng đến sự phát triển toàn diện. Nếu phát triển kinh tế mà bỏ qua văn hóa sẽ dẫn đến sự mất ổn định, thậm chí là khủng hoảng xã hội. Chính vì vậy, sự gắn kết văn hóa với phát triển kinh tế sẽ đưa đến sự phát triển đa chiều, toàn diện và bền vững. Không thể có sự phát triển xã hội đúng nghĩa nếu không có phát triển văn hóa và phát triển vì mục tiêu văn hóa.

Theo ý kiến nhiều chuyên gia lĩnh vực văn hóa học, phát triển văn hóa là một nhiệm vụ chiến lược lớn hướng đến các mục tiêu căn bản là phát triển xã hội. Do đó, trong giai đoạn 2021 - 2030, các mục tiêu căn bản cần tiếp tục thực hiện như: Nâng cao nhận thức về văn hóa, nhìn nhận văn hóa trong sự đa dạng, công bằng, văn hóa có mặt trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Nêu cao tinh thần phát triển từ văn hóa, vì mục tiêu văn hóa và đưa tinh thần đó thấm nhuần vào trong các thực hành xã hội và các chính sách. Kế thừa và phát huy giá trị văn hóa của các tộc người và vận hành các giá trị văn hóa đó để trở thành nguồn lực quan trọng trong phát triển kinh tế, chính trị, ngoại giao cho đất nước.

Cùng với đó, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ mới; xây dựng nền văn hóa vừa hội nhập tốt với thế giới, vừa đề cao được bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng nền văn hóa tiên tiến trên nền tảng vững chắc của văn hóa truyền thống 54 dân tộc và lòng tự hào về văn hóa các dân tộc trên đất nước Việt Nam.

Ngoài ra, cần khai thác tối đa nguồn lực văn hóa trong phát triển. Nguồn lực văn hóa rất đa dạng như các di tích khảo cổ học, các đi tích lịch sử, văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo, các quần thể kiến trúc văn hóa, hệ thống các bảo tàng, hệ thống các cảnh quan văn hóa đặc trưng, các loại hình nhà truyền thống, lễ hội, phong tục, tập quán, ẩm thực, trang phục, các sinh hoạt nghệ thuật, đời sống văn hóa làng, bản, thôn,…các loại hình tri thức dân gian,... của 54 tộc người trên cả nước. Các ngành, nhất là ngành văn hóa cần xác định đúng và đưa nguồn lực này vận hành linh hoạt trong các chiến lược phát triển chung và chiến lược phát triển cụ thể của từng lĩnh vực, như du lịch văn hóa, ngoại giao văn hóa,...

Nhìn nhận đúng vai trò của sự đa dạng văn hóa, coi đa dạng văn hóa là nguồn lực quan trọng trong phát triển, là mạch nguồn giúp các tộc người có được bản lĩnh và sự chủ động trong bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa trong quá trình giao lưu, hội nhập, tiếp biến văn hóa hiện nay.

Theo đó, cần đẩy mạnh nghiên cứu chuyên sâu, nghiêm túc bài bản trên cả phương diện lý luận và thực tiễn văn hóa. Đây cũng là yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với ngành nghiên cứu văn hóa, quản lý văn hóa trong việc bảo đảm mỗi liên kết hiệu quả giữa kết quả nghiên cứu cơ bản và việc tư vấn chính sách. Chuyển hóa tốt nhất các kết quả nghiên cứu thành các chính sách, chương trình hành động phù hợp và hiệu quả. Nghiên cứu cần đi trước một bước để tạo ra các tiền đề lý luận và thực tiễn cho việc triển khai các công tác văn hóa. Đầu tư hiệu quả và thường xuyên hơn cho nghiên cứu cơ bản, khuyến khích những nghiên cứu phản biện chính sách một cách khách quan và thẳng thắn, chỉ ra những nút thắt, những điểm nghẽn cần tháo gỡ để các chính sách văn hóa đi vào cuộc sống. Đầu tư thích đáng hơn cho công tác đào tạo đội ngũ các nhà nghiên cứu văn hóa, tạo ra đội ngũ có chuyên môn nghiệp vụ cao trong nghiên cứu, sống được bằng nghề và tâm huyết với nghề. Nghiên cứu, tiếp thu và ứng dụng các lý thuyết nghiên cứu văn hóa, các kinh nghiệm quản lý văn hóa trên thế giới vào thực tế Việt Nam, tăng cường quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.

Bên cạnh đó, ưu tiên tối đa nguồn lực để xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng tốt nhu cầu nguồn nhân lực cho phát triển đất nước thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, kiên định lập trường chính trị, tư tưởng, có trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo tốt, có trách nhiệm, tuân thủ pháp luật, có lòng yêu nước, tự hào dân tộc, có tính nhân văn, lối sống văn hóa, khoan dung.

Đồng thời, tiếp tục xây dựng văn hóa trong kinh tế và chính trị, đầu tư cho văn hóa ngang hàng cho kinh tế, đi sâu vào từng quá trình sản xuất, từng sản phẩm kinh tế. Văn hóa phải thành yếu tố bên trong giúp định vị cơ cấu và vận hành hệ thống chính trị.

Ngoài ra, xây dựng văn hóa trở thành hệ điều tiết để góp phần ổn định xã hội; tạo dựng môi trường văn hóa lành mạnh từ trong gia đình, cộng đồng đến ngoài xã hội, trong đó mỗi cá nhân ý thức được về hành vi của mình luôn nằm trong những ràng buộc về đạo đức, nhân cách và trách nhiệm với cộng đồng và xã hội. Tăng cường sức mạnh của hệ điều tiết này bằng những chuẩn mực xã hội, dư luận cộng đồng do chính người dân xây dựng, duy trì và thực hiện thường xuyên. Một xã hội được điều tiết bởi văn hóa chắc chắn là một xã hội hài hòa và phát triển toàn diện.

Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hóa và thực hiện văn hóa pháp luật trong toàn xã hội, đưa các hoạt động văn hóa đi vào chiều sâu, chú ý đến tính hiệu quả, tránh hình thức, bề nổi. Cần xây dựng văn hóa pháp luật và đưa văn hóa pháp luật thấm sâu vào lối sống, nếp suy nghĩ và hành vi của mỗi người dân, bảo đảm mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, vì vậy chính những cơ quan làm ra luật, và những người thực thi pháp luật cần thực hiện tốt văn hóa pháp luật.

Nâng tầm hội nhập quốc tế về văn hóa, vừa tiếp nhận được tinh hoa văn hóa thế giới, bắt kịp sự phát triển của thời đại, giữ gìn và làm giàu bản sắc văn hóa. Xác định bản sắc văn hóa dân tộc là cơ sở cốt lời bảo đảm cho sự giao lưu văn hóa và hội nhập quốc tế được bền vững và không bị hòa tan. Xây dựng và hoàn thiện thị trường văn hóa lành mạnh, phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, công nghiệp hóa trong phát triển nguồn lực văn hóa.

                                             

 

 

TÍNH NHÂN ĐẠO, NHÂN VĂN CỦA ĐẤU TRANH CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC

 

Có thể thấy, nguyên nhân của lối suy diễn tiêu cực nêu trên trước hết là do nhận thức của một số cá nhân chưa đúng, bị tác động bởi những luận điệu sai trái do các thế lực thù địch và phần tử phản động rêu rao, xuyên tạc. Những biểu hiện này không phải đến bây giờ mới diễn ra mà nó tồn tại âm ỉ, là một mặt trái của đời sống xã hội, khi có tình huống tác động lại bùng lên cục bộ. Chống tham nhũng, tiêu cực là cuộc đấu tranh lâu dài, cam go, phức tạp. Trong xã hội có giai cấp, không một quốc gia, dân tộc nào có thể triệt tiêu hoàn toàn tham nhũng. Vai trò của đảng cầm quyền và hiệu lực, hiệu quả của hệ thống pháp luật chỉ có thể ngăn chặn, xử lý, hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi tham nhũng.

Ở nước ta, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chính là để làm trong sạch bộ máy, để hệ thống chính trị phục vụ ngày một tốt hơn quyền và lợi ích của nhân dân. Chính vì vậy, việc điều tra, xử lý các tổ chức, cá nhân có hành vi tham nhũng, tiêu cực, không có mục đích nào khác ngoài việc để cán bộ, đảng viên và cả hệ thống chính trị xứng đáng hơn với niềm tin và sự phó thác của nhân dân.

Với bản chất nhân đạo, nhân văn xã hội chủ nghĩa, việc kiểm tra, điều tra, xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực là để nâng cao hiệu quả phòng ngừa, ngăn chặn, với tinh thần “chặt cành để cứu cây”, “kỷ luật một người để cứu muôn người”... Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần phát biểu, khẳng định, kỷ luật, xử lý đồng chí, đồng đội của mình là rất day dứt, đau xót, nhưng đó là việc phải làm, không thể khác được. Phải làm nghiêm, làm mạnh để ai cũng phải có ý thức giữ mình trong sạch, ai đã trót “nhúng chàm” thì phải tự gột rửa để xứng đáng hơn với niềm tin, sự gửi gắm của nhân dân.

Như vậy, để Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh thì việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong Đảng và hệ thống chính trị phải làm thường xuyên, kiên trì, kiên quyết. Việc nhiều cán bộ cấp cao, đứng đầu một số bộ, ngành, địa phương... suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham ô, tham nhũng bị điều tra, xử lý là một tổn thất, một nỗi đau của Đảng, nhưng để cơ thể khỏe mạnh, không thể không “phẫu thuật” cắt bỏ những “khối u”, những “tế bào” độc hại...

Thời kháng chiến chống thực dân Pháp, ở Thủ đô kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phải trắng đêm trăn trở, dằn vặt, day dứt trước khi quyết định xử tử Trần Dụ Châu vì tội biển thủ công quỹ, nhận hối lộ, phá hoại công cuộc kháng chiến. Dù rất đau đớn, nhưng Người đã bác đơn xin ân giảm án tử hình của Trần Dụ Châu. Người nói: “Nếu phải giết đi một con sâu mà cứu được cả rừng cây thì việc đó là cần thiết, hơn nữa còn là một việc làm nhân đạo”. Vụ án chống tham nhũng điển hình xảy ra cách đây hơn 70 năm, đến nay vẫn vẹn nguyên tính thời sự. Quan điểm nhân văn, nhân đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi xử lý cán bộ tham nhũng, tiêu cực là sự thể hiện vừa bao quát vừa cụ thể tính nhân văn xã hội chủ nghĩa, tất cả đều vì tiền đồ của đất nước, vì cuộc sống của nhân dân.

Là cán bộ, đảng viên, chúng ta không vui sướng, hả hê khi đồng chí, đồng đội mình suy thoái, biến chất, nhưng cũng không thể thờ ơ, bàng quan, vô cảm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; càng không thể chỉ thấy hiện tượng mà quên bản chất, dẫn đến nảy sinh tư tưởng sợ sai, sợ trách nhiệm... Để thúc đẩy phát triển, phải gắn chặt giữa đoàn kết và đấu tranh, giữa xây và chống với tinh thần lấy xây để chống. Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, khi Đảng, Nhà nước ta ngày càng siết chặt kỷ luật, kỷ cương, những thành phần “sâu mọt” trong nội bộ tổ chức đảng và hệ thống chính trị sẽ tiếp tục được lôi ra ánh sáng công lý.

Với nhận thức, bản lĩnh của cán bộ, đảng viên, chúng ta phải đi sâu vào bản chất, đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc, quyền lợi của nhân dân lên trên hết để thấy rõ tính nhân đạo, nhân văn của Đảng. Những luận điệu cho rằng, Đảng, Nhà nước “thanh trừng nội bộ”, “tranh giành quyền lực”, “đấu đá phe cánh”... thực chất là những luận điệu phản động, hại dân, hại nước. Cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức trong hệ thống chính trị cần nêu cao bản lĩnh, nhận thức thấu đáo bản chất vấn đề để củng cố trận địa tư tưởng chính trị, trau dồi phẩm chất đạo đức, xây dựng và tăng cường lòng tin trong nhân dân đối với công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

 

“TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH”: "VŨ KHÍ SẮC BÉN", LÀ ĐỘNG LỰC, LÀ QUY LUẬT CỦA SỰ TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẢNG

  

Vấn đề tự phê bình và phê bình trong Đảng, được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm, Người khẳng định: “Tự phê bình và phê bình là thứ vũ khí sắc bén nhất, nó giúp cho Đảng ta mạnh và ngày càng thêm mạnh. Nhờ nó mà chúng ta sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, tiến bộ không ngừng”.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự phê bình và phê bình là một trong những nội dung cơ bản của văn hóa đạo đức - văn hóa Đảng. Chỉ có tuân thủ theo nguyên tắc này, Đảng mới luôn luôn giữ được sự trong sạch, mới hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, giữ gìn tư cách của một đảng cách mạng, một đảng chân chính.

Tự phê bình và phê bình ngoài động cơ, mục đích trong sáng còn cần phải có thái độ đúng, phương pháp đúng, thậm chí còn phải chú ý cả hoàn cảnh cụ thể của người được phê bình. Việc phê bình dù có chân thật, nhưng thiếu thái độ và phương pháp đúng có thể dẫn đến chủ thể được phê bình không nhận thức được điều đó hoặc nhận thức ngược lại, nhận thức khác đi dẫn đến hiệu quả không đạt được như mong muốn. Đó là chưa kể, việc lợi dụng nguyên tắc này để thực hiện những mưu đồ vụ lợi cho cá nhân, gây mất đoàn kết, chia rẽ nội bộ, hạ thấp uy tín của người khác... Ngày 14/2/1952, trong bài “Tự phê bình và phê bình”, Bác đề ra các nội dung thực hiện tự phê bình và phê bình, gồm: Mục đích, Phương hướng, Trọng tâm, Cách làm. Trong đó, Cách làm bắt đầu từ Thống nhất tư tưởng, “phải đánh thông tư tưởng. Tức là làm cho mọi người hiểu rõ mục đích và lợi ích của cuộc kiểm thảo, làm cho mọi người hǎng hái tham gia, để tránh tình trạng tiêu cực, lo ngại, rụt rè”; phải “nghiên cứu những tài liệu về lý luận, để giúp mọi người hiểu thấu sự ích lợi và cần thiết của kiểm thảo; và những tài liệu về chính sách của Đảng và Chính phủ, để lấy đó làm cǎn cứ mà kiểm thảo công việc của mỗi đơn vị, mỗi người”. Khi tư tưởng thông rồi, tài liệu đã nghiên cứu kỹ, lúc đó mới kiểm thảo công việc, thật thà tự phê bình và phê bình”.
Và “kiểm thảo phải khởi đầu từ cấp trên, dần dần đến cấp dưới. Cán bộ cấp trên phải làm gương mẫu thật thà tự phê bình, phải hoan nghênh và khuyến khích mọi người phê bình mình, tức là phải thực hiện dân chủ rộng rãi. Từ trên xuống, rồi từ dưới lên”. “Trong kiểm thảo phải nêu rõ ưu điểm và khuyết điểm, làm cho việc phải việc trái rõ ràng, làm cho mọi người hiểu rõ và vui lòng thừa nhận”. “Ưu điểm thì phải khen, để mọi người bắt chước và phát triển. Khuyết điểm thì phải tuỳ nặng nhẹ mà xử trí cho đúng mực, để mọi người biết mà tránh. (Mục đích của kiểm thảo là giáo dục, cải tạo, nhưng không phải tuyệt đối không hề dùng kỷ luật). Những vấn đề đã đặt ra, cần tìm cách giải quyết cho đúng. Trong kiểm thảo, phải làm cho mọi người tự động, tự giác thật thà nêu khuyết điểm của mình, thành thật phê bình anh em. Kiểm thảo thì nhằm vào tư tưởng, lề lối làm việc, kết quả của công việc, chứ không nhằm vào cá nhân”…
Cuối bài viết, Bác Kết luận: “Từ nay, những cuộc tự phê bình và phê bình cần nhằm đúng mấy điểm:

- Đoàn kết chặt chẽ cán bộ trong Đảng, ngoài Đảng và toàn dân.

- Nâng cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần thi hành nghiêm chỉnh và triệt để chính sách của Đảng và Chính phủ.

- Theo đường lối quần chúng, vượt mọi khó khǎn, để đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.

Những lời dạy của Bác có ý nghĩa to lớn, khẳng định tự phê bình và phê bình là nguyên tắc quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, là vũ khí sắc bén, giúp cho Đảng ta ngày càng mạnh thêm. Thông qua tự phê bình, Đảng ta mới gột rửa được những hạn chế, yếu kém, những thói hư tật xấu, làm cho dân tin, dân theo Đảng; đồng thời nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao bản lĩnh chính trị, ngăn ngừa biểu hiện tự cao, tự đại, mạnh dạn công khai tự phê bình, chân thành tiếp thu sự phê bình của người khác. Thực hiện tốt việc tự phê bình và phê bình là góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Đảng ta đang triển khai các nhiệm vụ, giải pháp xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Đại hội XIII, coi trọng tính chiến đấu trong tự phê bình và phê bình, để “vũ khí” sắc bén này góp phần xứng đáng vào công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Từng cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường giáo dục cho đội ngũ đảng viên nhận thức sâu sắc về vai trò và giá trị của tự phê bình và phê bình trong Đảng; không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng nội dung, phương thức tiến hành tự phê bình và phê bình ở cấp mình. Từng đảng viên cần khắc phục tâm lý ngại va chạm, tích cực tự phê bình và phê bình "như rửa mặt hằng ngày" trong sinh hoạt Đảng. Từng cán bộ, nhất là người đứng đầu, cần chủ động, tự giác nêu gương trong thực hành tự phê bình và phê bình; có cơ chế, biện pháp khuyến khích, bảo vệ cấp dưới phê bình cấp trên; kiên quyết chống các biến tướng của tự phê bình và phê bình... Như vậy, phê bình và tự phê bình được coi là “vũ khí”, “chìa khóa thành công”, là sự đột phá của khâu đột phá, là một trong những bước then chốt của công tác then chốt xây dựng Đảng. Cho nên cán bộ, đảng viên nhất là cán bộ cấp cao, người đứng đầu cần phải gương mẫu nêu gương trong phê và tự phê bình, “tự soi, tự sửa” để cấp dưới và nhân dân học tập, noi theo, đó là phương thức lãnh đạo nhân văn của Đảng ta./.

                                              

NHẬN DIỆN NHỮNG CHIÊU TRÒ XẤU, ĐỘC

 

Thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị luôn tìm mọi cách chống phá, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, thanh danh của Đảng, nhất là dịp diễn ra các sự kiện lớn của đất nước, nhằm tạo tiếng vang, thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội và cộng đồng quốc tế. Vì thế, nhận diện và kiên quyết đấu tranh bảo vệ uy tín, thanh danh của Đảng; định hướng nhận thức tư tưởng, hành động cho cán bộ, đảng viên và nhân dân là vấn đề căn bản, cấp thiết, lâu dài.

Thời gian qua, lợi dụng, khoét sâu vào những hạn chế, khuyết điểm trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước; sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên để xuyên tạc, chống phá, phủ nhận thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước,... là một trong những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch. Một mặt, họ phủ nhận và cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã lỗi thời, không còn phù hợp với xu thế phát triển của thời đại; mặt khác  tăng cường cổ súy cho “xã hội dân sự”, kêu gọi thành lập các tổ chức chính trị đối lập, tạo tiền đề thực hiện “đa nguyên, đa đảng”. Đồng thời, tích cực truyền bá lối sống phương Tây, bao biện rằng chủ nghĩa tư bản đã thay đổi bản chất, không còn áp bức, bóc lột; vu cáo Việt Nam “đàn áp” dân chủ, nhân quyền, thúc đẩy phong trào “bất tuân dân sự”; kích động, chia rẽ nội bộ, chống phá Đảng, Nhà nước, xúi giục, lôi kéo nhân dân tham gia biểu tình, gây rối, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo cơ sở thực hiện “canh tân đất nước”, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.

Đặc biệt, vào dịp diễn ra các sự kiện chính trị lớn, như: Đại hội Đảng toàn quốc, hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, bầu cử đại biểu Quốc hội,… chúng tăng cường xuyên tạc nội dung dự thảo các văn kiện Đại hội, nghị quyết các hội nghị; bịa đặt, bôi nhọ đời tư, uy tín, danh dự của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nhất là các đồng chí được đề cử, ứng cử vào Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban kiểm tra Trung ương khóa mới. Khi muốn “hạ bệ” cá nhân nào đó, họ tập trung khoét sâu vào những hạn chế, khuyết điểm của các ban, bộ, ngành, lĩnh vực mà cá nhân đó phụ trách, hoặc dựng chuyện, bịa đặt, bóp méo bản chất các vụ việc liên quan rồi quy kết trách nhiệm cá nhân, không đủ tiêu chuẩn quy hoạch nhân sự đại hội. Họ còn rêu rao rằng: Ở cả Trung ương và địa phương “các phe cánh trong Đảng luôn thanh trừng lẫn nhau”, “Đại hội Đảng là nơi đấu đá, tranh giành quyền lực của các phe phái”; từ đó, kích động, chia rẽ đoàn kết nội bộ, gây nhiễu loạn thông tin, hoang mang tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, nhân dân.

Trong công tác cán bộ, họ cho rằng: việc quy hoạch cán bộ chủ chốt của Đảng đã “tước đi quyền tự do, dân chủ trong ứng cử, đề cử và bầu cử”. Đại hội bầu ra các vị trí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị chỉ mang tính hình thức, thực chất là “củng cố, thâu tóm quyền lực” cho phe cánh của đồng chí A, đồng chí B, v.v. Thế mới có chuyện, mỗi khi có cán bộ được bổ nhiệm, nhất là cán bộ trẻ, họ lại “truy lùng” xem đó là con, cháu của ai? mà không cần biết phẩm chất, năng lực của cán bộ đó. Nhất là trong thời gian diễn ra các hội nghị Trung ương (khóa XIII) đã xuất hiện nhiều bài viết “nở rộ như nấm sau mưa” trên các trang mạng xã hội tung tin đồn thổi, bình luận về nội dung hội nghị, rằng: sẽ có cuộc tranh giành quyền lực, đấu đá giữa các phe, nhóm tại hội nghị lần này và suy diễn, bình luận việc “rời ghế” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Điển hình, trang facebook Tiếng Dân News có bài “Những biến cố trước Hội nghị Trung ương 5”, “Hội nghị Trung ương 5 và nội tình của Đảng”; facebook Việt Tân có bài “Khảo sát ý kiến độc giả về tương lai chính trị của ông Nguyễn Phú Trọng”, v.v.

Một cách tinh vi hơn, các thế lực thù địch còn soạn thảo, phát tán các tài liệu trên internet, mạng xã hội núp bóng dưới chiêu trò “Thư ngỏ”, “Bản kiến nghị” của “nhân dân” để gieo rắc hoài nghi, lừa bịp dư luận,... hoặc thông qua các trang web, kênh phát thanh, truyền hình Việt ngữ (BBC, VOA, RFA, RFI,…) để đăng tải, phát các chương trình, bài viết, tài liệu, báo cáo, nghị quyết, dự luật của nghị viện, quốc hội một số nước, nhất là báo cáo về tình hình nhân quyền hằng năm của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và một số tổ chức quốc tế, như: mạng lưới nhân quyền Việt Nam; Tổ chức người bảo vệ nhân quyền; Theo dõi nhân quyền quốc tế, v.v. Ngoài ra, họ còn lập hàng nghìn trang web, blog, mạng xã hội; hàng trăm tạp chí, báo, nhà xuất bản, hàng chục đài phát thanh có chương trình tiếng Việt phục vụ cho việc tuyên truyền, chống phá. Một số tổ chức phản động lưu vong: Việt Tân, Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời, Hội anh em dân chủ,... thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm trực tiếp, trực tuyến được livestream trên các nền tảng mạng xã hội nhằm tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo,… thu hút sự quan tâm của dư luận, kêu gọi quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Đấu tranh với hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị bảo vệ nền tảng tư tưởng, uy tín, thanh danh của Đảng là “cuộc chiến” đầy cam go, thách thức, song với sự quyết tâm, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, chúng ta nhất định thành công, tạo cơ sở thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 

ĐƯỢC VÀ MẤT TRÊN BIỂN ĐÔNG

 

Đối với Trung Quốc về mặt dân số và diện tích ta chỉ ngang với một tỉnh của họ, nên không thể dùng một trận mà đòi lại được biển đảo. Còn giả sử ta có phép mầu tiến hành chiến tranh thắng được Trung Quốc thì đất nước cũng nát tan. Dọn nhà tránh hàng xóm đã khó còn dọn nước để tránh láng giềng là điều không thể. Làm một trận đòi lại của đã mất cũng không được. Vấn đề biển đảo chỉ có thể dùng chiến lược ngoại giao mềm dẻo nhưng cương quyết để đối phó với Trung Quốc. Ta đối phó bằng chính sự cao thượng, đúng sai, phải trái để giành lấy sự ủng hộ quốc tế (Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn – Lấy chí nhân để thay cường bạo). Bằng ngược lại, ta đã nhỏ yếu, lại ứng xử theo kiểu trẻ con, xỏ xiên thì ta sẽ được nhận lại thái độ gì, và ta cũng sẽ làm được gì họ?

Tham vọng bành trướng bá quyền vốn là “đặc sản” của người Tàu và cũng là bản tính chung của các đế quốc. Nhưng sau bao cuộc chiến đẫm máu đã dẫn tới xu hướng của thời đại: Đối thoại thay cho đối đầu, nước ta cũng đã thực hiện thành công chính sách ngoại giao đa phương. Ai cũng biết ông cha ta vừa thắng giặc phương Bắc xong vẫn sang triều cống và xin phong Vương (Thuần phục giả vờ – Độc lập thực sự). Bây giờ không còn vậy nhưng vẫn phải hiểu, chiến lược ngoại giao phải phụ thuộc vào thế và lực của ta, không phải muốn sao cũng được. Sai lầm trong đối ngoại là sẽ dẫn tới thảm họa, bất kể nước nào.

Nhưng cũng phải thực tế, làm sao đừng để lợi bất cập hại. Lực ta có hạn mà lại đòi mọi cái theo ý mình sẽ là ảo tưởng. Cơ sở để giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông là tranh thủ luật pháp quốc tế. Thế giới sẽ ủng hộ ta không chỉ vì ta mà còn vì lợi ích của chính họ. Không ai muốn TQ bành trướng thành siêu cường, rồi có thể tùy tiện áp đặt mọi sở thích cũng như tham vọng của họ lên toàn thế giới.

Còn đối với những kẻ phản động, từng có “thành tích” bán nước, theo giặc 3 đời vẫn luôn miệng tuyên truyền dối trá nâng quan điểm về những cái gọi là “đại họa mất nước” v.v. thì họ là những kẻ thù hận điên cuồng, u mê mù quáng, không dám chấp nhận sự thật. Chúng ta không quan tâm và không hy vọng gì vào những phần tử này. Khi Việt Nam giữ quan hệ bình thường với Trung Quốc thì họ vẫn sẽ còn tiếp tục bám vào đó, sống ký sinh lên trên đó và tiếp tục chửi bới.

Người làm chính trị có thực tâm và thực tài là những người biết phân biệt giữa cái lợi của một người, cái lợi của một nhóm, và cái lợi tổng thể của cái chung, của dân tộc, đất nước. Và chủ quyền và sự hòa bình chính là cái lợi lớn đó. Lãnh đạo có tài và có tâm họ đặt nặng và coi trọng vào cái lợi lớn, cái lợi ích chung đó, đặt tình cảm vào cái chung, cái lớn, toàn dân, toàn quốc, nặng hơn cái tình cảm cá nhân với một người hay một nhóm, cái riêng tư, cục bộ. Đặt nặng cái lâu dài hơn cái nhất thời.

 

ĐẠI ĐỘI TRƯỞNG TRẦN CỪ - NGƯỜI ANH HÙNG NÉM QUẢ THỦ PHÁO. CUỐI CÙNG VÀO LỖ CHÂU MAI VÀ DÙNG CẢ THÂN MÌNH BỊT KÍN HỎA ĐIỂM ĐỊCH.

 

Đồng chí Trần Cừ sinh năm 1920, dân tộc Kinh, quê ở xã Đức Bắc, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, nhập ngũ ngày 19 tháng 8 năm 1945, khi hy sinh, là Đại đội trưởng bộ binh Đại đội 336, Tiểu đoàn 174, Trung đoàn 209, Đại đoàn 312, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 10 năm 1950, Trần Cừ chiến đấu trên chiến trường Việt Bắc. Trưởng thành từ chiến sĩ lên Đại đội trưởng, đã tham gia hàng chục trận chiến đấu, trận nào cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đồng chí luôn luôn chú trọng xây dựng đơn vị tiến bộ toàn diện, thương yêu đồng đội chăm sóc giúp đỡ chiến sĩ mới, khiêm tốn giản dị, được đồng đội tin yêu mến phục.

Tháng 9 năm 1945, Trần Cừ tham gia đánh quân Nhật và Quốc dân đảng phản động ở thị xã Vĩnh Yên. Đồng chí đã dẫn đầu Tiểu đội, dũng cảm xung phong đánh giáp lá cà với địch, bản thân tiêu diệt 1 tên Nhật, thu 1 khẩu súng.

Đầu năm 1946, trong trận đánh bọn Quốc dân đảng phản động tràn lên cầu Đông Đạo (Vĩnh Yên), Trần Cừ đã dùng súng trung liên diệt hai Tiểu đội địch, giữ vững trận địa đến sáng.

Đầu năm 1948, Trần Cừ chỉ huy trung đội chống càn ở vùng Sơn Đông (Vĩnh Phúc), đánh lui nhiều đợt tiến công của chúng, diệt một tiểu đội địch, bảo vệ được nhân dân. Giặc Pháp đông gấp bội, có 2 ca nô và 4 máy bay khu trục yểm hộ vẫn không sao tiến được vào làng.

Trong chiến dịch Biên Giới, trận Đông Khê (17/9/1950), trên cương vị là Đại đội trưởng chủ công của Trung đoàn. Đồng chí đã chỉ huy đơn vị chiến đấu rất dũng cảm. Song do lực lượng địch quá mạnh nên đêm đấu không dứt điểm được. Đêm sau, Trần Cừ lại chỉ huy đơn vị đánh chiếm gần hết căn cứ. Địch còn lại 100 tên, chúng dồn vào một hầm cố thủ, chống trả quyết liệt.

Hai lần Trần Cừ dẫn đầu đơn vị xông lên nhưng vẫn chưa giải quyết được, bản thân lại bị thương nặng vào chân. Trời đã rạng sáng, Trần Cừ nghĩ nếu để trận đánh kéo dài, địch sẽ dùng phi pháo và viện binh phản kích chiếm lại đồn, đơn vị sẽ bị thương vong nhiều hơn và không hoàn thành nhiệm vụ, ảnh hưởng tới toàn bộ chiến dịch. Đồng chí đã chỉ huy anh em tập trung hỏa lực bắn mãnh liệt và đồng loạt ném lựu đạn vào lô cốt, quyết tâm tiêu diệt bọn địch ngoan cố. Song địch vẫn điên cuồng chống cự. Trần Cừ căm giận, nén chịu vết thương đau, nhảy lên hô lớn:

“HỒ CHỦ TỊCH MUÔN NĂM! ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG MUÔN NĂM!” rồi lao tới sát lô cốt ném quả thủ pháo cuối cùng còn lại vào lỗ châu mai và dùng cả thân mình bịt kín hỏa điểm địch, tạo thuận lợi cho đồng đội tiến lên.

“Học tập Đại đội trưởng! Trả thù cho Đại đội trưởng!” Cả đơn vị như vũ bão xông lên, đánh sập hầm ngầm và diệt toàn bộ địch.

Với thành tích chiến đấu xuất sắc, Trần Cừ đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công Hạng ba, 1 Huân chương Kháng chiến Hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công Hạng nhất. Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Trần Cừ được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa truy tặng Huân chương Quân công Hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 

                            

ĐẤU TRANH VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, HẠ THẤP TẦM VÓC, Ý NGHĨA CỦA "TUYÊN NGÔN ĐẢNG CỘNG SẢN"

  Cả lý luận và thực tiễn đã chỉ rõ, thực chất cuộc đấu tranh giai cấp giữa vô sản với tư sản là nhằm giải quyết vấn đề bất bình đẳng giai cấp về lợi ích kinh tế. Mục đích cuối cùng là xoá bỏ tận gốc chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ chế độ “người góc lột người”. Cuộc đấu tranh này tất yếu phải bắt đầu từ lĩnh vực chính trị, nhằm đánh đổ bộ máy nhà nước tư sản, tạo cơ sở cho việc giải quyết vấn đề lợi ích kinh tế. Trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, việc sử dụng bạo lực cách mạng để trấn áp, thủ tiêu bạo lực phản cách mạng là hoàn toàn cần thiết, bảo đảm cho cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản giành thắng lợi trọn vẹn. Thế nhưng, ngay khi C.Mác và Ph.Ăngghen “công khai trình bày” lý luận đấu tranh giai cấp trong “Tuyên ngôn”, giai cấp tư sản đã cố gán cho lý luận này đủ mọi thứ xấu xa. Họ cho rằng, với chủ trương phát động đấu tranh giai cấp, chủ nghĩa cộng sản thực sự là một chế độ phản nhân đạo, cuộc đấu tranh giai cấp của những người cộng sản là mưu toan để xây dựng một chế độ xã hội loại trừ sự phát triển của cá nhân… Những luận điệu này trở thành “chỗ dựa” cho các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội, chống đối muốn tìm cách phủ nhận lý luận đấu tranh giai cấp của C.Mác và Ph.Ăngghen. Chiêu bài quen thuộc của chúng là đánh tráo khái niệm đấu tranh giai cấp; đánh đồng các hiện tượng biểu hiện trên bề mặt xã hội với mục tiêu cuối cùng của đấu tranh giai cấp; từ đó quy chụp lý luận đấu tranh giai cấp là kêu từ đó quy chụp lý luận đấu tranh giai cấp là kêu gọi bạo lực và chiến tranh. Tuy nhiên, những luận điệu chống phá này đã thất bại ngay từ lúc bắt đầu, bởi nó xuất phát từ những lợi ích cá nhân vị kỷ và góc nhìn phản khoa học.

Về thực tiễn lịch sử, trong các cuộc cách mạng tư sản - thực chất là cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chống lại chế độ phong kiến, giai cấp tư sản đã triệt để lợi dụng mâu thuẫn giữa nông nô và chúa đất phong kiến để lôi kéo giai cấp nông dân về phía mình. Với sự tham gia hùng hậu của nông dân vào cuộc đấu tranh có sử dụng bạo lực do giai cấp tư sản phát động mà chế độ phong kiến đã bị phá vỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ nghĩa tư bản ra đời, phát triển. Sự thay thế chế độ phong kiến bằng chủ nghĩa nghĩa tư bản, rốt cuộc không mang lại lợi ích thực sự cho số đông nhân dân lao động; đơn giản, nó chỉ là sự thay thế chế độ bóc lột này bằng chế độ bóc lột khác tinh vi và tàn bạo hơn. Thế nhưng, trớ trêu thay khi giai cấp vô sản, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chủ trương sử dụng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn giai cấp giữa tư sản và vô sản, nhằm xóa bỏ triệt để chế độ “người bóc lột người” thì lại bị phê phán là phản nhân đạo! Nguyễn Đình Cống và những kẻ chống Cộng hẳn đã nhìn rõ vấn đề này, nhưng cố tính “lờ” đi vì những mưu toan chính trị thấp hèn của cá nhân. Thêm nữa, lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế từ 1848 đến những năm 80 của thế kỷ XX cho thấy, mặc dù cách mạng vô sản phải trải qua nhiều khúc quanh co, song đã giành được thắng lợi vĩ đại.

Sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, phong trào xã hội chủ nghĩa thế giới lâm vào thoái trào, nhưng hệ tư tưởng cộng sản vẫn sống, chủ nghĩa xã hội vẫn tồn tại. Bằng việc kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, kiên trì thực hiện đấu tranh giai cấp bằng nhiều hình thức, biện pháp phù hợp, những quốc gia đi theo con đường chủ nghĩa xã hội như: Trung Quốc, Việt Nam đã cải cách, đổi mới thành công, đạt được nhiều thành tựu phát triển kinh tế - xã hội hết sức ấn tượng, có thế, lực và uy tín ngày càng lớn trên trường quốc tế. Bên cạnh đó, tư tưởng cộng sản còn lan tỏa khắp các châu lục, đi sâu vào các phong trào đấu tranh vì tự do, dân chủ, hòa bình ở nhiều quốc gia.

Thực tiễn đó, một lần nữa chứng minh rằng sức sống của lý tưởng cộng sản nói chung, lý luận đấu tranh giai cấp của C.Mác và Ph.Ăngghen nói riêng là bất diệt, không gì có thể dập tắt, phủ nhận được. Thế giới đang vận động đổi thay từng ngày, hàm chứa nhiều vấn đề phức tạp, khó lường, nhưng tinh thần của “Tuyên ngôn” mãi tỏa sáng, tiếp tục soi sáng con đường phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Nguyễn Đình Cống-kẻ phản bội công khai chống Đảng, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, phủ nhận thành quả cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc sự thật và trở thành kẻ vô ơn, bội nghĩa đối với đất nước, dân tộc, với chế độ xã hội chủ nghĩa, làm mất đi hình ảnh của một người thầy đáng kính ngày xưa.

Để giải tỏa các “lực cản” trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, kiên định và vận dụng sáng tạo lý luận đấu tranh giai cấp của C.Mác và Ph.Ăngghen, chúng ta cần chủ động đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực, sai trái, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá các thế lực thù địch. Đây là cuộc đấu tranh gay go, phức tạp nhưng tất thắng. Những kẻ chống đối không biết đường hối cải nhất định thất bại và bị đào thải cùng với bước phát triển nhanh, bền vững thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh ở Việt Nam.

 

 

"VIỆC TO CŨNG NHƯ VIỆC NHỎ. ĐẢNG VÀ CHÍNH PHỦ TA ĐỀU LO PHỤC VỤ LỢI ÍCH CỦA NHÂN DÂN"

          Lời căn dặn trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Cần phải nâng cao chất lượng hàng hóa”, bút danh “T.L”, đăng trên Báo Nhân Dân, số 3176, ra ngày 05-12-1962.

Đây là thời điểm miền Bắc nước ta đang đẩy mạnh thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm (1961-1965) nhằm không ngừng phát triển kinh tế-xã hội để trở thành hậu phương lớn chi viện cho chiến trường miền Nam đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai ngụy quân, ngụy quyền giành thắng lợi, thống nhất đất nước.

Là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, khai sinh ra Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc; Chính phủ là của dân, do dân và vì dân. Do vậy, Đảng và Chính phủ phải có tôn chỉ mục đích duy nhất là giữ vững độc lập, tự do của Tổ quốc, giải phóng nhân dân khỏi mọi áp bức, bóc lột, xây dựng cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc, phục vụ nhân dân từ việc to cho đến việc nhỏ. Lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo năng lực lãnh đạo của Đảng, điều hành của Chính phủ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ công khai mục đích hoạt động của Đảng ta, của Chính phủ ta trước quốc dân đồng bào và bạn bè quốc tế, thể hiện sâu sắc, đúng đắn tính giai cấp, tính tiền phong, trí tuệ, đạo đức và tính quần chúng trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền từ Trung ương đến cơ sở. Đồng thời, đây còn là tư tưởng chỉ đạo để Đảng và Nhà nước ta luôn hành động đúng tôn chỉ, mục đích, gắn bó mật thiết với nhân dân, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc.

Thấm nhuần lời Bác dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp, mọi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam luôn tận trung với Đảng, với Tổ quốc, tận hiếu với nhân dân, không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên, lên trước lợi ích cá nhân; ra sức phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, nêu cao ý chí tự lực tự cường, chủ động, sáng tạo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ... Cấp ủy, chỉ huy các cấp luôn thấm nhuần và thực hiện đúng điều Bác Hồ kính yêu căn dặn: Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt; với bộ đội, cán bộ các cấp luôn thân thiết như người chị, công bình như người anh, hiểu biết như người bạn, đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi với bộ đội trên tình thương yêu đồng chí, lúc thường cũng như lúc ra trận, thực hiện toàn quân một ý chí./.