Thứ Sáu, 29 tháng 12, 2023

Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới: Thực hiện kế sách "giữ nước từ khi nước chưa nguy" - Bài 4: Hoàn thiện hệ thống pháp luật về quốc phòng (tiếp theo và hết)

Để đưa nghị quyết của Đảng nói chung, Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới nói riêng vào cuộc sống, giải pháp quan trọng và cấp bách là phải thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật phù hợp với thực tiễn. Vì thế rất cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật về quốc phòng.

Thông báo Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII nêu rõ: “Sau khi xem xét, thảo luận các tờ trình, đề án và báo cáo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thống nhất thông qua Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Việc ban hành Nghị quyết đặc biệt quan trọng này nhằm tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng, toàn dân về quan điểm, mục tiêu, phương châm chỉ đạo và những nhiệm vụ, giải pháp lớn cần được quán triệt, triển khai thực hiện để trong mọi tình huống, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam".

Để đưa nhanh “Nghị quyết đặc biệt quan trọng” (như trong Thông báo của Trung ương khẳng định) đi nhanh vào cuộc sống, vấn đề quan trọng cần được ưu tiên lúc này là phải hoàn thiện hệ thống pháp luật về quốc phòng, tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
 
<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>

Quân đoàn 12 và các lực lượng phối thuộc diễn tập bắn đạn thật năm 2023. Ảnh: HẢI HUY

Pháp luật về quốc phòng là một bộ phận quan trọng của hệ thống pháp luật quốc gia, bao gồm các quy phạm pháp luật trực tiếp hoặc gián tiếp điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính chất quốc phòng liên quan đến bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; là sự thể chế hóa, cụ thể hóa về mặt pháp lý đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng về bảo vệ Tổ quốc và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân. Đây là công cụ pháp lý quan trọng để thực hiện quản lý nhà nước về quốc phòng.

Hệ thống pháp luật về quốc phòng của Việt Nam là tổng thể các quy phạm pháp luật thuộc Hiến pháp, các bộ luật, luật, pháp lệnh và các văn bản dưới luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp điều chỉnh các quan hệ về quốc phòng nảy sinh trong quá trình thực hiện chức năng của Nhà nước và xã hội; đồng thời, quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và quyền thiêng liêng, nghĩa vụ cao quý của công dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.  

Trong thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, hệ thống pháp luật về quốc phòng của Việt Nam đã từng bước được hoàn thiện. Trong năm 2023 này, Quốc hội đã xem xét thông qua hai đạo luật về quốc phòng là: Luật Phòng thủ dân sự  (được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ năm) và Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự (Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ sáu).

Luật Phòng thủ dân sự có phạm vi điều chỉnh rộng, liên quan đến hầu hết lĩnh vực của đời sống xã hội, được xây dựng nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 30-8-2022, của Bộ Chính trị “Về phòng thủ dân sự đến năm 2030 và những năm tiếp theo”, các nghị quyết khác của Đảng có liên quan; quy định cụ thể chế định phòng thủ dân sự trong Luật Quốc phòng năm 2018, theo đó, xác định phòng thủ dân sự là một bộ phận của phòng thủ đất nước, bao gồm các biện pháp phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh, sự cố, thảm họa, thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ nhân dân, cơ quan, tổ chức và nền kinh tế quốc dân.

Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự được xây dựng trên cơ sở luật hóa Pháp lệnh Bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự năm 1994, thể chế hóa các quan điểm của Đảng có liên quan; bổ sung quy định về quản lý, sử dụng và một số nội dung khác nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của công tác này.

Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu “giữ nước từ khi nước chưa nguy”, trong thời gian tới, vẫn cần phải nghiên cứu để sửa đổi hoặc ban hành mới một số luật điều chỉnh về quốc phòng. Trước mắt, cần sửa đổi Luật Nghĩa vụ quân sự và Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ, tổ chức của Quân đội. Hai luật này đang được Bộ Quốc phòng tiến hành tổng kết và đã có nhiều ý kiến, kiến nghị của các cơ quan, đơn vị về sự bất cập, không phù hợp với thực tiễn, cần phải sửa đổi, tạo cơ sở pháp lý cho việc gìn giữ, phát triển tiềm lực quốc phòng để “giữ nước từ khi nước chưa nguy”, chăm lo tốt hơn đời sống của cán bộ, chiến sĩ và hậu phương Quân đội.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Quân ủy Trung ương ngày 25-12 vừa qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu Quân ủy Trung ương tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa chức năng tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng; triển khai hiệu quả việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 8, khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đồng bộ với các chiến lược trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng và các nghị quyết về chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh 6 vùng kinh tế của đất nước. Muốn vậy, cần phải tiếp tục xây dựng và sửa đổi một số đạo luật để đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc từ sớm từ xa, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8, khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, như: Dự án Luật Điều chỉnh về tình trạng khẩn cấp; dự án Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; dự án Luật Tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc...

Đặc biệt, cần phải nghiên cứu để sửa đổi hoặc ban hành mới một số luật điều chỉnh về hoạt động quốc phòng, như xây dựng Luật về kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh, nhằm thể chế hóa, cụ thể hóa chủ trương, nguyên tắc hiến định là: Kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế; chuẩn bị nguồn lực cho kế sách “giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Ngoài ra, cần phải xây dựng các luật chuyên ngành quy định về phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh, về động viên công nghiệp, về tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp; các biện pháp đặc biệt khác để bảo đảm quốc phòng.

Để hệ thống pháp luật về quốc phòng đồng bộ, thống nhất với hệ thống pháp luật chuyên ngành khác, rất cần phải sửa đổi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành theo hướng bổ sung quy trình thẩm tra nội dung bảo đảm quốc phòng đối với tất cả dự án luật, dự thảo nghị quyết, dự án pháp lệnh, để các văn bản này khi được ban hành đều đáp ứng yêu cầu về bảo đảm quốc phòng. Việc pháp điển hóa, hợp nhất các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực quốc phòng cần kịp thời, nhằm tạo thuận lợi trong quá trình áp dụng.

Mặt khác, cũng cần tăng cường giám sát việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết những nội dung của luật, pháp lệnh, nghị quyết, trong đó có nội dung về quốc phòng, khắc phục triệt để tình trạng chậm ban hành, nợ ban hành hoặc ban hành văn bản có dấu hiệu không phù hợp với Hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị quyết; sớm đưa các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống./.

ST.

Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới: Thực hiện kế sách "giữ nước từ khi nước chưa nguy" - Bài 3: Ngăn chặn từ sớm, bảo vệ từ xa (còn nữa)

Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới mà Hội nghị Trung ương 8, khóa XIII vừa thông qua là mưu lược, kế sách quốc gia nhằm xác định mục tiêu, quy tụ lực lượng và lựa chọn giải pháp có tính khả thi, tạo nên sức mạnh tổng hợp để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. Trong đó có những giải pháp đột phá để ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa.

Trên cơ sở phân tích tình hình hiện tại và xu hướng phát triển sắp tới, Hội nghị lần thứ tám của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã đưa ra những dự báo chiến lược: Trong thời gian tới, thế giới và khu vực sẽ tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường.

Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn sẽ ngày càng quyết liệt, thậm chí có nguy cơ xung đột, đối đầu, tạo thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước có độ mở của nền kinh tế cao, sức chống chịu và khả năng cạnh tranh còn hạn chế như Việt Nam. Châu Á - Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Đông Nam Á tiếp tục phát triển năng động nhưng sẽ trở thành trọng điểm cạnh tranh quyết liệt giữa các nước lớn...

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Lữ đoàn Hải quân đánh bộ 147 (Vùng 1 Hải quân) huấn luyện đổ bộ tái chiếm đảo. Ảnh: ĐOÀN HIỆP

Đất nước ta sau gần 40 năm đổi mới, vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức, chúng ta đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng và phát triển đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, 4 nguy cơ mà Đảng ta từng cảnh báo vẫn hiện hữu, có mặt sẽ còn diễn biến phức tạp và gay gắt hơn.

Những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; sự xuống cấp về các giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống; những mâu thuẫn, bức xúc trong xã hội sẽ còn diễn biến phức tạp; phân cực giàu - nghèo có xu hướng ngày càng gia tăng.

Trên một số vùng chiến lược, địa bàn trọng điểm và trong một số nhóm đối tượng còn tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định. Tranh chấp biển, đảo, chủ quyền lãnh thổ, chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng... là những nguy cơ lớn luôn có thể xảy ra. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước sẽ còn câu kết với nhau tăng cường các hoạt động "diễn biến hòa bình", "phi chính trị hóa" lực lượng vũ trang với âm mưu, thủ đoạn chống phá ngày càng tinh vi, công khai và trực diện hơn.

Bối cảnh tình hình mới đòi hỏi chúng ta phải có tư duy mới, tầm nhìn mới về chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, kế sách “giữ nước từ khi nước chưa nguy” của ông cha ta cần phải được phát huy trong thời kỳ mới. Để thực hiện kế sách này trong giai đoạn hiện nay, cần thực hiện tốt phương châm chủ động phòng ngừa, phát hiện vấn đề bắt đầu ngay từ sự khác biệt (chưa phải mâu thuẫn, tranh chấp) để không bị động, bất ngờ.

Chủ động ngăn chặn từ sớm, khi mới xuất hiện mâu thuẫn, bất đồng “điểm nóng” trong phạm vi nhỏ, không để bùng phát, lan rộng “đám cháy nhỏ thành đám cháy lớn” ở trong nước. Đặc biệt, cần cảnh giác trước âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”. Trong đó, lĩnh vực chính trị, tư tưởng được các thế lực thù địch xác định là khâu trọng tâm, đột phá; kinh tế là mũi nhọn; dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là “ngòi nổ”; ngoại giao để hỗ trợ; quân sự để răn đe, hậu thuẫn. Trong quá trình thực hiện, khi có điều kiện, thời cơ và cần thiết sẽ kết hợp với bạo loạn lật đổ, gây xung đột, nội chiến, can thiệp vũ trang, chiến tranh ủy nhiệm... để nhanh chóng đạt được mục tiêu chiến lược.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8, khóa XIII xác định: Bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn dân, trong đó, lực lượng Quân đội, Công an là nòng cốt, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước.

Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh là nguyên tắc bất di bất dịch và là quan điểm nhất quán của Đảng ta. Quan điểm này khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp quốc phòng, an ninh ở nước ta. 

Trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Đảng ta xác định thời gian tới phải chủ động xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, “thế trận lòng dân” vững mạnh. Tập trung xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Trong đó coi trọng “thế trận lòng dân”; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) vững mạnh theo phương châm: “Làng giữ làng, xã giữ xã, huyện giữ huyện, tỉnh giữ tỉnh”, tạo nền tảng cho thế trận quốc phòng toàn dân trong thời bình, sẵn sàng chuyển hóa thành thế trận chiến tranh nhân dân khi đất nước có chiến tranh.

Chủ động nắm, nghiên cứu, phân tích, dự báo chính xác tình hình thế giới, khu vực, trong nước là nội dung quan trọng hàng đầu, nhằm kịp thời cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn để Đảng, Nhà nước hoạch định đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh, đối ngoại, giữ thế chủ động, kịp thời hóa giải các nguy cơ bùng nổ thành xung đột, chiến tranh. Trên cơ sở đó, chuẩn bị sớm về tư tưởng, đường lối, nguồn nhân lực, vật lực, phương thức, phương tiện, phương án phòng ngừa, phát hiện từ sớm, ngăn chặn từ xa, triệt tiêu các nguy cơ, thách thức, nhất là nhân tố bên trong có thể dẫn đến đột biến bất lợi, xử lý hiệu quả mọi mầm mống có thể trở thành những nguy cơ đe dọa sự ổn định của đất nước và công cuộc lao động hòa bình của nhân dân.

Thực tiễn đã chứng minh tính hiệu quả của các chính sách “bang giao hòa hiếu”, mềm dẻo, khôn khéo, tránh “họa binh đao” cho đất nước mà ông cha ta đã sử dụng để bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Kế thừa, phát huy truyền thống và kinh nghiệm đó, hiện nay, hoạt động đối ngoại (ở các cấp độ) được Đảng, Nhà nước ta hết sức coi trọng và luôn xem đó là mặt công tác mũi nhọn, trọng yếu và có vai trò thiết yếu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đảng ta xác định xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với 3 trụ cột: Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới, cần đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác, tạo thế đan xen lợi ích và tăng độ tin cậy. Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc. 

Cần nhận thức sâu sắc phương châm lấy xây dựng làm bảo vệ, chăm lo tự lực, tự cường để đất nước có tiềm lực quốc phòng mạnh, vừa đủ sức tự bảo vệ vừa có khả năng răn đe những thế lực thù địch nếu chúng có ý định nhòm ngó, phá hoại. Coi trọng tự bảo vệ và thực hiện tốt bảo vệ Tổ quốc từ bên trong, từ cơ sở, đồng thời luôn chủ động phòng thủ, ngăn chặn, đẩy lùi sự tiến công, phá hoại từ bên ngoài; kết hợp được bảo vệ và tự bảo vệ.  

Trong thời bình, cần tiếp tục xây dựng và dự trữ tiềm lực quốc phòng bằng giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giữ vững độc lập, tự chủ trong mở rộng hợp tác kinh tế; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, tăng lượng dự trữ quốc gia; gắn phát triển kinh tế với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực, sẵn sàng huy động các nguồn lực cho quốc phòng.

Từng bước hòa nhập công nghiệp quốc phòng vào công nghiệp quốc gia. Đầu tư xây dựng có trọng điểm một số cơ sở công nghiệp quốc phòng tiên tiến, tiến tới hình thành các tập đoàn, tổ hợp công nghiệp quốc phòng lưỡng dụng công nghệ cao, tự chủ; đẩy mạnh hợp tác quốc tế, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Tăng cường triển khai các giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy thuần phong mỹ tục của nền văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại; hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Kiên quyết ngăn chặn sự "xâm lăng văn hóa" từ bên ngoài, các khuynh hướng văn hóa trái với thuần phong mỹ tục Việt Nam.

Khơi dậy mạnh mẽ các nguồn lực nội sinh và ngoại sinh, vật chất và tinh thần, trước hết là chủ nghĩa yêu nước, ý chí độc lập, tự cường, tinh thần tự hào dân tộc, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tính độc lập, tự chủ, sáng tạo, tính nhân văn cao cả của dân tộc, nhằm đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại trong thời gian tới.

Thực hiện có hiệu quả phương châm bảo vệ Tổ quốc từ bên trong, tự bảo vệ, chủ động giữ nghiêm kỷ cương, phép nước. Lấy giáo dục, thuyết phục, phòng ngừa là chính, hạn chế sử dụng bạo lực. Mặt khác, cũng phải kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, không để hình thành các tổ chức chính trị đối lập trong nước./.

ST.

Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới: Thực hiện kế sách "giữ nước từ khi nước chưa nguy"-Bài 2: Xây dựng, củng cố tiềm lực quốc phòng trong thời bình

Một trong những giải pháp quan trọng nhất để thực hiện kế sách “giữ nước từ khi nước chưa nguy” là xây dựng và củng cố tiềm lực quốc phòng trong thời bình. Tiềm lực quốc phòng bao gồm nhiều thành tố như tiềm lực chính trị; tiềm lực quân sự; tiềm lực an ninh; tiềm lực kinh tế, văn hóa, xã hội; tiềm lực khoa học-công nghệ...

Tiềm lực quốc phòng là khả năng về nhân lực, vật lực, tài chính, tinh thần ở trong nước và ngoài nước có thể huy động được để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Tiềm lực chính trị là thành tố cơ bản của tiềm lực quốc phòng, chứa đựng trong tố chất con người, truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc và trong hệ thống chính trị; là khả năng tiềm tàng về chính trị có thể huy động nhằm tạo ra sức mạnh để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Xây dựng tiềm lực chính trị quyết định khả năng huy động các yếu tố khác của tiềm lực quốc phòng.

Tiềm lực chính trị biểu hiện ở nhận thức, ý chí, niềm tin, tâm lý, tình cảm, trách nhiệm của nhân dân và lực lượng vũ trang đối với nhiệm vụ quốc phòng của đất nước; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, là kết quả của quá trình xây dựng lâu dài dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự tiếp nối truyền thống dựng nước, giữ nước của dân tộc qua hàng nghìn năm lịch sử.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Phi công Trung đoàn 937, Sư đoàn 370 (Quân chủng Phòng không-Không quân) giảng bình sau chuyến bay huấn luyện. Ảnh: CÔNG GIANG

Tiềm lực chính trị được xây dựng trong quá trình xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; thực hiện chính sách tự do tôn giáo và bình đẳng giữa các dân tộc; thông qua thực hiện dân chủ rộng rãi theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Cùng với xây dựng tiềm lực chính trị, để thực hiện kế sách “giữ nước từ khi nước chưa nguy”, trong quá trình xây dựng, củng cố tiềm lực quốc phòng thời bình cũng cần phải đặc biệt chú trọng các tiềm lực khác như: Tiềm lực về kinh tế, văn hóa, xã hội; tiềm lực về khoa học-công nghệ; tiềm lực về quân sự...

Tiềm lực về kinh tế, văn hóa, xã hội được xây dựng đồng thời với việc phát triển đất nước giàu mạnh gắn với xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững chắc từ đường lối, chính sách đến biện pháp cụ thể, từ Trung ương đến địa phương. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; điều chỉnh quy hoạch các vùng, miền có tầm quan trọng chiến lược đối với quốc phòng, an ninh. Phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Tiềm lực khoa học-công nghệ là thành tố có vai trò ngày càng quan trọng trong tiềm lực quốc phòng, tác động trực tiếp đến sự phát triển của khoa học-công nghệ trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, cơ cấu tổ chức lực lượng vũ trang, công tác chỉ huy và quản lý bộ đội... Những yếu tố cơ bản của tiềm lực khoa học-công nghệ là khả năng và trình độ, số lượng và chất lượng nguồn nhân lực; cơ sở vật chất phục vụ cho công tác nghiên cứu, phát triển, phổ biến, ứng dụng khoa học-công nghệ.

Tiềm lực quân sự là khả năng về sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân, dân quân tự vệ và khả năng huy động nhân lực, vật lực phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; là bộ phận nòng cốt của tiềm lực quốc phòng, được xây dựng trên nền tảng của tiềm lực chính trị-tinh thần, kinh tế, văn hóa-xã hội, khoa học-công nghệ. Tiềm lực quân sự bao gồm hai yếu tố cơ bản là con người và vũ khí, trang bị, trong đó con người là nhân tố quyết định.

Tiềm lực quân sự thể hiện ở khả năng duy trì, hoàn thiện và không ngừng phát triển sức mạnh chiến đấu, trình độ sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang, biểu hiện ở nguồn dự trữ về sức người, sức của phục vụ cho nhiệm vụ quốc phòng, quân sự. Tiềm lực quân sự còn thể hiện ở khả năng động viên công nghiệp, nông nghiệp, khoa học kỹ thuật, giao thông vận tải và các ngành dịch vụ khác phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, quân sự, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.

10 năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã luôn kiên định, bám sát mục tiêu, nguyên tắc của xây dựng, củng cố tiềm lực quốc phòng trong thời bình để hoạch định đường lối, chính sách, chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh thế giới, khu vực có nhiều biến động phức tạp, khó lường. Từ phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, "giữ nước từ khi nước chưa nguy" nói chung, chúng ta đã từng bước xây dựng được các thế trận bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, trên các môi trường tác chiến và một số loại hình, lĩnh vực hoạt động xã hội khác.

Thành tích đáng ghi nhận là trong những năm qua chúng ta đã thường xuyên bám sát cơ sở, địa bàn, chủ động đấu tranh với các âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, bất tuân dân sự... của các thế lực thù địch, xử lý đúng đắn mọi tình huống tranh chấp, gây mất ổn định chính trị-xã hội, kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thông qua việc kiên quyết xử lý những vụ vi phạm pháp luật, bảo đảm "không có vùng cấm"; đẩy mạnh đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng, trong đó có đường lối, quan điểm, phương châm về bảo vệ Tổ quốc.

10 năm qua, mặc dù trên thực tế đã xảy ra không ít vướng mắc, bất đồng, nhưng việc giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn giữa nước ta và các quốc gia khác đã giữ vững và tuân thủ có hiệu quả phương châm giữ “trong ấm, ngoài êm”, giữ nước từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy; giữ vững ổn định chính trị, kinh tế, xã hội, có thái độ kiên trì, nhẫn nại, tránh nóng vội chủ quan; bằng các biện pháp hòa bình, chống dùng vũ lực, hoặc đe dọa dùng vũ lực; trên cơ sở luật pháp quốc tế; tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân trong nước và quốc tế.

Chúng ta đã kiên trì đi từ tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, đối thoại, sử dụng toàn diện các biện pháp kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, an ninh, ngoại giao, pháp lý... (tức là các biện pháp phi bạo lực), đến tạo áp lực trong dư luận quần chúng nhân dân cả trong nước và quốc tế lên án, phản đối; kết hợp đấu tranh pháp lý với đấu tranh trên thực địa để kiên quyết giữ vững chủ quyền, lợi ích quốc gia-dân tộc.

Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Trong 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới vừa qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết, nỗ lực phấn đấu, đạt được những thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Tuy nhiên, việc xây dựng, dự trữ tiềm lực quốc phòng trong những năm qua cũng còn bộc lộ một số hạn chế, như: Công tác bám nắm tình hình, nhất là tình hình cơ sở và những diễn biến phức tạp trên một số địa bàn chiến lược, trọng điểm, vùng biên giới, biển, đảo, kể cả không gian mạng có lúc, có nơi, có việc còn chậm, chưa thật chắc chắn, xử lý có việc còn lúng túng, chưa kịp thời, hiệu quả. Kế sách “giữ nước từ khi nước chưa nguy” trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng; bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc trên không gian thực và không gian mạng, không gian vũ trụ; tác chiến chiến lược trong một số loại hình chiến tranh mới là những vấn đề lớn, đặt ra sự cần thiết phải đổi mới việc xây dựng và dự trữ tiềm lực quốc phòng./.

ST.

Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới: Thực hiện kế sách "giữ nước từ khi nước chưa nguy" - Bài 1: Bài học gắn liền dựng nước với giữ nước

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII vừa qua là đã xây dựng và ban hành Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Phát biểu kết luận hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Tăng cường đầu tư thích đáng cho việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, lực lượng vũ trang nhân dân, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy; tuyệt đối không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống”... Loạt bài viết này sẽ đề cập đến các vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để thực hiện tốt chiến lược bảo vệ Tổ quốc “từ khi nước chưa nguy”.

Bài 1: Bài học gắn liền dựng nước với giữ nước

Thực tiễn trong quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay cho thấy, thời đại nào, triều đại nào mà thực hiện tốt kế sách “giữ nước từ khi nước chưa nguy” thì độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ được giữ vững...

Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam đã khẳng định một chân lý: Dựng nước phải đi đôi với giữ nước. Chân lý đó đã trở thành truyền thống quý báu của dân tộc, đồng thời là một quy luật nội tại của quá trình xây dựng và phát triển bền vững đất nước. Lúc đất nước yên bình, hiển nhiên là phải tập trung vào nhiệm vụ dựng nước, chăm lo làm giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, bảo tồn được văn hóa dân tộc, xã hội phồn vinh và sẵn sàng, chủ động ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh. “Ngụ binh ư nông” (gửi binh lính ở nhà nông) là một chính sách đặc sắc của các triều đại Lý, Trần, Lê... Quân chủ lực triều đình không nhiều, chủ yếu là quân địa phương tập trung theo từng phiên, nuôi quân đỡ tốn kém, bảo đảm sức lao động cho nông nghiệp, mà khi có chiến tranh, huy động được tối đa trai tráng cầm súng đánh giặc. 

“Động binh tĩnh dân”, “bách tính giai binh”, “tận dân vi binh”... là những kế sách độc đáo của cha ông ta để giữ nước từ lúc nước chưa nguy, chăm lo quốc phòng, an ninh, giữ vững chủ quyền, bờ cõi, răn đe, ngăn chặn các hành vi xâm hại chủ quyền lãnh thổ của đất nước.

Thực tiễn quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam hàng nghìn năm qua cho thấy, thời đại nào, triều đại nào mà gắn chặt dựng nước đi đôi với lo giữ nước, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”, xây dựng đất nước theo quan điểm “quốc phú, binh cường”, “biên cường, quốc thịnh” thì độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ được giữ vững; thời đại nào, triều đại nào không gắn chặt giữa dựng và giữ nước, không lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy, để nước nghèo, dân đói, xã hội lạc hậu, quốc phòng và an ninh không được củng cố, nội bộ mâu thuẫn sẽ tạo ra điều kiện thuận lợi để kẻ thù tiến công xâm lược. 

Trần Quang Khải (1241-1294), nhà chính trị, quân sự thời Trần, đã từng nói: “Thái bình tu trí lực. Vạn cổ thử giang sơn” (có nghĩa là: Thái bình nên tu dưỡng trí lực, vật lực. Đất nước vững nghìn thu). Vua Lê Thái Tổ (1385-1433) căn dặn muôn dân trăm họ: "Biên phòng hảo vị trù phương lược. Xã tắc ưng tu kế cửu an" (có nghĩa là: Biên phòng cần có phương án, chiến lược tốt. Đất nước phải có kế lâu dài). 

Bài học kết hợp chặt chẽ dựng nước đi đôi với lo giữ nước, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” trong lịch sử dân tộc được Ðảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển thành tư tưởng chỉ đạo chiến lược, kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, kết hợp giữa kháng chiến với kiến quốc.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
 Quân đoàn 12 và các lực lượng phối thuộc thực hiện nhiệm vụ diễn tập, bắn đạn thật năm 2023. Ảnh: SƠN BÌNH

Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội và bước vào công cuộc đổi mới, bài học dựng nước đi đôi với giữ nước, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” của dân tộc được Ðảng Cộng sản Việt Nam đưa lên tầm cao mới. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991 chỉ rõ: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng”. 

Quan điểm “giữ nước từ khi nước chưa nguy” của Đảng ta được thể hiện rõ nét trong Nghị quyết Trung ương 8, khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới (Nghị quyết số 28-NQ/TW, ban hành năm 2013).

Phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Cách đây 10 năm, Hội nghị Trung ương 8, khóa XI đã ban hành Nghị quyết về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới với sự đổi mới tư duy mạnh mẽ và có nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp mang tính đột phá, khả thi cao. Tổng kết 10 năm thực hiện nghị quyết quan trọng này là việc làm hết sức cần thiết để Trung ương phân tích, đánh giá một cách toàn diện, sâu sắc, có hệ thống tình hình và đề ra các chủ trương, chính sách, biện pháp đúng đắn, phù hợp, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực đã và đang có nhiều diễn biến mới, phức tạp, khó lường”. 

Thảo luận tại Hội nghị Trung ương 8, khóa XIII, các đại biểu đều nhất trí cho rằng, trong 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8, khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết, nỗ lực phấn đấu, đạt được những thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Chúng ta đã giữ vững được thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ; khôn khéo, mềm dẻo, linh hoạt trong xử trí các tình huống, ngăn ngừa nguy cơ xung đột, nhất là các tình huống trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo; đề xuất rất sát những chủ trương, đối sách, giải pháp cơ bản, lâu dài trước những tác động, ảnh hưởng của tình hình thế giới đối với Quân đội và giải pháp xây dựng Quân đội trong tình hình mới, nhất là xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ. Xây dựng tiềm lực kinh tế của nền quốc phòng toàn dân theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giữ vững độc lập, tự chủ trong mở rộng hợp tác kinh tế; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, tăng lượng dự trữ quốc gia; gắn phát triển kinh tế với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực, sẵn sàng huy động các nguồn lực cho quốc phòng. Tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, bảo đảm không phụ thuộc vào một thị trường, một đối tác cụ thể; chủ động ứng phó hiệu quả với tác động tiêu cực, gây sức ép thông qua kinh tế từ bên ngoài.../.

ST. 

Những quan điểm cơ bản thể hiện tư duy mới của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Nghiên cứu tư duy mới của Đảng ta về những quan điểm cơ bản về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa chính là việc vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện và hoàn cảnh mới nhằm: kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tăng cường tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, dự báo chính xác và kịp thời, xử lý hiệu quả các vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn, giải quyết tốt các mối quan hệ phản ánh quy luật đổi mới và phát triển ở nước ta, tất cả vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Kể từ Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI, tư duy mới của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc đã hình thành và được phát triển qua các kỳ đại hội sau này, tập trung vào các vấn đề cơ bản là: Độc lập dân tộc; Chủ quyền quốc gia; Bảo vệ Tổ quốc gắn với bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, củng cố quốc phòng - an ninh gắn với xây dựng lực lượng vũ trang theo hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”. Kế thừa tư duy mới về quan điểm xây dựng, củng cố quốc phòng - an ninh của các kỳ Đại hội trước và yêu cầu của thực tiễn đặt ra, Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XII đã khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội. Củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân vững chắc; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng”.

Đây là một trong những nội dung rất quan trọng trong Báo cáo chính trị của Đảng tại Đại hội. Sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trong 30 năm qua (1986-2016) đã đạt được những thành tựu rất to lớn. Theo đó, nền kinh tế vượt qua được nhiều khó khăn, thách thức, quy mô và tiềm lực được nâng lên; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát; tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức hợp lý… An sinh xã hội được quan tâm nhiều hơn và cơ bản được cải thiện; chính trị xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Vị thế, uy tín quốc tế của nước ta tiếp tục được nâng cao, chúng ta đang vững bước trên con đường đổi mới!

Quan điểm cơ bản thể hiện sự phát triển tư duy lý luận, nhận thức thực tiễn của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới là: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Như vậy, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu xuyên suốt của cách mạng Việt Nam, là con đường duy nhất đúng đắn mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã lựa chọn. Trong mối quan hệ biện chứng, hữu cơ đó, độc lập dân tộc là mục tiêu, tiền đề, điều kiện tiên quyết để chúng ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Không có độc lập dân tộc thì không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Thực tế cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ tiến lên chủ nghĩa xã hội, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động khỏi ách áp bức, bóc lột, đưa nhân dân lao động từ địa vị nô lệ, lầm than đến địa vị làm chủ xã hội, xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng giàu đẹp văn minh, tiến bộ.

Hiện nay, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, cách mạng Việt Nam đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức; trong đó, thách thức gay gắt nhất là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ. Mục đích của chúng là lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân Việt Nam đã xây dựng sau khi giành được độc lập, chủ quyền lãnh thổ, thống nhất Tổ quốc sau 30 năm chiến tranh giải phóng (1945-1975). Do đó, chúng ta phải “kiên quyết, kiên trì” đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động của các thế lực thù địch, nhất là thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội. Thông qua đó, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng và sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với cách mạng Việt Nam nói chung, đối với quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng. Đây là một cuộc đấu tranh không khói súng nhưng đầy cam go, thách thức và hết sức quyết liệt, diễn ra từng ngày, từng giờ và trong thời gian tương đối dài. Vì vậy, toàn quân, toàn dân phải luôn đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên quyết và chủ động đấu tranh, đồng thời phải kiên trì thực hiện các biện pháp phòng, chống, không để xảy ra bạo loạn, khủng bố và các điểm nóng, giữ vững ổn định chính trị - trật tự an toàn xã hội để phát triển đất nước. Nội hàm “kiên quyết, kiên trì đấu tranh” chính là tư duy mới của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nội dung cốt lõi là: Xây dựng ý chí quyết tâm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền phải gắn chặt với sự kiên trì, bền bỉ đấu tranh của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân để bảo vệ Tổ quốc trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Đó chính là tính thống nhất biện chứng của vấn đề xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa luôn gắn bó chặt chẽ với nhau.

Lịch sử Việt Nam đã chứng minh khi đất nước bị giặc ngoại xâm, chúng ta không chỉ kiên quyết đứng lên đấu tranh mà còn phải kiên trì đấu tranh thì mới giành được thắng lợi cuối cùng. Cuộc kháng chiến chống quân Minh của nhà Lê kéo dài 10 năm, cuộc kháng chiến chống Pháp kéo dài 9 năm và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kéo dài 21 năm đã chứng minh cho điều đó.

Nước ta có vị trí địa chiến lược trong khu vực. Từ trong lịch sử dựng nước và giữ nước, Tổ quốc Việt Nam luôn bị các thế lực ngoại bang tìm cách xâm lược. Do đó, lịch sử Việt Nam là lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, lịch sử dựng nước gắn liền với giữ nước. Tinh thần kiên quyết đấu tranh vì nền độc lập tự do cho dân tộc “Không có gì qúy hơn độc lập, tự do” luôn gắn với thái độ kiên trì mềm dẻo “lấy chí nhân thay cường bạo”, luôn được các thế hệ người Việt Nam phát huy. Bởi lẽ, dân tộc chúng ta thường xuyên phải đương đầu với kẻ thù xâm lược có tiềm lực kinh tế, quân sự hơn hẳn nên chúng ta khó có thể giành thắng lợi nếu thiếu đi yếu tố “kiên quyết, kiên trì”. Trên thực tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh là phương châm chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng ta đối với tất cả các vấn đề có liên quan đến độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia. Kiên trì đấu tranh là phương châm chỉ đạo, hoàn toàn không mâu thuẫn với ý chí kiên quyết và không đồng nghĩa với tư tưởng nhân nhượng, thỏa hiệp. Chỉ có như vậy, chúng ta mới bảo đảm được lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình ổn định để xây dựng và phát triển đất nước, đồng thời góp phần bảo đảm an ninh ở khu vực và trên thế giới. 

Đặc biệt là vấn đề chủ quyền trên Biển Đông. Trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch lợi dụng tình hình phức tạp ở biển Đông để kích động phá hoại mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước trong khu vực. Chúng ta cần nhận thức rõ: Tình hình tranh chấp trên biển Đông là rất phức tạp, không thể giải quyết một cách nhanh chóng. Đây là cuộc đấu tranh lâu dài và bền bỉ. Chúng ta không thể nóng vội. Chúng ta phải bình tĩnh, kiên trì giải quyết những tranh chấp, mâu thuẫn, những khác biệt bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (1982); Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), tiến tới Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), chủ động phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả các nguy cơ dẫn đến xung đột, làm phức tạp thêm tình hình.

Nghị quyết Đại hội XII của Đảng còn khẳng định: Phải đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết; kiên định độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi; kết hợp và phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc chính là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, là sự kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Đây là một trong những quy luật cơ bản giành thắng lợi của cách mạng Việt Nam, trong cả thời kỳ chiến tranh giải phóng và trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc là do rất nhiều yếu tố tạo thành, như: Chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, khoa học - kỹ thuật và công nghệ, sức mạnh của sự kết hợp giữa con người và vũ khí, trang bị, giữa sức mạnh của đất nước và sức mạnh của quốc tế. Nhưng yếu tố giữ vai trò quyết định bao giờ cũng là sức mạnh trong nước, sức mạnh dân tộc, mà biểu hiện tập trung nhất là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy chúng ta rằng: “Hễ một dân tộc đã đứng lên kiên quyết tranh đấu cho Tổ quốc họ thì không ai, không lực lượng gì chiến thắng được họ” và: “Muốn cách mạng thành công thì phải đoàn kết dân chúng lại…”, “phải có Đảng vững bền, phải bền gan, phải thống nhất”(1) Sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng là một bộ phận trong toàn bộ sức mạnh dân tộc và là nhân tố cơ bản nhất để tạo ra các nhân tố khác của sức mạnh dân tộc.

Mục tiêu trọng yếu quốc phòng - an ninh được Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XII khẳng định: Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

Để đạt được những nội dung trên, chúng ta phải kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Trong mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh của thời đại thì sức mạnh dân tộc giữ vai trò quyết định, từ việc xác định mục tiêu, phương hướng, nội dung đến lộ trình, bước đi, giải pháp; cả trong xây dựng, khai thác, sử dụng, phát huy sức mạnh thời đại và kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Trong thời gian tới, tình hình quốc tế và khu vực đang và sẽ còn có nhiều biến động phức tạp, khó lường, để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa chúng ta vẫn tiếp tục khai thác các nhân tố của sức mạnh thời đại, trên cơ sở kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc nền độc lập, tự do của Tổ quốc.

Lực lượng quốc phòng toàn dân và lực lượng an ninh nhân dân bao gồm con người, phương tiện vật chất và các khả năng khác được xây dựng để sử dụng vào việc răn đe, ngăn chặn, đập tan mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, bảo đảm giữ vững độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia. Mức độ huy động lực lượng quốc phòng và lực lượng an ninh của một quốc gia phụ thuộc trực tiếp vào mục đích, tính chất của sự nghiệp phòng thủ đất nước, vào bản chất của chế độ xã hội và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện có. Do đó, ngay từ trong thời bình, chúng ta khẩn trương xây dựng, củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc, tức là bố trí lực lượng toàn diện, toàn dân trên từng vùng lãnh thổ và trong cả nước một cách hợp lý nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

ST.

Cử tri đề nghị Quốc hội, Chính phủ tiếp tục quan tâm đến chính sách tiền lương cho đội ngũ cán bộ, công chức

 Cử tri đề nghị Quốc hội, Chính phủ tiếp tục quan tâm đến chính sách tiền lương cho đội ngũ cán bộ, công chức và chính sách hỗ trợ cho đội ngũ cán bộ cơ sở, cán bộ không chuyên trách, cán bộ các tổ chức Hội, đoàn thể, hiện còn nhiều khó khăn; liên quan đến Dự án Luật đất đai sửa đổi, một số ý kiến cho rằng trong dự thảo Luật lần này có nội dung sử dụng nhà chung cư có thời hạn là chưa hợp lý, trong khi thực tế hiện nay, mâu thuẫn, tranh chấp giữa Chủ đầu tư, Ban quản lý và cư dân đang xảy ra trong rất nhiều chung cư gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự chung; đề nghị Quốc hội khi thảo luận, xây dựng dự thảo Luật liên quan đến đất đai, nhà ở cần làm rõ và khắc phục những bất cập này và rất mong Chính phủ, Bộ ngành, các cấp chính quyền tăng cường quản lý, kiểm tra, xử lý nghiêm vi phạm để đảm bảo pháp luật thực sự đi vào cuộc sống, phục vụ đời sống…

Nhấn mạnh cử tri có vai trò ý nghĩa quan trọng trong quá trình giám sát, phản biện quá trình thực thi các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: "Tại sao trước mỗi kỳ họp chúng ta phải tiếp xúc cử tri tiếp đó, sau kỳ họp phải báo cáo kết quả xin ý kiến cử tri mục đích là để cử tri đóng góp tới Quốc hội, Quốc hội xem xét luật pháp đã phản ánh đúng nguyện vọng của cử tri chưa và triển khai thực hiện có đúng đường lối của Đảng Nhà nước hay không. Tôi cho rằng cử tri và nhân dân có vai trò quan trọng trong hoạt động giám sát, kiểm tra, đây là điều cơ bản và tất cả được quy định bởi pháp luật. Ý kiến của nhân dân là quan trọng lắm vì dân là người trực tiếp thụ hưởng và hiểu tất cả".

NXV

Cán bộ và nhân dân rất phấn khởi về chính sách đối ngoại của đất nước ta

 Chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng thống Hoa Kỳ tới nước ta theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, kết quả đã nâng quan hệ Việt - Mỹ lên tầm đối tác chiến lược toàn diện, Mỹ khẳng định ủng hộ Việt Nam là quốc gia mạnh, độc lập, tự cường và thịnh vượng, từ đó cho thấy vai trò, uy tín của Đảng cộng sản Việt Nam và Đất nước ta được nâng cao trên trường quốc tế, như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần phát biểu, với tất cả sự khiêm tốn nước ta chưa bao giờ có được có cơ đồ, tiềm lực, uy tín vị trí quốc tế như ngày nay.

Bên cạnh đó, cử tri cũng cho rằng, công cuộc phòng chống tham nhũng do Đảng ta tiến hành và đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vẫn đang diễn ra quyết liệt, hiệu quả, thể hiện sự quyết tâm rất lớn của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta làm trong sạch bộ máy, củng cố thêm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, việc xử lý cán bộ vi phạm có nhiều bước tiến lớn, toàn diện.

NXV

Tăng cường xây dựng Đảng về đạo đức

 Tăng cường xây dựng Đảng về đạo đức

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Người coi đạo đức là cái gốc của người cách mạng. Trong công cuộc đổi mới, do tác động bởi mặt trái của kinh tế thị trường và chính sách mở cửa, những tiêu cực nảy sinh, phát triển trong đời sống xã hội và trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tháng 1-1994, Đảng xác định tham nhũng, lãng phí là một trong bốn nguy cơ lớn. Ngày 26-6-1992, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TW, “Về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng”. Nghị quyết nêu rõ: “Xây dựng đạo đức cách mạng và lối sống lành mạnh của cán bộ, đảng viên trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế. Cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trước hết. Nêu cao tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường, gương mẫu trong lao động, cần kiệm xây dựng và bảo vệ đất nước, làm cho dân giàu nước mạnh; giữ gìn, phát huy truyền thống và bản sắc tốt đẹp của dân tộc”.

Vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức càng trở nên bức thiết khi một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI (tháng 1-2012) và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII (tháng 10-2016) đã thẳng thắn đánh giá. Đại hội XII của Đảng (tháng 1-2016) đặt nhiệm vụ xây dựng Đảng về đạo đức ngang với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: “Tăng cường rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng”, “Kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm”.

Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và những tiêu cực khác trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đã có được những kết quả rất quan trọng, góp phần củng cố và nâng cao niềm tin trong Đảng và nhân dân. Đảng đã đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng gắn liền với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Kinh nghiệm cho thấy, việc nâng cao đạo đức cách mạng, xây dựng Đảng về đạo đức phải kết hợp chặt chẽ giữa tăng cường giáo dục của Đảng; giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương với việc ra sức tự tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên, nêu cao trách nhiệm nêu gương, trong đó có nêu gương về đạo đức, lối sống.

 

Nâng cao chất lượng xây dựng tổ chức và cán bộ trong công tác xây dựng Đảng hiện nay

 Nâng cao chất lượng xây dựng tổ chức và cán bộ trong công tác xây dựng Đảng hiện nay

Để bảo đảm hoạt động lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, nhiệm vụ xây dựng Đảng về tổ chức và cán bộ có vai trò quyết định. Đảng không ngừng kiện toàn hệ thống tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở, phát triển đội ngũ đảng viên, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp ngang tầm nhiệm vụ. Đại hội VI (năm 1986), toàn Đảng có gần 1,9 triệu đảng viên; đến Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta có hơn 5,1 triệu đảng viên. Từ yêu cầu của thực tiễn đổi mới, Hội nghị Trung ương 4 khóa X (tháng 1-2007) đã quyết định sắp xếp lại bộ máy tổ chức của Đảng và hệ thống chính trị. Các cơ quan tham mưu giúp Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo gồm 8 ban và không nhất thiết ở Trung ương có ban nào thì địa phương cũng như vậy; Chính phủ gồm 22 bộ, cơ quan ngang bộ và ổn định cho đến nay. Các tổ chức lớn trong bộ máy được thu gọn, nhưng có thực tế là các đơn vị (cục, vụ, viện, phòng, ban) trong đó lại nhiều lên, dẫn đến bộ máy phình to ra; biên chế vẫn tăng. Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” chủ trương: Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; phát huy quyền làm chủ của nhân dân... Chủ trương đó được thực hiện có nhiều thành công ở cả Trung ương và địa phương. Kinh nghiệm cho thấy, nếu có quyết tâm chính trị, giải pháp thích hợp, vì sự nghiệp chung thì dù khó khăn đến mấy Đảng vẫn có thể thực hiện thành công mục tiêu đề ra.

Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII đã thông qua Chiến lược cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (ngày 18-6-1997), với việc tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo của hệ thống chính trị; cán bộ khoa học, chuyên gia các lĩnh vực; cán bộ lực lượng vũ trang và cán bộ quản lý các doanh nghiệp. Thực tiễn đổi mới và hội nhập quốc tế càng đặt ra yêu cầu cần nhận thức sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng, cán bộ là cái gốc của mọi công việc, đào tạo, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng. Hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Đó là bước tiến rất quan trọng trong nhận thức và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ.

Công tác cán bộ có những đổi mới rõ rệt, từ đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, lựa chọn đến chính sách đối với cán bộ. Để chống sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, cần thiết phải tăng cường giáo dục, siết chặt kỷ luật, pháp luật; tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực; kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí, “lợi ích nhóm”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có hiệu quả. Nhưng điều rất căn bản ở đây là, cần hết sức coi trọng việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, “xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết  là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”. Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025 và Đại hội XIII của Đảng đã ghi nhận thành công của công tác cán bộ. Lựa chọn cán bộ lãnh đạo các cấp được thực hiện bài bản, dân chủ, công khai, minh bạch với quy trình 5 bước theo Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019, của Bộ Chính trị, “Về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”, đã lựa chọn được các đồng chí xứng đáng; kiên quyết không để lọt vào cấp ủy, Trung ương những người có dấu hiệu, biểu hiện tham nhũng, lãng phí, “lợi ích nhóm”, bè phái, chạy chức, chạy quyền; bên cạnh đó, kết hợp “xây” và “chống” trong công tác cán bộ được tổng kết sâu sắc. Toàn Đảng cần thực hiện tốt chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đào tạo và bảo vệ cán bộ: “Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”.

Công cuộc đổi mới ngày càng phát triển, Đảng và nhân dân mong muốn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đủ đức, đủ tài ngày càng đông đảo đưa đất nước đi tới chủ nghĩa xã hội, Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, phồn vinh, hạnh phúc. Theo đó, với đội ngũ cán bộ, đảng viên, “đức” là học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, phẩm chất của người chiến sĩ cộng sản; “tài” là làm chủ tri thức, học vấn hiện đại, nhất là trong điều kiện cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. V.I. Lê-nin từng nhấn mạnh, muốn xây dựng thành công xã hội cộng sản thì phải có trí tuệ, học thức cao. Chủ nghĩa cộng sản thì “chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở một nền học vấn hiện đại, và nếu họ không có nền học vấn đó, thì chủ nghĩa cộng sản vẫn chỉ là một nguyện vọng mà thôi”.

Đổi mới phương thức lãnh đạo là yêu cầu khách quan để nâng cao năng lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng. Phải dựa trên việc thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, như nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ, trên cơ sở phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, chống quan liêu, mệnh lệnh, thiếu trách nhiệm, vô cảm, xa dân; nguyên tắc đoàn kết, thống nhất trong Đảng dựa trên cơ sở Cương lĩnh, đường lối, hệ tư tưởng và tình thương yêu đồng chí, dựa trên kỷ luật của Đảng; nguyên tắc tự phê bình và phê bình, trong đó phê bình và tự phê bình phải thật chân thành, trung thực, nghiêm túc, xây dựng, có lý, có tình; nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, bàn bạc, lắng nghe ý kiến của nhân dân, hiểu dân, tin dân và vì dân.

 

Đảng lãnh đạo, cầm quyền bằng Cương lĩnh, đường lối và lãnh đạo Nhà nước cụ thể hóa, thể chế hóa đường lối thành chính sách, pháp luật; lãnh đạo bằng hệ thống tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên; bằng công tác kiểm tra và kỷ luật của Đảng; bằng trực tiếp vận động, tổ chức nhân dân thực hiện đường lối và thông qua các đoàn thể trong hệ thống chính trị; lãnh đạo bằng uy tín chính trị, bằng sự cảm hóa và nêu gương. Đó là nội dung và cũng là những kinh nghiệm quan trọng trong sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ là yếu tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng.

Đại hội XIII của Đảng đề ra nhiệm vụ, giải pháp quan trọng: “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”; “Kết hợp hài hòa, chặt chẽ và có hiệu quả giữa xây dựng với chỉnh đốn Đảng, giữa xây dựng Đảng với bảo vệ Đảng”; tập trung xây dựng Đảng về đạo đức, gắn với học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đi đôi với việc củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên; nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước về thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng; đổi mới tổ chức, bộ máy, nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị  - xã hội...