Thứ Năm, 4 tháng 1, 2024

CẢNH GIÁC VỚI THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 


Với thủ đoạn lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội, khai thác thông tin trên báo chí chính thống về những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống xã hội để hư cấu, xuyên tạc, thổi phồng, lấy hiện tượng quy kết thành bản chất, đăng tải thông tin thật - giả lẫn lộn, đưa ra cái gọi là “tài liệu chứng minh” để tuyên truyền, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước.

Chúng thường tung ra những thông tin bịa đặt về bí mật nội bộ Đảng nhằm tác động, làm gia tăng các biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, qua đó tác động, thẩm thấu vào một bộ phận cán bộ lão thành cách mạng, trí thức, văn nghệ sĩ để chính họ bộc lộ, đưa ra những quan điểm không đồng thuận, phản biện vô nguyên tắc, phản đối gay gắt với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kêu gọi từ bỏ Đảng, xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin. Thúc đẩy lối sống thực dụng, tư tưởng bất mãn, văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, nhất là thế hệ trẻ nhằm làm phai nhạt lý tưởng cách mạng, băng hoại đạo đức xã hội.

Trong thời gian qua, các tổ chức phản động ở bên ngoài tiếp tục duy trì, lập mới hàng nghìn website, blog, fanpage Facebook nhằm đẩy mạnh chiến dịch “chiến tranh tâm lý”, tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước; xuyên tạc chia rẽ nội bộ, gieo rắc tâm lý hoang mang, hoài nghi, bất bình trong nhân dân đối với chế độ.

Trong 5 năm qua, đặc biệt trong thời gian Đảng ta chuẩn bị tổ chức Đại hội XIII, chúng tập trung vào một số hoạt động sau:

Tạo lập hàng ngàn trang mạng xã hội, mới nhất là các kênh YouTube Nguyễn Văn Đài, Lê Dũng Vova,… trong đó nhiều trang giả mạo cá nhân, tổ chức có uy tín, núp dưới danh nghĩa tôn giáo, bảo vệ môi trường, dân sinh để thu hút người đọc, qua đó lan truyền các nội dung chống Đảng, Nhà nước.

Sử dụng các đài, báo bên ngoài kết hợp các kênh mạng xã hội để viết bài, cắt ghép, nhào nặn video xuyên tạc, phê phán Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp.

Lan toả các thông tin lượm lặt từ báo chí trong nước và từ tài khoản Facebook của một số cá nhân có quan điểm cực đoan trong nước nhằm phê phán chính quyền, Đại hội Đảng các cấp.

Tổ chức soạn thảo, phát tán “thư ngỏ”, “tâm thư”, “kiến nghị”, “đơn kêu cứu”,… để thu hút sự chú ý của dư luận, cổ súy hoạt động của một số đối tượng có quan điểm cực đoan. Tổ chức các chương trình, tọa đàm, phỏng vấn một số đối tượng chống đối, một số luật sư có tư tưởng phức tạp, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các Bộ, Ban, ngành để tuyên truyền gây mất đoàn kết nội bộ, hình thành dư luận “lề trái”…

Điểm mới trong phương thức, thủ đoạn tuyên truyền phá hoại tư tưởng so với 5 năm trước là: Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những thành tựu tiên tiến của khoa học công nghệ, ứng dụng các loại hình dịch vụ mới trên không gian mạng để đăng tải, phát tán thông tin sai trái, thù địch trên diện rộng với nhiều bình luận phức tạp. Sử dụng ứng dụng thoại trên internet, thư điện tử, phần mềm chuyên dụng, mạng xã hội để hoạt động chống phá. Chúng lập các nhóm kín trên mạng xã hội phân chia theo khu vực địa lý để tập hợp lực lượng trong nước tham gia tổ chức, chỉ đạo chống phá. Các đối tượng chống đối, bất mãn, khiếu kiện, lợi dụng tôn giáo thường xuyên liên hệ, trao đổi qua mạng với các đối tượng phản động lưu vong để nhận sự giúp đỡ hoặc trả lời phỏng vấn, phát trực tiếp trên mạng xã hội./.

PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG LÀ QUAN ĐIỂM NHẤT QUÁN, XUYÊN SUỐT

 Để phòng, chống tham nhũng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, cần phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo tập

trung, thống nhất của Đảng và Chính phủ; cần xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện rộng rãi

trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân; phải làm cho quần chúng Nhân dân khinh

ghét, xa lánh tham ô, lãng phí; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”; mỗi cán bộ, đảng viên

phải nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Đại hội XIII của Đảng đánh giá:

“Tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp với những

biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội. Tham nhũng vẫn là một trong những nguy

cơ đe dọa của Đảng và chế độ ta”.

Do đó, việc kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là quan điểm nhất quán, xuyên

suốt của Đảng ta, xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng đặt ra. Điều này cũng xuất phát từ vị

thế, uy tín của Đảng trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, từ đòi hỏi công tác xây dựng Đảng

ta trong sạch, vững mạnh, đủ sức chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam. Việc đấu tranh

phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không làm cho nội bộ mất đoàn kết, không phải giữa các

“phe cánh”, “đấu đá” mà góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi các Cương lĩnh, Điều

lệ của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng; tăng cường đoàn

kết, gắn bó máu thịt giữa Đảng với Nhân dân. Chống tham nhũng cũng nhằm thúc đẩy kinh tế -

xã hội phát triển; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững, củng cố niềm tin

vững chắc của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

LỢI DỤNG VIỆC CHỐNG THAM NHŨNG ĐỂ BÔI NHỌ THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ

 Thời gian qua, các thế lực chống phá Việt Nam luôn viện dẫn nhiều lý do để chỉ trích Việt Nam,

khi cuộc chiến chống tham nhũng đang cho thấy hiệu quả rất tích cực thì họ cũng không muốn

điều đó xảy ra. Những thông tin sai trái từ các cá nhân, tổ chức, trung tâm chống phá Việt Nam

về cuộc chiến chống tham nhũng đòi hỏi người dân cần cảnh giác, không phụ họa, chia sẻ trên

mạng xã hội. Với âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, trên diễn đàn mạng xã hội, một số cá

nhân, tổ chức thiếu thiện chí đã lợi dụng công cuộc chống tham nhũng, tiêu cực, chống suy thoái,

biến chất của Đảng, Nhà nước ta để xuyên tạc, bóp méo, cho đó là “cuộc đấu tranh thanh trừng

nội bộ giữa các phe phái và các nhóm lợi ích”, vu cáo Đảng, Nhà nước ta đang ở thế “lưỡng nan

đối nghịch” với hàm ý chống tham nhũng nhưng không muốn thay đổi thể chế chính trị!

Lợi dụng một số vụ việc tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng

viên được phát hiện trong thời gian gần đây, đặc biệt là liên quan đến vụ kit test Việt Á, vụ

“chuyến bay giải cứu”, các cá nhân, tổ chức thù địch đã lấy hiện tượng làm bản chất, quy chụp

rằng toàn bộ đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước “đang rơi vào tình trạng tham nhũng, tiêu cực,

suy thoái, thoái hóa, biến chất”. Họ vu cáo rằng, đó là bản chất, là “căn bệnh nan y, kinh niên”

của chế độ độc đảng cầm quyền.

Nhiều bài viết còn phủ nhận những kết quả về công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng,

tiêu cực trong đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước ta khi cho rằng, Đảng, Nhà nước đã phát động

chống tham nhũng, suy thoái nhưng đều thất bại, tệ nạn ngày càng gia tăng. Từ đó, số này đưa ra

quan điểm, chỉ có thể chống được tham nhũng khi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập” để

kiểm soát quyền lực, kêu gọi phải thay đổi thể chế thì mới có thể chống tham nhũng, tiêu cực,

suy thoái, biến chất.

Có thể khẳng định, chế độ một đảng lãnh đạo cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ

nạn tham nhũng, suy thoái, biến chất trong đội ngũ cán bộ. Tổ chức Minh bạch quốc tế (AI) đã

từng cho rằng tham nhũng là tệ nạn nhức nhối, xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong số đó,

đa số là các quốc gia thực hiện chế độ đa đảng lãnh đạo, tam quyền phân lập, do giai cấp tư sản

lãnh đạo. Một số quốc gia có biểu hiện nguy hiểm khi tình trạng tham nhũng đã leo đến tận các

nguyên thủ quốc gia như Hàn Quốc, Brazil Colombia, Malaysia; một số quốc gia thuộc nhóm

“nước tham nhũng nghiêm trọng” đều theo thể chế đa đảng, không do Đảng Cộng sản cầm

quyền, lãnh đạo.

Do đó, việc cho rằng, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất là “căn bệnh nan y”, chỉ xảy ra ở

các quốc gia do Đảng Cộng sản lãnh đạo hay ở quốc gia do một đảng lãnh đạo, cầm quyền là

hoàn toàn không đúng với thực tế, là sự quy chụp, suy diễn. Âm mưu của chúng là nhằm gây ra

tình trạng nghi ngờ, hoang mang, gây lầm tưởng tham nhũng phức tạp là do chế độ một đảng

lãnh đạo, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với chế độ. Đồng thời, thông qua đó, các đối

tượng nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội, Nhà nước;

gây tâm lý hoài nghi, dao động, thiếu niềm tin, kích động chống phá Đảng, Nhà nước ta.

QUAN ĐIỂM VỀ PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG CỦA ĐẢNG TA

Đánh giá về nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, trong cuộc họp của Thường trực Ban Chỉ đạo

Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày 18/11/2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú

Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo đã nhấn mạnh: “Càng đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham

nhũng, tiêu cực, Đảng của chúng ta càng mạnh lên, càng củng cố, tăng cường niềm tin của Nhân

dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, làm cho bộ máy trong sạch, siết chặt kỷ luật, kỷ cương,

góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường

quốc phòng, an ninh và đối ngoại, đồng thời bác bỏ luận điệu sai trái của các thế lực xấu, thù

địch, chống đối cho rằng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm

là "đấu đá nội bộ", "phe cánh", |làm "nhụt chí" những người khác.

Với luận điệu “chống tham nhũng làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế” là hoàn toàn không có cơ sở.

Cần phải nhìn nhận, tham nhũng tác động trực tiếp đến sự ổn định và phát triển đối với mọi mặt

của đời sống xã hội. Hành vi này gây ra những hậu quả, tác hại to lớn trên các lĩnh vực như

chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, nhất là đối với kinh tế, tình trạng tham nhũng gây thất thoát

nghiêm trọng tài sản công, bào mòn ngân sách nhà nước để làm lợi cho một số cá nhân, nhóm

người tham nhũng. Tham nhũng còn đe dọa sự ổn định, an ninh xã hội, xâm hại các thể chế và

giá trị dân chủ, các giá trị đạo đức, công lý. Nếu không kịp thời ngăn chặn, tham nhũng sẽ trở

thành mối đe dọa đặc biệt nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội, đe dọa đến tồn vong

của chế độ.

Thực tế, quan điểm trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước Việt Nam

rất rõ ràng, những đối tượng tham nhũng thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Đồng thời,

Nhà nước tạo điều kiện, khuyến khích mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội tích cực thúc đẩy các

hoạt động sản xuất, kinh doanh, thu hút đầu tư, tạo môi trường lành mạnh, trong sạch trong cả

đầu tư công và môi trường đầu tư tư nhân.

Cùng với đó, qua chống tham nhũng, cơ quan chức năng đúc rút những kinh nghiệm, bài học để

tham mưu với Đảng, Nhà nước ban hành cơ chế, chính sách pháp luật nhằm từng bước hoàn

thiện, bịt lỗ hổng để ngăn ngừa tham nhũng. Do đó, không thể cho rằng vì lý do chống tham

nhũng nên nhiều cá nhân sợ không dám làm, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, tác động đến các

chuỗi cung ứng trong kinh tế.

Cần phải nhận thức rằng, tình trạng tham nhũng làm suy giảm các lực lượng cạnh tranh vốn có

của thị trường, gây cản trở sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Tham nhũng làm cạn nguồn

đầu tư nội địa, làm giảm đáng kể các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tham nhũng không

chỉ gây trở ngại cho hoạt động kinh tế vĩ mô mà còn kìm hãm hoạt động của các hãng riêng lẻ.

Chính cuộc chiến chống tham nhũng tại Việt Nam tạo động lực không ngừng cho đầu tư, phát

triển kinh tế, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà đầu tư vào Việt Nam. 

𝐂𝐡ấ𝐩 𝐡à𝐧𝐡 𝐧𝐠𝐡𝐢ê𝐦 𝐜𝐡ỉ đạ𝐨 𝐜ủ𝐚 𝐁𝐚𝐧 𝐂𝐡ấ𝐩 𝐡à𝐧𝐡 𝐓𝐖 Đả𝐧𝐠

Trong bức tranh to lớn của đời sống xã hội, sự đồng thuận và tuân thủ nghị quyết là chìa khóa cho sức mạnh và sự thống nhất của mọi tổ chức. Đặc biệt, trong môi trường chính trị, mỗi nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng không chỉ là hướng dẫn cho hành động mà còn thể hiện nguyên tắc và đường lối của tổ chức. Sự vi phạm không chỉ phản ánh sự sai lệch cá nhân mà còn là thách thức đối với sự đoàn kết và uy tín của cả hệ thống. Sự không tuân thủ chỉ đạo của Đảng trong việc nhìn nhận và đánh giá các sự kiện và nhân vật lịch sử tại một số địa phương, cá nhân, và tổ chức đã gây ra nhiều thắc mắc về tính tuân thủ và sự nghiêm túc trong việc theo đuổi mục tiêu chung của đất nước.


Trong cấu trúc của tổ chức chính trị như Đảng Cộng sản Việt Nam, việc duy trì sự đoàn kết và thống nhất là điều kiện cần thiết để đảm bảo sức mạnh và ổn định của hệ thống. Khi nghị quyết từ Ban Chấp hành Trung ương - cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng - không được tuân thủ, hậu quả không chỉ gây rối loạn nội bộ mà còn ảnh hưởng đến toàn xã hội. Hành vi vi phạm này tạo ra những làn sóng dư luận không mong muốn, làm mất đi tính minh bạch của thông tin và có thể dẫn đến hiểu lầm, hoài nghi trong dư luận. Điều này cũng có thể ảnh hưởng đến niềm tin của người dân vào khả năng lãnh đạo, công bằng và minh bạch của Đảng và Nhà nước, gây ra tác động lâu dài đến sự ổn định và phát triển của đất nước.


Trong việc xây dựng lịch sử đất nước, sự đồng nhất trong việc nhìn nhận và đánh giá các sự kiện và nhân vật lịch sử là rất quan trọng. Điều này không chỉ giúp người dân hiểu sâu sắc về quá khứ mà còn là nền tảng cho giáo dục công dân và tư tưởng lịch sử. Khi một số địa phương, cá nhân hoặc tổ chức tôn vinh những nhân vật lịch sử không phù hợp với đường lối của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, hành động đó không chỉ thể hiện sự không tuân thủ đường lối của Đảng mà còn phản ánh sự thiếu hiểu biết sâu sắc về mục tiêu và tầm quan trọng của việc truyền đạt lịch sử một cách chính xác và phù hợp. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quá trình giáo dục mà còn tạo ra những hiểu lầm về lịch sử, ảnh hưởng xấu đến nhận thức của thế hệ trẻ.


Do đó, việc phê phán là cần thiết. Phê phán không chỉ là lên án hành vi sai trái mà còn là quá trình nâng cao nhận thức về giá trị của việc tuân thủ các nghị quyết quyết và quy định. Điều này đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực giáo dục lịch sử, nơi mà nhận thức đúng đắn và tôn trọng lịch sử đất nước là nền tảng cho việc xây dựng và củng cố nền văn hóa dân tộc. Nâng cao trách nhiệm đối với lịch sử không chỉ là nghĩa vụ của mỗi cá nhân mà còn là trách nhiệm của cả cộng đồng, đảm bảo rằng giá trị lịch sử được bảo tồn và phát huy một cách chính xác và trang trọng.


Bài viết này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ nghị quyết và chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng không chỉ trong giáo dục lịch sử mà còn trong mọi mặt của đời sống xã hội. Điều này góp phần vào việc duy trì trật tự và kỷ cương, là biểu hiện của lòng tôn trọng đối với giá trị văn hóa và lịch sử của dân tộc. Mỗi cá nhân và tổ chức cần nâng cao nhận thức và trách nhiệm trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị này, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước. Đảm bảo tính thống nhất trong tư tưởng và hành động là nền tảng cho xã hội pháp quyền, văn minh và tiên tiến, nơi mỗi người dân ý thức và tự hào về bản sắc dân tộc của mình.

NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM.

 Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng việc các cơ quan tiến

hành tố tụng khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng để

tung ra luận điệu sai trái, xuyên tạc trên các phương tiện truyền thông xã hội.

Đặc biệt gần đây, khi cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, làm rõ những vụ án lớn như vụ án xảy

ra tại Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao và một số bộ, ngành, địa phương (còn gọi là vụ án “chuyến

bay giải cứu”), vụ Việt Á, các đối tượng rêu rao rằng, tham nhũng ở Việt Nam hiện đã trở thành

“hệ thống”, bản chất và muốn chống không còn cách nào khác phải thay đổi cơ chế, phải “xóa bỏ

chế độ”!

Nhiều bài viết vu cáo rằng, đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên là “đấu

đá nội bộ, phe cánh”, “thanh trừng phe phái” nên “ai đen thì chết”! Họ cố tình bôi đen việc thực

hiện công cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta, cho rằng việc bắt bớ nhiều, xử lý nhiều

không làm ai run rợ, không hề có tính cảnh tỉnh, răn đe mà ngược lại, việc xử lý nhiều làm cho

“tình hình thêm phức tạp, nghiêm trọng”! 

Một số bài viết lại quy kết rằng, cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng đang “làm ảnh hưởng

xấu đến kinh tế”. Họ cho rằng, cuộc chiến chống tham nhũng rộng khắp của Đảng Cộng sản Việt

Nam đang khiến cho nhiều giao dịch kinh tế bị tê liệt, có thể ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước

ngoài, giảm xuất khẩu. Suy diễn việc chống tham nhũng làm tê liệt hoạt động kinh doanh, đặc

biệt “nếu việc thực thi pháp luật bị cho là không rõ ràng và có động cơ chính trị”…

Một số bình luận vu cáo, chiến dịch chống tham nhũng của Việt Nam làm tê liệt chuỗi cung ứng

đầu tư, làm “nhà đầu tư nước ngoài lo sợ”!. Họ lập luận rằng, chiến dịch chống tham nhũng ở

Việt Nam đã làm tê liệt nhiều giao dịch thông thường trong nước, gây ra tình trạng thiếu hàng

hóa thiết yếu và làm giảm niềm tin của nhà đầu tư vào một trong những nền kinh tế phát triển

nhanh nhất châu Á.

Các cá nhân, tổ chức chống phá Việt Nam đã chia sẻ những bài viết này lên các trang mạng xã

hội, từ đó đi đến quy kết, xuyên tạc bản chất cuộc chiến chống tham nhũng, hạ uy tín của Việt

Nam trên trường quốc tế, tác động vào tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của người dân, nhất là đối

với các doanh nhân, cán bộ trong bộ máy Nhà nước.

NHỮNG THÀNH TỰU VỀ ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA

 Trong công cuộc đổi mới đất nước, kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, vận

dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp

thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới và tư tưởng tiến bộ của nhân loại, công tác đối ngoại

mang bản sắc “cây tre Việt Nam” đã đạt được nhiều kết quả, thành tích rất tốt đẹp. Từ phá thế bị

bao vây, cấm vận, chúng ta đã tạo dựng và củng cố ngày càng vững chắc cục diện đối ngoại rộng

mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Đến nay, nước ta đã có quan hệ ngoại giao với

189 nước trong tổng số 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, trong đó 3 nước có “quan hệ đặc

biệt”, 17 nước “đối tác chiến lược” và 13 nước “đối tác toàn diện” và là thành viên tích cực và có

trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, như Liên hợp quốc, ASEAN,

APEC, ASEM, WTO... Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân và đối ngoại

của các ngành, lĩnh vực, địa phương, doanh nghiệp ngày càng mở rộng, chủ động, tích cực và đi

vào chiều sâu, góp phần củng cố chính trị, quốc phòng, an ninh; kinh tế, văn hóa - xã hội được

đẩy mạnh, qua đó tăng cường sự tin cậy chính trị và đan xen lợi ích với các đối tác.

Từ việc đẩy mạnh công tác ngoại giao, Việt Nam tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi và huy

động được các nguồn lực từ bên ngoài để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển

kinh tế - xã hội. Nếu cách đây 30 năm, chúng ta mới có quan hệ kinh tế - thương mại với gần 30

nước và vùng lãnh thổ thì đến nay đã có quan hệ kinh tế - thương mại với 230 nước và vùng lãnh

thổ; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đến nay đã đạt khoảng 600 tỉ USD, gấp khoảng 120 lần so

với những năm đầu của thời kỳ đổi mới.

Đối ngoại đã giữ vai trò tiên phong trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, góp phần

quan trọng vào việc bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của

đất nước. Các vấn đề biên giới với các nước liên quan từng bước được giải quyết, tạo điều kiện

thuận lợi nhằm bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ, góp phần củng cố hòa bình, ổn định trong khu vực.

Thực hiện tốt ngoại giao cây tre, kết hợp “cứng” và “mềm”, đề cao hòa hiếu, chúng ta luôn

giương cao ngọn cờ hòa bình, hợp tác, tích cực trao đổi, đàm phán với các nước liên quan kiểm

soát bất đồng, tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài cho các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình

trên cơ sở luật pháp quốc tế. Trên cơ sở đó, vị thế và uy tín quốc tế của nước ta trong khu vực và

trên thế giới ngày càng được nâng cao, đóng góp tích cực và đầy trách nhiệm vào việc giữ vững

hòa bình, hợp tác phát triển và tiến bộ trên thế giới.

PHÁT HUY ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 Báo cáo chính trị Đại hội lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh, Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện

đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá. Báo cáo cũng tái khẳng định

nguyên tắc “4 không” trong chính sách quốc phòng, trong đó mục tiêu tối thượng là bảo vệ lợi

ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế. Khẳng định cam kết của Việt Nam

tiếp tục là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Điểm cốt lõi là sự nhấn mạnh vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc giữ vững môi trường

hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển, nâng cao vị thế và uy

tín của đất nước. Khẳng định ngoại giao giữ vai trò trung tâm và tích cực trong bảo vệ chủ quyền

và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, nâng cao năng lực quốc gia và gia tăng uy tín quốc tế của

Việt Nam. Đồng thời, Đại hội lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh nhu cầu xây dựng một nền

ngoại giao “toàn diện, hiện đại”, bao gồm 3 trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và

đối ngoại nhân dân cũng như sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa những trụ cột trên. Bằng việc bổ

sung nội hàm “toàn diện”, Việt Nam thúc đẩy một cách rõ ràng tất cả các hình thái ngoại giao

chính trị, kinh tế, quốc phòng, công chúng, văn hóa và nghị viện.

Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, công tác đối ngoại luôn giữ vai trò vô cùng quan trọng,

không chỉ góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ mà

còn góp phần to lớn trong xây dựng, phát triển đất nước. Trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa

ngày càng sâu rộng hiện nay, ngoại giao Việt Nam tiếp tục thực hiện sứ mệnh mới, góp phần tạo

dựng và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; đồng thời linh hoạt,

sáng tạo tìm ra phương cách mới thúc đẩy hợp tác quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng

và phát triển kinh tế, nâng cao vị thế và gia tăng tiềm lực đất nước.

LỢI DỤNG TÔN GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

 Mặc dù tự do tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam trong những năm qua đã đạt được những thành tựu

khách quan và rõ ràng như vậy nhưng các thế lực thù địch vẫn thường xuyên sử dụng tôn giáo

hòng thực hiện các mưu đồ chính trị, chống phá Đảng, Nhà nước. Chúng lợi dụng vấn đề dân

chủ, nhân quyền để xuyên tạc, bóp méo, cho rằng Việt Nam “đàn áp tôn giáo”; lợi dụng các vấn

đề chính trị-xã hội phức tạp trong nước để kích động ly khai, biểu tình; lợi dụng sự thiếu hiểu

biết, cả tin của một bộ phận dân chúng để thành lập các “đạo lạ”, các tổ chức núp dưới danh

nghĩa tôn giáo nhưng mang màu sắc chính trị, truyền đạo trái phép. Các đối tượng lồng ghép

những tư tưởng phản động, xuyên tạc bản chất chế độ chính trị, chống đối chủ trương, đường lối,

chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm tạo ra mâu thuẫn giữa tôn giáo với chính quyền, gieo

nên những cái nhìn định kiến, ác cảm; kích động gây rối, làm mất ổn định chính trị-xã hội, gây

mất đoàn kết lương-giáo, chia rẽ dân tộc... Các đối tượng âm mưu lôi kéo đồng bào tôn giáo khỏi

sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của chính quyền, gây sức ép để vô hiệu hóa chính quyền cơ sở,

kích động chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ. Lợi dụng quyền “tự do tôn giáo”, chúng cố tình

đánh tráo khái niệm để cho rằng con người có quyền “tự do tuyệt đối về tôn giáo”, tức là để tôn

giáo đứng ngoài pháp luật.

KHẢ NĂNG “DUNG HÒA” TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

 Một trong những đặc trưng của nền văn hoá Việt Nam là tính dung hoà: người Việt luôn luôn

muốn sống hoà hợp với tự nhiên, dung hoà với xã hội và con người. Mặc dù là một đất nước đa

tôn giáo nhưng với tính cách dung hoà vốn có từ ngàn xưa, người Việt không có tư tưởng kỳ thị

hoặc chia rẽ tôn giáo. Do vị trí địa lý đặc biệt nên từ xa xưa, Việt Nam trở thành nơi giao thoa

của các nền văn hoá trong khu vực và trên thế giới. Mỗi khi có luồng tư tưởng mới, có một tôn

giáo mới du nhập, truyền bá vào nước ta, ông cha ta thường giữ tâm thế “lấy tĩnh chế động” để

quan sát và “gạn đục khơi trong”, tiếp nhận những tinh hoa của nó, đồng thời Việt hoá để nó phù

hợp với tâm lý xã hội, thuần phong, mỹ tục Việt Nam. Có lẽ với đặc tính đó mà ngày nay, chúng

ta rất dễ dàng nhận thấy ở hầu hết các lễ hội tôn giáo, ngoài sự hiện diện của tín đồ còn có rất

nhiều người dân, thậm chí là tín đồ của các tôn giáo khác cũng đến xem lễ, tham quan, du lịch,

tìm hiểu văn hoá, tín ngưỡng… Bức tranh tôn giáo đa dạng đã góp phần làm giàu cho đời sống

tinh thần của người Việt. Những giá trị đạo đức, nhân văn của các tôn giáo, những công trình

kiến trúc, những tác phẩm văn học, nghệ thuật về đời sống tôn giáo… cùng với hệ thống lễ hội

tôn giáo đã tạo nên bức tranh muôn màu của văn hoá Việt Nam.

VIỆC ĐẢM BẢO TỰ DO, TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

 Qua thống kê cho thấy, tính đến nay, chính quyền đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo

khác nhau với trên 27,2 triệu tín đồ, trên 53 nghìn chức sắc, khoảng 148 nghìn chức việc, số

lượng chức sắc, chức việc trong tổ chức tôn giáo có vai trò quan trọng trong tổ chức Giáo hội, là

người thụ hưởng chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, trên 29.718 cơ sở thờ tự… Bên

cạnh đó, hàng năm có trên 8.000 lễ hội về tín ngưỡng, tôn giáo với hàng vạn tín đồ tham gia; các

tổ chức, cá nhân tôn giáo được khuyến khích, tạo điều kiện tham gia các hoạt động an sinh xã

hội, các hoạt động từ thiện, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, các tổ chức tôn giáo có trên 500 cơ sở

khám chữa bệnh, trên 800 cơ sở bảo trợ xã hội, với 300 trường mầm non... Từ năm 2018-2021 đã

cấp phép xuất bản 2.027 ấn phẩm với hơn 7 triệu bản in, trong đó có nhiều xuất bản phẩm được

dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng dân tộc và có 25 tờ báo, tạp chí của các tôn giáo đang hoạt

động. 10 năm qua, thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, cơ quan nhà nước có

thẩm quyền đã cấp hàng trăm hécta đất để xây dựng cơ sở thờ tự. Năm 2022, chính quyền các

cấp đã cấp phép xây dựng, sửa chữa, cải tạo cho 486 cơ sở, tăng 60 cơ sở thờ tự tôn giáo so với

năm 2021; cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung cho 183 điểm nhóm; cấp quyết định xuất bản

cho 140 xuất bản phẩm với 684.250 bản in.

Có thể nói, chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện hoạt động thuận lợi như hiện nay, quan hệ

quốc tế ngày càng mở rộng, chức sắc, chức việc, tín đồ ngày càng đông, cơ sở thờ tự ngày càng

khang trang, việc sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại Việt Nam được công khai theo quy

định của pháp luật, tạo điều kiện để các tổ chức tôn giáo tăng cường giao lưu, học tập, trao đổi

các đoàn với các tổ chức tôn giáo trên thế giới. Từ năm 2011 đến nay đã có gần 2.000 lượt cá

nhân tôn giáo xuất cảnh tham gia khóa đào tạo ở nước ngoài, tham dự hội thảo, hội nghị quốc tế

liên quan đến tôn giáo, gần 500 đoàn nước ngoài với hơn 3.000 lượt người vào Việt Nam để trao

đổi, giao lưu, hướng dẫn tại cơ sở thờ tự ở Việt Nam. Điều đó không chỉ thể hiện sự chăm lo toàn

diện của Đảng, Nhà nước đối với đời sống tôn giáo mà còn là sự tin tưởng, kỳ vọng của đông

đảo chức sắc, tín đồ về đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng qua những giá trị tinh thần cao

đẹp của dân tộc. Những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng,

tôn giáo cho người dân được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi.

VIỆT NAM LÀ MỘT QUỐC GIA ĐA TÔN GIÁO

 Điều 18, Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị nêu rõ: “Quyền tự do của cá nhân

thể hiện tôn giáo hay tín ngưỡng của mình chỉ phải chịu các giới hạn, chẳng hạn như các giới hạn

được luật pháp quy định và các giới hạn cần thiết để bảo vệ an toàn, trật tự, sức khỏe xã hội, hay

tinh thần hoặc các quyền cơ bản và quyền tự do của những người khác”. Như vậy, quyền tự do

tôn giáo hay bất cứ một quyền nào khác trên phương diện pháp lý đều bị giới hạn bởi khuôn khổ

luật pháp.

 Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo. Ở Việt Nam có những tôn giáo nội sinh (Phật giáo Hoà

Hảo, Cao đài…) song hành cùng các tôn giáo du nhập từ bên ngoài (Công giáo, Phật giáo, Tin

lành…). Ở nước ta, các tôn giáo luôn luôn giữ mối đoàn kết và tôn trọng niềm tin tôn giáo lẫn

nhau, đồng hành cùng dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mỗi tôn giáo có đức

tin và hệ thống giáo lý, giáo luật, nghi thức tôn giáo riêng, là đặc trưng để phân biệt tôn giáo này

với tôn giáo khác. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, các tôn giáo vẫn có điểm tương đồng. Người

viết: “Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều

muốn mưu hạnh phúc cho mọi người, mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên

cõi đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ

như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”. Bác phân

tích: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái; Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi; Khổng Tử dạy:

Đạo đức là nhân nghĩa”, từ đó để chỉ cho quần chúng tín đồ thấy rõ, dù theo các tôn giáo khác

nhau nhưng mọi người đều hướng tới điều thiện, xây dựng một xã hội tốt đẹp. Theo Bác, những

giá trị đạo đức của tôn giáo như bác ái, từ bi, nhân nghĩa… rất phù hợp với đạo đức của truyền

thống dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay.

Bên cạnh những giá trị đạo đức, các tôn giáo còn có hệ thống những lễ hội rất phong phú. Trước

đây, việc tổ chức và tham gia lễ hội là công việc nội bộ giáo hội và tín đồ trong đạo. Ngày nay,

rất nhiều lễ hội tôn giáo không còn là chuyện riêng của từng tôn giáo mà nó có sức lan toả, ảnh

hưởng lớn trong cộng đồng xã hội như Lễ Giáng sinh, Phục sinh của đạo Công giáo, đạo Tin

lành; Lễ Phật đản, Vu lan của Phật giáo; Đại lễ Hội Yến Diêu Trì Cung của Hội thánh Cao đài

Tây Ninh…

GIÁNG SINH – DỊP THỂ HIỆN TỰ DO TÍN NGƯỠNG Ở VIỆT NAM

 Lễ Giáng sinh hay còn gọi là Noel ở Việt Nam thường diễn ra từ tối 24 đến hết ngày 25/12, là

thời điểm để mọi người có thể đi lễ, vui chơi, tặng quà và gửi cho nhau những lời chúc tốt đẹp.

Tại Việt Nam, lễ Giáng sinh không chỉ dành cho những người theo đạo Thiên Chúa mà giờ đây

đã trở thành dịp vui chơi của nhiều người, nhất là với giới trẻ.

 Qua đó, lễ Giáng sinh góp phần tạo nên một bức tranh đa sắc màu về tự do, tín ngưỡng tôn giáo

ở Việt Nam, thể hiện tinh thần đại đoàn kết toàn dân. Thực tiễn đó phản bác những luận điệu

xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, vu cáo Việt Nam không có tự do, dân chủ, nhân

quyền, vu cáo Việt Nam “đàn áp tôn giáo”…

HÀNH VI “NÚP BÓNG TÔN GIÁO” LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN TRẬT TỰ XÃ HỘI

Thời gian gần đây tại Việt Nam, do bị đấu tranh mạnh nên hoạt động của tổ chức “Hội thánh của Đức Chúa trời mẹ”  hay còn gọi là “Hội thánh Đức Chúa trời làm chứng cho Chúa Giesu” do Ahn Sahng Hong sáng lập đã được kiềm chế, nhiều người đã tự nguyện bỏ sinh hoạt đạo.

Tại  địa bàn tỉnh Yên Bái, mặc dù hoạt động của Hội thánh của Đức Chúa trời không diễn ra phổ biến, nhưng một số đối tượng vẫn lén lút hoạt động và tìm mọi cách để dụ dỗ, lôi kéo người dân tham gia. Do đó, người dân cần hết sức cảnh giác, kịp thời thông báo cho cơ quan chức năng khi phát hiện hoạt động của các đối tượng này.

Khoảng 14h30 ngày 12/12/2023, trong khi đối tượng Phạm Thị Ngọc Huyền, có HKTT tại số 3, đường An Dương Vương, Quận Tây Hồ, TP Hà Nội là thành viên của tổ chức “Hội thánh của Đức Chúa trời mẹ” đang tổ chức tuyên truyền, vận động, dụ dỗ, lôi kéo các thành viên trong một gia đình tại tổ 12, phường Yên Ninh, TP Yên Bái tham gia “Hội thánh của Đức Chúa trời mẹ” thì bị lực lượng Công an TP Yên Bái phát hiện, kịp thời ngăn chặn. Đồng thời thu giữ nhiều sách, tài liệu và máy tính xách tay có chứa các nội dung tuyên truyền về “Hội thánh của Đức Chúa trời mẹ”. 

“Buổi đầu thì chưa có gì đâu, những cái buổi sau nó mới tăng dần lên. Họ đưa ra những cái vấn đề thực trạng của xã hội bây giờ xong nói là do quỷ sa tăng gây ra. Lúc nào cũng dụ dẫn rất là ngọt ngào để đưa các bác vào làm các việc xấu. Bây giờ các bác muốn tránh các việc xấu thì phải tin theo Chúa. Họ dẫn dắt mình như thế đấy” - Ông Nguyễn Hồng Chuyên, một người dân ở Phường Yên Ninh, TP Yên Bái cho biết.

Theo thông tin từ lực lượng An ninh Công an TP Yên Bái cung cấp, qua rà soát, xác minh, đến thời điểm hiện tại trên địa bàn TP Yên Bái không có các đối tượng cốt cán của tổ chức Hội thánh của Đức Chúa trời mẹ hoạt động và cư trú, tuy nhiên vẫn có các đối tượng thành viên của tổ chức này lén lút hoạt động, tìm cách dụ dỗ, lôi kéo người dân tham gia vào tổ chức Hội thánh của Đức Chúa trời mẹ.

“Cái nguy hiểm nhất là phá vỡ thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam. Cái thứ 2 nó làm cho đình trệ phát triển kinh tế mỗi gia đình, bởi vì họ suốt ngày sa đà vào cái họp hành, đi quyên góp các thứ. Mà cái quyên góp này không phải là để giúp đỡ người nghèo, những trường hợp khó khăn, mà là quyên góp cho cái đạo đức Chúa trời mẹ của họ. Mình xem thì là mỗi tháng là phải bỏ ra 10% thu nhập, chưa kể là còn phải quyên góp này khác.” - Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai, ở tổ 12, Phường Yên Ninh, TP Yên Bái, từng chứng kiến các đối tượng đến tuyên truyền về tổ chức Hội thánh của Đức Chúa trời mẹ chia sẻ.

Thiếu tá Nguyễn Trung Hậu - Đội trưởng Đội An ninh, Công an TP Yên Bái cho biết: Tổ chức Hội thánh của Đức Chúa trời mẹ là một tổ chức tà đạo, hoạt động trái pháp luật, tiềm ẩn nhiều phức tạp, tiêu cực. Đi trái với thuần phong, mỹ tục của dân tộc. Qua một số vụ việc chúng tôi đã điều tra thì cho thấy các đối tượng này còn lợi dụng việc tuyên truyền về tổ chức Hội thánh của Đức Chúa trời mẹ để thực hiện nhiều hành vi vi phạm pháp luật như lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Chính vì vậy người dân cần hết sức cảnh giác, không tin, không nghe theo và kịp thời báo với chính quyền địa phương, lực lượng Công an khi phát hiện hoạt động của các đối tượng này, để kịp thời xử lý”.

“NHÂN QUYỀN” ĐƯỢC TÔN TRỌNG TẠI VIỆT NAM

 Bàn về vấn đề quyền và nghĩa vụ, tại khoản 1, Điều 29, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người

năm 1948 quy định: “Tất cả mọi người đều có những nghĩa vụ với cộng đồng mà ở đó nhân cách

của bản thân họ có thể phát triển một cách tự do và đầy đủ”. Theo khoản 2 điều này thì mỗi

người trong khi hưởng thụ các quyền và tự do cá nhân đều phải chịu những hạn chế do luật định

nhằm bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng các quyền và tự do của người khác...

Ở Việt Nam, khái niệm về quyền con người được thể hiện đậm nét trong bản Tuyên ngôn Độc

lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng công bố tại

Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo

hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được

sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Năm 1945, ngay sau khi nước Việt Nam dân

chủ cộng hòa được khai sinh (nay là Cộng hòa XHCN Việt Nam), quyền con người, quyền công

dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946 và sau đó tiếp tục được khẳng định, mở rộng

trong các Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992, 2013. Hiến pháp năm 2013 là đạo luật gốc, là văn

kiện pháp lý cao nhất của Nhà nước Việt Nam đã ghi nhận một cách toàn diện, cụ thể các quyền

con người và nội dung các quyền này đã được trình bày xuyên suốt trong các chương, mục của

Hiến pháp.

Theo đó, tại Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các

quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận,

tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Đồng thời, cũng tại Điều 14 nêu rõ:

“Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp

cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe

của cộng đồng”. Tại Điều 15, Hiến pháp 2013 quy định rõ nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân:

“Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của

người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực

hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền

và lợi ích hợp pháp của người khác”.

Trên cơ sở Hiến pháp, xuất phát từ quan điểm không ngừng thúc đẩy quyền con người, Nhà nước

Việt Nam đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo đảm các quyền con

người được tôn trọng và thực thi một cách trọn vẹn nhất. Hệ thống pháp luật Việt Nam đã thể

hiện đầy đủ tất cả các quyền cơ bản, phổ biến của con người được nêu trong Tuyên ngôn Nhân

quyền thế giới năm 1948 và các công ước quốc tế khác của Liên hợp quốc về quyền con người.

Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước Việt Nam đều lấy

con người là trung tâm, phấn đấu cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân

chủ, văn minh”, phát triển đất nước phồn vinh, tất cả vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân

dân. Điều này đã được các văn kiện qua các kỳ đại hội Đảng chỉ rõ, đặc biệt Văn kiện Đại hội

XIII của Đảng đã khẳng định: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây

dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống,

nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm

mục tiêu phấn đấu”.

“NHÂN QUYỀN” KHÔNG PHẢI LÀ TUYỆT ĐỐI

 Những âm mưu, thủ đoạn mượn danh “nhân quyền” được tiến hành đều đặn và bung nở mạnh

mẽ khi Liên hợp quốc, các tổ chức trực thuộc và các quốc gia thành viên tiến hành các hoạt động

hướng đến kỷ niệm ngày Nhân quyền quốc tế. Các thế lực thù địch đã triệt để khai thác các tính

năng của Internet, truyền thông, mạng xã hội nhằm làm méo mó bản chất, giá trị ngày Nhân

quyền quốc tế. Mục đích của họ nhằm gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự; quy kết, vu cáo

“Việt Nam không có nhân quyền”, “chính quyền không bảo đảm quyền con người”, từ đó muốn

đưa Việt Nam đi theo các lối nhân quyền kiểu phương Tây; phớt lờ những sáng kiến đóng góp

của Việt Nam cho các hoạt động nhân quyền của Liên hợp quốc…

Quyền con người là những quyền tự nhiên của con người mà không có bất cứ ai, tổ chức, thể chế

chính trị nào có thể tước bỏ. Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc đã đưa ra quan niệm về quyền

con người, đó là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm

chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những tự do cơ bản

của con người.

Tuy nhiên, dưới mọi góc độ nghiên cứu quyền con người đều không có tính tuyệt đối, trong lĩnh

vực nhân quyền, giữa quyền và nghĩa vụ luôn song hành, thống nhất với nhau, không tách rời

nhau. Trong bất kỳ thể chế chính trị nào hiện nay, quyền con người không được xem là quyền

tuyệt đối mà bị giới hạn bởi các quy định của pháp luật để ngăn cản, điều chỉnh, xử lý những

hành vi lạm dụng quyền của cá nhân, tổ chức này xâm hại đến quyền lợi của cá nhân, tổ chức,

Nhà nước. Một số tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền nhưng thiếu thiện chí

với Việt Nam đã không hiểu hoặc cố tình phớt lờ các mối quan hệ trên nên thường có cái nhìn

phiến diện, sai lệch, thiếu khách quan đối với vấn đề nhân quyền ở nước ta.

NHẬN DIỆN MỘT SỐ THỦ ĐOẠN “VÌ NHÂN QUYỀN” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 Nhân quyền hay quyền của con người là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước

bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào. Nhân quyền là danh từ trong sáng, dùng để chỉ một

trong những giá trị căn cốt của loài người. Kỷ niệm Ngày Nhân quyền quốc tế (10/12) là dịp để

Liên hợp quốc và các quốc gia thành viên tôn vinh những giá trị cao cả cùng những thành tựu đạt

được trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người.

Với Việt Nam, những thành tựu ấy được minh chứng cụ thể qua việc không ngừng nâng cao đời

sống, bảo vệ các quyền hợp pháp của người dân, đồng thời tích cực đóng góp cho nỗ lực thúc

đẩy quyền con người trên toàn thế giới.

Song bất chấp thực tế mà nước ta đạt được trong bảo đảm, thúc đẩy quyền con người, hội nhóm,

cá nhân phản động lưu vong ở nước ngoài, những tổ chức mượn danh “nhân quyền”, hãng truyền

thông hải ngoại định kiến với Việt Nam lại dùng những chiêu bài xảo trá để đả phá. Trong đó

cần nhận diện, đấu tranh qua những vấn đề sau:

Thứ nhất, mượn ngày Nhân quyền quốc tế, một số tổ chức thường ra thông báo, cáo trình bày tỏ

quan điểm đánh giá sai sự thật về bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam. Trong đó, tổ chức Giám sát

nhân quyền (HRW) “kêu gọi Việt Nam cải tổ gấp quyền con người trước kỳ kiểm định phổ quát

sắp đến” nhằm xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm các luật lệ quốc tế mà Việt Nam là thành

viên. Mặc dù mang cái tên rất mỹ miều là “Giám sát nhân quyền” nhưng mọi hoạt động của tổ

chức này đều thể hiện rõ tâm địa xấu xa, mưu đồ và động cơ chính trị đen tối, thấp hèn. Dù

không có mặt ở Việt Nam, không khảo sát thực tiễn, không có những tài liệu chính thống, không

hiểu được tình hình nhân quyền ở nước ta nhưng HRW lại luôn tự cho mình quyền phán xét về

nhân quyền Việt Nam, kêu gọi Việt Nam “cần khẩn cấp cải tổ quyền con người”. Các thông tin

mà HRW có được thực chất từ một vài tổ chức, cá nhân bất mãn, cơ hội chính trị cung cấp. Điều

này cho thấy rõ âm mưu, thủ đoạn bôi nhọ hình ảnh đất nước, con người Việt Nam của HRW.

 Thứ hai, trao giải thưởng nhân quyền cho các đối tượng có hoạt động chống phá Tổ quốc, xâm

phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc. Vào ngày 18/11/2023, tổ chức Mạng lưới nhân quyền Việt

Nam (tiếng Anh: Vietnam Human Rights Network – VHRN) có trụ sở tại bang California (Mỹ)

công bố cái gọi là “Báo cáo nhân quyền 2022-2023” để xuyên tạc kỳ thị tôn giáo, dân tộc đồng

thời cổ vũ cho những đối tượng lợi dụng quyền tự do dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc tiến

hành các hoạt động trái pháp luật, phá hoại đất nước. Đều đặn hằng năm, mạng lưới này còn tiến

hành xét họp, bình chọn, công bố “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam” để “tuyên dương thành

tích tranh đấu bất bạo động cho lý tưởng nhân quyền tại Việt Nam”. Đối tượng nào có “thành

tích” chống phá đất nước càng nhiều thì tỷ lệ được trao giải thưởng càng cao. Năm nay, các đối

tượng Trần Văn Bang, Y Wô Niê, Lê Trọng Hùng – những kẻ đang phải chấp hành án phạt tù về

các hoạt động chống phá đất nước được tổ chức này “vinh danh”, tán dương.

Cùng với tổ chức ngoại vi của mình là VHRN, lợi dụng ngày Nhân quyền quốc tế, tổ chức phản

động Việt Tân cũng đăng đàn trên mạng xã hội tiến hành trao giải thưởng nhân quyền với tên gọi

“Giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng” cho các đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam để ca

ngợi, cổ xúy cho các hoạt động chống phá Việt Nam. Năm nay Việt Tân đã tổ chức bình chọn,

trao giải và xướng tên đối tượng Trương Văn Dũng.

Điểm chung của trò lố “Giải thưởng nhân quyền” là các đối tượng được các tổ chức này trao giải

đều có các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ bảng, nói xấu chính quyền, thông tin sai sự

thật gây hoang mang trong nhân dân, thể hiện thái độ thù ghét, bất mãn đối với Đảng, Nhà nước,

phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp

pháp của tổ chức, cá nhân. Đằng sau trò lố đó là tìm kiếm nguồn tài chính hỗ trợ, đồng thời để

cho các đối tượng trong nước bấu víu, tiếp tục tiến hành các hoạt động phá hoại Tổ quốc, nhân

dân.

Thứ ba, không dừng lại ở trao “Giải thưởng nhân quyền”, các thế lực thù địch còn lồng ghép với

thủ đoạn đòi thả tự do cho các đối tượng được gọi là “tù nhân lương tâm”. Thực chất, đây là các

đối tượng có hành vi phạm tội, đối tượng phải chịu sự điều tra, truy tố, xét xử công khai, bị tuyên

án và phải chấp hành án phạt tù khi có hành vi tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước Việt

Nam, phỉ báng chính quyền nhân dân, xâm hại đến quyền, lợi ích chính đáng của các tổ chức, cá

nhân; thường xuyên kích động nhân dân chống đối chính quyền; soạn thảo, phát tán nhiều tài

liệu bôi xấu chế độ. Ngoài ra, họ còn tổ chức khảo sát, lấy ý kiến về tình hình nhân quyền ở Việt

Nam trên mạng xã hội; tự cho mình có sứ mệnh giải quyết những khó khăn, vướng mắc của

người dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, kêu gọi các tổ chức quốc tế, chính phủ các nước

can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam; phủ nhận những nỗ lực trong thúc đẩy quyền con

người Việt Nam; đòi thay đổi thể chế chính trị…

Tiếp tục vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong những điều kiện lịch sử mới của đổi mới và hội nhập quốc tế

   Tiếp tục vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong những điều kiện lịch sử mới của đổi mới và hội nhập quốc tế, trong xu thế toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

    Một trong những luận điểm nổi tiếng của Đảng ta khi tổng kết thực tiễn ở tầm lý luận về quá trình đấu tranh cách mạng, hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc và tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa là: Chân lý là cụ thể nên cách mạng phải sáng tạo. Luận điểm này được soi sáng bởi tư tưởng của V.I.Lênin, khi ông nhấn mạnh rằng, “Phân tích cụ thể một tình hình cụ thể, đó là bản chất, linh hồn sống của chủ nghĩa Mác”. Do đó, xét về mặt nguyên tắc và phương pháp, Đảng Cộng sản trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin là trung thành một cách sáng tạo chứ không phải máy móc, giáo điều. Cũng như vậy, Đảng ta luôn thấm nhuần chỉ dẫn khoa học và cách mạng của Hồ Chí Minh trong việc vận dụng lý luận kinh điển mácxít vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Người nhấn mạnh, thống nhất giữa lý luận với thực tiễn là nguyên tắc tối cao của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin cốt là nắm lấy tinh thần và phương pháp của nó trong ứng xử với con người và công việc cho đúng. Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý rằng, phải luôn luôn xuất phát từ thực tiễn cách mạng, đứng vững trên lập trường quan điểm Mác - Lênin, dùng thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật để phân tích tình hình, nhận thức đúng các quy luật khách quan, xu thế vận động của lịch sử, phát hiện ra các mâu thuẫn phải giải quyết, phải nhận rõ dùng phương pháp nào, đi theo con đường nào để độc lập, tìm tòi đúng những câu trả lời của thực tiễn đang đặt ra, phù hợp với tình hình, đặc điểm nước ta khi bước vào thời kỳ quá độ mà đặc điểm to nhất, khó khăn lớn nhất phải vượt qua là quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Người chỉ rõ, không nắm vững lý luận và phương pháp cách mạng thì không thể có năng lực sáng tạo để xác định đúng phương hướng, chiến lược và đường lối cách mạng.

    Hồ Chí Minh không chỉ đề cao tính khoa học, tính Đảng trong việc nghiên cứu, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin mà còn đề cao đạo đức và văn hóa, bởi chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ là đỉnh cao của trí tuệ khoa học, kết tinh trí tuệ, tư tưởng của thời đại, tinh hoa văn hóa của nhân loại mà còn là đạo đức cách mạng để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Đảng cách mạng phải tiêu biểu cho đạo đức và văn minh. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng, lấy đó làm nền tảng. Đức là gốc tạo thành nhân cách.

    Người để lại lời căn dặn có giá trị bền vững và ý nghĩa thức tỉnh với tất cả mọi người. Người nói, đọc hàng trăm hàng ngàn quyển sách Mác - Lênin, thuộc bao nhiêu cuốn sách Mác - Lênin mà còn ăn ở với nhau không có tình có nghĩa thì làm sao gọi là hiểu Mác - Lênin. Chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ là khoa học mà còn là đạo đức. Đó là sự thống nhất hữu cơ giữa khoa học - chính trị - đạo đức và văn hóa.

    Những chỉ dẫn đó của Hồ Chí Minh - nhà tư tưởng mácxít lỗi lạc và sáng tạo bậc thầy của cách mạng Việt Nam, vẫn mãi mãi có ý nghĩa soi sáng nhận thức, là kim chỉ nam hành động cho Đảng, cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân ta trong mọi thời kỳ cách mạng, nhất là trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập để phát triển nhanh và bền vững, để hiện đại hóa đất nước hiện nay.

    Thấm nhuần những lời dạy của Người, Đảng ta khi khởi xướng đường lối đổi mới và trong lãnh đạo, tổ chức thực hiện đường lối đổi mới hơn 35 năm qua và hiện nay đã chú trọng đổi mới tư duy, nỗ lực tìm tòi từ thực tiễn để đổi mới tư duy lý luận, hình thành những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thứ nhất, Đảng ta ra sức khắc phục những biểu hiện của bệnh giáo điều và chủ nghĩa kinh nghiệm, tự phê phán và phê phán nghiêm khắc bệnh chủ quan duy ý chí, coi thường quy luật, làm trái quy luật đã từng mắc phải. Đã rút ra một trong những bài học quan trọng là tôn trọng quy luật khách quan cũng như bài học đặc biệt quan trọng khác là tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, coi “dân là gốc của nước” nên phải luôn luôn nhất quán với nguyên tắc lấy dân làm gốc”. Nhấn mạnh vai trò chủ thể, mục tiêu và động lực phát triển là Nhân dân và sức sáng tạo của Nhân dân nên phải ra sức thực hành dân chủ, dân vận và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó là biểu hiện rõ nét và trực tiếp nhất về tính đúng đắn của sự trung thành một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn đổi mới. Thứ hai, trong những năm đầu của đổi mới, chúng ta đứng trước biến cố xảy ra ở Liên Xô và Đông Âu, khi chủ nghĩa xã hội lâm vào thoái trào, hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã tấn công một cách thâm độc và tinh vi vào nền tảng tư tưởng, vào ý thức hệ của những người cộng sản. Niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, vào chủ nghĩa xã hội bị thách thức nghiêm trọng. Đảng ta đã vượt qua thách thức đó bằng trí tuệ khoa học, bằng bản lĩnh chính trị và đạo đức cách mạng để giữ vững phương hướng chính trị, kiên định lý tưởng và mục tiêu, kiên định con đường đã lựa chọn. Sự ra đời của Cương lĩnh 1991 và Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 đã chứng tỏ điều đó. Chính nhờ có Cương lĩnh này - Cương lĩnh của đổi mới, Cương lĩnh của hội nhập, Đảng đã nêu cao ngọn cờ tư tưởng Mác - Lênin - Hồ Chí Minh, tập hợp được sức mạnh toàn dân tộc đưa sự nghiệp cách mạng Việt Nam lúc đó vượt ra khỏi tình huống hiểm nghèo, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, tiến tới ổn định và phát triển. Một trong những thành công lớn của Đảng là giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển, không để xảy ra khủng hoảng chính trị như nhiều nước đã mắc phải, không mất phương hướng chính trị mà nhiều đảng cộng sản cầm quyền đã để xảy ra dẫn tới đổ vỡ chế độ xã hội chủ nghĩa và tự đánh mất vai trò cầm quyền của chính mình.

    Thứ ba, bài học về lòng trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng ta đã được chứng thực trong thực tiễn đổi mới. Đảng ta đã ngày càng nhận thức rõ hơn những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, kiên quyết giữ vững nguyên tắc, bảo vệ và phát huy những giá trị bền vững đó (học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, quan niệm duy vật về lịch sử, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, bản chất, mục tiêu và các đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội, vai trò tiên phong của Đảng, mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với Dân, vai trò của nhân tố con người, của liên minh giai cấp của giai cấp công nhân, của văn hóa…). Mặt khác, nhận thức mới của Đảng về chủ nghĩa Mác - Lênin còn thể hiện ở tư duy tự phê phán và phê phán đối với những nhận thức sai lầm trước đây, đã hiểu sai, làm sai chủ nghĩa Mác - Lênin, làm mất tín nhiệm của chủ nghĩa và học thuyết do giáo điều hóa, giản lược hóa gây ra, nay phải ra sức vượt qua, làm cho chủ nghĩa, học thuyết được thể hiện chân thực như chính bản thân nó. Đồng thời cũng tự mình nỗ lực nhận rõ những hạn chế lịch sử trong bản thân di sản để xác định trách nhiệm phải bổ sung, phải phát triển, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin sống động, phong phú, phù hợp với thực tiễn hiện nay. Đây là vấn đề vô cùng hệ trọng, phải “làm mới” chủ nghĩa Mác - Lênin bằng những tri thức mới, hiểu biết mới, bổ sung vào kho tàng kinh điển những cái mới chưa được các nhà kinh điển đề cập tới, do thời đại lịch sử mà các ông xây dựng nên học thuyết trước đây không đặt ra, càng chưa có những dữ kiện để giải quyết. Đây là một thử thách về lòng trung thành một cách có bản lĩnh. Rõ nhất là lý luận về con đường, về phương thức xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thế giới toàn cầu hóa và hội nhập, về kinh tế thị trường, về nhà nước pháp quyền, về Đảng cầm quyền.

    Thứ tư, tư tưởng Hồ Chí Minh đã cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng, là kim chỉ nam hành động của cách mạng Việt Nam. Nhận thức của Đảng về tư tưởng Hồ Chí Minh, rộng hơn là di sản của Người cũng ngày càng đầy đủ, toàn diện và sâu sắc hơn. Trước đây, chúng ta thường nhấn mạnh tư tưởng Hồ Chí Minh là vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Nhận thức đó chưa đủ để hình dung hết tầm vóc Hồ Chí Minh với tư cách một nhà tư tưởng. Hồ Chí Minh không chỉ vận dụng đúng đắn mà quan trọng và thực chất hơn, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin. Người có cống hiến lớn vào kho tàng lý luận kinh điển Mác - Lênin, có ảnh hưởng sâu sắc không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới, nhất là lý luận cách mạng giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở những nước bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa như Việt Nam. Người còn có cống hiến lớn trong lý luận đảng cộng sản cầm quyền ở tầm học thuyết và chủ thuyết xây dựng đảng cách mạng chân chính. Do đó, Hồ Chí Minh thực sự có những đóng góp mới làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin trở nên phong phú, sâu sắc hơn và cách mạng Việt Nam là một minh chứng đầy sức thuyết phục về giá trị và sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại ngày nay. Lần đầu tiên, một quan niệm khoa học về tư tưởng và di sản Hồ Chí Minh đã được Đảng nêu lên đầy đủ và trang trọng đưa vào Cương lĩnh của Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập. Từ chỗ nhấn mạnh học tập tác phong Hồ Chí Minh, Đảng ta đã xác định sự cần thiết phải học tập và vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng của Người. Từ chỗ nhấn mạnh tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh, Đảng ta đã xác định sự cần thiết phải học tập và làm theo cả tư tưởng lẫn đạo đức và phong cách của Người. Đó là một hệ thống chính thể toàn vẹn. Tại Đại hội XIII, Đảng ta nhấn mạnh khát vọng Hồ Chí Minh, khát vọng Việt Nam - Đó là khát vọng phát triển một Việt Nam cường thịnh, cùng sánh vai với các cường quốc năm châu. Nêu cao khát vọng này là tạo ra động lực tinh thần mạnh mẽ, nêu cao sức mạnh toàn dân tộc, tạo ra những đột phá của phát triển. Từ thực tiễn Việt Nam, có thể nói, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh là cách tốt nhất để tỏ rõ sự trung thành, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, đấu tranh chống lại mọi sự xuyên tạc, phủ nhận, xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, hạ thấp tầm vóc tư tưởng Hồ Chí Minh, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội và vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta của các thế lực thù địch. Thành tựu lý luận này của Đảng ta là một cống hiến quan trọng vào việc bảo vệ những chân lý giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin trên cơ sở trung thành bằng cách sáng tạo và phát triển nó.

    Thứ năm, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, Đảng ta nhấn mạnh “giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước” thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là phát triển mạnh mẽ kinh tế thị trường hiện đại định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng hợp tác song phương và đa phương, đa dạng hóa, đa phương hóa, Đảng ta đã thiết lập quan hệ hợp tác với các đảng chính trị cầm quyền trên thế giới, không chỉ với các đảng cộng sản cầm quyền mà còn với các Đảng chính trị tư sản, các đảng xã hội dân chủ. Sự khác biệt ý thức hệ không thể trở thành rào cản không thể vượt qua trong hợp tác, cùng hợp tác, cùng đấu tranh, cùng cạnh tranh để phát triển mà không hề xa rời định hướng xã hội chủ nghĩa, lý tưởng và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.

    Đại hội XIII đã phát hiện quan hệ giữa thực hành dân chủ với tăng cường pháp luật, pháp chế, kỷ cương xã hội. Đảng ta đã tỏ rõ thực hiện đúng di huấn của Hồ Chí Minh một cách sáng tạo: Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội cần phải làm đúng quy luật, phải thuận lòng dân và hợp thời đại. Đó là đảm bảo tối cần thiết để khẳng định rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi sáng con đường cách mạng Việt Nam.

    Dù thực tiễn luôn vận động biến đổi và các thế lực thù địch phản động không ngừng đẩy mạnh âm mưu, thủ đoạn chống phá, nhưng bản chất cách mạng, khoa học là điều không thể phủ nhận, tạo nên giá trị, sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của đất nước là cơ sở khoa học, nhân tố quyết định để Đảng ta hoạch định chủ trương, đường lối đúng đắn, lãnh đạo đất nước tiến hành thành công sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

Trích - Sưu tầm

Tiến trình cách mạng Việt Nam dưới ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác - Lênin

 

    Khi người thanh niên Nguyễn Tất Thành đi tìm đường cứu nước, cứu dân (ngày 05/6/1911), nước ta đã mất độc lập chủ quyền. Nhân dân ta sống trong tình cảnh vong quốc, nước mất nhà tan, bị bóc lột, áp bức và nô dịch dưới ách thống trị của đế quốc thực dân Pháp cùng bè lũ phong kiến tay sai bán nước. Việt Nam đã trở thành một xứ thuộc địa dưới chế độ thực dân, nửa phong kiến. Đất nước chìm đắm trong đêm dài nô lệ, khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước.

    Cuộc hành trình tìm đường, chọn đường và nhận đường của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh kéo dài 30 năm (1911 - 1941). Bằng phương thức lao động vô sản hóa, Người đã lăn lộn trong thực tiễn đấu tranh giữa những người cùng khổ ở khắp các đại dương, châu lục để nhận rõ bản chất của kẻ thù và nhận thức tính tất yếu của con đường giải phóng dân tộc chỉ có thể là con đường cách mạng vô sản. Đó là cuộc cách mạng theo ý thức hệ tiên tiến nhất của thời đại - ý thức hệ của giai cấp công nhân, kết tinh thành tư tưởng - lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Người sáng lập Đảng Cộng sản theo học thuyết Đảng kiểu mới của V.I.Lênin. Sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, năm 1941, Người về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, dẫn tới thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám, năm 1945, lập nên chế độ dân chủ cộng hòa, giành lại độc lập, khẳng định chủ quyền, đưa dân tộc và Nhân dân tới tự do và làm chủ. Đó là những bước ngoặt, những dấu mốc lịch sử đặc biệt quan trọng của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Những bước ngoặt, những dấu mốc lịch sử ấy chẳng những được soi sáng bởi chủ nghĩa Mác - Lênin mà còn tỏ rõ thiên tài tư tưởng và tổ chức của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh cùng với những cống hiến vô giá của Người đối với dân tộc và quốc tế trong lịch sử hiện đại ở thế kỷ XX. Có thể minh chứng bằng một số sự kiện điển hình dưới đây:

    Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tiếp xúc với Luận cương của V.I.Lênin về quyền tự quyết của các dân tộc thuộc địa. Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi. Giai cấp công nhân và Nhân dân lao động đã giành được quyền lực về tay mình. Nước Nga Xô viết xã hội chủ nghĩa đã ra đời, khai sinh cho chủ nghĩa xã hội hiện thực với tư cách là một chế độ xã hội kiểu mới, lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử thế giới dù là một hiện tượng đơn nhất nhưng đã mang ý nghĩa phủ định chủ nghĩa tư bản về nguyên tắc. Từ đấy, một thời đại mới, một kỷ nguyên mới đã mở ra - Thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, kỷ nguyên giải phóng các dân tộc bị áp bức, giành độc lập dân tộc và quá độ tới chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.

    Chuyển biến có tính bước ngoặc đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc là từ một người yêu nước với ý thức và tình cảm dân tộc sâu sắc đã trở thành một chiến sĩ cộng sản. Trên lập trường giai cấp công nhân, giác ngộ lý tưởng cộng sản, Người đã tán thành đường lối của Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III), theo chủ nghĩa Lênin (Mác - Lênin) và con đường cách mạng vô sản. Người nhận rõ cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 là hình mẫu điển hình về một cuộc cách mạng triệt để (cách mạng đến nơi) cần phải noi theo. Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng Cộng sản Pháp tại Đại hội Tours, năm 1920. Bước ngoặc ấy dẫn đến sự kiện lịch sử trọng đại tiếp theo, sau một thập kỷ. Đó là năm 1930, Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam. Người không chỉ đặt tên cho Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam mà còn là tác giả đầu tiên, trực tiếp soạn thảo Chính cương, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng, đồng thời viết thư gửi đồng bào cả nước, kêu gọi đồng bào ủng hộ Đảng, theo Đảng làm cách mạng giải phóng dân tộc, tự giải phóng chính mình. Chính cương, sách lược vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, ngay từ đầu đã đặt cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam trong quỹ đạo của cách mạng vô sản, đã xác định rõ mục tiêu và phương thức cách mạng là đi tới xã hội cộng sản, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong tiến trình cách mạng. Những tư tưởng đó của Đảng và của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chứng tỏ giá trị và ý nghĩa soi đường của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với cách mạng Việt Nam. Nhờ đó, cuộc khủng hoảng triền miên về đường lối cứu nước đã được giải quyết và cách mạng Việt Nam đã được dẫn dắt bởi ý thức hệ tiên tiến nhất của thời đại.

    Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc viết tác phẩm lý luận nổi tiếng “Bản án chế độ thực dân Pháp”.

    Đây là công trình khảo cứu lý luận và lịch sử có tầm vóc lớn được viết trên lập trường, quan điểm mácxít. Đó thực sự là một bản án, một văn kiện chính trị - pháp lý kết án tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp đối với các dân tộc thuộc địa, bị áp bức ở Việt Nam và Đông Dương.

    Hai mươi năm sau, ngày 02/9/1945, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do chính Người soạn thảo tại Thủ đô Hà Nội, khai sinh nền cộng hòa dân chủ và nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời. Tuyên ngôn Độc lập cũng đồng thời là tuyên bố “Bản án chế độ thực dân Pháp” đã được thi hành, từ thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, từ sức mạnh quyền lực của Nhân dân. Năm 1925 cũng là năm lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức và giáo dục nhóm chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi trong “Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí”, tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản. Vào lúc này, Người đã trù tính trong Điều lệ và chương trình hành động của Hội là, sau này, khi cách mạng thắng lợi và đi vào kiến thiết chế độ mới nhất định ta sẽ áp dụng “Tân kinh tế chính sách của Lênin” (Chính sách Kinh tế mới - NEP). Đó là mầm mống đầu tiên để hình thành tư tưởng đổi mới và hội nhập của Hồ Chí Minh sau này.

    Năm 1927, Nguyễn Ái Quốc viết tác phẩm “Đường kách mệnh” làm tài liệu huấn luyện về chiến lược và phương pháp cách mạng cho các lớp cán bộ đầu tiên của Đảng. Tác phẩm đã đặt nền móng tư tưởng - chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng. Đây cũng là tác phẩm lý luận đầu tiên truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước, nhen nhóm các phong trào cách mạng. Đáng lưu ý là ngay mở đầu tác phẩm, Nguyễn Ái Quốc đã đặt vấn đề đạo đức cách mạng lên hàng đầu, “Tư cách của người cách mệnh”. Đảng cách mạng không chỉ cần có lý luận tiên phong dẫn đường để làm tròn vai trò tiên phong của Đảng mà còn nhấn mạnh vào những điểm cốt yếu: làm cách mạng trước hết phải có Đảng lãnh đạo, với Đảng trước hết phải có chủ nghĩa dẫn đường. Đảng không có chủ nghĩa giống như người không có trí khôn, không có kim chỉ nam hành động. Chủ nghĩa, học thuyết nhiều nhưng chân chính cách mạng nhất, triệt để nhất thì chỉ có chủ nghĩa Lênin (chủ nghĩa Mác - Lênin). Đảng phải “giữ chủ nghĩa cho vững” và “ít lòng tham muốn về vật chất”. Đó là dự cảm đạo đức vô cùng sáng suốt của Người.

    Cuộc khủng hoảng trầm trọng của chủ nghĩa xã hội hiện thực sau hơn bảy thập kỷ tồn tại và sự đổ vỡ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu vào thập kỷ cuối thế kỷ XX đã chứng thực những dự cảm sáng suốt đó.

    Năm 1941, khi về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị Trung ương 8 của Đảng, quyết định chuyển hướng chiến lược, đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu, trên lập trường, quan điểm của giai cấp công nhân, giải quyết đúng đắn và sáng tạo mối quan hệ giai cấp và dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Người, Đảng ta giương cao ngọn cờ đoàn kết, đại đoàn kết, thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh). Người viết thư kêu gọi toàn quốc đồng bào đoàn kết để “đánh tan thù chung”, “cứu giống nòi ra khỏi cảnh nước sôi lửa nóng”, giành độc lập tự do… dẫn đến Cách mạng tháng Tám, giải quyết đúng đắn mối quan hệ Thời - Thế - Lực trong thực tiễn cách mạng, năm 1945.

    Đó là một mẫu mực điển hình về tận dụng tình thế và thời cơ cách mạng, về xây dựng lực lượng và phát huy vai trò quần chúng Nhân dân trong sáng tạo lịch sử. Tầm nhìn chiến lược và tài năng tổ chức của Hồ Chí Minh trong những quyết định lịch sử tại Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân đại hội Tân Trào giữa tháng 8/1945, phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, tuyên bố độc lập trước khi quân đồng minh kéo vào Việt Nam cũng là một mẫu mực về sự kết hợp khoa học và nghệ thuật trong cách mạng giải phóng dân tộc, “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.

    Đó là những minh chứng về sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh lịch sử và điều kiện cụ thể của Việt Nam của Hồ Chí Minh. Đây là một ví dụ kinh điển chứng minh giá trị và sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, của Đảng ta và thiên tài tư tưởng, tổ chức của lãnh tụ Hồ Chí Minh.

    Năm 1946, Chính phủ do Hồ Chí Minh đứng đầu đã gây dựng nền móng chế độ dân chủ cộng hòa, giải quyết những di sản mục nát của đế quốc thực dân, phong kiến để lại, chủ động đối phó với chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, dựa vào sức mạnh toàn dân và phát huy cao độ sức mạnh của lòng yêu nước, “thà hy sinh tất cả quyết không chịu mất nước, quyết không chịu làm nô lệ”, “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, “trường kỳ kháng chiến”, “kháng chiến tất thắng, kiến quốc tất thành”. Trong thời kỳ 1946 - 1954, với đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Nam đã đánh bại hoàn toàn chủ nghĩa thực dân Pháp, miền Bắc được giải phóng nhưng miền Nam lại rơi vào sự thống trị của chủ nghĩa thực dân kiểu mới là đế quốc Mỹ.

    Đảng ta đã kết hợp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam với cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, từ năm 1954 đến năm 1975, đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược, với tinh thần “không có gì quý hơn độc lập, tự do”, thực hiện thống nhất Tổ quốc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, “đánh thắng hai đế quốc to” (chủ nghĩa thực dân kiểu cũ của Pháp và chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ). Đó là bằng chứng lịch sử về sức sống, ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tiến trình cách mạng giải phóng và phát triển ở Việt Nam.

    Những sự kiện lịch sử từ năm 1975 tới nay, nhất là qua 35 năm đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa (1986 - 2021), vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, có lúc hiểm nghèo, Việt Nam đã giải quyết thành công mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển, tiếp tục giữ vững phương hướng chính trị, hướng tới phát triển nhanh và bền vững. Đảng ta không chỉ trưởng thành về trình độ lý luận mà còn tỏ rõ bản lĩnh chính trị trong hơn 3/4 thế kỷ lãnh đạo và cầm quyền, để đưa Việt Nam tới cơ đồ và sự nghiệp như hiện nay.

    Thực tiễn đã chứng minh những khẳng định có tính nguyên tắc của Đảng trong các cương lĩnh, các văn kiện đại hội theo suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, nhất là trong thời kỳ đổi mới là đúng đắn và sáng tạo.

    Thứ nhất, kiên định con đường cách mạng đã lựa chọn, trung thành với lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; với phương thức phát triển của Việt Nam: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, từng bước quá độ tới chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Đó là phương thức “phát triển rút ngắn” và “quá độ gián tiếp” phù hợp với xu thế khách quan của lịch sử, của thời đại và với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của Việt Nam. Đổi mới mang tầm vóc cách mạng, có nguyên tắc, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Thứ hai, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam hành động của cách mạng Việt Nam.

    Thứ ba, đảm bảo vai trò lãnh đạo và địa vị cầm quyền của Đảng Cộng sản trong tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam trước đây và trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay.

Trích - Sưu tầm

Phê phán luận điệu “Quân đội tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc là không phù hợp”

 

    Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước, Quân đội nhân dân Việt Nam cử lực lượng tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Với trách nhiệm cao, việc làm thiết thực, các đơn vị Quân đội đã không ngừng tỏa sáng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, mang tới bạn bè, nhân dân thế giới hình ảnh rất đẹp về Việt Nam, giúp tăng cường đoàn kết, sự ủng hộ quốc tế đối với Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn những luận điệu xuyên tạc, hòng phủ nhận ý nghĩa của hoạt động cao cả này, cần đấu tranh bác bỏ.

    Đối ngoại quốc phòng là một trong những chủ trương, nhiệm vụ quan trọng, trụ cột trong công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa. Thực hiện chủ trương này, từ tháng 6/2014, Quân đội nhân dân Việt Nam đã cử lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc với hình thức cá nhân và đơn vị tại các phái bộ Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi (MINUSCA), Phái bộ UNISFA (khu vực Abyei) và trụ sở Liên hợp quốc (Hoa Kỳ), trên các lĩnh vực: tham mưu, y tế, công binh, v.v.

    Hình ảnh những chiến sĩ “mũ nồi xanh” của Quân đội nhân dân Việt Nam tại các phái bộ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc là đại diện cho trách nhiệm, tấm lòng của nhân dân Việt Nam, một dân tộc thấu hiểu hơn ai hết nỗi đau chiến tranh, muốn góp sức để gìn giữ hòa bình và cũng là thể hiện nghĩa tình, tri ân nhân loại tiến bộ trên thế giới dành cho Việt Nam trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây. Những đóng góp to lớn của lực lượng “mũ nồi xanh” Việt Nam được cộng đồng quốc tế, đặc biệt là nhân dân nước sở tại ghi nhận, đánh giá cao với tình cảm trân trọng đặc biệt đã góp phần tô thắm tinh thần quốc tế cao cả, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới của Quân đội nhân dân Việt Nam.

    Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động lại ra sức xuyên tạc, hạ thấp vai trò lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc của Quân đội nhân dân Việt Nam. Họ cho rằng: Quân đội tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc là không phù hợp, không mang lại lợi ích gì cho đất nước; gây tốn kém ngân sách, rủi ro cho lực lượng vũ trang; thậm chí có kẻ còn lớn tiếng rằng, tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình là tham gia liên minh quân sự, đi xâm lược nước khác, v.v. Cần khẳng định rằng, đây là những luận điệu hoàn toàn sai trái, xuyên tạc về hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc của Quân đội nhân dân Việt Nam. Mục đích của những luận điệu đó là nhằm chống phá đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta; làm tổn thương hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, sai lệch bản chất và truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam, làm mất lòng tin, giảm uy tín của Việt Nam trong mắt cộng đồng quốc tế. Đồng thời, nó gây ra sự nghi ngờ, bất an và thiếu trách nhiệm đối với một số người dân, tác động không nhỏ tới tâm tư, tình cảm của gia đình, người thân các quân nhân tham gia hoạt động giữ gìn hòa bình của Liên hợp quốc.

    Chúng ta biết, cả về lý luận và thực tiễn tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc của Quân đội nhân dân Việt Nam đã khẳng định, đây là chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, với những minh chứng sau:

    Việt Nam đã tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc một cách thận trọng và theo từng giai đoạn, dựa trên khả năng triển khai lực lượng, quản lý rủi ro và tiết kiệm tối đa chi phí trên cơ sở chủ trương, đường lối, chính sách được nghiên cứu, hoạch định và chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ. Về công tác chuẩn bị pháp lý, Việt Nam đã cử các đoàn công tác liên ngành tìm hiểu, khảo sát thực tế tại Liên hợp quốc và các cơ quan gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; từ đó, đề ra chủ trương, quy định pháp luật, làm cơ sở thực hiện. Điều 89, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “… Hội đồng quốc phòng và an ninh quyết định việc lực lượng vũ trang nhân dân tham gia hoạt động góp phần bảo vệ hòa bình ở Việt Nam, khu vực và thế giới”; Quốc hội khóa XIV đã thông qua Nghị quyết số 130/2020/QH14 về tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại kỳ họp thứ 10. Đó là ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, thể hiện truyền thống yêu chuộng hòa bình, trách nhiệm với thế giới. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã thành lập Tổ công tác liên ngành, Bộ Quốc phòng thành lập Ban Chỉ đạo; thành lập Trung tâm Gìn giữ hòa bình Việt Nam (năm 2014) và nay là Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam để triển khai nhiệm vụ tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Như vậy, việc tham gia hoạt động này là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta; có lộ trình, kế hoạch cụ thể, phù hợp với lĩnh vực mà Việt Nam có đủ điều kiện, năng lực và nguồn lực để đảm bảo triển khai thành công. Bên cạnh đó, việc triển khai lực lượng gìn giữ hòa bình là thực thi theo Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, đặt dưới sự chỉ huy, chỉ đạo của Liên hợp quốc, các quốc gia thành viên phải có nghĩa vụ và trách nhiệm đóng góp cho hoạt động gìn giữ hòa bình, được Liên hợp quốc bảo đảm, hỗ trợ và có sự hỗ trợ của quốc tế, đã góp phần giảm đáng kể việc chi ngân sách Nhà nước cho hoạt động này. Do vậy, luận điệu cho rằng Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc gây tốn kém ngân sách, gây rủi ro cho lực lượng vũ trang là hoàn toàn lạc lõng, sai trái.

    Trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam là một thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, do đó việc tham gia vào các hoạt động gìn giữ hòa bình, nhân đạo và duy trì an ninh quốc tế theo chương trình của Liên hợp quốc là khẳng định nghĩa vụ và trách nhiệm quốc tế cao cả của Việt Nam. Các lực lượng của Việt Nam tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc chỉ tập trung vào các hoạt động vì mục đích hòa bình, nhân đạo và tái thiết, góp phần xây dựng hòa bình ở các quốc gia, khu vực, như: Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi (MINUSCA), Phái bộ UNISFA (khu vực Abyei) đang gặp rất nhiều khó khăn do nội chiến và nạn đói triền miên. Việc này không chỉ là một nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam, mà là một trong những minh chứng cam kết thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ quốc tế của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Mặt khác, tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc cũng góp phần nâng cao khả năng ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống; nâng cao hình ảnh, vị thế, tạo sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với Quân đội, đất nước và nhân dân Việt Nam. Vì vậy, luận điệu cho rằng Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc chỉ là “vác tù và hàng tổng, việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng” là cách tiếp cận thiên kiến, phiến diện, không đúng sự thật, chỉ với dụng ý xấu mà thôi.

    Việt Nam luôn nhất quán tuân thủ đường lối, chính sách đối ngoại: không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác và luôn tôn trọng nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, như đã được ghi trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019: “Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”1. Việt Nam đã từng là nạn nhân của chiến tranh xâm lược và hiểu rõ những hậu quả và đau thương của chiến tranh. Do đó, Việt Nam luôn đề cao giá trị hòa bình, tuân thủ các nguyên tắc quốc tế; những hoạt động của các chiến sĩ “mũ nồi xanh” Việt Nam thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc hoàn toàn phù hợp với các quy định của Liên hợp quốc, luật pháp Việt Nam và không có mục đích gì khác.

    Thực tế đã minh chứng, từ khi chính thức tham gia vào hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc đến nay, Quân đội nhân dân Việt Nam đã đóng góp tích cực và hiệu quả trên nhiều lĩnh vực. Một trong những đóng góp quan trọng nhất của Quân đội ta trong hoạt động này là tham gia tích cực vào các nhiệm vụ tái thiết, duy trì hòa bình và hỗ trợ nhân đạo. Quân đội nhân dân Việt Nam đã gửi các đơn vị: bệnh viện dã chiến, đội công binh đến tham gia vào các nhiệm vụ khắc phục hậu quả xung đột, chiến tranh, duy trì hòa bình của Liên hợp quốc tại nhiều khu vực ở Châu Phi còn nhiều khó khăn, bất ổn. Các đơn vị y tế của Quân đội nhân dân Việt Nam đã thực hiện nhiều chương trình y tế nhân đạo, cứu trợ thiên tai, cứu hộ, hỗ trợ người dân vùng nông thôn nghèo khó và các trẻ em mồ côi, tàn tật; đồng thời, tham gia vào các dự án phát triển cộng đồng cho nhân dân bản địa, giúp giảm bớt nghèo đói, cải thiện điều kiện sống và góp phần xây dựng một thế giới hòa bình, bình đẳng và công bằng. Sự đóng góp của những chiến sĩ “mũ nồi xanh” Quân đội nhân dân Việt Nam được Liên hợp quốc ghi nhận, đánh giá cao, “là hình mẫu” cho nhiều nước khác. Tỷ lệ sĩ quan Việt Nam đạt xuất sắc và đặc biệt xuất sắc là trên 30%, trong khi đó tỷ lệ bình quân của Liên hợp quốc chỉ là 01% - 02%. Phó Tổng thư ký Liên hợp quốc phụ trách các hoạt động hòa bình - Jean Pierre Lacroix đã phát biểu: “Những hoạt động Việt Nam tiến hành gần đây nhằm củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động gìn giữ hòa bình rất đáng làm hình mẫu cho nhiều nước khác bởi Việt Nam đã tích cực hợp tác với các đối tác liên quan để đào tạo quân sự; đồng thời, tìm ra những phương thức tốt hơn để có thể đảm bảo hoạt động của lực lượng gìn giữ hòa bình của mình đạt hiệu quả tốt nhất”. Tại phái bộ MINUSCA, Trung tướng Daniel Traore, Chỉ huy trưởng lực lượng quân sự Phái bộ khi trao tặng giấy khen cho Trung tá Nguyễn Thị Liên đã nói: “Lòng nhân từ, bác ái và thiện chí của cô thể hiện những giá trị cốt lõi của Liên hợp quốc. Cô xứng đáng là Đại sứ tuyệt vời của Việt Nam”. Sự thực trên bác bỏ mọi luận điệu sai trái, phản khoa học, không có căn cứ của các thế lực thù địch, nhằm cố tình hạ thấp uy tín của Quân đội, xuyên tạc đường lối đối ngoại quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta.

    Trong tình hình quốc tế hiện nay, Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia lực lượng giữ gìn hòa bình Liên hợp quốc không chỉ thúc đẩy, tăng cường mối quan hệ hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam với các nước, mà còn đóng góp hiệu quả, thiết thực cho hòa bình, an ninh khu vực và quốc tế, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước; khẳng định một Việt Nam có trách nhiệm, nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình và có ý thức về nghĩa vụ cao cả, khát vọng của mọi người dân trên toàn thế giới được sống trong hòa bình, ổn định, an toàn và thịnh vượng. Đồng thời, là cách để chúng ta phản bác lại các quan điểm sai lệch hoặc cố tình “bóp méo” đường lối, chủ trương đối ngoại của Đảng và Nhà nước cũng như chính sách quốc phòng của Việt Nam.

Sưu tầm