Thứ Năm, 4 tháng 1, 2024

Tiến trình cách mạng Việt Nam dưới ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác - Lênin

 

    Khi người thanh niên Nguyễn Tất Thành đi tìm đường cứu nước, cứu dân (ngày 05/6/1911), nước ta đã mất độc lập chủ quyền. Nhân dân ta sống trong tình cảnh vong quốc, nước mất nhà tan, bị bóc lột, áp bức và nô dịch dưới ách thống trị của đế quốc thực dân Pháp cùng bè lũ phong kiến tay sai bán nước. Việt Nam đã trở thành một xứ thuộc địa dưới chế độ thực dân, nửa phong kiến. Đất nước chìm đắm trong đêm dài nô lệ, khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước.

    Cuộc hành trình tìm đường, chọn đường và nhận đường của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh kéo dài 30 năm (1911 - 1941). Bằng phương thức lao động vô sản hóa, Người đã lăn lộn trong thực tiễn đấu tranh giữa những người cùng khổ ở khắp các đại dương, châu lục để nhận rõ bản chất của kẻ thù và nhận thức tính tất yếu của con đường giải phóng dân tộc chỉ có thể là con đường cách mạng vô sản. Đó là cuộc cách mạng theo ý thức hệ tiên tiến nhất của thời đại - ý thức hệ của giai cấp công nhân, kết tinh thành tư tưởng - lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Người sáng lập Đảng Cộng sản theo học thuyết Đảng kiểu mới của V.I.Lênin. Sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, năm 1941, Người về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, dẫn tới thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám, năm 1945, lập nên chế độ dân chủ cộng hòa, giành lại độc lập, khẳng định chủ quyền, đưa dân tộc và Nhân dân tới tự do và làm chủ. Đó là những bước ngoặt, những dấu mốc lịch sử đặc biệt quan trọng của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Những bước ngoặt, những dấu mốc lịch sử ấy chẳng những được soi sáng bởi chủ nghĩa Mác - Lênin mà còn tỏ rõ thiên tài tư tưởng và tổ chức của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh cùng với những cống hiến vô giá của Người đối với dân tộc và quốc tế trong lịch sử hiện đại ở thế kỷ XX. Có thể minh chứng bằng một số sự kiện điển hình dưới đây:

    Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tiếp xúc với Luận cương của V.I.Lênin về quyền tự quyết của các dân tộc thuộc địa. Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi. Giai cấp công nhân và Nhân dân lao động đã giành được quyền lực về tay mình. Nước Nga Xô viết xã hội chủ nghĩa đã ra đời, khai sinh cho chủ nghĩa xã hội hiện thực với tư cách là một chế độ xã hội kiểu mới, lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử thế giới dù là một hiện tượng đơn nhất nhưng đã mang ý nghĩa phủ định chủ nghĩa tư bản về nguyên tắc. Từ đấy, một thời đại mới, một kỷ nguyên mới đã mở ra - Thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, kỷ nguyên giải phóng các dân tộc bị áp bức, giành độc lập dân tộc và quá độ tới chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.

    Chuyển biến có tính bước ngoặc đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc là từ một người yêu nước với ý thức và tình cảm dân tộc sâu sắc đã trở thành một chiến sĩ cộng sản. Trên lập trường giai cấp công nhân, giác ngộ lý tưởng cộng sản, Người đã tán thành đường lối của Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III), theo chủ nghĩa Lênin (Mác - Lênin) và con đường cách mạng vô sản. Người nhận rõ cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 là hình mẫu điển hình về một cuộc cách mạng triệt để (cách mạng đến nơi) cần phải noi theo. Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng Cộng sản Pháp tại Đại hội Tours, năm 1920. Bước ngoặc ấy dẫn đến sự kiện lịch sử trọng đại tiếp theo, sau một thập kỷ. Đó là năm 1930, Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam. Người không chỉ đặt tên cho Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam mà còn là tác giả đầu tiên, trực tiếp soạn thảo Chính cương, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng, đồng thời viết thư gửi đồng bào cả nước, kêu gọi đồng bào ủng hộ Đảng, theo Đảng làm cách mạng giải phóng dân tộc, tự giải phóng chính mình. Chính cương, sách lược vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, ngay từ đầu đã đặt cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam trong quỹ đạo của cách mạng vô sản, đã xác định rõ mục tiêu và phương thức cách mạng là đi tới xã hội cộng sản, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong tiến trình cách mạng. Những tư tưởng đó của Đảng và của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chứng tỏ giá trị và ý nghĩa soi đường của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với cách mạng Việt Nam. Nhờ đó, cuộc khủng hoảng triền miên về đường lối cứu nước đã được giải quyết và cách mạng Việt Nam đã được dẫn dắt bởi ý thức hệ tiên tiến nhất của thời đại.

    Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc viết tác phẩm lý luận nổi tiếng “Bản án chế độ thực dân Pháp”.

    Đây là công trình khảo cứu lý luận và lịch sử có tầm vóc lớn được viết trên lập trường, quan điểm mácxít. Đó thực sự là một bản án, một văn kiện chính trị - pháp lý kết án tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp đối với các dân tộc thuộc địa, bị áp bức ở Việt Nam và Đông Dương.

    Hai mươi năm sau, ngày 02/9/1945, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do chính Người soạn thảo tại Thủ đô Hà Nội, khai sinh nền cộng hòa dân chủ và nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời. Tuyên ngôn Độc lập cũng đồng thời là tuyên bố “Bản án chế độ thực dân Pháp” đã được thi hành, từ thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, từ sức mạnh quyền lực của Nhân dân. Năm 1925 cũng là năm lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức và giáo dục nhóm chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi trong “Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí”, tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản. Vào lúc này, Người đã trù tính trong Điều lệ và chương trình hành động của Hội là, sau này, khi cách mạng thắng lợi và đi vào kiến thiết chế độ mới nhất định ta sẽ áp dụng “Tân kinh tế chính sách của Lênin” (Chính sách Kinh tế mới - NEP). Đó là mầm mống đầu tiên để hình thành tư tưởng đổi mới và hội nhập của Hồ Chí Minh sau này.

    Năm 1927, Nguyễn Ái Quốc viết tác phẩm “Đường kách mệnh” làm tài liệu huấn luyện về chiến lược và phương pháp cách mạng cho các lớp cán bộ đầu tiên của Đảng. Tác phẩm đã đặt nền móng tư tưởng - chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng. Đây cũng là tác phẩm lý luận đầu tiên truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước, nhen nhóm các phong trào cách mạng. Đáng lưu ý là ngay mở đầu tác phẩm, Nguyễn Ái Quốc đã đặt vấn đề đạo đức cách mạng lên hàng đầu, “Tư cách của người cách mệnh”. Đảng cách mạng không chỉ cần có lý luận tiên phong dẫn đường để làm tròn vai trò tiên phong của Đảng mà còn nhấn mạnh vào những điểm cốt yếu: làm cách mạng trước hết phải có Đảng lãnh đạo, với Đảng trước hết phải có chủ nghĩa dẫn đường. Đảng không có chủ nghĩa giống như người không có trí khôn, không có kim chỉ nam hành động. Chủ nghĩa, học thuyết nhiều nhưng chân chính cách mạng nhất, triệt để nhất thì chỉ có chủ nghĩa Lênin (chủ nghĩa Mác - Lênin). Đảng phải “giữ chủ nghĩa cho vững” và “ít lòng tham muốn về vật chất”. Đó là dự cảm đạo đức vô cùng sáng suốt của Người.

    Cuộc khủng hoảng trầm trọng của chủ nghĩa xã hội hiện thực sau hơn bảy thập kỷ tồn tại và sự đổ vỡ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu vào thập kỷ cuối thế kỷ XX đã chứng thực những dự cảm sáng suốt đó.

    Năm 1941, khi về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị Trung ương 8 của Đảng, quyết định chuyển hướng chiến lược, đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu, trên lập trường, quan điểm của giai cấp công nhân, giải quyết đúng đắn và sáng tạo mối quan hệ giai cấp và dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Người, Đảng ta giương cao ngọn cờ đoàn kết, đại đoàn kết, thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh). Người viết thư kêu gọi toàn quốc đồng bào đoàn kết để “đánh tan thù chung”, “cứu giống nòi ra khỏi cảnh nước sôi lửa nóng”, giành độc lập tự do… dẫn đến Cách mạng tháng Tám, giải quyết đúng đắn mối quan hệ Thời - Thế - Lực trong thực tiễn cách mạng, năm 1945.

    Đó là một mẫu mực điển hình về tận dụng tình thế và thời cơ cách mạng, về xây dựng lực lượng và phát huy vai trò quần chúng Nhân dân trong sáng tạo lịch sử. Tầm nhìn chiến lược và tài năng tổ chức của Hồ Chí Minh trong những quyết định lịch sử tại Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân đại hội Tân Trào giữa tháng 8/1945, phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, tuyên bố độc lập trước khi quân đồng minh kéo vào Việt Nam cũng là một mẫu mực về sự kết hợp khoa học và nghệ thuật trong cách mạng giải phóng dân tộc, “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.

    Đó là những minh chứng về sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh lịch sử và điều kiện cụ thể của Việt Nam của Hồ Chí Minh. Đây là một ví dụ kinh điển chứng minh giá trị và sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, của Đảng ta và thiên tài tư tưởng, tổ chức của lãnh tụ Hồ Chí Minh.

    Năm 1946, Chính phủ do Hồ Chí Minh đứng đầu đã gây dựng nền móng chế độ dân chủ cộng hòa, giải quyết những di sản mục nát của đế quốc thực dân, phong kiến để lại, chủ động đối phó với chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, dựa vào sức mạnh toàn dân và phát huy cao độ sức mạnh của lòng yêu nước, “thà hy sinh tất cả quyết không chịu mất nước, quyết không chịu làm nô lệ”, “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, “trường kỳ kháng chiến”, “kháng chiến tất thắng, kiến quốc tất thành”. Trong thời kỳ 1946 - 1954, với đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Nam đã đánh bại hoàn toàn chủ nghĩa thực dân Pháp, miền Bắc được giải phóng nhưng miền Nam lại rơi vào sự thống trị của chủ nghĩa thực dân kiểu mới là đế quốc Mỹ.

    Đảng ta đã kết hợp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam với cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, từ năm 1954 đến năm 1975, đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược, với tinh thần “không có gì quý hơn độc lập, tự do”, thực hiện thống nhất Tổ quốc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, “đánh thắng hai đế quốc to” (chủ nghĩa thực dân kiểu cũ của Pháp và chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ). Đó là bằng chứng lịch sử về sức sống, ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tiến trình cách mạng giải phóng và phát triển ở Việt Nam.

    Những sự kiện lịch sử từ năm 1975 tới nay, nhất là qua 35 năm đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa (1986 - 2021), vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, có lúc hiểm nghèo, Việt Nam đã giải quyết thành công mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển, tiếp tục giữ vững phương hướng chính trị, hướng tới phát triển nhanh và bền vững. Đảng ta không chỉ trưởng thành về trình độ lý luận mà còn tỏ rõ bản lĩnh chính trị trong hơn 3/4 thế kỷ lãnh đạo và cầm quyền, để đưa Việt Nam tới cơ đồ và sự nghiệp như hiện nay.

    Thực tiễn đã chứng minh những khẳng định có tính nguyên tắc của Đảng trong các cương lĩnh, các văn kiện đại hội theo suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, nhất là trong thời kỳ đổi mới là đúng đắn và sáng tạo.

    Thứ nhất, kiên định con đường cách mạng đã lựa chọn, trung thành với lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; với phương thức phát triển của Việt Nam: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, từng bước quá độ tới chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Đó là phương thức “phát triển rút ngắn” và “quá độ gián tiếp” phù hợp với xu thế khách quan của lịch sử, của thời đại và với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của Việt Nam. Đổi mới mang tầm vóc cách mạng, có nguyên tắc, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Thứ hai, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam hành động của cách mạng Việt Nam.

    Thứ ba, đảm bảo vai trò lãnh đạo và địa vị cầm quyền của Đảng Cộng sản trong tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam trước đây và trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay.

Trích - Sưu tầm

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét