Khi người thanh niên Nguyễn Tất Thành đi tìm đường cứu nước,
cứu dân (ngày 05/6/1911), nước ta đã mất độc lập chủ quyền. Nhân dân
ta sống trong tình cảnh vong quốc, nước mất nhà tan, bị bóc lột, áp
bức và nô dịch dưới ách thống trị của đế quốc thực dân Pháp cùng
bè lũ phong kiến tay sai bán nước. Việt Nam đã trở thành một xứ
thuộc địa dưới chế độ thực dân, nửa phong kiến. Đất nước chìm đắm
trong đêm dài nô lệ, khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước.
Cuộc hành trình tìm đường, chọn đường và nhận đường của
Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh kéo dài 30 năm (1911
- 1941). Bằng phương thức lao động vô sản hóa, Người đã lăn lộn trong
thực tiễn đấu tranh giữa những người cùng khổ ở khắp các đại dương,
châu lục để nhận rõ bản chất của kẻ thù và nhận thức tính tất
yếu của con đường giải phóng dân tộc chỉ có thể là con đường cách
mạng vô sản. Đó là cuộc cách mạng theo ý thức hệ tiên tiến nhất
của thời đại - ý thức hệ của giai cấp công nhân, kết tinh thành tư
tưởng - lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Người sáng lập Đảng Cộng
sản theo học thuyết Đảng kiểu mới của V.I.Lênin. Sau 30 năm hoạt động
ở nước ngoài, năm 1941, Người về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng
Việt Nam, dẫn tới thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám, năm
1945, lập nên chế độ dân chủ cộng hòa, giành lại độc lập, khẳng định
chủ quyền, đưa dân tộc và Nhân dân tới tự do và làm chủ. Đó là
những bước ngoặt, những dấu mốc lịch sử đặc biệt quan trọng của
cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Những bước ngoặt, những dấu mốc
lịch sử ấy chẳng những được soi sáng bởi chủ nghĩa Mác - Lênin mà
còn tỏ rõ thiên tài tư tưởng và tổ chức của lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc - Hồ Chí Minh cùng với những cống hiến vô giá của Người đối
với dân tộc và quốc tế trong lịch sử hiện đại ở thế kỷ XX. Có thể
minh chứng bằng một số sự kiện điển hình dưới đây:
Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tiếp xúc với Luận cương của V.I.Lênin
về quyền tự quyết của các dân tộc thuộc địa. Cách mạng tháng Mười
Nga năm 1917 thắng lợi. Giai cấp công nhân và Nhân dân lao động đã giành
được quyền lực về tay mình. Nước Nga Xô viết xã hội chủ nghĩa đã ra
đời, khai sinh cho chủ nghĩa xã hội hiện thực với tư cách là một
chế độ xã hội kiểu mới, lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử thế
giới dù là một hiện tượng đơn nhất nhưng đã mang ý nghĩa phủ định
chủ nghĩa tư bản về nguyên tắc. Từ đấy, một thời đại mới, một kỷ
nguyên mới đã mở ra - Thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội, kỷ nguyên giải phóng các dân tộc bị áp bức, giành
độc lập dân tộc và quá độ tới chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư
bản chủ nghĩa.
Chuyển biến có tính bước ngoặc đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc
là từ một người yêu nước với ý thức và tình cảm dân tộc sâu sắc
đã trở thành một chiến sĩ cộng sản. Trên lập trường giai cấp công
nhân, giác ngộ lý tưởng cộng sản, Người đã tán thành đường lối của
Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III), theo chủ nghĩa Lênin (Mác - Lênin) và
con đường cách mạng vô sản. Người nhận rõ cách mạng tháng Mười Nga
năm 1917 là hình mẫu điển hình về một cuộc cách mạng triệt để
(cách mạng đến nơi) cần phải noi theo. Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng
Cộng sản Pháp tại Đại hội Tours, năm 1920. Bước ngoặc ấy dẫn đến sự
kiện lịch sử trọng đại tiếp theo, sau một thập kỷ. Đó là năm 1930,
Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam. Người không chỉ
đặt tên cho Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam mà còn là tác giả đầu
tiên, trực tiếp soạn thảo Chính cương, Sách lược vắn tắt, Điều lệ
vắn tắt của Đảng, đồng thời viết thư gửi đồng bào cả nước, kêu gọi
đồng bào ủng hộ Đảng, theo Đảng làm cách mạng giải phóng dân tộc,
tự giải phóng chính mình. Chính cương, sách lược vắn tắt của Đảng
Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, ngay từ đầu đã đặt
cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam trong quỹ đạo của cách mạng
vô sản, đã xác định rõ mục tiêu và phương thức cách mạng là đi tới
xã hội cộng sản, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, đã khẳng định vai
trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong tiến trình cách mạng. Những tư
tưởng đó của Đảng và của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chứng tỏ giá trị
và ý nghĩa soi đường của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với cách mạng
Việt Nam. Nhờ đó, cuộc khủng hoảng triền miên về đường lối cứu nước
đã được giải quyết và cách mạng Việt Nam đã được dẫn dắt bởi ý
thức hệ tiên tiến nhất của thời đại.
Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc viết tác phẩm lý luận nổi tiếng “Bản án chế độ
thực dân Pháp”.
Đây là công trình khảo cứu lý luận và lịch sử có tầm vóc lớn được viết trên lập trường,
quan điểm mácxít. Đó thực sự là một bản án, một văn kiện
chính trị - pháp lý kết án tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp đối
với các dân tộc thuộc địa, bị áp bức ở Việt Nam và Đông Dương.
Hai mươi năm sau, ngày 02/9/1945, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn
Độc lập do chính Người soạn thảo tại Thủ đô Hà Nội, khai sinh nền
cộng hòa dân chủ và nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời. Tuyên ngôn
Độc lập cũng đồng thời là tuyên bố “Bản án chế độ thực dân Pháp” đã
được thi hành, từ thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, từ
sức mạnh quyền lực của Nhân dân. Năm 1925 cũng là năm lãnh tụ Nguyễn
Ái Quốc tổ chức và giáo dục nhóm chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi trong
“Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí”, tổ chức tiền thân của
Đảng Cộng sản. Vào lúc này, Người đã trù tính trong Điều lệ và
chương trình hành động của Hội là, sau này, khi cách mạng thắng lợi
và đi vào kiến thiết chế độ mới nhất định ta sẽ áp dụng “Tân kinh
tế chính sách của Lênin” (Chính sách Kinh tế mới - NEP). Đó là mầm
mống đầu tiên để hình thành tư tưởng đổi mới và hội nhập của Hồ
Chí Minh sau này.
Năm 1927, Nguyễn Ái Quốc viết tác phẩm “Đường kách mệnh” làm
tài liệu huấn luyện về chiến lược và phương pháp cách mạng cho các
lớp cán bộ đầu tiên của Đảng. Tác phẩm đã đặt nền móng tư tưởng -
chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng. Đây cũng là tác phẩm
lý luận đầu tiên truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước, nhen
nhóm các phong trào cách mạng. Đáng lưu ý là ngay mở đầu tác phẩm,
Nguyễn Ái Quốc đã đặt vấn đề đạo đức cách mạng lên hàng đầu, “Tư
cách của người cách mệnh”. Đảng cách mạng không chỉ cần có lý luận
tiên phong dẫn đường để làm tròn vai trò tiên phong của Đảng mà còn
nhấn mạnh vào những điểm cốt yếu: làm cách mạng trước hết phải có
Đảng lãnh đạo, với Đảng trước hết phải có chủ nghĩa dẫn đường.
Đảng không có chủ nghĩa giống như người không có trí khôn, không có
kim chỉ nam hành động. Chủ nghĩa, học thuyết nhiều nhưng chân chính
cách mạng nhất, triệt để nhất thì chỉ có chủ nghĩa Lênin (chủ
nghĩa Mác - Lênin). Đảng phải “giữ chủ nghĩa cho vững” và “ít lòng
tham muốn về vật chất”. Đó là dự cảm đạo đức vô cùng sáng suốt
của Người.
Cuộc khủng hoảng trầm trọng của chủ nghĩa xã hội hiện thực
sau hơn bảy thập kỷ tồn tại và sự đổ vỡ chế độ xã hội chủ nghĩa
ở Liên Xô và Đông Âu vào thập kỷ cuối thế kỷ XX đã chứng thực những
dự cảm sáng suốt đó.
Năm 1941, khi về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Nguyễn
Ái Quốc chủ trì Hội nghị Trung ương 8 của Đảng, quyết định chuyển
hướng chiến lược, đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu, trên
lập trường, quan điểm của giai cấp công nhân, giải quyết đúng đắn và
sáng tạo mối quan hệ giai cấp và dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của
Người, Đảng ta giương cao ngọn cờ đoàn kết, đại đoàn kết, thành lập
Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh). Người viết thư kêu
gọi toàn quốc đồng bào đoàn kết để “đánh tan thù chung”, “cứu giống
nòi ra khỏi cảnh nước sôi lửa nóng”, giành độc lập tự do… dẫn đến
Cách mạng tháng Tám, giải quyết đúng đắn mối quan hệ Thời - Thế -
Lực trong thực tiễn cách mạng, năm 1945.
Đó là một mẫu mực điển hình về tận dụng tình thế và thời
cơ cách mạng, về xây dựng lực lượng và phát huy vai trò quần chúng
Nhân dân trong sáng tạo lịch sử. Tầm nhìn chiến lược và tài năng tổ
chức của Hồ Chí Minh trong những quyết định lịch sử tại Hội nghị
toàn quốc của Đảng và Quốc dân đại hội Tân Trào giữa tháng 8/1945,
phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, tuyên bố
độc lập trước khi quân đồng minh kéo vào Việt Nam cũng là một mẫu
mực về sự kết hợp khoa học và nghệ thuật trong cách mạng giải
phóng dân tộc, “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.
Đó là những minh chứng về sự vận dụng và phát triển sáng
tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh lịch sử và điều kiện cụ
thể của Việt Nam của Hồ Chí Minh. Đây là một ví dụ kinh điển chứng
minh giá trị và sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin từ thực tiễn
cách mạng Việt Nam, của Đảng ta và thiên tài tư tưởng, tổ chức của
lãnh tụ Hồ Chí Minh.
Năm 1946, Chính phủ do Hồ Chí Minh đứng đầu đã gây dựng nền
móng chế độ dân chủ cộng hòa, giải quyết những di sản mục nát của
đế quốc thực dân, phong kiến để lại, chủ động đối phó với chiến
tranh xâm lược của thực dân Pháp, dựa vào sức mạnh toàn dân và phát
huy cao độ sức mạnh của lòng yêu nước, “thà hy sinh tất cả quyết
không chịu mất nước, quyết không chịu làm nô lệ”, “vừa kháng chiến,
vừa kiến quốc”, “trường kỳ kháng chiến”, “kháng chiến tất thắng,
kiến quốc tất thành”. Trong thời kỳ 1946 - 1954, với đỉnh cao là chiến
thắng Điện Biên Phủ, Việt Nam đã đánh bại hoàn toàn chủ nghĩa thực
dân Pháp, miền Bắc được giải phóng nhưng miền Nam lại rơi vào sự thống trị của
chủ nghĩa thực dân kiểu mới là đế quốc Mỹ.
Đảng ta đã kết hợp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền
Nam với cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, từ năm 1954 đến năm
1975, đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược, với tinh thần “không có gì quý
hơn độc lập, tự do”, thực hiện thống nhất Tổ quốc, giải phóng hoàn
toàn miền Nam, “đánh thắng hai đế quốc to” (chủ nghĩa thực dân kiểu
cũ của Pháp và chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ). Đó là bằng
chứng lịch sử về sức sống, ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tiến trình cách mạng giải phóng và
phát triển ở Việt Nam.
Những sự kiện lịch sử từ năm 1975 tới nay, nhất là qua 35 năm
đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa (1986 - 2021), vượt qua muôn
vàn khó khăn, thử thách, có lúc hiểm nghèo, Việt Nam đã giải quyết
thành công mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển, tiếp tục
giữ vững phương hướng chính trị, hướng tới phát triển nhanh và bền
vững. Đảng ta không chỉ trưởng thành về trình độ lý luận mà còn tỏ
rõ bản lĩnh chính trị trong hơn 3/4 thế kỷ lãnh đạo và cầm quyền,
để đưa Việt Nam tới cơ đồ và sự nghiệp như hiện nay.
Thực tiễn đã chứng minh những khẳng định có tính nguyên tắc
của Đảng trong các cương lĩnh, các văn kiện đại hội theo suốt tiến
trình cách mạng Việt Nam, nhất là trong thời kỳ đổi mới là đúng
đắn và sáng tạo.
Thứ nhất, kiên định con đường cách mạng đã lựa chọn, trung
thành với lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội;
với phương thức phát triển của Việt Nam: độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội, từng bước quá độ tới chủ nghĩa xã hội, bỏ qua
chế độ tư bản chủ nghĩa. Đó là phương thức “phát triển rút ngắn”
và “quá độ gián tiếp” phù hợp với xu thế khách quan của lịch sử,
của thời đại và với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của
Việt Nam. Đổi mới mang tầm vóc cách mạng, có nguyên tắc, giữ vững
định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền
tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam hành động của cách mạng Việt
Nam.
Thứ ba, đảm bảo vai trò lãnh đạo và địa vị cầm quyền của
Đảng Cộng sản trong tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam
trước đây và trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay.
Trích - Sưu tầm
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét