Chủ Nhật, 7 tháng 1, 2024

 

VIỆT NAM KHÔNG CÓ TỰ DO DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN - LUẬN ĐIỆU CẦN BÁC BỎ

Đã từ lâu, vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” luôn được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Vì vậy, nhận rõ bản chất và kiên quyết đấu tranh bác bỏ các luận điệu vu cáo, xuyên tạc, làm thất bại mưu đồ nham hiểm, thâm độc của chúng là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống kẻ thù xâm lược để bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, người dân Việt Nam thấu hiểu những giá trị to lớn của độc lập, tự do, hiểu rõ quyền con người và cũng nhận rõ ai là bạn, ai là thù, đâu là đối tác, đối tượng. Sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên nhiều lĩnh vực; vị thế, uy tín quốc tế của đất nước ngày càng được nâng lên, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện. Bạn bè và du khách quốc tế đến Việt Nam đều nhận thấy sự đổi thay từng ngày và coi đây là điểm đến an toàn, thân thiện, mến khách, một đất nước có chính trị - xã hội ổn định, kinh tế phát triển mạnh mẽ, quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường, quyền tự do, dân chủ của người dân luôn được tôn trọng và phát huy. Đặc biệt, vấn đề dân chủ, nhân quyền được Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo với nhiều chủ trương, chính sách và giải pháp đúng đắn, phù hợp và đạt được nhiều kết quả thiết thực, không thể phủ nhận. Thế nhưng, với bản chất phản động, thù nghịch cố hữu, các thế lực thù địch vẫn điên cuồng chống phá cách mạng Việt Nam, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa; trong đó, lĩnh vực dân chủ, nhân quyền là chiêu bài được chúng triệt để lợi dụng.

Vì vậy, nhận diện, đấu tranh, phòng, chống, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch xuyên tạc về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam là nhiệm vụ thường xuyên, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn, đòi hỏi cả hệ thống chính trị và toàn dân, nòng cốt là lực lượng chuyên trách phòng, chống “diễn biến hòa bình” và đội ngũ cán bộ, đảng viên cần phát huy trách nhiệm, đề cao cảnh giác cách mạng, có quyết tâm chính trị cao, nội dung toàn diện, đồng bộ, giải pháp khoa học, thiết thực.

Trước hết, cần nhận rõ “dân chủ”, “nhân quyền” là mũi tấn công chủ yếu của các thế lực thù địch

Sau thành công của những xung đột chính trị nhằm lật đổ chế độ chính trị ở một số quốc gia Đông Âu, Trung Đông và Bắc Phi bằng các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng cam”, “cách mạng đường phố”,… các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình” ở Việt Nam với những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hơn, trong đó có chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”. Họ cho rằng, học thuyết “dân chủ”, “nhân quyền” cần áp dụng với Việt Nam là: xóa bỏ nền tảng tư tưởng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản. Đây là một trong những mũi tấn công chủ yếu của các thế lực thù địch thông qua các luận điệu xuyên tạc, hòng bóp méo sự thật, phủ nhận quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân chủ, nhân quyền.

Mục đích của các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” nhằm thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; tuyên truyền, xuyên tạc làm rối loạn tình hình chính trị ở Việt Nam, v.v. Những phương thức cụ thể mà họ vẫn thường sử dụng là: lợi dụng danh nghĩa “nhà dân chủ”, “đấu tranh vì nhân quyền” để xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; lợi dụng vấn đề chống tham nhũng, những hạn chế trong quản lý xã hội của chính quyền cơ sở, thiếu sót trong quản lý, điều hành đất nước hoặc những vấn đề bức xúc, khiếu kiện kéo dài chưa được giải quyết để lôi kéo, kích động những phần tử bất mãn với chế độ đẩy mạnh các hoạt động gây rối, biểu tình, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Mặt khác, họ chủ động tác động vào nhận thức, tư tưởng, tình cảm của một bộ phận nhân dân thông qua những chiêu trò, như: “hỗ trợ kinh phí để thực hiện việc khiếu kiện”; hỗ trợ nhân đạo kèm theo những điều kiện bắt buộc như tham gia các hội, nhóm, diễn đàn, hội thảo; lợi dụng sai phạm của một số cán bộ, đảng viên để đánh đồng, quy chụp thành bản chất, bôi nhọ, nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp, từng bước hạ thấp làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ.

Cùng với đó, họ ra sức tuyên truyền, cổ xúy, cường điệu hóa các giá trị dân chủ tư sản phương Tây, tuyệt đối hóa tính toàn cầu, tính phổ cập của quyền con người với luận điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “lợi ích cá nhân cao hơn lợi ích quốc gia, dân tộc”; xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền cơ bản của con người, tự do tôn giáo, v.v. Đặc biệt, chúng đẩy mạnh các “chiến dịch” phá hoại tư tưởng, hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế khi chúng ta đăng cai tổ chức những sự kiện chính trị quan trọng hay tham gia các hội nghị, diễn đàn đa phương, song phương, nhất là của Liên hợp quốc.

Các thế lực thù địch còn lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” làm điều kiện để gây sức ép, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam. Một số tổ chức, cá nhân còn tìm cách gắn vấn đề viện trợ, hợp tác kinh tế với các điều kiện về dân chủ, nhân quyền trong quan hệ với Việt Nam, đòi Việt Nam phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, cải cách chính trị, dân chủ và pháp luật theo kiểu phương Tây. Họ gây sức ép, buộc Việt Nam phải có những tiến bộ cụ thể về dân chủ, nhân quyền, phải đưa ra các lộ trình cụ thể trong thực hiện các điều ước quốc tế về dân chủ, nhân quyền, v.v. Các đối tượng này còn gửi thư, bản kiến nghị tới một số quốc gia, tổ chức quốc tế để phản đối việc cơ quan chức năng Việt Nam bắt giữ, xét xử các phần tử lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền” để vi phạm pháp luật, đòi trả tự do cho cái gọi là “tù nhân lương tâm”; đồng thời, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp người bất đồng chính kiến, người yêu nước, từ đó kêu gọi sự can thiệp của cộng đồng quốc tế. Ngoài ra, họ còn sử dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để thúc đẩy, hình thành hội, nhóm, tổ chức chính trị đối lập, thúc đẩy sự ra đời của các khuynh hướng dân chủ cực đoan, phát triển “xã hội dân sự”,… để chống phá từ bên trong với lý lẽ cho rằng, chế độ độc đảng ở Việt Nam là trở ngại lớn nhất trong tiến trình dân chủ hóa, muốn có dân chủ thực sự thì Việt Nam phải xóa bỏ chế độ độc đảng.

Chủ động đấu tranh, phản bác có hiệu quả mọi luận điệu xuyên tạc về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam

Trên cơ sở nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền của các thế lực thù địch, các cấp, ngành, địa phương và cả hệ thống chính trị cần tập trung thực hiện đồng bộ, quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp, nhằm đập tan âm mưu, thủ đoạn của chúng, giữ vững ổn định chính trị đất nước.

1. Tiếp tục đặt công tác phòng, chống hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, thường xuyên, toàn diện của Đảng và sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước. Đây là giải pháp cơ bản, quan trọng và có ý nghĩa quyết định trong triển khai công tác đấu tranh, phòng, chống làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” để chống phá; đồng thời, khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta: dân chủ là bản chất, là mục tiêu, là động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Với phương châm chỉ đạo, công tác lý luận, tư tưởng phải đi trước, đón đầu, không tạo “khoảng trống thông tin” để các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc chống phá, các cơ quan chức năng phải không ngừng nâng cao nhận thức, kỹ năng, xây dựng kế hoạch chiến lược, sách lược, tổ chức lực lượng một cách bài bản, khoa học trong đấu tranh, phản bác; thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục và hiệu quả của công tác tư tưởng. Để thực hiện có hiệu quả giải pháp này cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân; trong đó, đi đầu là đội ngũ cán bộ, đảng viên, với lực lượng nòng cốt là Ban Chỉ đạo 35 các cấp, nhất là Ban Chỉ đạo 35 của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; Bộ Công an; Bộ Thông tin và Truyền thông; Ban Tuyên giáo Trung ương; Bộ Ngoại giao; Hội đồng Lý luận Trung ương cùng hệ thống các cơ quan truyền thông, báo chí, xuất bản và đội ngũ các nhà nghiên cứu khoa học, tuyên truyền viên,… tạo thành mạng lưới đấu tranh ngày càng đông đảo và hiệu quả.

2. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” chống phá cách mạng Việt Nam. Đây là giải pháp tạo sự đồng thuận, thống nhất về nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị, các cấp, ngành trong thực hiện nhiệm vụ đấu tranh làm thất bại mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền. Theo đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao lập trường tư tưởng, có bản lĩnh chính trị vững vàng để nhận diện và kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm, sai trái thù địch, xuyên tạc, vu khống, phủ nhận thành tựu dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Thường xuyên tuyên truyền, vận động nhân dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa nắm chắc âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, nhận diện rõ các bài viết, những luận điệu sai trái đăng tải trên các trang mạng xã hội; không để thế lực thù địch kích động, lôi kéo vào các hoạt động biểu tình, khiếu kiện đông người hoặc vô tình bị các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá Đảng và Nhà nước. Cùng với đó, cấp ủy, chính quyền các cấp, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị từ Trung ương tới địa phương cần chỉ đạo các cơ quan truyền thông, báo chí, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, thường xuyên tuyên truyền các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu về dân chủ, nhân quyền mà Việt Nam đạt được. Không ngừng củng cố nhận thức chính trị cho đội ngũ cán bộ đảng viên và nhân dân, giữ vững “thế trận lòng dân”; làm tốt công tác vận động quần chúng, tăng cường và nâng cao hiệu quả từ phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc, thực hiện mỗi cán bộ, đảng viên là chiến sĩ trên mặt trận bảo vệ nền tảng tư tưởng, thực hành phát huy dân chủ, nhân quyền.

3. Đổi mới nội dung, đa dạng các hình thức, biện pháp đấu tranh, bảo vệ vững chắc nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhân quyền ở Việt Nam. Đổi mới, bổ sung nội dung đấu tranh trên cơ sở giữ vững quan điểm và nguyên tắc của Đảng và Nhà nước; mềm dẻo, linh hoạt, nhân văn trong phương pháp; công khai, minh bạch, dân chủ, góp phần tạo dư luận xã hội lành mạnh, đồng thuận. Trong đó, sử dụng các kênh truyền thông chính thống và các mạng xã hội để tiếp cận đông đảo quần chúng nhân dân, vừa tuyên truyền, vừa bóc trần những xuyên tạc vô căn cứ của các thế lực thù địch lợi dụng những vấn đề chính trị, xã hội để chống phá. Cùng với đấu tranh “trực diện” cần không ngừng nâng cao ý thức cảnh giác, tăng cường ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đa dạng hóa các hoạt động đấu tranh, thiết lập và sử dụng các biện pháp kỹ thuật, ngăn chặn một cách có hiệu quả. Kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng và quy định của tổ chức, cơ quan, đơn vị. Ngoài ra, thường xuyên tuyên truyền những thành tựu về dân chủ, nhân quyền mà Việt Nam đạt được để nhân dân và bạn bè quốc tế thấy được chính sách, bản chất ưu việt của chế độ xã hội ở Việt Nam.

4. Kết hợp phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, xóa đói, giảm nghèo với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao trình độ dân trí, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm ổn định chính trị, trật tự xã hội để các thế lực thù địch không còn “đất” diễn. Cấp ủy, chính quyền các địa phương cần nắm bắt tâm tư nguyện vọng của nhân dân, nhanh chóng giải quyết các vụ khiếu kiện gây bức xúc trong nhân dân. Tăng cường các biện pháp định hướng dư luận, đưa thông tin đúng, chính thống đến nhân dân, không để xảy ra những tình huống bị động, bất ngờ gây mất ổn định chính trị ở cơ sở; chú trọng khoanh vùng, giải quyết dứt điểm các “điểm nóng”, không để lan rộng, kéo dài gây bức xúc dư luận. Thường xuyên chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đặc biệt là đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, đồng bào dân tộc thiểu số; tạo điều kiện để nhân dân được thực hiện quyền tự do tín ngưỡng theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, các cấp, các ngành quan tâm chăm lo xây dựng “thế trận lòng dân”, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên mọi lĩnh vực, nhất là môi trường mạng, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa.

5. Thường xuyên nắm chắc tình hình, dự báo sớm âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” để chống phá của các thế lực thù địch; chủ động có biện pháp đấu tranh phù  hợp. Dân chủ, nhân quyền là vấn đề nhạy cảm, phức tạp mà các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá, hòng thực hiện mưu đồ chính trị đen tối. Vì vậy, chúng ta cần chủ động, nhạy bén nắm chắc các đối tượng phản động, thù địch, cũng như các thủ đoạn chống phá “từ trong trứng nước” để có các biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa sớm, không để ăn sâu bám rễ trong nhân dân. Thường xuyên triển khai các biện pháp nắm và phòng ngừa bảo đảm linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với pháp luật Việt Nam cũng như luật pháp và quy định, thông lệ quốc tế, không để xảy ra sai sót dẫn đến các thế lực thù địch có thể lợi dụng chống phá. Quá trình triển khai các hoạt động đấu tranh không nên dàn trải mà phải có trọng tâm, trọng điểm, trực diện vào vấn đề phức tạp, điểm nóng, đối tượng cầm đầu, chủ mưu; đồng thời, chủ động, phê phán, phản bác, ngăn chặn những luận điệu phủ nhận thành tựu về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam.

 

DÂN CHỦ CẦN THỰC HIỆN NHƯ THẾ NÀO CHO ĐÚNG?


Vừa qua, trên không gian mạng, các thế lực thù địch tung ra nhiều thông tin sai lệch, bịa đặt, mang tính chống phá vấn đề dân chủ (trong đó có quyền làm chủ của người dân) ở Việt Nam. Chúng tuyên truyền rằng, ở Việt Nam không có dân chủ, “người dân không hề biết và cũng không có quyền gì trong việc lựa chọn người lãnh đạo đất nước, cũng như việc tham gia giám sát quyền lực nhà nước”. Chúng cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam “bất chấp luôn chủ trương “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, hay Đảng không cho người dân “có tiếng nói và hành động trong “xây dựng, chỉnh đốn Đảng” và “chống tham nhũng, tiêu cực”. Chúng kêu gọi, kích động người dân muốn có dân chủ thì phải “lật đổ” Đảng, chế độ…

Nhưng sự thật tình hình dân chủ ở Việt Nam cho thấy, những thông tin trên là sai trái, xấu, độc, mang tính chống phá. Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn hiểu đúng và thực hiện đúng những vấn đề liên quan đến quyền làm chủ, dân chủ của nhân dân.

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới chế độ Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: “Nhân dân có nghĩa vụ, đồng thời có quyền lợi. Nhân dân có quyền tự do tư tưởng, tự do tổ chức, tự do tín ngưỡng... có quyền ứng cử và bầu cử…”. Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải: “… làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”. Hồ Chí Minh luôn chỉ rõ mối quan hệ giữa quyền dân chủ và nghĩa vụ trong thực hiện dân chủ của nhân dân. Khi bàn về xây dựng những con người của chủ nghĩa xã hội, Người yêu cầu ai cũng phải là một chiến sĩ dũng cảm phấn đấu xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Đã là người Nhà nước thì phải chăm lo việc nước như chăm lo việc nhà” và: “Đã là người chủ thì phải biết tự mình lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ. Mỗi người phải ra sức góp công, góp của để xây dựng nước nhà. Ngày 27-2-1961, tại Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ II, Hồ Chí Minh nói: Đã có quyền hạn làm chủ, thì phải làm trọn nghĩa vụ của người chủ. Nghĩa vụ đó là: Cần, kiệm xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhằm mục đích không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động.

Hồ Chí Minh cũng đưa ra nhiều chủ trương, giải pháp để thực hiện quyền và nghĩa vụ trong dân chủ. Người xác định muốn có quyền làm chủ, muốn thực hiện tốt dân chủ thì phải thi đua sản xuất nhiều, nhanh, tốt, rẻ và thực hành tiết kiệm. Còn trong bài Tự phê bình, phê bình, sửa chữa đăng trên Báo Nhân dân ngày 26-7-1956, Người viết: “Dưới chế độ dân chủ, thì mọi người, trước hết là mọi cán bộ, mọi cơ quan và đoàn thể cần phải thật thà tự phê bình và hoan nghênh người khác phê bình mình; có như vậy mới tiến bộ được”.

Đồng thời, Hồ Chí Minh thẳng thắn chỉ ra những căn bệnh cần phải phòng tránh, loại bỏ, xử lý kiên quyết trong thực hiện dân chủ. Đó là tình trạng dân chủ quá trớn, tự do vô chính phủ, vô kỷ luật, lợi dụng dân chủ để vi phạm pháp luật. Khi nói chuyện với bộ đội Quân chủng phòng không - không quân vào tháng 7-1965, Hồ Chí Minh căn dặn: “Kỷ luật trong dân chủ, dân chủ phải có kỷ luật”. Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “… làm việc phải có dân chủ bàn bạc, nhưng chú ý dân chủ phải có tổ chức kỷ luật” và: “Có chuyên chính thực sự, có dân chủ thực sự thì mới tiến lên chủ nghĩa xã hội được”.

Những năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thường xuyên đưa ra những chủ trương, chính sách, giải pháp tích cực, đồng bộ liên quan đến vấn đề dân chủ.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam”. Tổng Bí thư nhấn mạnh chủ trương: “… không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trên cơ sở liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”. Tổng Bí thư yêu cầu việc thực hiện dân chủ phải gắn chặt với kỷ cương, phép nước, đi vào thực chất. Tháng 10-2023, tiếp xúc cử tri Hà Nội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Cứ cậy mình là cán bộ cấp trên đi xuống hạnh họe nhân dân là không được. Nhưng dân lại bảo dân làm chủ rồi nói tôi chẳng nghe thì cũng không được nên cần có luật pháp, Nhà nước phải có kỷ cương, dưới sự lãnh đạo của Đảng”.

Đảng ta đã có nhiều quy định để cán bộ, đảng viên làm tốt việc tạo thuận lợi cho nhân dân thực hiện dân chủ. Đảng yêu cầu cán bộ, đảng viên phải tôn trọng dân chủ của nhân dân, gần gũi, giúp đỡ, học hỏi nhân dân. Đặc biệt, để giữ cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, Đảng đã đưa ra các biểu hiện sai trái cần phòng tránh, khắc phục và những điều đảng viên không được làm, trong đó có nội dung liên quan đến vấn đề dân chủ. Như: Nghị quyết số 04-NQ/TW của Đảng chỉ ra 27 biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, trong đó có: “Quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân”. Và Đảng Quy định về Những điều đảng viên không được làm, tại Điều 3: “Phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không nêu gương; chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; “tư duy nhiệm kỳ”, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chúng”.

Vừa qua, cùng với sự lãnh đạo của Đảng, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, nhân dân ta đã thực hiện tốt Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở. Nhân dân vừa được hưởng quyền của mình về dân chủ, vừa chấp hành nghiêm nghĩa vụ của mình trong thực hiện dân chủ theo đúng quy định của pháp luật. Như: “Được công khai thông tin và yêu cầu cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời”, “Kiểm tra, giám sát, kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với các quyết định, hành vi vi phạm pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở”… nhưng phải “theo đúng quy định của pháp luật”; “Tham gia ý kiến về các nội dung được đưa ra lấy ý kiến ở cơ sở theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”; “Chấp hành quyết định của cộng đồng dân cư, chính quyền địa phương, cơ quan, đơn vị, tổ chức sử dụng lao động”.

Mỗi người chúng ta cần tin tưởng và quyết tâm cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra: “Phải coi trọng hơn quản lý phát triển xã hội; mở rộng dân chủ phải gắn với giữ vững kỷ luật, kỷ cương”.

 

TRỊ "CĂN BỆNH" CÁN BỘ SỢ TRÁCH NHIỆM: NGỰC DÁM ƯỠN ĐÓN NHỮNG PHONG BA DỮ DỘI

Tại sao khi đang muốn viết về bệnh đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên (CB, ĐV), nhất là người đứng đầu trong xã hội ta hiện nay tôi lại nghĩ tới mấy câu thơ của Tố Hữu mà mình đã được học thời phổ thông. Bài thơ tôi được học cách đây nửa thế kỷ, trước khi trở thành người lính Trường Sơn. Có lẽ, lý do duy nhất là tôi nghĩ tới điều tốt đẹp về những con người đã nguyện phấn đấu, hy sinh cho Tổ quốc và nhân dân. "Yêu biết mấy những con người đi tới/ Hai cánh tay như hai cánh bay lên/ Ngực dám đón những phong ba dữ dội/ Chân đạp bùn không sợ các loài sên...".

Mấy câu thơ này tôi chép theo trí nhớ, chẳng biết có chuẩn xác tuyệt đối không nhưng tư tưởng của nó chắc chắn không lầm lẫn, chệch hướng được. Những con người đi tới ấy có lý tưởng cách mạng cao đẹp, có phẩm chất đạo đức trong sáng, dám nghĩ, dám làm vì Tổ quốc, vì nhân dân mà kể đến đầu tiên không ai khác chính là đội ngũ trí thức, CB, ĐV.

Cùng dân tộc đi qua các cuộc kháng chiến vĩ đại nhất để giải phóng đất nước, bảo vệ non sông và xây dựng Tổ quốc vô cùng cam go khốc liệt, lớp lớp đảng viên đã làm đúng lời thề cao cả của mình. Họ đi trước và sẵn sàng nhận lấy những khó khăn, gian khổ nhất, không nề hà mất mát, hy sinh. Có thế đất nước mới được độc lập, thống nhất, hòa bình và đổi thay như bây giờ. Nhưng, cũng vì nặng lòng với quá khứ bi tráng ấy mà những CB, ĐV chân chính không khỏi đau buồn, nhức nhối trước thực trạng xuống cấp về phẩm chất đạo đức của một bộ phận (có thể nói là không nhỏ) của CB, ĐV thoái hóa hiện nay. Một trong những biểu hiện của sự xuống cấp đó là căn bệnh đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm của CB, ĐV với những hệ lụy trước mắt và lâu dài của nó.

Sòng phẳng mà nói thì cái tính ích kỷ, hám lợi, muốn dễ mình khó người không phải bây giờ mới có. Tôi nghĩ nó cũng là một thuộc tính của con người nhưng ở phần khuất tối. Nó là góc tăm tối cố thủ bền vững nhất trong tâm tính ta mà chỉ cần có cơ hội là ngóc đầu dậy rủ rê, giục giã con người hành động tiêu cực. Cái sự ích kỷ đó đã có từ thuở ngày xửa, ngày xưa: "Cơm ăn chẳng hết thì treo/ Việc làm chẳng hết thì kêu láng giềng" (ca dao). Lợi ích thì mình hưởng, công việc thì kêu người khác làm, ai mà chịu thấu cơ chứ. Trong chiến tranh, bên cạnh những đồng đội biết “chia lửa, chia bom”, lại có những kẻ đùn đẩy sự nguy hiểm cho người khác để mong bảo toàn mạng sống cho mình. Thậm chí, còn tìm mọi cách để trốn nhập ngũ, tách mình khỏi cuộc kháng chiến chính nghĩa, oanh liệt của dân tộc ta.

Gần đây, tôi có đọc tiểu thuyết "Bất chợt mai vàng" của nhà văn Nguyễn Trí Huân. Trong đó có nhân vật là một chiến sĩ sợ chết nên giả ốm để không phải đi đánh trận. Chỉ huy đơn vị đã cử một người bạn cùng quê với người lính hèn nhát ấy đi chiến đấu thay. Anh ra trận và đã hy sinh anh dũng. Nỗi ân hận, dằn vặt đeo bám người lính hèn nhát còn sống sót sau cuộc chiến đến hết đời. Tuy nhiên, nhà văn của chúng ta xây dựng nhân vật ấy cũng không phải để chì chiết, bỉ bôi hay trách móc ai cả. Nhà văn Nguyễn Trí Huân muốn "Sự thật về cuộc chiến tàn khốc đã lùi xa hơn 50 năm và cũng đến lúc nó cần được khép lại. Khép lại để những con người tham gia cuộc chiến ấy ở cả hai phía có thể sống trong sự tĩnh lặng của đời thường, và cũng bởi cuộc đời như một tấm áo họ đang may dở, hãy để cho họ đơm nốt những chiếc khuy áo cuối cùng...".

Vâng, đúng như thế, cần như thế nhưng những bài học về đối nhân xử thế, về trách nhiệm vẫn phải được nhắc lại, nhắc mãi. Quá khứ khép lại thì cuộc sống mới đồng thời cũng được mở ra. Tổ quốc sau những tan nát, thương đau rất cần những con người mới cho sự nghiệp dựng xây đất nước hôm nay và mai sau. Để cho những thành quả của cách mạng được giữ gìn bền vững và cuộc sống nhân dân ngày càng tươi sáng hơn. Để cho những người theo Đảng được tự do và hạnh phúc ngay trên chính mảnh đất mình đang sống. Mục tiêu ấy, rõ ràng rất khó trở thành hiện thực hay chẳng bao giờ trở thành hiện thực sinh động được khi đội ngũ CB, ĐV cứ đùn đẩy, né tránh trách nhiệm; việc gì thấy có lợi cho mình, gia đình họ hàng, cánh hẩu, phe nhóm thì nhiệt tâm làm, còn ngược lại thì khéo léo chuyển giao sang cho người khác.

Đấy là một thực trạng rất đáng buồn trong một bộ phận không nhỏ CB, ĐV hiện nay. Nó hoàn toàn xa lạ với phẩm chất, đạo đức của CB, ĐV. Những người như Bác Hồ từng dặn rằng: ''Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân" (Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố năm 1969). Không có CB, ĐV nào “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” lại biếng nhác, phất phơ, vụ lợi, phung phí, đùn đẩy, chối bỏ trách nhiệm được tổ chức giao cả. Không có CB, ĐV nào “là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” lại ích kỷ, hẹp hòi và tham lam vô độ cả. Sự đùn đẩy, né tránh trách nhiệm là dấu hiệu dễ thấy nhất của chủ nghĩa cơ hội, khi vui thì vỗ tay vào còn khi gian khó thì tìm cách thoái thác, lẩn tránh. Người chân chính trước hết phải yêu nước thương dân, lo cái lo của nước, lo cái lo của dân. Chẳng phải cụ Nguyễn Trãi từ thế kỷ 15 đã "Bình sinh độc bão tiên ưa niệm/ Tọa ủng hàn khâm dạ bất miên" (Suốt đời một mình ôm cái chí “lo trước thiên hạ”. Ngồi ôm chiếc chăn lạnh, suốt đời không ngủ). Nỗi lo của Ức Trai tiên sinh là nỗi lo làm sao cho dân yên; "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân" ấy mà. Bác Hồ cũng từng có những đêm thao thức vì thương nước, thương dân "Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ/ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà".

Có hai trường hợp mà tôi nghĩ rất đáng để cho CB, ĐV hiện nay lấy làm bài học răn mình. Trường hợp thứ nhất liên quan đến quyết định khó nhất trong đời cầm quân của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông đã bạc tóc khi quyết định đổi chiến thuật “đánh nhanh, thắng nhanh” (đã được thông qua) thành “đánh chắc, tiến chắc” trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Nếu là người không dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm thì chắc chắn Đại tướng không bao giờ thay đổi cách đánh đã thông qua rồi.

Trường hợp thứ hai là cố Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc Kim Ngọc, con người đổi mới, sáng tạo phát triển nông nghiệp. Với nhân dân Việt Nam nói chung và nông dân Việt Nam nói riêng thì những câu chuyện về Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc mãi mãi là huyền thoại trên những thửa ruộng thấm mặn mồ hôi con người. Từ thực trạng “dong công phóng điểm” đến “khoán hộ” ở nông thôn Vĩnh Phúc những năm đất nước còn đánh Mỹ ghi dấu tài đức của người cộng sản chân chính Kim Ngọc. Chính chủ trương “khoán hộ” từ Vĩnh Phúc đã mở ra hướng đi tích cực trong tìm tòi cách thức quản lý mới trong nông nghiệp, gắn lợi ích của người nông dân với kết quả lao động đưa lại nhiều thành tựu to lớn cho nông nghiệp Việt Nam như chúng ta đã thấy. Tôi nghĩ, những CB, ĐV, đặc biệt là người đứng đầu các tổ chức phải soi vào những tấm gương đó để suy nghĩ và hành động. Không có gì cao hơn danh dự con người. Những ai vì nước, vì dân sẽ mãi mãi được nhân dân tôn vinh, tôn thờ. Họ sẽ bất tử trong lòng dân tộc.

Nói đến con người là nói tới văn hóa. Người CB, ĐV phải là người có văn hóa. Văn hóa được thể hiện rõ trong cả nhận thức và hành động, nói và làm. Nhận thức đúng sẽ hành động đúng. Nói hay phải làm tốt. Có thế mới tạo dựng được niềm tin vững bền trong nhân dân. Cốt lõi của văn hóa chính là lòng yêu thương. Trong yêu thương tỏa sáng sự nhân nghĩa. Những mưu mô, lọc lõi, cầu danh, cầu vinh, cầu lợi và làm hại người khác đối nghịch với nhân văn. Nó là mối nguy hại của đất nước, của chế độ. "Quyền mưu bản thị dụng trừ gian/ Nhân nghĩa duy trì quốc thế an" (Nguyễn Trãi); dịch nghĩa: Quyền mưu vốn chỉ dùng để diệt trừ bọn gian ác/ Nhân nghĩa mới giữ gìn cho thế nước được an.

Do đó, Đảng ta, Nhà nước, nhân dân ta muốn giữ vững được đất nước và chế độ để phát triển tốt đẹp, không được mảy may coi thường việc lựa chọn cán bộ. Cán bộ phải được lựa chọn kỹ càng và cần được thử thách nghiêm túc nhất. Phải cho họ được lăn lộn trong những hoàn cảnh gian khó, thậm chí nghiệt ngã để thể hiện phẩm chất và tài năng của mình. Tôi nghĩ, đừng bao giờ, đừng khi nào nghĩ tới chuyện lót đường rải thảm cho họ bước tới chiếc ghế lãnh đạo dù họ xuất thân từ đâu. Hiền tài phải được phát hiện từ quần chúng và được sử dụng xứng tầm tài đức của họ. Đến lúc phải nói không với chủ nghĩa lý lịch, càng kiên quyết loại bỏ việc chạy chức, chạy quyền. Chỉ cần những người có trách nhiệm lựa chọn phải hết sức công tâm và đừng bao giờ bỏ qua tai mắt nhân dân. Những kẻ đùn đẩy, tắc trách cần bị phát hiện và xử lý sớm. Ai không làm được thì tránh ra hoặc buộc phải "bứng đi" để người khác làm. Hãy để vị trí lãnh đạo cho những ai thực sự yêu nước, thương dân, thực sự dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân. Không thể khác được, những CB, ĐV ấy phải là những Con Người viết hoa, dám đứng mũi chịu sào, không quản gian khó, hy sinh, không cong queo, ích kỷ. Họ phải là những con người tiêu biểu của Đảng, của chế độ "Ngực dám đón những phong ba dữ dội".

 

NÊU CAO TINH THẦN TRÁCH NHIỆM, GƯƠNG MẪU, NÓI ĐI ĐÔI VỚI LÀM THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Nêu cao tinh thần trách nhiệm, tính gương mẫu, nói đi đôi với làm của cán bộ, đảng viên là vấn đề có tính cấp thiết nhằm khắc phục tình trạng nhiều đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo cấp cao vi phạm kỷ luật đảng, phải xử lý hình sự do thiếu trách nhiệm, thiếu gương mẫu, nói thông chính sách nhưng lại làm sai…Thực hiện chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị lần thứ bảy, Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, mỗi đảng viên cần tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhất là về nêu cao tinh thần trách nhiệm, tính gương mẫu, nói đi đôi với làm.

Yêu cầu cấp thiết

Phát biểu tại Hội nghị sơ kết một năm hoạt động của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao trách nhiệm nêu gương, ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức; thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về nêu gương, về những điều đảng viên không được làm; cán bộ giữ cương vị càng cao càng phải tiền phong, gương mẫu”. Tại Hội nghị giữa nhiệm kỳ (Hội nghị lần thứ 7) Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng khẳng định: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, thậm chí sợ trách nhiệm của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vẫn là vấn đề rất đáng lo ngại, diễn biến phức tạp, không thể chủ quan, lơ là. Một số đồng chí lãnh đạo cấp cao, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp nhận trách nhiệm chính trị, có vi phạm, có trường hợp cũng phải xử lý theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước”.

Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, xử lý nhiều đảng viên là cán bộ lãnh đạo cấp cao vi phạm suy thoái về tư tưởng chính trị, vi phạm kỷ luật đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Điển hình gần đây là các trường hợp vi phạm liên quan đến vụ án Việt Á, trục lợi từ các chuyến bay giải cứu... Theo số liệu tổng hợp từ Hội nghị toàn quốc sơ kết công tác kiểm tra, giám sát 6 tháng đầu năm 2023, trong toàn Đảng có 190 tổ chức đảng, 8.583 đảng viên (trong đó có 2.142 cấp ủy viên) bị xử lý kỷ luật. Khuyết điểm của đảng viên do Ủy ban Kiểm tra Trung ương kết luận thường là: Thiếu trách nhiệm, thiếu trung thực, vi phạm Luật Phòng, chống tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương…

Thực tế cho thấy sự cần thiết tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương Hồ Chí Minh về nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu, nói đi đôi với làm gắn với việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy chế làm việc của cơ quan, đơn vị.

Tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trước tình hình đồng bào hơn nửa thế kỷ chống thực dân xâm lược Pháp nhưng vẫn bế tắc về đường lối cứu nước, với tinh thần trách nhiệm của một thanh niên yêu nước, Nguyễn Tất thành ra đi tìm đường cứu nước từ vị trí người lao động làm thuê với hai bàn tay trắng, trên tàu Amiral Latouche Tréville ngày 5-6-1911: “Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”. Là người sáng lập Đảng, Nhà nước, mặt trận và Quân đội nhân dân Việt Nam, cả cuộc đời Hồ Chí Minh là tấm gương cho các thế hệ người Việt Nam noi theo về đạo đức cách mạng; về tinh thần trách nhiệm với Tổ quốc, với đồng bào; về sự cống hiến cho dân tộc, cho nhân dân, về tác phong nói đi đôi với làm…

Chứng kiến đồng bào nghèo khổ bị áp bức bóc lột, bị đô hộ, Nguyễn Tất Thành tìm đến nước Pháp “để đòi quyền tự do cho dân An Nam”. Sau gần 10 năm gian khổ vừa làm thuê kiếm sống, vừa tìm tòi, khám phá con đường đi cứu giống nòi, Nguyễn Ái Quốc tự nhận trách nhiệm: “Trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập”. Khi dự thảo Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc quy định trách nhiệm của đảng viên: “(a) Tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản và cổ động quần chúng theo Đảng. (b) Tham gia mọi sự tranh đấu về chính trị và kinh tế của công nông. (c) Phải thực hành cho được chánh sách và nghị quyết của Đảng và Quốc tế Cộng sản. (d) Điều tra các việc. (e) Kiếm và huấn luyện đảng viên mới”(1). Tháng 8-1930, Nguyễn Ái Quốc ốm nặng, bị đau phổi, rất yếu nhưng vẫn viết thư gửi Quốc tế Cộng sản, tham gia xây dựng chương trình nghị sự của Ban Chấp hành, đánh giá tình hình Đông Dương và đề nghị “Hãy gửi cho tôi những tài liệu đã hứa” để Người tiếp tục làm việc.

Không chỉ tự nhận trách nhiệm đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc mình, Nguyễn Ái Quốc còn tự nhận mình và những người đồng chí “có trách nhiệm rất nặng nề” đối với công cuộc giải phóng các dân tộc thuộc địa trên toàn thế giới. Ngay sau khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, từ năm 1931 đến năm 1933, Nguyễn Ái Quốc đã tiến hành các công việc thúc đẩy phong trào cách mạng châu Á: Tổ chức phát triển các cơ sở cách mạng ở châu Á; viết sách giới thiệu về nước Nga; liên lạc với các đảng cộng sản đề nghị giúp đỡ về tài liệu, báo chí; gây dựng và phát triển mạng lưới liên lạc nối Đông Dương - Pháp - Quốc tế Cộng sản - Trung quốc và các nước châu Á khác… Năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước, kính cáo đồng bào, kêu gọi nhân dân đoàn kết cứu quốc, Người khẳng định: Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do, độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, “Tổ quốc là Tổ quốc chung”, “nước là mẹ chung”, vì vậy, ai cũng phải tham gia kháng chiến, ai cũng phải đánh giặc. Cán bộ, đảng viên càng phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng và quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Đối với bản thân Người: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó. Đến lúc nhờ quốc dân đoàn kết, tranh được chính quyền, ủy thác cho tôi gánh việc Chính phủ, tôi lo lắng đêm ngày, nhẫn nhục cố gắng - cũng vì mục đích đó”.  

Năm 1945, trước nạn đói trên miền Bắc, Hồ Chủ tịch phát động toàn dân sẻ cơm nhường áo giúp đồng bào bị đói và Người kêu gọi: “Tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”. Hồ Chủ tịch căn dặn cán bộ: “Mình bảo người ta 10 ngày nhịn ăn một bữa mà chính đến ngày nhịn, mình lại cứ chén tỳ tỳ thì nghe sao được. Đáng lý dân nhịn một bữa mình nhịn hai bữa mới phải”.

Chiến dịch biên giới năm 1954 có ý nghĩa quan trọng trong việc tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một phần biên giới, mở đường giao thông với các nước xã hội chủ nghĩa, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Nguyên thủ quốc gia Hồ Chí Minh trực tiếp ra mặt trận chỉ đạo, động viên các lực lượng tham gia Chiến dịch. Hồ Chí Minh là lãnh tụ tối cao của Đảng, của Nhà nước trực tiếp đi chiến trường đánh giặc đã tạo niềm cổ vũ sức mạnh vô giá để quân và dân ta thắng lợi, giải phóng hoàn toàn khu vực biên giới từ Cao Bằng đến Đình Lập.

Chủ tịch Hồ Chí Minh định hướng xây dựng đời sống mới: Cách ăn mặc phải sạch sẽ, giản đơn, chất phác, chớ lượt thượt, xa xỉ, lòe loẹt. Người là tấm gương lãnh tụ cả đời thanh bạch, sống trong một ngôi nhà sàn nho nhỏ, quanh năm bốn mùa, chỉ mặc một bộ áo vải ka ki cũ, mỗi ngày chỉ có rau ăn rau, có mắm ăn mắm. Người sống bình dị, gần gũi và kính trọng nhân dân. Người dành dụm tiền lương và tiền nhuận bút để mua quà cho các em nhỏ, biếu quà cụ già, ủng hộ đội tự vệ. Nước ta là nước dân chủ, Hồ Chủ tịch thường căn dặn cán bộ, đảng viên tuyệt đối không được lên mặt quan cách mạng ra lệnh ra oai. Người luôn yêu cầu cán bộ, đảng viên phải “lễ độ” với nhân dân khi giao tiếp, đi đúng đường lối quần chúng trong mọi việc và khẳng định: Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân.

Đảng viên phải nói đúng chính sách của Đảng và Chính phủ để tuyên truyền, vận động quần chúng làm theo. Đảng viên phải thống nhất nhận thức và hành động nói phải đi đôi với làm, nói ít, làm nhiều, tiến tới làm rồi mới nói, làm nhiều nói ít và thậm chí làm hết lòng, làm tận tuỵ mà không nói, không tự phô trương. Hồ Chí Minh cũng đã từng phê bình găy gắt những đảng viên, miệng thì nói rất thông chủ trương, chính sách của Đảng, nhưng trên thực tế thì lại chẳng thực hiện hoặc thực hiện không đến nơi đến chốn, trái với tổ chức và kỷ luật của Đảng, làm giảm sút uy tín và ngăn trở sự nghiệp của Đảng, ngăn trở bước tiến của cách mạng. Trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I (ngày 6-1-1946) tại Hà Nội, 118 làng toàn Hà Nội nhất trí kiến nghị là Chủ tịch Hồ Chí Minh không cần phải bầu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đương nhiên là đại biểu Quốc hội rồi. Người cảm ơn nhân dân và đề nghị đồng bào để mình được thực hiện quyền công dân.

Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải bám sát tình hình cụ thể từng địa phương để Đảng đề ra chính sách cho phù hợp. Từ năm 1955 đến năm 1965, Người đã đi thực tế cơ sở hơn 700 lượt để thăm hỏi chiến sĩ và đồng bào, xem xét tình hình, kiểm tra công việc. Như vậy, trung bình mỗi năm, người đi cơ sở hơn 60 lần, mỗi tháng đi cơ sở 6 lần.

Để cải thiện đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường, Hồ Chí Minh phát động Tết trồng cây năm 1959, “vừa cây ăn quả, cây có hoa, cây làm cột nhà”. Mỗi khi Tết đến, xuân về, Người lại nhắc nhở phong trào thi đua trồng cây, vừa trực tiếp tham gia trồng cây. Tết năm 1969, dù sức khỏe yếu, Người vẫn đi chúc Tết đồng bào xã Vật Lại, Hà Tây, trồng cây đa lưu niệm trên đồi Yên Bồ. Trong Di chúc, Hồ Chủ tịch vẫn lưu ý: Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây làm kỷ niệm, làm như thế để tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp.

Học và làm theo Bác

Lời dạy của Hồ Chí Minh vẫn luôn nhắc nhở đảng viên: “Đảng ta là Đảng chỉ có một điều là phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa”; “Bất kỳ Đảng giao cho việc gì, nhân dân giao cho việc gì, phải cố gắng làm tròn nhiệm vụ”. Để việc học tập và làm theo tấm gương Hồ Chí Minh về nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu, nói đi đôi với làm thiết thực và hiệu quả, cần thực hiện các giải pháp sau:

Một là, đổi mới phương pháp học tập tư tưởng Hồ Chí Minh để học tập và làm theo Người thật sự hiệu quả, tương xứng với nhiệm vụ được giao của mỗi đảng viên.

Di sản Hồ Chí Minh để lại rất lớn, cần nghiên cứu kỹ từng tác phẩm của Người trong từng tình huống cụ thể để hiểu sâu sắc tư tưởng cũng như phong cách của Người, từ đó vận dụng đúng cho từng tình huống cụ thể, tránh việc học tập theo kiểu “tầm chương trích cú”, học máy móc, vận dụng cứng nhắc.

Hồ Chí Minh định nghĩa tinh thần trách nhiệm: Là khi Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt qua mọi khó khăn, làm cho thành công. Người có tinh thần trách nhiệm là người nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng; đồng thời, “gắn liền chính sách và đường lối quần chúng, để làm tròn nhiệm vụ”.

Như vậy, học tấm gương Hồ Chí Minh về tinh thần trách nhiệm, trước hết cần nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước lĩnh vực mình phụ trách. Khi thực hiện công việc được giao, phải lập kế hoạch thực tế, giải thích, tuyên truyền, cổ động quần chúng, làm cho quần chúng hiểu thấu và ủng hộ chủ trương của Đảng, của Chính phủ; bàn bạc với quần chúng, hỏi han ý kiến quần chúng, gom góp sáng kiến của quần chúng; lãnh đạo quần chúng và hoan nghênh quần chúng phê bình. Hoàn thành tốt công việc với sự đồng thuận của quần chúng, phát huy sức mạnh dân chủ, là có tinh thần trách nhiệm đối với Đảng, đối với Chính phủ và nhân dân.

Tác phong gương mẫu, nói đi đôi với làm cần được thể hiện “trong mọi công việc, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”; “đồng cam cộng khổ” với nhân dân. Xung phong đi đầu nhưng “phải thiết thực, miệng nói tay làm để làm gương cho nhân dân. Nói hay mà không làm thì vô ích. Đó là một tật xấu”.

Hai là, mỗi đảng viên hằng ngày thực hành nêu cao tinh thần trách nhiệm với tác phong gương mẫu, nói đi đôi với làm để tự rèn luyện phong cách Hồ Chí Minh.

Nhiệm vụ cụ thể của mỗi cá nhân được quy định bởi cơ quan, đơn vị, tổ chức mà cá nhân là thành viên. Bên cạnh đó, mỗi cá nhân còn có trách nhiệm đối với gia đình, các mối quan hệ xã hội ở khu dân cư và bạn bè. Đảng viên sẵn sàng chấp hành sự chỉ đạo của Đảng, Chính phủ; luôn ý thức thực hiện tốt các quy định nêu gương: Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016 của Bộ Chính trị về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy định số 08-QĐ/TW, ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương.

Đảng viên luôn sẵn sàng là thành viên có trách nhiệm trong các tổ chức mà mình tham gia, với gia đình, bạn bè; tự rèn luyện để tạo thành phong cách làm việc, tác phong sinh hoạt trách nhiệm, gương mẫu, nói đi đôi với làm.

Ba là, tập thể, cá nhân thường xuyên rà soát các văn bản chỉ đạo và kết quả thực hiện để bảo đảm nói đi đôi với làm

Theo Hồ Chí Minh, một trong những tư cách của Đảng chân chính là: “Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”.

Kế hoạch công tác được xây dựng theo chức năng, nhiệm vụ nhưng cần chú ý tính thiết thực, hiệu quả, tránh đặt ra các mục tiêu to lớn nhưng không khả thi, vì “Một chương trình nhỏ mà thực hành được hẳn hoi, hơn là một trăm chương trình to tát mà không làm được”. Tham mau, tham nhiều một lúc dẫn đến “Chính sách thì đúng, cách làm thì sai”, khẩu hiệu tuy đúng nhưng thực hành không có kết quả mỹ mãn.

Việc thực hiện văn bản chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, cấp trên, của tổ chức cần được thường xuyên rà soát, thực hiện hiệu quả để bảo đảm “nói đi đôi với làm”; tuân thủ kỷ luật và giữ gìn uy tín của Đảng, của Chính phủ, của tổ chức, của cá nhân.

Bốn là, tăng cường chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, thi đua, khen thưởng để động viên người thực hiện tốt và giúp đỡ người thực hiện chưa tốt sửa chữa.

Công tác kiểm tra, giám sát bảo đảm cho việc thực hiện các văn bản chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, quy chế của cơ quan, đơn vị, tổ chức được diễn ra hiệu quả, tránh hiện tượng nói không đi đôi với làm. Quá trình kiểm tra, giám sát phát hiện những khó khăn, trở ngại trong việc thực hiện các văn bản chỉ đạo của Đảng, Chính phủ để có biện pháp khắc phục kịp thời. Hơn nữa, công tác kiểm tra, giám sát còn cho thấy mức độ tham gia tích cực của quần chúng nhân dân đối với nghị quyết của Đảng, của Chính phủ và tinh thần đoàn kết của cơ quan, đơn vị, tổ chức.

Thực tế cho thấy, có những cá nhân sau khi được khen thưởng, bổ nhiệm chỉ một thời gian ngắn đã bị phát hiện sai phạm đến mức phải kỷ luật, xử lý hình sự do thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu trung thực, thiếu gương mẫu... Do vậy, công tác kiểm tra, giám sát, thi đua, khen thưởng cần bám sát thực tiễn đơn vị và nắm vững đội ngũ qua nhiều kênh thông tin hơn là căn cứ vào tự báo cáo của cá nhân, cơ quan, đơn vị, tổ chức; kịp thời nêu gương người làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, gương mẫu, nói đi đôi với làm; đồng thời giúp đỡ người làm chưa tốt sửa chữa khuyết điểm.

Tại Hội nghị giữa nhiệm kỳ (Hội nghị lần thứ 7) Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII vào ngày 17-5-2023, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị từ nay đến hết nhiệm kỳ Đại hội XIII: Cần tiếp tục đẩy mạnh và làm tốt hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh, đặc biệt là hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp từ Trung ương đến địa phương. Xây dựng Chính phủ, chính quyền các địa phương thật sự trong sạch, liêm chính, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Cụ thể là, phải có chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện một cách nghiêm túc, ráo riết, có kết quả cụ thể các nghị quyết, kết luận của Trung ương về vấn đề này, nhất là Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII và Kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khoá XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá", gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Có thể khẳng định, học tập và làm theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại về tinh thần trách nhiệm, tác phong gương mẫu, nói đi đôi với làm là việc làm cần thiết của mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người trẻ Việt Nam để bồi đắp năng lực tiếp tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng. Học tập và làm theo tấm gương Hồ Chí Minh về tinh thần trách nhiệm, tác phong gương mẫu, nói đi đôi với làm bảo đảm tạo được đoàn kết nội bộ cơ quan, đơn vị, tổ chức; thu hút được sự ủng hộ của quần chúng, phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân, tăng được đồng thuận xã hội; thực hiện tốt nhiệm vụ của cá nhân, cơ quan, đơn vị, tổ chức; đạt được các mục tiêu định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII.

 

ĐẨY LÙI HIỆN TƯỢNG KHÔNG DÁM NÓI SỰ THẬT

Lâu nay, hiện tượng không dám nói sự thật, không dám lên tiếng bảo vệ cái đúng, không dám phản bác những việc làm sai trái xảy ra ở không ít nơi. Việc này cũng là nguyên nhân gây ra đoàn kết xuôi chiều, hình thức và thói dối trá. Đấu tranh với hiện tượng này là góp phần làm trong sạch tổ chức, ngăn ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Sự thật được hiểu là điều phản ánh đúng hiện thực khách quan. Sự thật có tính vĩnh cửu, tồn tại trong mọi sự vật, hiện tượng xảy ra trong tự nhiên và trong đời sống xã hội con người. Đối với công tác lãnh đạo, quản lý, sự thật giúp cho công tác đánh giá, xây dựng chính sách, quy hoạch, dự án, đề án… được chính xác; giúp cho việc thực thi nhiệm vụ đạt hiệu quả, mục đích đề ra. Tôn trọng sự thật trong lãnh đạo, quản lý và trung thực là yêu cầu mà bất cứ cán bộ, đảng viên nào cũng phải đặt lên đầu.

Thực tế cho thấy, đã từng có đề án, dự án bị “chết yểu”, gây lãng phí, nhưng trước đó không hề có ý kiến phản đối hoặc phản biện trong nội bộ. Việc này dẫn đến lãng phí nguồn lực, thất thoát tài chính. Điều đáng nói là, trước khi tiến hành thực hiện dự án, đề án… dù có cá nhân đã dự cảm và có cơ sở để khẳng định đề án, dự án sẽ không mang lại hiệu quả, gây lãng phí, song lại không có ý kiến phản đối hoặc nếu có phản đối thì cũng chỉ mang tính lấy lệ, thiếu quyết liệt. Nguyên nhân của hiện tượng này bắt nguồn từ việc lo ngại lợi ích cá nhân bị ảnh hưởng, ngại phê bình, đấu tranh, không đủ dũng cảm nói lên sự thật.

Gần đây (ngày 15-12), Phòng Cảnh sát kinh tế (Công an tỉnh Hà Giang) đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can; bắt tạm giam Giám đốc Kho bạc Nhà nước huyện Bắc Mê (tỉnh Hà Giang) Cao Mạnh Thắng để điều tra về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại Khoản 4, Điều 174 Bộ luật Hình sự. Kết quả điều tra của cơ quan chức năng đã xác định: Khoảng tháng 6-2021, với cương vị là Giám đốc Kho bạc Nhà nước huyện Bắc Mê, Cao Mạnh Thắng đã đưa thông tin không đúng sự thật về khai thác mỏ đá tại thôn Nà Viền, xã Giáp Trung, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang cho bà Phạm Thị Long ở thành phố Hà Giang rồi lừa đảo chiếm đoạt của bà Long hơn 2,3 tỷ đồng.

Đây là một vụ việc đơn lẻ trong không ít vụ việc mang biểu hiện không tôn trọng sự thật, không trung thực của cán bộ, đảng viên biến chất đã bị cơ quan chức năng phát hiện, xử lý trong thời gian qua. Điều này cũng cho thấy, lợi ích đã khiến một số cán bộ, đảng viên nói sai sự thật để tư lợi, bất chấp tất cả. Đây cũng chính là một trong những biểu hiện yếu kém mà Kết luận số 21-KL/TƯ ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã chỉ rõ. Kết luận khẳng định, một số cán bộ, đảng viên “… chưa thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thậm chí còn cục bộ, lợi ích nhóm, bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân”.

Để “vượt qua lợi ích”, “vượt qua sợ hãi”, dũng cảm nói lên sự thật, dám phản biện… đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải có bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức trong sáng, nhưng quan trọng hơn cả là phải có phẩm chất trung thực. Muốn có được phẩm chất trung thực thì yếu tố quan trọng và cấp thiết là các bí thư, cấp ủy, chi bộ phải nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng; duy trì sinh hoạt Đảng đúng quy định và nguyên tắc.

Cần thực hành nền nếp tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt. Bên cạnh đó, cần làm tốt công tác phân công nhiệm vụ cho đảng viên để phát huy tinh thần trách nhiệm, tránh hiện tượng đùn đẩy hoặc thờ ơ vô cảm trước mọi việc. Một trong những vấn đề cần làm tốt nữa đó là, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, tập trung vào các vấn đề, công việc nổi cộm.

Các cấp ủy, chi bộ cần thực hiện nghiêm túc, đầy đủ quy định về thực hiện dân chủ ở cơ sở, trong đó chú trọng công tác giám sát cán bộ, đảng viên ở nơi cư trú. Phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin, phê phán những thói hư, tật xấu, biểu dương những tấm gương tiêu biểu về đạo đức, lối sống, những hành động dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống những thói hư, tật xấu, hành vi tham nhũng, tiêu cực...

Bản thân mỗi cán bộ chủ trì cần xây dựng tác phong làm việc dân chủ, tôn trọng và lắng nghe góp ý của đồng nghiệp; tôn trọng sự thật và lắng nghe sự thật để xử lý công việc được hiệu quả. Tránh sử dụng cán bộ có biểu hiện gia trưởng, dùng lời nói đe nẹt làm “vũ khí” trấn áp tinh thần cấp dưới.

Ngoài những giải pháp trên, để có những cán bộ dám nói lên sự thật, dám phản biện thì cần đẩy mạnh vai trò nêu gương trong công tác của mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là sự gương mẫu của những người đứng đầu cơ quan, đơn vị.

Thực tiễn thời gian vừa qua cho thấy, hầu hết các vụ việc tham nhũng xảy ra ở các cơ quan, đơn vị đều do người đứng đầu thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu sự bao quát, kiểm tra, thậm chí còn bao che, đồng lõa với biểu hiện tham nhũng.

Bởi vậy, khi xảy ra vụ việc không phát hiện được kịp thời, có trường hợp cán bộ vi phạm vẫn được cất nhắc, đề bạt ở vị trí cao hơn. Điều này đã khiến cho phẩm chất trung thực không được đề cao, thậm chí còn nảy sinh những vấn đề phức tạp, ảnh hưởng xấu đến nội bộ tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương.

 

QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM PHÁT HUY PHẨM CHẤT “BỘ ĐỘI CỤ HỒ” TRONG XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 8 KHÓA XIII

Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là giá trị văn hóa quân sự tiêu biểu, được xây đắp từ truyền thống yêu nước của dân tộc ta, từ sự giáo dục, rèn luyện của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ sự tin tưởng, giúp đỡ của nhân dân và từ những cống hiến, hy sinh của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ. Giá trị ấy được lưu giữ, kế thừa và phát triển qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII vừa là yêu cầu khách quan, vừa là tình cảm, trách nhiệm của mọi cán bộ, chiến sĩ quân đội.

Trong gần 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước, sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của các ban, ngành ở Trung ương và các địa phương, sự yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ vững bản chất cách mạng, không ngừng lớn mạnh, vừa chiến đấu, vừa trưởng thành và chiến thắng vẻ vang. Trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, dù phải chịu đựng nhiều gian khổ, hy sinh, phải đương đầu với những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của kẻ thù, Quân đội nhân dân Việt Nam vẫn tuyệt đối trung thành, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, phát huy cao độ truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, có kỷ luật nghiêm minh, luôn chủ động, sáng tạo, mưu trí, dũng cảm, quyết chiến, quyết thắng, gắn bó mật thiết với nhân dân. Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã lập nên những chiến công hiển hách, làm rạng rỡ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, xây đắp nên truyền thống vẻ vang, xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”; xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” mà nhân dân khen tặng, xứng đáng là Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Quân đội tiếp tục thực hiện tốt chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”, là lực lượng nòng cốt cùng toàn dân giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, thành quả cách mạng và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Quân đội luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch. Thực hiện sáng tạo, hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng, các công trình có ý nghĩa chiến lược của đất nước. Tích cực tham gia các phong trào đền ơn, đáp nghĩa, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, xây dựng địa bàn an toàn, xây dựng hệ thống chính trị và đời sống văn hóa ở cơ sở, nhất là ở các địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và biên giới, hải đảo. Qua đó, góp phần quan trọng vào sự nghiệp củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường “thế trận lòng dân”, tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân. Quân đội luôn là lực lượng nòng cốt, xung kích đi đầu trong công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, giải quyết hậu quả chiến tranh và thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội; đồng thời, thực hiện tốt công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, tích cực tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Những năm tới, dự báo tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều biến động, diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn. Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm hình thành rõ nét hơn, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt, thậm chí dẫn đến đối đầu nhau. Các nước lớn tăng cường điều chỉnh chiến lược, lôi kéo, tập hợp lực lượng, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau và can dự, chi phối vào nội bộ các nước khác, tạo thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước vừa và nhỏ. Các điểm “nóng” về an ninh có chiều hướng gia tăng, nguy cơ lan rộng; xuất hiện các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, không gian chiến lược, phương thức tiến hành chiến tranh mới. Những vấn đề toàn cầu, như bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, đặc biệt là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường,... tiếp tục diễn biến phức tạp. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn, tiềm ẩn nhiều nguy cơ xung đột, tác động đến an ninh, an toàn hàng hải, hàng không.

Ở trong nước, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bên cạnh những thành tựu quan trọng đã đạt được, vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, xuất hiện những vấn đề phức tạp mới. Bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra vẫn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp và gay gắt hơn. Trên Biển Đông, vùng biển Tây Nam và một số vùng chiến lược, địa bàn trọng điểm còn tiềm ẩn các nhân tố gây mất ổn định; tranh chấp chủ quyền biển, đảo, chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng gia tăng; xử lý quan hệ quốc tế, nhất là với các nước lớn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ở trong nước và nước ngoài câu kết với nhau tăng cường chống phá công khai và trực diện, với âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc có sự bổ sung, phát triển và ngày càng khó khăn, phức tạp hơn; tỷ lệ cán bộ được rèn luyện qua chiến đấu ngày càng giảm.

Trong bối cảnh đó, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta có sự phát triển và đặt ra những yêu cầu mới rất cao, có sự đan xen giữa thời cơ, thuận lợi và thách thức, khó khăn. Quân đội luôn nhận thức sâu sắc vai trò nòng cốt của mình trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và coi đó là nhiệm vụ “trọng yếu và thường xuyên”; đồng thời, ý thức rõ trách nhiệm chính trị, trọng trách mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Trên cơ sở quán triệt, nắm vững Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, toàn quân cần nỗ lực phấn đấu, tiếp tục phát huy hơn nữa phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tập trung thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

Một là, tiếp tục thực hiện tốt chức năng nghiên cứu, tham mưu với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước.

Đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Quân đội, xuất phát và dựa chắc trên quan điểm, phương châm chỉ đạo của Đảng về bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, trong thời gian tới, Quân đội cần chủ động đánh giá, dự báo đúng tình hình thế giới, khu vực và trong nước, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước đề ra các chủ trương, đối sách xử lý thắng lợi các tình huống, không để bị động, bất ngờ, không để mâu thuẫn, tranh chấp phát triển thành xung đột vũ trang, chiến tranh. Chú trọng nghiên cứu, đề xuất và tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương, giải pháp tổng thể, cơ bản, lâu dài nhằm ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột “từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”; nhất quán thực hiện chủ trương: Không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp và thông lệ quốc tế.

Cùng với đó, Quân đội cần tích cực, chủ động xây dựng kế hoạch, phương án tác chiến, nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu, “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc”. Nâng cao năng lực tác chiến chiến tranh không gian mạng, chiến tranh thông tin; phối hợp triển khai giải pháp tổng thể bảo đảm an ninh, an toàn thông tin. Đặc biệt, chú trọng bổ sung, kiện toàn các cơ chế, quy định, nhất là về sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Quốc phòng với Bộ Công an, các ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương và các địa phương trong xử lý các tình huống bảo vệ Tổ quốc. Sẵn sàng ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống; phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh và làm tốt công tác cứu hộ, cứu nạn. Bảo vệ tuyệt đối an ninh, an toàn các mục tiêu, công trình quan trọng, các hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các sự kiện chính trị, văn hóa, đối ngoại của đất nước. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, bổ sung và phát triển hệ thống lý luận về quốc phòng, nghệ thuật chiến tranh nhân dân, nghệ thuật quân sự Việt Nam trong điều kiện mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hai là, phát huy tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, trong đó Quân đội nhân dân, Công an nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, cần xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trên địa bàn cả nước. Đó là nền quốc phòng với tiềm lực, sức mạnh tổng hợp, được cấu thành trên cơ sở nguồn lực quốc gia và trong nhân dân, từ nhân dân, mang bản chất hòa bình và tự vệ, không nhằm đe dọa bất cứ quốc gia nào. Đồng thời, là nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, ngày càng hiện đại, do toàn dân tiến hành xây dựng, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, cơ sở.

Để xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh toàn diện, Quân đội tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương và địa phương triển khai đồng bộ các giải pháp phù hợp với thực tiễn và đặc điểm, thế mạnh của từng địa bàn, khu vực, nhất là các địa bàn chiến lược Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ và vùng biên giới, biển, đảo của Tổ quốc. Trong đó, trọng tâm là xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân, đặc biệt là gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc ngay từ cơ sở. Chú trọng xây dựng khu vực phòng thủ các cấp vững chắc, tạo thế bố trí phòng thủ liên hoàn, vững chắc trên từng địa bàn và phạm vi cả nước, bảo đảm cho các địa phương xử lý tốt các tình huống quốc phòng, an ninh trong cả thời bình và thời chiến. Tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phương tiện, trang bị quốc phòng, công trình phòng thủ, công trình chiến đấu, hệ thống phòng thủ dân sự đồng bộ, thống nhất; trong đó, ưu tiên các tuyến biên giới, biển, đảo, các địa bàn chiến lược, trọng điểm...

Tích cực đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh, bảo đảm phù hợp với từng đối tượng, nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc. Chú trọng giáo dục, thống nhất, nâng cao nhận thức về đối tác và đối tượng; nắm vững đường lối, quan điểm, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tiếp tục phát huy vai trò, tính hiệu quả của các đơn vị kinh tế - quốc phòng và doanh nghiệp quân đội để kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với củng cố, tăng cường quốc phòng, nhất là ở những địa bàn chiến lược, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, khu kinh tế trọng điểm.

Ba là, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân.

Tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân. Tiếp tục triển khai thực hiện Đề án đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới. Coi trọng nâng cao chất lượng giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bản chất cách mạng, truyền thống, nhiệm vụ của Quân đội và đơn vị; đối tác, đối tượng; âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Kịp thời khắc phục những nhận thức, tư tưởng lệch lạc, chủ động đấu tranh phòng, chống những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tập trung xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; có ý chí, quyết tâm chiến đấu cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện tốt cuộc vận động đó với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các phong trào thi đua, các cuộc vận động của toàn quân, toàn quốc bằng nhiều mô hình, cách làm sáng tạo, phù hợp, hiệu quả. Qua đó, làm sâu sắc thêm truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Triển khai thực hiện tốt chính sách đối với Quân đội và hậu phương quân đội; đổi mới nội dung, phương pháp và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ, bảo đảm sát chủ trương, đường lối của Đảng, thực tiễn hoạt động của bộ đội và yêu cầu, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Chăm lo xây dựng các tổ chức thanh niên, phụ nữ, công đoàn và hội đồng quân nhân vững mạnh, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Bốn là, đẩy mạnh xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, làm nòng cốt cho toàn dân trong sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Đây là nội dung có ý nghĩa quyết định, bảo đảm cho Quân đội có đủ sức mạnh, hoàn thành tốt vai trò là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối quốc phòng, quân sự của Đảng, trực tiếp là đường lối xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cũng như yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”, bước đầu đạt được kết quả quan trọng, bảo đảm sự cân đối, tương đối đồng bộ giữa các quân chủng, binh chủng, giữa cơ quan và đơn vị, giữa lực lượng thường trực và lực lượng dự bị động viên.

Trong thời gian tới, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17-1-2022, của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 2-4-2022, của Quân ủy Trung ương, “Về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo”. Tổ chức, biên chế toàn quân phải phù hợp với đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, khả năng bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật, giữ vững và phát huy truyền thống của Quân đội, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Xây dựng, điều chỉnh tổ chức Quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, có cơ cấu tổ chức đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần lực lượng; giảm đầu mối trung gian và đơn vị bảo đảm, phục vụ; tiếp tục tổ chức một số đơn vị dự bị chiến lược theo quyết tâm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, bảo đảm Quân đội có đủ khả năng làm nòng cốt cùng toàn dân hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Lấy xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh và khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội, bảo đảm cho Quân đội thực hiện tốt chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”, thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quá trình điều chỉnh tổ chức, hiện đại hóa Quân đội phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước; biện pháp thực hiện phải toàn diện, đồng bộ, phù hợp với thực tế; kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách.

Năm là, xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa Quân đội.

Toàn quân tập trung quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã xác định trong Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 26-1-2022, của Bộ Chính trị, về “Đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo”. Trên cơ sở tiềm lực, điều kiện kinh tế của đất nước và yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển công nghiệp quốc phòng đã xác định theo lộ trình đến năm 2030 và những năm tiếp theo. Theo đó, đối với những lĩnh vực công nghiệp quốc phòng có thế mạnh, đã làm chủ về công nghệ, cần tập trung ưu tiên nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, trọng tâm là vũ khí chiến lược, có sức răn đe, tăng cường khả năng phòng thủ, bảo vệ đất nước và tác chiến không gian mạng.

Sáu là, tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp đẩy mạnh công tác đối ngoại quốc phòng theo phương châm “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả”, góp phần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, nâng cao uy tín, vị thế của Quân đội và đất nước trên trường quốc tế.

Theo đó, chủ động bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kịp thời phát hiện, ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”. Tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài để tăng cường tiềm lực quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; thúc đẩy đa dạng hóa đối tác hợp tác về kỹ thuật quân sự và thương mại quân sự. Tích cực tham gia hiệu quả các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa, tìm kiếm cứu nạn, khắc phục hậu quả chiến tranh. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong ứng phó với các thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống.

Bảy là, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, gương mẫu, tiêu biểu, lãnh đạo toàn quân hoàn thành tốt các nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Quán triệt quan điểm chỉ đạo “xây dựng Đảng là then chốt”, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI chỉ rõ: Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, gương mẫu, tiêu biểu. Thời gian tới, toàn quân tiếp tục quán triệt, nắm vững các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI. Triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhóm giải pháp thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”” và Chỉ thị số 87-CT/QUTW, ngày 8-7-2016, của Thường vụ Quân ủy Trung ương, về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân”. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh, gương mẫu, tiêu biểu, ngày càng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng. Phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên và tạo được sự lan tỏa trong toàn quân, toàn xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đức, có tài, có uy tín cao, gương mẫu, “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

 

CÁN BỘ LÀM GÌ HAY KHÔNG LÀM GÌ

Trong văn chương thường hiểu từ theo ngữ cảnh, nhiều khi một từ đứng riêng độc lập ta không thể hiểu sát và đúng nghĩa; trong một ngữ cảnh cụ thể thì ngữ nghĩa của từ sẽ rõ hơn.

Câu hỏi: cán bộ làm gì hay không làm gì?.., có lẽ cũng có "ngữ cảnh" tương tự. Khi đặt vấn đề giảm biên chế hay định phân công thêm cho ai nhiệm vụ mới, rõ ràng trong rất nhiều trường hợp, cán bộ sẽ đều kêu lên: Tôi đang làm giở việc nọ, việc kia, công việc của tôi đang quá tải... Bởi vậy, chọn người để giảm thì có thể làm được, vì nếu không cùng cánh, không "con ông - cháu cha" thì "cắt phạch" một cái là mai gút-bai (goodbye) nghỉ việc. Nhưng để giao được nhiệm vụ mới cho người còn ở lại... e ra không dễ. Trong trường hợp này xác định cán bộ làm gì hay không làm gì?... có lẽ không đơn giản! Đó là ngữ cảnh thứ nhất.

Mới đây, trên internet lại có tin, theo số liệu điều tra của phòng tư pháp huyện Quốc Oai, trên tổng số 1,2 vạn người đã mất trong vòng 50 năm qua có tới 4.383 trường hợp chết mà không khai báo, làm giấy chứng tử. Vậy, tất cả số người đã chết này vẫn nằm trong hộ khẩu, là vẫn còn sống, nhưng quyền lợi và nghĩa vụ của họ gần như nằm ngoài vòng quản lý của luật pháp... Chuyện cứ như đùa, nhưng lại là có thật ở ngay sát nách Hà Nội.

Trước phát hiện trên, một ông cán bộ cơ sở giải thích ngon lành: "Về khai sinh thì không ai "quên" cả vì khai sinh muộn sẽ bị phạt, còn khai tử thì nhiều người dân cho rằng họ chẳng được quyền lợi gì, đi đăng ký mất công mất buổi nên không ai để ý". Tôi chợt nghĩ, có lẽ luật về vấn đề này nên bổ sung: "ai cũng phải đăng ký khai tử trước khi chết"... may ra mới giải được vấn đề chăng!. Trong ngữ cảnh này, có lẽ cán bộ đã không làm gì, cho dù không loại trừ cả chuyện có trường hợp chính cán bộ cũng đã tham gia vào đoàn người đưa ma những người đã chết mà người nhà không khai báo đó.

Lại chuyện nữa, ngay trong một quận nội thành hẳn hoi, ông bạn tôi có cậu con trai sinh năm 1997, đầu năm 2010 bố con nhận được giấy triệu tập khám sức khỏe để làm nghĩa vụ quân sự. Dấu son đỏ của Ban Chỉ huy quân sự quận hẳn hoi. Nhận được giấy báo đó, cả nhà được một phen lăn ra cười "thằng cu con đi bộ đội". Nhưng ông bố, vì hiểu chút pháp luật hơn nên nghĩ sâu xa. Nếu không đi khám là chống lệnh nghĩa vụ quân sự. Chống lệnh nghĩa vụ quân sự là vi phạm pháp luật. Vi phạm pháp luật là có thể bị tước quyền công dân... như chơi. Đừng để có quyết định của tòa án rồi mới kiện thì có mà "kiện củ... khoai", có thắng được thì cũng rất tốn kém. Thôi đành lo trước khi "nước đến trôn" vậy!

Ông đành đi kêu. Gọi lên Ban Chỉ huy quân sự quận thì được trả lời rằng, chúng cháu viết giấy gọi là theo báo cáo từ tổ dân phố về số nam thanh niên đến tuổi. Ông bạn tôi "ngoặc" lại, nhưng con tôi chưa đến tuổi, chính quyền lại quản lưu khai sinh của từng con người theo hộ khẩu tại sao lại sai lệch như vậy. Trả lời rằng, số liệu khai sinh bên công an nắm, Ban Chỉ huy quân sự quận không nắm bác ạ!. Ông bạn tôi về hỏi Tổ trưởng dân phố. Câu trả lời là: Đúng rồi! Con bác làm gì đã đến tuổi, - một cách thản nhiên. Nhưng câu sau mới là câu chốt: Việc này cô tổ phó làm, tôi không nắm được.

Ông bạn tôi lại sang gặp cô Tổ phó tổ dân phố. Sau một hồi trình bày của ông bố đương sự, thì câu trả lời là: à thế à, tao tưởng (nói rất chân tình) con nhà mày đến tuổi rồi, vì thấy nó lớn lớn!". Trong ngữ cảnh này, có lẽ bạn đọc cũng như chính tác giả bài này, thiết nghĩ cán bộ không làm gì..., có khi lại còn tốt hơn!

Hệ thống quản lý đã được xây dựng quy mô từ Trung ương đến thôn, bản, làng và tổ dân phố. Ngõ nào cũng có tổ dân phố quản, xóm nào cũng có trưởng thôn quản, đảng viên thì đều có khắp cả các đầu làng - cuối phố. Thế mà khâu quản lý con người lại để xảy ra những chuyện đáng tiếc như vậy.

Cơ sở mà như vậy, thử hỏi, có công minh? Chúng ta hoàn toàn có thể làm một phép suy diễn, đại loại như câu chuyện đến tuổi rồi mà bà tổ dân phố lại "cảm thấy" còn nhỏ chưa đủ để thực hiện nghĩa vụ quân sự thì sao đây!?. Chưa nói rất có thể còn có nhiều chuyện "lắt léo" khác! Không chừng...

 

CÁC CĂN BỆNH LÀM HAO PHÍ NHÂN TÀI, LÀ MỐI NGUY HẠI CHO ĐẢNG, CHO CHẾ ĐỘ

Khi bàn về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh di huấn, căn dặn rất nhiều điều, trong đó Người đặc biệt lưu ý: Phải tránh bệnh hẹp hòi; xu nịnh; óc bè phái trong sử dụng nhân tài. Bởi, nếu có những bệnh này sẽ là mối nguy hại cho Đảng, cho chế độ.

Biểu hiện của bệnh "Hẹp hòi": "Ở trong Đảng thì không biết cất nhắc những người tốt, sợ người ta hơn mình. Ở ngoài Đảng thì khinh người, cho ai cũng không cách mạng, không khôn khéo bằng mình. Vì thế mà không biết liên lạc hợp tác với những người có đạo đức tài năng ở ngoài Đảng". Đó là "Óc hẹp hòi... Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết dùng nhân tài, việc gì cũng ôm lấy hết. Ôm lấy hết thì cố nhiên làm không nổi".

Căn bệnh này trầm kha ở một bộ phận cán bộ có chức, có quyền nhưng còn hạn chế về đạo đức cách mạng, "chữ tâm" chưa được rèn giũa. Người có suy nghĩ, lòng dạ hẹp hòi thường làm việc gì cũng chỉ nghĩ cho bản thân, chỉ đặt lợi ích bản thân lên trên hết, lên trên lợi ích tập thể, sẵn sàng chà đạp lên người khác, lợi dụng lòng tốt của mọi người để tư lợi cho bản thân. Chính vì vậy, hẹp hòi chính là một trong những điều đại kị đối với tâm tính của con người, nhất là đối với người cách mạng.

Biểu hiện của "Bệnh xu nịnh": Có những người trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu. Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái". Khi nói về thói hư tật xấu này, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra trong cách huấn luyện cán bộ cần tránh "tám điều xấu": trong đó, "Chán ghét người hiền tài; Hay nghe lời xu nịnh" là hai trong số tám điều đó.

Theo Người, thói xu nịnh sẽ làm hư hỏng con người, hư hỏng cán bộ và hư hỏng cả thể chế. Khi kẻ xu nịnh được ưu ái, trọng dụng, thì họ sẽ tận dụng triệt để cơ hội để xoáy tiền của Nhà nước, đục khoét của dân; ton hót, nói xấu nhằm hạ bệ những người ngay thẳng, gây nên sự nghi kỵ trong tổ chức, đơn vị, cơ quan, đó là nguyên nhân dẫn đến chia rẽ mất đoàn kết. Khi những kẻ xu nịnh được trọng dụng, đồng nghĩa những người ngay thẳng ít có cơ hội tiến thân hơn, điều này cực kỳ nguy hại cho tổ chức.

Biểu hiện của bệnh "Óc bè phái": "Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không hẩu với mình thì dù có tài cũng dìm họ xuống, họ phải mấy cũng không nghe. Đó là một khuyết điểm rất có hại. Nó làm cho đoàn thể mất cán bộ, kém nhất trí, thường hỏng việc. Đó là một chứng bệnh rất nguy hiểm".

"Từ bè phái mà đi đến chia rẽ. Ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách dèm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống. Bệnh này rất tai hại cho Đảng. Nó làm Đảng bớt mất nhân tài và không thực hành được đầy đủ chính sách của mình".

Theo Hồ Chí Minh, tất cả những thói hư tật xấu trên là con đẻ của chủ nghĩa cá nhân mà nguyên nhân chính là "Trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ "chí công vô tư", một trong những nguyên nhân gây mất đoàn kết nội bộ. Ở những nơi có những biểu hiện đó thì bầu không khí chung luôn có sự bất an, luôn có sự so bì, tị nạnh, không có sự sẻ chia, đồng cảm, không có đoàn kết thực sự bền vững. Ở đó, người tốt, người tài, người trẻ dám nghĩ, dám làm, sáng tạo trong thực thi nhiệm vụ dễ bị ghen ghét đố kỵ, thậm chí bị đặt điều, nghi ngờ, bị vùi dập, dẫn đến mất niềm tin cũng như động lực phấn đấu cống hiến.

 

NHẬN DIỆN ĐÚNG BIỂU HIỆN “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HỆN NAY


 “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã và đang diễn ra ở nước ta và là một trong những vấn đề đe dọa trực tiếp đến sự sống còn của dân tộc, của chế độ xã hội chủ nghĩa cũng như sự lãnh đạo của Đảng. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra một cách âm thầm trong mỗi cá nhân, con người cán bộ, đảng viên, khó nhận thấy. Vì thế, nhận diện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên cần tập trung và hướng đến cách thức phòng, chống là cơ bản.

Một là, nhận diện đúng nguyên nhân của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên hiện nay.

Về nguyên nhân của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên mang tính tổng hợp, có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chính. Sự xuất hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên là do tác động từ khách quan, bên ngoài, đặc biệt là từ mặt trái cơ chế, của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; sự mua chuộc, lôi kéo, v.v., của các thế lực thù địch hoặc những người mất mãn chính trị, v.v.. Vốn từ cái khách quan tác động, mà chủ quan của cán bộ, đảng viên không đủ sức đẩy lùi, loại bỏ diễn ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Không ít cán bộ, đảng viên vốn là trung kiên cách mạng trong chiến tranh, trong gian khổ, hết lòng vì Đảng, vì dân, nhưng trước tác động từ mặt trái của cơ chế kinh tế thị trường không cưỡng lại được và rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa cống hiến được bao nhiêu, nhưng với mục đích, động cơ cá nhân chủ động thực hiện tham nhũng, tiêu cực…và trượt dài, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Cũng có những trường hợp, cán bộ, đảng viên bị lôi kéo, thậm chí là bị khống chế, đe dọa khi đã vướng vào đường dây tham nhũng và cũng trượt vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, trường hợp Phạm Trung Kiên (cựu Thư ký Thứ trưởng Bộ Y tế) nhận hối lộ 253 lần với tổng số tiền là 42,6 tỷ đồng là một ví dụ điển hình của sự suy thoái, tha hóa, biến chất người cán bộ, đảng viên.

Với các nội dung trên cho thấy nguyên nhân chủ quan là chủ yếu và tập trung nhất là ở động cơ chạy theo lợi ích cá nhân. Bởi vì, tác động từ khách quan đến tất cả cán bộ, đảng viên, nhưng không phải ai cũng bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Những cán bộ, đảng viên không vượt lên, tự chiến thắng chủ nghĩa cá nhân, sự cám dỗ của lợi ích cá nhân; coi lương tâm, danh dự là dẻ mạt thì sẽ trượt vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vì thế, cách thức phòng, chống cũng tập trung vào giải quyết vấn đề nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, trong đó suy đến cùng là vấn đề gạt bỏ lợi ích cá nhân, ham muốn vật chất tầm thường.

Hai là, nhận diện đúng hiện tượng và bản chất của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên hiện nay

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay là phản ánh tính chất đấu tranh gay go, phức tạp trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở lĩnh vực tư tưởng chính trị, văn hóa. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là quá trình diễn ra bên trong mỗi của cán bộ, đảng viên một cách “thầm kín, khó nhận thấy” do được che giấu, ngụy trang che mắt rất kỹ. Giữa “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” có quan hệ với nhau, nhưng không đồng nhất. Hai mặt này quan hệ với nhau với nghĩa là cùng trong quá trình vận động. Sự khác nhau là ở “tự diễn biến” phải đến một mức độ nhất định mới xuất hiện “tự chuyển hóa”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiêp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới”.

Bản chất của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên là cuộc đấu tranh giằng xé rất quyết liệt để giải quyết mâu thuẫn bên trong bản thân họ. Mâu thuẫn giữa giữ vững lương tâm trong sáng, danh dự với chấp nhận đánh mất danh dự mâu thuẫn giữa kiên định giữ vững mục tiêu, lý tưởng là cống hiến cho Đảng, cho nhân dân với chấp nhận xa rời, từ bỏ lý tưởng sống; mâu thuẫn giữa giữ vững, phát huy vai trò trách nhiệm, nghĩa vụ, cống hiến của người công bộc của dân (cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh) với sự cám dỗ của hưởng thụ, sa đọa. Những mâu thuẫn trên trong tính chỉnh thể thống nhất và cùng là biểu hiện mâu thuẫn cơ bản giữa lợi ích xã hội, tập thể, cộng đồng với lợi ích cá nhân như trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng đã xác định: “Sinh trưởng trong xã hội cũ, chúng ta ai cũng mang trong mình hoặc nhiều hoặc ít vết tích xấu xa của xã hội đó về tư tưởng, về thói quen…vết tích xấu nhất và nguy hiểm nhất của xã hội cũ là chủ nghĩa cá nhân”.

Ba là, nhận diện quá trình vận động từ thay đổi dần về lượng đến thay đổi về chất của “tự diễn biến”,“tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên là quá trình vận động đi từ thấp lên cao. Quá trình đó đi từ sự đơn giản trong nhận thức đến sự thỏa hiệp, nhượng bộ; đến động cơ có tính chủ đích vì lợi ích cá nhân; đến hành vi suy thoái, thậm chí là làm tay sai cho các thế lực thù địch phản lại Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa.

Quá trình vận động của  “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên còn ở lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm. Quá trình này đi từ đơn giản trong nhận thức về nhận quà biếu; ăn chia vặt đến chủ động liên thủ giữa các thành viên thực hiện lợi ích lớn hơn và hình thành “thói quen nhận phong bì”, bảo vệ lợi ích nhóm có chủ đích bằng các hình thức khác nhau và đến bị ràng buộc “cùng thuyền”, “có lợi mới làm” trong thực hiện tham nhũng.

Quá trình vận động của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên còn ở lĩnh vực chính trị, xã hội thường bắt đầu từ chạy cấp, chạy chức, chạy nơi công tác, thậm chí chạy bằng, cấp đào tạo đến tham nhũng quyền lực và đến thực hiện lợi ích cá nhân bù đắp lại những chi phí tiêu cực trước đó. Ngoài ra, còn biểu hiện từ sự mất mãn chính trị, sự kèn cựa, đố kỵ cá nhân đến bắt mối, tiếp tay với những người tiêu cực, thậm chí còn tiếp tay cho thế lực thù địch để chống chế độ xã hội chủ nghĩa, chống Đảng, Nhà nước.

Quá trình vận động của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên ở lĩnh vực tư tưởng, văn hóa thường đi từ đơn giản trong tiếp nhận thông tin trên mạng xã hội đến sự hoài nghi, dao động trong tư tưởng đến tiếp tay tuyên truyền không công cho địch bằng cách nói xấu Đảng, chế độ,v.v và đến bị ràng buộc, bị khống chế làm việc cho thế lực thù địch chống chế độ xã hội chủ nghĩa.

Bốn là, nhận diện, đánh giá đúng tính chất phức tạp, nguy hiểm của quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay rất khó phát hiện ra. Khi phát hiện ra thì quá muộn, bắt buộc phải xử lý theo đúng pháp luật của Nhà nước; kỷ luật của Đảng. Vì thế “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay rất nguy hiểm, một trong những nội dung then chốt của nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam; của sự nghiệp đổi mới; sự lãnh đạo của Đảng cũng như sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Tổng hợp những nội dung trên tạo nên đặc điểm cũng như tính chất phức tạp của quá trình vận động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay. Mặc dù điểm xuất phát cho quá tình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” khác nhau, nhưng đều bắt đầu từ nhận thức đến tình cảm, thái độ, niềm tin bị phai nhạt, đến hành vi tiêu cực, tham nhũng thực hiện lợi ích cá nhân, thậm chí là chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta.