Thứ Năm, 11 tháng 1, 2024

Trách nhiệm thực thi nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên

Công tác cán bộ được Đảng ta hết sức coi trọng, xác định đây là điểm đột phá, là “then chốt” của nhiệm vụ “then chốt”, liên quan sự sống còn của Đảng, vận mệnh của chế độ và việc hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững của đất nước. Muốn thực hiện tốt vai trò, trọng trách của mình, mỗi cán bộ, đảng viên không chỉ cần có năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức tốt mà còn phải có tinh thần trách nhiệm cao trong thực thi nhiệm vụ. Tinh thần trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ được hiểu là thái độ, ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao với những biểu hiện như: luôn quan tâm đến chất lượng, hiệu quả công việc; luôn nỗ lực hết sức để hoàn thành công việc, không đùn đẩy, né tránh, thoái thác việc cho người khác hoặc lơ là, thiếu tích cực, làm cầm chừng cho có, cho qua mọi việc mà không cần quan tâm đến hiệu quả; tích cực nghiên cứu, tìm ra những cách thức hữu hiệu trong xử lý các công việc được giao;… Tinh thần trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ không chỉ là phẩm chất đáng quý mà còn là yêu cầu, đòi hỏi cần thiết đối với mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là đối với cán bộ, đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa cho mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, thúc đẩy tiến trình hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Nhiệm vụ này là hết sức quan trọng trong bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế đang có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, gia tăng những khó khăn, thách thức đối với nước ta. Để thúc đẩy tiến trình phát triển đất nước, nhanh chóng hoàn thành những mục tiêu đã định, rất cần phải tiếp tục khơi dậy, phát huy được vai trò, sức mạnh của mọi nguồn lực, mọi chủ thể. Trong đó, trước hết và quan trọng hơn cả là phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nâng cao tinh thần trách nhiệm, tính năng động sáng tạo, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám gánh vác trách nhiệm, toàn tâm toàn trí, dốc sức, dốc lòng, quyết tâm hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao vì lợi ích và mục tiêu chung của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ, đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hiện nay có tình trạng không ít cán bộ, đảng viên ở một số cơ quan, đơn vị, bộ, ngành, địa phương thay vì phải chủ động, linh hoạt, tích cực sáng tạo, có ý thức trách nhiệm, nhiệt huyết, dám nghĩ, dám làm, nỗ lực tìm mọi cách để thực hiện hiệu quả chức trách nhiệm vụ được giao thì lại có tâm lý ngại khó, ngại khổ, thiếu tinh thần, ý thức trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ, luôn tìm cách né tránh, đùn đẩy, thoái thác trách nhiệm cho người khác, thiếu quan tâm đến chất lượng, hiệu quả công việc, thậm chí làm việc tắc trách, qua loa đại khái… Hậu quả là một số công việc bị bê trễ, đình đốn, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người dân cũng như hiệu quả thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Nguy hại hơn, tình trạng này nếu không được xử lý kịp thời và dứt điểm sẽ nguy cơ ảnh hưởng tới tiến trình hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh hạnh phúc, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, với Đảng và Nhà nước. Đáng lo ngại là tình trạng thiếu ý thức trách nhiệm còn xuất hiện ngay cả ở một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, ở những công việc, lĩnh vực trọng yếu đòi hỏi phải có tinh thần trách nhiệm cao, gây nên những hệ lụy, tổn thất không nhỏ mà thực tế một số cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao bị các cơ quan chức năng phải có hình thức xử lý nghiêm khắc trong thời gian qua là một minh chứng. Những năm gần đây, đã có hàng loạt cán bộ, đảng viên thiếu tinh thần trách nhiệm, buông lỏng quản lý, vi phạm quy chế làm việc gây hậu quả nghiêm trọng bị xử lý kỷ luật. Như mới đây nhiều cán bộ Bộ Công thương bị xử lý theo quy định pháp luật vì thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý, vi phạm nghiêm trọng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong công tác tham mưu, ban hành cơ chế phát triển điện mặt trời, điện gió; kinh doanh, điều hành nguồn cung ứng, cấp phép kinh doanh xăng, dầu; quản lý và sử dụng Quỹ bình ổn giá; lập, thẩm định, phê duyệt, tổ chức đấu thầu, thực hiện các dự án/gói thầu do Công ty cổ phần Tiến bộ quốc tế (AIC) thực hiện,... Báo cáo Quốc hội về công tác phòng chống tham nhũng năm 2023, Tổng Thanh tra Chính phủ Đoàn Hồng Phong (thừa ủy quyền của Thủ tướng) trình bày báo cáo cho biết: Chỉ tính riêng trong năm 2023, có 55 người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu bị kết luận thiếu trách nhiệm để xảy ra hành vi tham nhũng. Trong đó, có 13 người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu bị xử lý hình sự do thiếu trách nhiệm để xảy ra hành vi tham nhũng. Tình trạng một bộ phận cán bộ thiếu tinh thần trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ là một trong những lý do gây ảnh hưởng việc triển khai thực hiện nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế-xã hội của Đảng và Nhà nước những năm qua. Nhận thức được sự nguy cấp, mối nguy hại của vấn đề này, những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách chỉ đạo quyết liệt nhằm khắc phục triệt để tình trạng thiếu tinh thần trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng giữa nhiệm kỳ khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu phải tập trung chấn chỉnh, khắc phục nhanh chóng, triệt để tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, thiếu tinh thần trách nhiệm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên ảnh hưởng xấu đến các tổ chức, cơ quan, đơn vị, cản trở tiến trình phát triển của đất nước. Về phía Chính phủ, chỉ tính riêng trong năm 2023 đã có hàng loạt nghị định, chỉ thị, công điện… liên quan đến vấn đề này được ban hành như: Công điện số 280/CĐ-TTg ngày 19/4/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chỉnh, tăng cường trách nhiệm trong xử lý công việc của các bộ, cơ quan, địa phương, nhằm khắc phục tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm trong giải quyết công việc, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương hành chính và nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo, điều hành; Nghị định số 73/2023/NÐ-CP ngày 29/9/2023 của Chính phủ quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; Công điện số 968 ngày 16/10/2023 của Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tiếp tục chấn chỉnh, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong cơ quan hành chính nhà nước các cấp, đẩy mạnh chấn chỉnh, tăng cường trách nhiệm trong xử lý công việc,… Từ những đòi hỏi của thực tế, nhằm góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm, đấu tranh, khắc phục triệt để tình trạng lơ là, xao nhãng trong thực thi nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần đẩy nhanh tiến trình hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, rất cần sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị và xã hội, của mọi cấp, ngành, tỉnh, thành phố, địa phương. Trong đó trước hết cần tập trung chú ý tăng cường hơn nữa công tác giáo dục, tuyên truyền nâng cao tinh thần trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên, xác định đây không chỉ là phẩm chất cần có mà còn là yêu cầu không thể thiếu đối với mỗi cán bộ, đảng viên, từ đó mới thôi thúc các cá nhân có ý thức phấn đấu, tự giác, quyết tâm hoàn thành mọi chức trách, nhiệm vụ được giao. Bên cạnh đó cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, cụ thể hóa các quy định, yêu cầu về tinh thần trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên ở từng cơ quan, đơn vị, từng vị trí công tác và chức trách, nhiệm vụ được giao, lấy đó làm căn cứ để giám sát, kiểm tra, đánh giá, sử dụng, bổ nhiệm, bãi miễn cán bộ trên tinh thần cán bộ giữ chức vụ càng cao thì những tiêu chí, yêu cầu về tinh thần trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ càng phải nhiều, càng phải chặt chẽ, thường xuyên phát huy vai trò nêu gương. Cần tăng cường vai trò giám sát, đánh giá của các tổ chức xã hội và nhân dân về tinh thần trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ của mỗi cán bộ, đảng viên. Không ngừng hoàn thiện, cụ thể hóa các quy định, chính sách về biểu dương, khen thưởng thỏa đáng đối với cán bộ có tinh thần trách nhiệm cao trong thực thi nhiệm vụ, bảo vệ hiệu quả cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn thử thách, dám đổi mới sáng tạo, luôn tích cực chủ động sáng tạo, nhiệt huyết, luôn vì lợi ích chung của cộng đồng và đất nước... Song song đó, cần tăng cường các biện pháp kiểm tra, giám sát, tăng cường chế tài xử lý kỷ luật quyết liệt, mạnh tay hơn với các trường hợp cán bộ thờ ơ, lơ là, thiếu tinh thần trách nhiệm, cố tình né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, không bảo đảm yêu cầu, hiệu quả công việc, gây tổn thất cho tổ chức, đơn vị và ảnh hưởng đến tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu cao đẹp của đất nước. Kiên quyết loại trừ, thay thế những cán bộ thiếu tinh thần, ý thức trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ cho dù ở vị trí, cấp bậc nào, không có vùng cấm, không có ngoại lệ./.

 THÔNG TIN SAI LỆCH TRONG THUYẾT ÂM MƯU CHÍNH TRỊ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

1. Thuyết âm mưu chính trị

Trong thực tiễn, có rất nhiều động cơ khác nhau để con người lựa chọn thuyết âm mưu như: tâm lý, xã hội, chính trị, văn hóa, cá nhân,... Vì vậy, thuyết âm mưu cũng theo đó mà được phân tách thành nhiều loại khác nhau, trong đó Thuyết âm mưu chính trị là phổ biến nhất. Nếu như từ âm mưu có nguồn gốc từ thuật ngữ conspirare (với nghĩa đen là cùng nhau hít thở), mô tả hành động của hai hay nhiều người muốn hợp nhất với nhau để cùng đạt được một kết quả mong muốn, thì các âm mưu là thỏa thuận của một nhóm người mà không để người khác biết được nhằm gây tổn hại cho quần chúng trong khi lại thúc đẩy lợi ích của chính mình, thường là lợi ích kinh tế hoặc chính trị.

Một âm mưu đúng nghĩa thường có bốn đặc điểm: Đó là hoạt động phối hợp giữa các nhóm chứ không phải là hoạt động của các cá nhân đơn lẻ; chúng có mục đích bất hợp pháp và nham hiểm chứ không phải là những mục đích có lợi cho toàn xã hội; chúng là những hành vi được mưu tính chứ không phải là một loạt các hành vi tự phát và hỗn loạn; chúng là những tính toán được thực hiện theo một quy trình lên kế hoạch bí mật chứ không phải theo một quá trình bàn thảo công khai.

Theo cách diễn giải đó, thuyết âm mưu chính trị có bản chất là “được mưu tính và lan truyền từ tầng lớp trên của xã hội vì lợi ích chính trị, tức là những câu chuyện hư cấu được cố tình bịa đặt và lan truyền vì lợi ích chính trị”.

Trong thuyết âm mưu nói chung và thuyết âm mưu chính trị nói riêng, hướng đến hủy hoại niềm tin của quần chúng vào tầng lớp tinh hoa chính trị là mục tiêu cao nhất. Nó hướng tới việc ngăn cản mọi người tham gia vào các hoạt động chính trị, khiến cho mọi người cảm thấy “bất lực với chính trị”. Từ đó, làm suy giảm niềm tin vào chính đảng lãnh đạo, đồng thời nảy sinh tư tưởng bất hòa, chống đối.

Để đạt được mục tiêu đó, những kẻ thực hiện thuyết âm mưu chính trị sử dụng rất nhiều thủ đoạn khác nhau, trong đó thông tin giả, tin sai sự thật là phương thức thực hiện phổ biến nhất. Thủ đoạn này đã xuất hiện từ rất lâu (một số nghiên cứu cho rằng nó đã xuất hiện từ năm 1550 trong tác phẩm kinh điển The Prince - Quân vương của Machiavelli), được lan truyền thông qua các phương tiện truyền thông, bao gồm cả chính thống và phi chính thống. Đặc biệt, trong thời đại số hiện nay, với sự phát triển của mạng lưới truyền hình, chương trình phát sóng tin tức 24 giờ, cộng với sự “nở rộ” của mạng xã hội,... đều là “mảnh đất màu mỡ” để lan truyền thuyết âm mưu và tin giả.

Sự xuất hiện của mạng xã hội, cộng với việc phổ biến các phương tiện truyền thông trực tuyến khiến cho thế giới tràn ngập thông tin thiếu kiểm soát, khiến cho chúng ta rất khó phân biệt giữa tin thật và tin giả, giữa sự thật và sự giả dối. Nói cách khác, chúng ta đang phải tiếp xúc với rất nhiều thông tin không được kiểm chứng, độ tin cậy của thông tin rất thấp. Nguy hại hơn, sự lan truyền của những thông tin này có thể khiến chúng ta mất đi khả năng diễn giải, thẩm định thông tin một cách đúng đắn. Điều này mở ra không gian để thông tin sai lệch chiếm lĩnh phạm vi công cộng và khiến cho các xã hội dân chủ dễ bị thao túng.

Trong bối cảnh đó đã xuất hiện một loại văn hóa chính trị mới - Chính trị hậu sự thật, khi các bài diễn thuyết, phân tích chính trị - xã hội, hay một cách luận giải sự việc, hiện tượng,... có lợi cho các chủ thể thực hiện được “tung ra”, trong khi người dân đang bị “mắc kẹt” bởi những băn khoăn, thắc mắc hoặc giả thuyết của chính mình.

Xuất phát từ toan tính trong việc sử dụng những thông tin sai lệch, những tín đồ của thuyết âm mưu chính trị thường phản đối các phương tiện truyền thông chính thống, chống lại lối tư duy quen thuộc mà họ cho là do giới tinh hoa chính trị tạo ra. Do đó, các phương tiện truyền thông chính thống thường là mục tiêu của những kẻ thực hiện thuyết âm mưu nói chung và thuyết âm mưu chính trị nói riêng. Và trong cuộc chiến đó, Internet là một lựa chọn hữu hiệu vì nó cung cấp các phương tiện để truyền bá thông tin sai lệch. Điều này càng trở nên nguy hại hơn khi năng lực sàng lọc thông tin của các phương tiện truyền thông chính thống bị suy yếu, khả năng cập nhật và xử lý thông tin không theo kịp được các kênh đài phi chính thống. Đây cũng là một trong những lý do để nhiều chính phủ, tổ chức hoặc cá nhân thay đổi phương pháp nhằm khắc chế hoạt động tung tin giả, tin sai sự thật.

Giờ đây, thay cho việc kiểm duyệt nội dung thông tin trên mạng Internet, thì họ sẽ cung cấp thông tin một cách “bội thực”, khiến cho mạng Internet tràn ngập các thông tin gây nhiễu, giống như cách mà Zeynep Tufekci (Đại học Bắc Carolina) từng khẳng định: “Trước kia, nếu hệ thống kiểm duyệt vận hành bằng cách ngăn chặn các loại thông tin nổi bật, thì trong thời đại quá tải thông tin này, kiểm duyệt hoạt động bằng cách nhấn chìm chúng ta bằng rất nhiều thông tin không thể phân biệt, làm tê liệt khả năng tập trung của chúng ta”.

2. Thông tin sai lệch trong Thuyết âm mưu chính trị chống phá Việt Nam

Thứ nhất, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên CNXH ở nước ta. Chúng thường xuyên phê phán, đả kích: Hệ tư tưởng của Đảng và xã hội ta lạc hậu, lỗi thời; bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức “tự phong”, là người “tiếm quyền” của nhân dân, Đảng “chỉ biết đến lợi ích của Đảng”, là “Đảng đầu hàng”, “bán nước, làm tay sai”, “lệ thuộc” vào Trung Quốc; Cương lĩnh của Đảng ta, nhất là Cương lĩnh thông qua tại Đại hội XI (năm 2011) là “giáo điều, bảo thủ”, là “ảo tưởng”; đường lối chính trị, kinh tế (trong Văn kiện Đại hội và các hội nghị Trung ương) là “sai lầm”, “lạc hậu” vẫn theo mô hình “Xôviết”; chính sách dân tộc, tôn giáo là “vi phạm quyền tự do, tín ngưỡng, tôn giáo”, là “vi phạm quyền tự trị của các dân tộc thiểu số”; đường lối đối ngoại của Việt Nam là “đu dây” (lúc thì ngả sang Trung Quốc, lúc thì ngả sang Mỹ); chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự cô lập mình”; Nhà nước ta là “Nhà nước độc tài”, “vi phạm quyền con người”, là “vi phạm các chuẩn mực nhân quyền quốc tế”, là “bó nghẹt tự do, ngôn luận, báo chí, internet”,...

Thứ hai, tung tin bôi nhọ, xuyên tạc, bịa đặt nhằm gây mất lòng tin của nhân dân vào phẩm chất, uy tín và năng lực của các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước. Chẳng hạn, vào tháng 6-2020, một tài khoản Facebook đã đăng tin xuyên tạc, bịa đặt về một vị lãnh đạo có quan hệ bất chính với một phụ nữ mà bằng chứng chỉ là một bức ảnh. Nhưng sự thật đó lại là hình ảnh một cảnh trong phim nước ngoài có tên “Em là định mệnh đời anh” tập 30. Một thí dụ khác, tháng 8/2020, ngay sau khi Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội bị đình chỉ công tác để “điều tra trách nhiệm có liên quan trong một số vụ án theo quy định của pháp luật” thì trang VOA tiếng Việt đã xuyên tạc rằng, đây là chuyện đấu đá phe phái trong bối cảnh sắp diễn ra Đại hội Đảng.

Thứ ba, thông qua các trang mạng xã hội, chúng tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo sự thật về cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam. Một mặt, chúng xuyên tạc mục tiêu chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta khi rêu rao những nội dung như: “đang có cuộc thanh trừng, đấu đá nội bộ trong Đảng”, “cuộc chiến chống tham nhũng là cuộc đấu đá phe cánh”, “tăng cường phòng, chống tham nhũng chỉ là chiêu trò mị dân”, “chống tham nhũng chỉ là hô khẩu hiệu”,... Mặt khác, chúng cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái vì Đảng cũng tham nhũng, suy thoái. Ngoài ra, chúng còn lợi dụng cuộc đấu tranh chống tham nhũng để kêu gọi biểu tình, khiếu kiện đông người làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội của nước ta.

Thứ tư, các đối tượng phản động tung tin sai sự thật nhằm kích động, tập hợp các phần tử xấu, lôi kéo quần chúng nhân dân biểu tình chống phá Đảng, Nhà nước, gây rối an ninh trật tự. Chúng khai thác những vấn đề gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân (nhất là vấn đề trong lĩnh vực đất đai, tài sản) kêu gọi người dân biểu tình, gây sức ép với chính quyền.

Thứ năm, đăng tải thông tin sai lệch nhằm tuyên truyền tư tưởng chính trị đối lập, tác động đến quá trình xây dựng, ban hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước nhằm lồng ghép vào đó các quan điểm sai trái, có lợi cho chúng và khiến chúng ta chệch hướng phát triển. Chẳng hạn như: Trong quá trình Đảng ta lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII, các đối tượng phản động, chống đối trong và ngoài nước đã đăng tải và phát tán hàng trăm bài xuyên tạc dự thảo Văn kiện Đại hội XIII là “sao chép”, “đánh tráo khái niệm”, không thể đưa đất nước đổi mới, phát triển. Hay khi Đảng, Nhà nước ta lấy ý kiến của nhân dân về sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, chúng đã đăng tải thông tin, công khai phê phán, công kích Đảng, Nhà nước ta, đồng thời kêu gọi đòi xóa bỏ Điều 4 của Hiến pháp; đòi “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang”; chống phá quyết liệt việc thông qua Luật An ninh mạng,...

Thứ sáu, in ấn, đăng tải và phát tán thông tin sai lệch nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của nước ta, kích động sự hằn thù giữa các tôn giáo với nhau, giữa các tôn giáo với Đảng, Nhà nước Việt Nam. Đồng thời, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền; kêu gọi sự ủng hộ, can thiệp từ bên ngoài nhằm mục đích đòi trả tự do cho những đối tượng chống đối bị các cơ quan chức năng bắt giữ. Đơn cử, liên quan đến sự việc phạm nhân Trần Huỳnh Duy Thức tuyên bố “tuyệt thực”, các thế lực phản động trong và ngoài nước đã đẩy mạnh các hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chúng gắn mác đấu tranh cho dân chủ, đã đăng tải, chia sẻ hình ảnh, thông tin trên các trang mạng xã hội, blog, fanpage, facebook, kêu gọi tổ chức quốc tế, “xã hội dân sự”, cộng đồng mạng tìm hiểu, lên tiếng, gây sức ép với chính quyền Việt Nam trả tự cho Trần Huỳnh Duy Thức(13).

Thứ bảy, làm suy giảm vị trí, vai trò của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong việc ứng phó với thách thức an ninh phi truyền thống. Trong thời gian diễn ra đại dịch Covid-19, một số tổ chức phản động lưu vong móc nối, cấu kết với một số phần tử phản động, cơ hội chính trị trong nước sử dụng những thông tin giả, triệt để khai thác ưu thế của không gian mạng, đặc biệt là mạng xã hội để tuyên truyền, xuyên tạc về quan điểm, chủ trương, chính sách, các giải pháp và kết quả phòng, chống dịch của Việt Nam.

Đáng chú ý là một số tổ chức phản động, phần tử cơ hội chính trị đã lợi dụng khoảng trống thông tin khi các cơ quan báo chí, truyền thông của ta chưa kịp đăng phát những thông tin chính thống thì chúng đã lồng ghép những thông tin giả nhằm xuyên tạc, bóp méo sự thật rồi tung lên không gian mạng làm nhiễu loạn thông tin, gây hoang mang trong dư luận; xuyên tạc, công kích Chính phủ Việt Nam “bưng bít thông tin, yếu kém trong xử lý dịch bệnh”,... Chẳng hạn như liên quan đến bệnh nhân Covid thứ 17 ở nước ta, chỉ trong vòng 2 ngày, trên không gian mạng đã xuất hiện hơn 80.000 tin liên quan đến dịch Covid-19 và bệnh nhân số 17. Trong số đó có không ít thông tin thất thiệt, trái chiều, sai sự thật khiến người dân rất khó phân biệt đâu là thông tin thật, đâu là thông tin giả. Điều này, ảnh hưởng không nhỏ đến công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, và các ban, bộ, ngành, địa phương nhằm kiểm soát dịch bệnh.

Như vậy, hoạt động của các thế lực thù địch khi đăng tải, phát tán những thông tin sai lệch trên không gian mạng nói riêng, trong không gian địa lý của Việt Nam nói chung đã tác động xấu đến công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta. Nó làm suy giảm niềm tin của một bộ phận quần chúng nhân dân vào nền tảng tư tưởng của Đảng; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc; làm mất an ninh chính trị, trật tự xã hội; uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế,... Nói cách khác, các thế lực chống phá nước ta đang thực hiện thuyết âm mưu chính trị ở Việt Nam với những “câu chuyện bịa đặt, hư cấu”; những thông tin sai lệch, xấu độc được lan truyền trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, nhằm thực hiện mục đích chính trị của chúng là chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc xây dựng CNXH của nước ta./.



 NHỚ TBT NGUYỄN PHÚ TRỌNG & NHỮNG GIỌT LỆ CHÂN TÌNH.


Trong phát biểu tại một lễ bế mạc Hội nghị Trung ương 6 trước đây, thay mặt Bộ chính trị, Ban bí thư, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhận lỗi trước Đảng, trước nhân dân về một số khuyết điểm trong hai nhiệm kỳ qua.


Khi đọc bài phát biểu ấy chúng ta thấy Tổng Bí thư nhiều lần nghẹn ngào, bởi vẫn còn đó những kẻ cơ hội, vẫn còn đó những cán bộ yếu kém đạo đức, vẫn còn đó nạn tham nhũng khiến nhân dân bức xúc, và vẫn còn đó những nhóm lợi ích lăm le đục khoét ngân sách nhà nước, làm giàu bất chính trên lưng của hàng triệu người dân nghèo...


Giọt nước mắt của ông sẽ đi vào lịch sử như một tinh thần trách nhiệm cùng những nỗ lực không mệt mỏi và cả sự day dứt, băn khoăn trước vận mệnh của đất nước.

Nước mắt không làm cho “giặc nội xâm” run sợ. Nước mắt không mang lại cơm ăn, áo mặc. Nước mắt không thể dùng để phát triển đất nước…

Nhưng nước mắt sẽ làm cho ta lớn lên cùng với tinh thần kiên định và lòng quyết tâm không lay chuyển. Nước mắt không làm yếu hèn mà tiếp thêm sức mạnh. 

Nước mắt của hôm nay là để cho nụ cười ngày mai.

Hi vọng rằng những ngày không xa, ông cùng các đồng chí, những đảng viên chân chính sẽ không bao giờ phải “nghẹn ngào” bởi những cái xấu, cái thoái hóa, biến chất không còn đất sống?!

Xin một lần nữa, hãy chia sẻ cùng ông “giọt nước mắt rơi vào lịch sử”.







 NGƯỜI LÃNH ĐẠO VÌ DÂN 


Khóa mười một nhóm lò đốt củi 

Tổng bí thư cùng với quyết tâm 

Chống tham nhũng diệt nội xâm 

Để đưa Đất nước Việt Nam mạnh giàu 


Nghị quyết bốn bước đầu loại bỏ 

Sâu đục thân trùm sỏ loại ra

Củi khô, củi mục không tha

"Đặt lồng cơ chế" để mà diệt sâu


"Tự diễn biến " làm giàu bằng cách 

Không thanh liêm trong sạch kiệm cần 

Rõ ràng áo Đảng cơm dân

Tham ô tham nhũng đục ngân rút tiền 


Cậy vây cánh mua quyền bán chức 

Nghĩ mình to ra sức lộng quyền 

Đất công lấn chiếm ngang nhiên

Nâng con đặt cháu đưa lên ghế ngồi 


Những dự án duyệt rồi đắp chiếu 

Doanh nghiệp công kém yếu lỗ thua 

Đầu tư bỏ vốn dư thừa 

Công trình rút lõi hỏng chưa kịp dùng ...


Trong cuộc họp đau lòng bác khóc 

Thề dưới cờ nguyện dốc sức xây

Vì dân vì nước ra tay 

Chống tham nhũng phải làm ngay không lùi 


Nay kết quả đến hồi tốt đẹp 

Tham nhũng kia bác dẹp rất nhiều 

Tham ô tham nhũng quan liêu 

Chức to chức nhỏ cũng đều không tha


Không vùng cấm để mà sâu ẩn 

Hạ cánh rồi cũng vẫn lôi ra 

Vây càng không thể lọt qua 

Kỉ cương giữ vững soát rà khắp nơi 


"Lò đã nóng củi tươi cũng cháy "

Tay nhúng chàm tội ấy nội xâm

Bác -Người lãnh đạo vì dân 

Đã đưa Đất nước bội phần mạnh hơn 


Dân yêu quý biết ơn bác Tổng 

Lái con tàu vượt lúc bão giông 

Chống chèo giữ vững non sông 

Ngoài êm, trong ổn yên lòng muôn dân 


Chúc bác Tổng thêm xuân thêm khỏe 

"Người đốt lò "sử sẽ lưu tên 

Thiêng liêng danh dự lâu bền 

Lòng dân ghi khắc không quên bóng hình .




BAN CHỈ ĐẠO 35 QUÂN ỦY TRUNG ƯƠNG TRIỂN KHAI ĐỒNG BỘ, HIỆU QUẢ CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG!

     Sáng 11-1, tại Hà Nội, Ban chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương tổ chức Hội nghị tổng kết nhiệm vụ năm 2023, triển khai nhiệm vụ năm 2024. Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Phó trưởng ban Thường trực Ban chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương chủ trì hội nghị!
Dự hội nghị có đồng chí Vũ Trọng Hà, Vụ trưởng, Chánh văn phòng Ban chỉ đạo 35 Trung ương; đại biểu lãnh đạo Cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo 35 Đảng ủy Công an Trung ương và cơ quan; các đồng chí thành viên Ban chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương…
Năm 2023, Ban chỉ đạo, Cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương đã quán triệt sâu sắc sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, trực tiếp là Ban chỉ đạo 35 Trung ương, Quân ủy Trung ương, tập trung triển khai các chủ trương, biện pháp toàn diện, đồng bộ, thống nhất, kịp thời đạt hiệu quả thiết thực. Quán triệt, triển khai cụ thể hóa Nghị quyết XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI vào hoạt động của cấp ủy, tổ chức Đảng và Ban chỉ đạo 35 các cơ quan, đơn vị. Chủ động tham mưu với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương các chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý Nhà nước, giữ vững sự ổn định về chính trị, tư tưởng trong Quân đội. Chỉ đạo sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII chặt chẽ, đúng kế hoạch; tổ chức tập huấn và Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch lần thứ ba, năm 2023, tạo sự lan tỏa sâu rộng trong xã hội. Kịp thời định hướng tư tưởng, dư luận trong cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình Quân đội đã bám sát nhiệm vụ chính trị, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan báo, đài Trung ương, địa phương mở rộng các chuyên trang, chuyên mục; đa dạng hóa các hình thức thông tin, tuyên truyền, định hướng tư tưởng, dư luận kịp thời, hiệu quả.
Phát biểu tại hội nghị, Thượng tướng Trịnh Văn Quyết ghi nhận, đánh giá cao những kết quả Ban chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương đã đạt được trong năm 2023.
Về một số nhiệm vụ trọng tâm năm 2024, đồng chí Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam yêu cầu, Ban chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương tiếp tục quán triệt và thực hiện Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới gắn với chương trình toàn khóa thực hiện Nghị quyết XIII của Đảng. Chủ động phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Ban chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương đẩy mạnh công tác nghiên cứu, đánh giá, dự báo chính xác tình hình, kịp thời thông tin, định hướng tư tưởng bộ đội và nhân dân trước các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, những vấn đề phức tạp, nhạy cảm trong nước, khu vực và quốc tế. Chủ động, tích cực bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ, bảo đảm cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nghiệp vụ. Phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương đấu tranh hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch; đa dạng hóa các nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền, xứng đáng vai trò nòng cốt trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.
Ban chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương cũng cần chủ động nắm chắc tình hình cơ sở, địa bàn, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ. Xây dựng, củng cố các tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện. Phát huy vai trò của các cơ quan nghiên cứu, các học viện, nhà trường, cơ quan báo chí trong biên soạn, phát hành các loại tài liệu, tư liệu về công tác thông tin tuyên truyền giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.
Tại hội nghị, Thượng tướng Trịnh Văn Quyết đã trao Bằng khen của Ban Tuyên giáo Trung ương tặng các tập thể đã có thành tích xuất sắc trong tổ chức Hội nghị trao đổi kinh nghiệm, hoạt động và đấu tranh, ngăn chặn xử lý thông tin xấu độc trên internet, mạng xã hội năm 2023./.

Yêu nước ST.

 SỨC MẠNH CỦA CHÂN LÝ 


Thế giới nợ một lời xin lỗi 

Khi một thời chống đối Việt Nam 

Bênh quân polpot ác tàn 

Kẻ gây diệt chủng kinh hoàng đau thương 


Khmer Đỏ coi thường luật pháp 

Lật chính quyền đàn áp dã man 

Cam pu chia cảnh hoang tàn 

Bốn năm cai trị giết dân phá làng 


Chúng tàn sát ngày càng man rợ 

Đưa nước về trung cổ hốc hang

Phá trường hủy sách đốt làng 

Người đói người bệnh ngổn ngang đầy đường 


Gần ba triệu dân thường bị giết 

Tiếng kêu cầu thảm thiết bốn phương 

Vượt biên bỏ trốn tìm đường 

Sống trong tuyệt vọng dân thường xót xa 


Polpot tấn công qua biên giới 

Phía Tây Nam vào tới Việt Nam 

Giết dân cướp bóc phá làng 

Tân Lập, Ba Chúc máu loang đỏ đồng


Dù già trẻ chúng không tha mạng 

Gần ba năm tội ác gây ra 

Thương vong bắt bớ tổng là 

Việt Nam tổn thất hơn ba mươi nghìn người


Ta tử tế đưa lời đàm phán 

Chúng cuồng ngông đàn áp ác thêm 

Buộc ta tự vệ xông lên 

Đánh cho chúng phải thua rên cúi đầu 


Để đáp lại lời cầu khẩn thiết 

Từ mặt trận đoàn kết Campuchia 

Mong quân đội Việt Nam qua 

Cứu dân cứu nước diệt quân ác tàn 


Quân đội Việt sẵn sàng giúp bạn

Cứu láng giềng thoát nạn diệt vong

Đánh tan polpot hung hăng 

Hồi sinh giải phóng nước Campuchia vui mừng 


Kẻ thất bại vô cùng nham hiểm 

Kiện Việt Nam xâm chiếm ra toà 

Cán cân công lý lệch pha

Bỏ phiếu trừng phạt cấm vận ta bao ngày 


Dù oan ức ta đây không chấp 

Giúp bạn hiền sáng lập tương lai 

Mười năm vượt mọi chông gai 

Dựng xây phát triển công này lớn lao


Xong nhiệm vụ tự hào biết mấy 

Chia tay mà bạn thấy vấn vương 

Nhân dân đứng chật bên đường 

Cảm ơn lưu luyến mến thương bộ đội mình 


Vì chân lý ta giành thắng lợi 

"Quân nhà Phật bộ đội Việt Nam "

Dù cho công lý xử gian 

Việt Nam ta vẫn hiên ngang thắng thù.






YÊU CẦU VĂN PHÒNG CAO ỦY NHÂN QUYỀN LIÊN HỢP QUỐC ĐÍNH CHÍNH THÔNG TIN!

     Những thông tin về cam kết nhân quyền của Việt Nam đến năm 2099 đăng trên website của Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc là không chính xác!
Chiều 11-1, tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao, trả lời câu hỏi đề nghị cung cấp thông tin về cam kết nhân quyền của Việt Nam cho đến năm 2099 đăng trên website của Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng cho biết những thông tin này là không chính xác.
Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao nêu rõ: "Chúng tôi đã yêu cầu Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc đính chính thông tin này".
Người phát ngôn cho biết tại sự kiện cấp cao kỷ niệm 75 năm thông qua Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền vừa được tổ chức tại Geneva, Thụy Sĩ ngày 12-12-2023, Việt Nam cùng các nước khẳng định chủ trương thúc đẩy thực hiện Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền thông qua cam kết cụ thể.
Trong đó, những nội dung cam kết của Việt Nam là cam kết thường xuyên, liên tục, thể hiện nỗ lực không ngừng của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, phù hợp với chính sách nhất quán của Việt Nam trong lĩnh vực này.
Bà Phạm Thu Hằng khẳng định đây cũng là cách thể hiện của nhiều nước và nhiều tổ chức quốc tế./.
Môi trường ST.

YÊU CẦU HOA KỲ KHÔNG ĐƯA VIỆT NAM VÀO DANH SÁCH THEO DÕI ĐẶC BIỆT VỀ TỰ DO TÔN GIÁO!

         Việt Nam yêu cầu Hoa Kỳ không đưa Việt Nam vào danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo, đồng thời cần có đánh giá khách quan dựa trên thông tin chính xác!
Chiều 11/1, tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao, Người phát ngôn Phạm Thu Hằng đã thông tin về phản ứng của Việt Nam trước việc Hoa Kỳ tiếp tục đưa Việt Nam vào danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo (SWL).
Theo bà Phạm Thu Hằng, Việt Nam lấy làm tiếc và yêu cầu Hoa Kỳ không đưa Việt Nam vào danh sách, cần có đánh giá khách quan dựa trên thông tin chính xác về tình hình tự do tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam.
"Việt Nam sẵn sàng trao đổi với Hoa Kỳ về các vấn đề cùng quan tâm trên tinh thần thẳng thắn cởi mở, tôn trọng lẫn nhau, đóng góp tích cực vào hòa bình, hợp tác trong khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ" - Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng nhấn mạnh.
Cũng theo Bộ Ngoại giao, chính sách nhất quán của Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do của con người trong đó có tự do tôn giáo của nhân dân. Điều này được ghi rõ trong Hiến pháp 2013 và hệ thống pháp luật của Việt Nam và được bảo đảm, tôn trọng trên thực tế. Những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người, trong đó có bảo đảm tự do tôn giáo, đều được cộng đồng quốc tế thừa nhận trong thời gian qua./.
Ảnh: Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng. 
Yêu nước ST.

Những cái nhìn sai lệch, định kiến của tổ chức CIVICUS với Việt Nam

 


 

Cuối năm 2023, một số tổ chức phi chính phủ có trụ sở ở nước ngoài lại đưa ra công bố, báo cáo xếp hạng các quốc gia về tự do, dân chủ, nhân quyền, trong đó có những cái nhìn lệch lạc, định kiến với Việt Nam. Một trong số đó là tổ chức CIVICUS Monitor.

Phong cách trọng dân của Hồ Chí Minh

Là Chủ tịch Đảng, Chủ tịch Nước, lãnh tụ tối cao của Đảng, của dân tộc và có ảnh hưởng rộng lớn đối với bạn bè quốc tế, thế nhưng, Hồ Chí Minh không bao giờ cho mình là lãnh tụ, luôn xa lạ với tệ sùng bái cá nhân, khiêm tốn và thành thực với mình, với người, với việc, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Đó chính là phong cách trọng dân, trọn đời yêu nước, thương dân của Người.

1. Phong cách kết tinh tư tưởng và đạo đức

Được nhân dân giao cho trọng trách với niềm tin tưởng tuyệt đối và lòng thành kính, ngưỡng mộ vô hạn đối với nguyên thủ quốc gia, Người có thư cảm ơn Quốc hội và quốc dân đồng bào, tự coi mình: như một người lính, vâng lệnh quốc dân đồng bào ra trận, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân, tuyệt đối không màng danh lợi. Trong thư, Người giãi bày trước nhân dân về tình cảm, trách nhiệm của mình bằng những lời lẽ thân tình, chân thành nhất: được đồng bào tín nhiệm giao phó cho trọng trách thì tôi một lòng một dạ phục vụ đồng bào. Còn khi nào đồng bào bảo tôi thôi, thì tôi sẵn sàng lui. Tôi sẽ làm một ngôi nhà nhỏ, bên suối vắng, cùng các cụ già và đàn cháu nhỏ vui chơi, trồng hoa, câu cá, ngâm thơ, tôi tuyệt nhiên không màng danh lợi. Cả đời tôi, tôi nguyện ở ngoài vòng danh lợi. Đó là tư tưởng dân chủ, thân dân và trọng dân, thương dân; là đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đặt việc dân việc nước lên trên hết, trước hết, “dĩ công vi thượng” của Hồ Chí Minh.

Làm nên sự vĩ đại, cao thượng của Hồ Chí Minh, từ cuộc đời và sự nghiệp, từ tư tưởng đến đạo đức, biểu hiện thành phương pháp và kết tinh thành phong cách, trước hết là động cơ và mục đích vì nước, vì dân, tìm “Đường cách mệnh” để cứu nước, cứu dân ra khỏi tình cảnh nô lệ, đói nghèo cùng cực, giành lấy độc lập cho Tổ quốc, tự do và hạnh phúc cho dân tộc và nhân dân. Động cơ, mục đích ấy thúc đẩy Người dấn thân, dâng hiến trọn vẹn, toàn vẹn cho sự nghiệp cách mạng, hy sinh cuộc sống riêng tư, tuyệt nhiên không một chút riêng tư, đủ dũng khí, nghị lực đánh bại chủ nghĩa cá nhân. Đó là đạo đức trong sáng và đời tư trong sạch, bởi Người là hiện thân đầy đủ, tiêu biểu nhất cho triết lý nhân sinh và hành động đã lựa chọn, thực hành suốt đời “vô ngã vị tha”; là cốt cách, bản lĩnh, phong cách của Người với những đặc trưng đã thành chuẩn mực, thành lẽ sống và biểu hiện ra hết sức tự nhiên, không một chút gượng ép nào. Người luôn khiêm nhường, thành thật, giản dị, nhất là trong làm việc và ứng xử, từ những quyết sách hệ trọng, “quốc gia đại sự”, vận nước, vận Đảng lúc cam go thử thách, đến chuyện sinh hoạt đời thường. Tất cả đều nhất quán, hài hòa, thấu lý đạt tình.

Sự nhất quán ở Hồ Chí Minh thể hiện trong tư tưởng “giữ chủ nghĩa cho vững”, “cách mạng đến nơi”, “phấn đấu đến cùng cho lợi quyền của dân chúng số nhiều”, độc lập thực sự, tự do chân chính, “không có gì quý hơn độc lập tự do”, thể hiện trong đạo đức “với mình phải nghiêm, với người phải rộng lòng khoan thứ”, rèn đủ bốn đức: cần, kiệm, liêm, chính mới thành người hoàn toàn, do đó phải phấn đấu suốt đời. Người cách mạng phải như vậy. Đảng cách mạng chân chính càng phải như vậy, là đạo đức, là văn minh; thể hiện thành phong cách với phương châm hành động “Dĩ bất biến ứng vạn biến” và trong hoạt động thì “nói ít làm nhiều”, “lời nói đi đôi với việc làm”, “đã nói thì phải làm”. Chỉ như vậy mới thuyết phục, cảm hóa được lòng dân, nêu gương cho dân để dân tin, dân theo Đảng đến cùng.

Phong cách thể hiện và kết tinh cả tư tưởng và đạo đức, là giá trị của một nhân cách đã trưởng thành, như một giá trị văn hóa. Thực hành phong cách như một nhu cầu văn hóa, thôi thúc tự nội tâm, bên trong đời sống chủ thể - những cá nhân và cá thể - trong giao tiếp, ứng xử với mọi người, với công việc, với tổ chức giữa các mối quan hệ. Vậy nên, “phong cách chính là con người”. Trong lãnh đạo và quản lý, Hồ Chí Minh thể hiện tầm nhìn xa, trông rộng, kết hợp nhuần nhuyễn lý luận với thực tiễn, rút ra những kết luận, nhận định, đánh giá có sức nặng của lý luận và khái quát chân lý từ những phân tích khoa học, quan sát và phản ứng linh hoạt, nắm bắt chính xác bản chất của thực tiễn. Đặc biệt, là phép dùng người của Hồ Chí Minh, chọn đúng người, giao đúng việc, kiểm tra khéo lại rất mực tôn trọng tài năng, cá tính của những người tài, nên phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của họ vào mọi công việc ích nước, lợi dân. Tin cậy đi liền với tôn trọng, thương yêu, bao dung mà nghiêm khắc là bí quyết dùng người, phong cách dùng người trong lãnh đạo, quản lý của Hồ Chí Minh. Mọi sắc thái biểu hiện ấy trong phong cách Hồ Chí Minh quy tụ lại là văn hóa, văn hóa ở đời và làm người. Với Hồ Chí Minh, “ở đời thì phải thân dân”, “làm người thì phải chính tâm”, Người nâng tư tưởng thân dân từ truyền thống của ông cha thành dân chủ và thực hành dân chủ, chính tâm thành đạo đức cách mạng và thực hành cần, kiệm, liêm, chính. Đó là giá trị mới, ý nghĩa mới đem lại sức mạnh mới trong phong cách trọng dân của Hồ Chí Minh.

2. Phong cách trọng dân của Hồ Chí Minh - từ nhận thức lý luận đến hành động thực tiễn

Theo Hồ Chí Minh: trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân. Người khẳng định: dân chủ là của quý báu nhất trên đời của dân và thực hành dân chủ rộng rãi là chiếc chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi nhiệm vụ và vượt qua mọi khó khăn. Như vậy, từ rất sớm, Người đã nhận ra vai trò động lực phát triển của dân chủ. Trong tác phẩm “Dân vận” (năm 1949), Người đã nhấn mạnh: “Nước ta là một nước dân chủ. Chế độ ta là một chế độ dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân…, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân1. Dân đã có quyền làm chủ thì cũng có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của người chủ. Với Hồ Chí Minh, quyền không tách rời nghĩa vụ, lợi ích đi liền với trách nhiệm. Dân là chủ thì từ Chủ tịch nước trở xuống, cho đến cán bộ, công chức, nhân viên chính phủ đều là người phục vụ, là công bộc tận tụy và đầy tớ trung thành của dân. Người đặc biệt quan tâm tới lợi ích và quyền lực thực sự của dân. Nước nhà đã có độc lập, tự do mà dân vẫn đói rét, cực khổ, dốt nát, lạc hậu thì độc lập, tự do, dân chủ cũng chẳng để làm gì. Dân chỉ biết đến tự do, dân chủ khi được ăn no, mặc ấm. Do đó, chúng ta phải làm ngay, làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, có chỗ ở, được học hành. Đó là tính hiện thực và đạo lý nhân văn của dân chủ. Để bảo vệ dân và dân chủ, Người luôn quan tâm tới việc dân giám sát, dân kiểm tra mọi việc làm, hành vi của cán bộ, đảng viên công chức. Theo Bác, chỉ có dựa vào dân thì mới xây dựng được Đảng trong sạch, vững mạnh và chỉ có thực hành dân chủ thực chất mới chống được quan liêu, tham nhũng; phải trừng trị tất cả những kẻ bất liêm, bất kể chúng là ai, giữ nghiêm luật pháp, kỷ cương để Nhà nước trong sạch, bảo vệ và phục vụ dân. Những chỉ dẫn đó của Người cho ta thấy, dân chủ có tầm quan trọng đặc biệt như thế nào trong xây dựng chính thể cộng hòa dân chủ và xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh. Phong cách trọng dân của Người hình thành từ nền tảng dân chủ là như vậy, từ đề cao vai trò của dân, quyền lực của dân đến trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, công chức đối với dân.

Để thực hành phong cách trọng dân, Hồ Chí Minh thường xuyên giáo dục, rèn luyện cán bộ, đồng thời tự mình nêu gương, làm gương cho mọi người noi theo. Người căn dặn, phải giải phóng sức dân, phát triển sức dân, chăm lo bồi dưỡng dân, lại phải biết tiết kiệm sức dân. Mỗi đồng tiền bát gạo mà chúng ta tiêu dùng đều từ mồ hôi, nước mắt của dân làm ra, từ lao động khó nhọc hằng ngày. Cho nên, thương dân thì phải tiết kiệm. Lãng phí là không thương dân. Tham ô, tham nhũng là ăn cắp của dân, có tội với dân, phải nghiêm trị theo luật nước, luật Đảng (Điều lệ Đảng), tuyệt đối không có ngoại lệ nào. Người còn giải thích, đồng bào đóng thuế để Chính phủ có tiền trả lương cho công chức, nên nếu lười biếng, vô trách nhiệm là có tội với dân, là lừa gạt dân chúng.

Không chỉ thực thi pháp luật cho nghiêm mà còn phải chú trọng thường xuyên việc giáo dục đạo đức, đề cao lương tâm, trách nhiệm, danh dự, phẩm giá, cho mọi người, trước hết là cán bộ, đảng viên, nhất là người lãnh đạo. Phải ghi lòng tạc dạ “dân chủ” chứ không “quan chủ”; là đầy tớ, công bộc của dân chứ không lên mặt “quan cách mạng” để xa dân, hống hách, đè nén, áp bức dân. Đủ hiểu vì sao Người đặc biệt chú trọng tới đạo đức, coi đức là gốc. Thực hành phong cách trọng dân trong làm việc và trong ứng xử, Người luôn nêu gương mẫu mực thực hiện những lời mà Người căn dặn chúng ta làm theo, noi theo. Mọi việc thành hay bại đều từ dân. Việc khó mấy, có dân giúp đỡ cũng vượt qua được. Việc có dễ dàng, thuận lợi bao nhiêu mà không có dân tham gia cũng không thành, “Phải gần gũi nhân dân, dựa vào lực lượng của nhân dân, xa rời nhân dân thì tài tình mấy cũng không làm gì được”2. Với phong cách trọng dân, Hồ Chí Minh đã dành hết tâm lực, trí lực vào việc Đảng, việc nước, việc dân, thực hành dân chủ, thực hành dân vận, thực hành đoàn kết, đại đoàn kết để thành công, đại thành công. Có biết bao ví dụ sinh động và cảm động nói lên tấm lòng, tình cảm, tình thương yêu và đức hy sinh của Bác Hồ dành cho dân, đó là những minh chứng đầy thuyết phục về phong cách trọng dân của Người.

Đọc “Tuyên ngôn độc lập” ở Quảng trường Ba Đình ngày 02-9-1945, Người dừng lại hỏi: “Đồng bào nghe tôi nói có rõ không?”. Người chu đáo, ân cần, gần gũi với dân như vậy. Người sợ đồng bào Hà Nội không nghe rõ tiếng phát âm xứ Nghệ - quê Người. Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, ngày 03-9-1945, Người đề nghị các bộ trưởng trong Chính phủ do Người đứng đầu nhịn ăn, cứ 10 ngày nhịn một bữa, lấy gạo cứu dân nghèo và Người xung phong thực hiện đầu tiên. Đó thực sự là một chính phủ của dân, thương dân và vì dân. Ngay sau khi phiên họp kết thúc, Người có thư gửi toàn thể quốc dân đồng bào thông báo, Chính phủ do Người đứng đầu bắt đầu tiếp dân, xin đồng bào đăng ký và gửi trước câu hỏi để Người chuẩn bị. Người cũng xin đồng bào nhớ cho, mỗi đoàn tiếp không quá 10 người, mỗi lần tiếp không quá một giờ để Người được nghe nhiều ý kiến của dân hơn, v.v. Không có vị Chủ tịch chính phủ nào như Chủ tịch Hồ Chí Minh, viết thư gửi toàn quốc dân đồng bào, nhờ đồng bào hết lòng giúp đỡ Chính phủ, tìm người tài giỏi ra giúp nước, mách bảo cho Chính phủ để Chính phủ trọng dụng, ngay khi chính thể cộng hòa dân chủ mới ra đời. Người tin dân, trọng dân đến vậy. Người đến với dân ở cơ sở, đó là những chuyến đi không chỉ để thăm dân, từ các cụ già đến các em nhỏ mà còn để trực tiếp “nghe dân nói” và “nói cho dân nghe” để thấu hiểu ý nghĩ, nguyện vọng của dân và thấu cảm cuộc sống của dân, từ cơm ăn, áo mặc hằng ngày. Người dõi theo những tấm gương điển hình “người tốt việc tốt”, những thông tin trên báo chí. Người yêu cầu phải thật chính xác, việc tuyên truyền, khen, chê phải đúng lại phải khéo mới có tác dụng. Và cho đến phút cuối cùng, lúc lâm chung, Người vẫn chỉ nghĩ tới dân, lo cho dân, rất mực thương dân, “không thể bỏ dân mà đi được”, cả một đời đã tận tâm, tận lực vì dân, nay dù phải từ biệt thế giới này không có điều gì phải ân hận, chỉ nuối tiếc một điều, không được phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa.

Khó có thể nói hết, kể hết bao nhiêu lời dặn dò, bao nhiêu việc đã làm thể hiện phong cách trọng dân của Hồ Chí Minh. Đó thực sự là một tài sản tinh thần vô giá của Đảng, của dân ta. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào lúc này, càng thấm thía giá trị và ý nghĩa phong cách trọng dân của Người./.

ST.

Giá trị nhân văn, nhân đạo và hòa bình trong tư tưởng Hồ Chí Minh về sử dụng bạo lực cách mạng

Bạo lực cách mạng mang tính nhân văn, nhân đạo, hòa bình là tư tưởng đầu tiên và là nội dung cơ bản, quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh về quân sự. Nghiên cứu, nhận thức đúng vấn đề này có ý nghĩa lý luận, thực tiễn sâu sắc và là căn cứ khoa học đấu tranh phê phán những quan điểm, nhận thức sai trái hiện nay.

Với “một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”1, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã không quản gian nan, vất vả quyết dấn thân để đạt được ham muốn nhân văn cao cả đó. Trên hành trình tìm đường cứu nước, Người đã đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản2; “Trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp và của dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền3.

Bạo lực được hiểu là sức mạnh của một giai cấp, nhà nước (thậm chí là liên minh nhà nước) hoặc tập đoàn xã hội sử dụng để cưỡng đoạt, trấn áp hoặc chống lại sự cưỡng đoạt, trấn áp, cho nên có bạo lực tiến bộ, cách mạng và bạo lực phản động, phản cách mạng, tùy thuộc vào mục đích, bản chất của lực lượng sử dụng nó. Việc Hồ Chí Minh lựa chọn bạo lực cách mạng để thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng con người, bởi, tội ác mà chủ nghĩa thực dân, đế quốc đối với dân tộc Việt Nam quá lớn. Song, “bạo lực” mà Người sử dụng hàm chứa tính nhân văn, nhân đạo rất sâu sắc.

Lịch sử đã minh chứng, trong hơn 80 năm đô hộ nước ta, thực dân Pháp thực thi chính sách bóc lột dân ta đến tận xương tủy, chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước đòi độc lập. Đặc biệt, nạn đói từ cuối năm 1944 đến đầu năm 1945 đã cướp đi sinh mạng của hơn 2 triệu người (bằng 10% dân số Việt Nam lúc bấy giờ) chính là hậu quả của chính sách cai trị vô nhân đạo của thực dân Pháp gây ra. Tuy nhiên, chúng hung hăng đàn áp, ức hiếp người dân bản xứ, nhưng bạc nhược đầu hàng phát xít Nhật. Khi nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng giành chính quyền từ tay phát xít Nhật, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thì chúng lại tiến hành chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Sau khi thực dân Pháp thất bại, đế quốc Mỹ lại nhảy vào, với ý đồ biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Trong gần 20 năm hiện diện tại Việt Nam, chúng đã gây ra bao nhiêu tội ác rùng rợn, như vụ: thảm sát Mỹ Lai; Khánh Giang - Trường Lệ; Thạnh Phong, v.v. Đặc biệt, chúng còn ném hơn 18,2 triệu gallon chất độc da cam xuống hơn 10% diện tích đất miền Nam và ném hàng triệu tấn bom xuống miền Bắc, làm chết hàng triệu dân thường và để lại di chứng lâu dài cho nhiều triệu người các thế hệ người Việt Nam. Với những tội ác đó, thì việc “Hễ là người Việt Nam” sẵn sàng “thà hy sinh tất cả”, kiên quyết đứng lên, “Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc”, “kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”, thì mới là nhân văn, nhân đạo. Với cách tiếp cận như vậy, tư tưởng bạo lực cách mạng của Hồ Chí Minh hoàn toàn thống nhất với tư tưởng nhân văn, nhân đạo và hòa bình. Đó là sự tiếp nối truyền thống nhân nghĩa của cha ông ta “Việc nhân nghĩa cốt để yên dân/Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”. Người quan niệm: “…dụng binh là việc nhân nghĩa, muốn cứu dân, cứu nước”4.

Thực tiễn lịch sử cách mạng nước ta cho thấy: bạo lực mà Hồ Chí Minh sử dụng là bạo lực của quần chúng, là sức mạnh tổng hợp của lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang nhân dân. Trong đó, Người chỉ rõ hình thức đấu tranh “hoặc là đấu tranh vũ trang, hoặc là đấu tranh chính trị của quần chúng, hoặc là lấy đấu tranh chính trị của quần chúng làm chủ yếu, kết hợp một cách linh hoạt với đấu tranh vũ trang theo mức độ thích đáng ở những nơi có thể làm được”5. Chính cách tổ chức lực lượng và sử dụng hình thức đấu tranh như vậy mà bạo lực cách mạng theo tư tưởng của Người khi thực hiện đã đưa đến kết quả nhân đạo và hòa bình. Điều này được minh chứng rõ trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, với lực lượng vũ trang làm nòng cốt, lực lượng chính trị của quần chúng giữ vai trò chủ yếu, quyết định, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã nhanh chóng giành chính quyền trên cả nước mà sự tổn thất của cả ta và địch đều không đáng kể.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Ma-ri-uýt Mu-tê ký bản Tạm ước Việt - Pháp, ngày 14-9-1946. Ảnh tư liệu

Trong chỉ đạo chiến lược, Hồ Chí Minh luôn thể hiện quyết tâm bảo vệ hòa bình, ngăn chặn và không muốn chiến tranh xảy ra. Người luôn tích cực, kiên trì tìm kiếm cơ hội hòa bình dù rằng rất nhỏ. Minh chứng là, trước âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa, thực dân Pháp ra sức phá hoại cuộc đàm phán Việt - Pháp dẫn đến Hội nghị Phông-ten-nơ-blô tan vỡ. Để cứu vãn hòa bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ động gặp Thủ tướng Pháp Gioóc-giơ Bi-đôn và trực tiếp đàm phán với Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Ma-ri-uýt Mu-tê, ký Tạm ước 14-9-1946, nhằm vớt lại chút hy vọng về một khả năng hòa bình, dù hết sức nhỏ bé và mong manh. Sau này, mặc dù đế quốc Mỹ tìm mọi cách để phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ (năm 1954), nhưng Hồ Chí Minh cùng Đảng ta luôn nhắc nhở đồng bào ta kiên trì đấu tranh chính trị để bảo vệ và thực hiện Hiệp định cho đến khi buộc phải tiến hành đấu tranh vũ trang. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Người đã nhiều lần gửi thông điệp cho Tổng thống Mỹ, đề nghị đàm phán hòa bình, kết thúc chiến tranh, nhưng phía Mỹ đáp lại bằng việc leo thang chiến tranh. Khi chiến tranh xảy ra, Hồ Chí Minh luôn chủ trương dùng phương thức ít đổ máu nhất cho cả ta và địchNgười luôn tìm kiếm các giải pháp chính trị, tăng cường hoạt động ngoại giao, làm cho nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới, nhất là nhân dân Mỹ hiểu rõ bản chất hiếu chiến, phản động của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, từ đó tích cực ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, gây sức ép buộc chính quyền thực dân, đế quốc thi hành hiệp định đã ký.

Khi cuộc chiến đang diễn ra khốc liệt, Hồ Chí Minh vẫn kiên trì theo đuổi khả năng hòa bình, sớm kết thúc chiến tranh. Trong Thư gửi Chính phủ, Quốc hội và nhân dân Pháp ngày 07-01-1947, Người mong muốn: “Chính phủ và nhân dân Pháp chỉ cần có một cử chỉ công nhận độc lập và thống nhất của nước Việt Nam là chấm dứt được những tai biến này; hòa bình và trật tự sẽ trở lại ngay tức khắc”6. Khi bị cự tuyệt, Người chua xót thốt lên: “Than ôi, trước lòng bác ái, thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người”7. Trong thư gửi Tổng thống Mỹ Ri-sớt Ních-xơn ngày 25-8-1969, Hồ Chí Minh bày tỏ: “Tôi vô cùng công phẫn trước những tổn thất và tàn phá do quân Mỹ gây ra cho nhân dân và đất nước chúng tôi; tôi cũng rất xúc động thấy ngày càng có nhiều thanh niên Mỹ chết vô ích ở Việt Nam vì chính sách của nhà cầm quyền Mỹ”8. Người chủ động đề nghị: “Với thiện chí của phía Ngài và phía chúng tôi, chúng ta có thể đi tới những cố gắng chung để tìm một giải pháp đúng đắn cho vấn đề Việt Nam”9. Khi mọi cố gắng của Hồ Chí Minh bị cự tuyệt, buộc chúng ta phải chiến đấu thì Người vẫn chỉ đạo: một tay đánh, một tay đàm, mở cửa cho nó ra. Đối với tù binh, hàng binh, Người chỉ thị cho quân và dân ta phải đối đãi với họ cho khoan hồng. Phải làm cho thế giới, trước hết là làm cho dân Pháp biết rằng: “Chúng ta là quang minh chính đại. Chúng ta chỉ đòi quyền độc lập tự do, chứ chúng ta không vì tư thù tư oán, làm cho thế giới biết rằng chúng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người cướp nước”10. Nhờ được đối xử tốt, những tù binh và hàng binh người Pháp, Mỹ và chư hầu sau khi được ta trả lại tự do, đoàn tụ với gia đình, nhiều người trong số họ đã trở thành những sứ giả hòa bình, bắc nhịp cầu đoàn kết giữa nhân dân nước họ với chúng ta. Như vậy, tư tưởng của Hồ Chí Minh sử dụng công cụ bạo lực không phải để trấn áp, trừng phạt mà để cảm hóa các tù binh, giúp họ trở thành những chiến sĩ hòa bình.

Tính nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về sử dụng bạo lực cách mạng còn thể hiện ở sự quan tâm của Người đối với việc giáo dục tinh thần yêu nước, nuôi dưỡng chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho nhân dân và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang. Nhờ giáo dục tinh thần yêu nước, thương nòi cho các tầng lớp nhân dân mà Mặt trận Việt Minh do Hồ Chí Minh sáng lập đã nhanh chóng đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên “một lực lượng chỉ đánh thắng địch chứ địch không thể đánh thắng”, nhờ đó mà “cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi”. Người giải thích: “Ta dùng sức mạnh tinh thần mà đánh thắng sức mạnh vật chất của địch. Tinh thần đoàn kết... Đoàn kết là một sức mạnh vô địch. Nó sẽ đánh thắng cả giặc thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ”11. Việc thường xuyên tuyên truyền, giáo dục giúp nhân dân nắm chắc chủ trương, chính sách, pháp luật cũng đồng nghĩa với việc Nhà nước ít phải sử dụng công cụ bạo lực. Ngay cả những kẻ làm tay sai cho địch, Người không những không trừng phạt mà còn yêu cầu các cơ quan, ban, ngành, chính quyền địa phương “phải lợi dụng mọi cơ hội, mọi hình thức để tuyên truyền giác ngộ cho những kẻ lầm đường kia”12, điều đó càng làm sâu đậm thêm tính nhân văn trong tư tưởng về sử dụng bạo lực cách mạng của Hồ Chí Minh.

Đối với lực lượng nòng cốt thực hiện bạo lực cách mạng, Người giao nhiệm vụ mang đậm tính nhân văn sâu sắc: “chính trị trọng hơn quân sự”, tức là lấy tuyên truyền làm phương thức cơ bản để đấu tranh với kẻ thù, cũng chính là yếu tố con người được đặt lên hàng đầu. Người yêu cầu cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang phải thương yêu lẫn nhau như những người ruột thịt; coi trọng giáo dục cán bộ, chiến sĩ phải có tinh thần đoàn kết quốc tế, có lòng nhân đạo, có sự phân biệt rõ ràng giữa những kẻ xâm lược, hiếu chiến với nhân dân lao động, yêu chuộng hòa bình và công lý nhằm tăng bạn, bớt thù.

Thực tiễn trên cho thấy, Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn tìm mọi cách để tránh xảy ra chiến tranh, nên đã phải nhiều lần nhân nhượng; nhưng càng nhân nhượng các thế lực thực dân, đế quốc hiếu chiến càng lấn tới, buộc quân và dân ta phải “đứng lên” cầm vũ khí bảo vệ Tổ quốc. Sự thực đó bác bỏ hoàn toàn sự bịa đặt của các thế lực thù địch cho rằng, Hồ Chí Minh và Đảng ta “hiếu chiến” nên mới đưa dân tộc vào cuộc chiến tranh hao người, tốn của./.

ST.

Đẩy mạnh thực hiện Di chúc của Bác Hồ để xứng tầm với Quốc bảo

Cách đây nửa thế kỷ, trước khi “đi xa mãi mãi”, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta bản Di chúc lịch sử. Đó là tài sản tinh thần vô giá - Quốc bảo của dân tộc Việt Nam. Những giá trị trường tồn của Di chúc đang nhắc nhở và thúc giục chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Di chúc của Bác Hồ để xứng tầm với Quốc bảo.

1. Nỗ lực thấu hiểu và thấu cảm những lời dặn cuối cùng của Người trong Di chúc

Vào dịp sinh nhật, tháng Năm, năm 1965, đúng 75 tuổi, Bác Hồ bắt đầu viết Di chúc mà Người khiêm nhường chỉ gọi là một bức thư, là mấy lời để lại cho đồng bào, đồng chí trước lúc đi xa. Đó là những lời dặn cuối cùng của Bác đối với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, được Người chuẩn bị hết sức công phu, tỉ mỉ và chu đáo, kết tinh tư tưởng - đạo đức - phong cách của Người. Di chúc là một trong những tác phẩm tiêu biểu của Người được xếp hạng Bảo vật Quốc gia, là Quốc bảo của Việt Nam thời hiện đại1.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành trọn vẹn, toàn vẹn cuộc đời mình tranh đấu, dâng hiến và hy sinh cho Độc lập - Tự do - Hạnh phúc của Tổ quốc, dân tộc và nhân dân, nên Người không một chút riêng tư, không màng danh lợi, quyết ở ngoài vòng danh lợi để tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Điều Người nói: “tình thương yêu của tôi với đồng bào trong nước, với nhân dân các dân tộc bị áp bức mãi mãi không bao giờ thay đổi”, đã được chứng thực đầy cảm động từ cuộc đời của Người, từ tấm lòng nhân hậu, vị tha và bao dung của một con người mà nhân dân thương mến, bạn bè muôn nơi ngưỡng mộ, cho đến kẻ thù cũng phải nể trọng, kính phục. Con người ấy là Hồ Chí Minh, “tinh hoa và khí phách của dân tộc”2, con người Việt Nam đẹp nhất, con người lý tưởng, chân - thiện - mỹ mà thế giới nhân loại đã tìm thấy ở Người, ở Việt Nam - Tổ quốc và dân tộc của Người, thời đại mang tên Người. Con người ấy, cho đến phút cuối cùng, lúc lâm chung vẫn chỉ nghĩ về dân, hướng tới dân. Người viết trong bức thư để lại, cả cuộc đời làm cách mạng, nay dù phải từ biệt thế giới này, Người không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng, không được phục vụ Tổ quốc và nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa. Đó là niềm tiếc nuối cao thượng, lấy phục vụ nhân dân làm lẽ sống, lấy hạnh phúc của dân làm mục đích sống của đời mình.

Di chúc của Bác Hồ, từ bản viết đầu tiên, tháng 5-1965, đến các bản sửa chữa, bổ sung những năm tiếp theo, cho đến lần sửa chữa cuối cùng vào tháng 5-1969 hợp thành một chỉnh thể toàn vẹn nội dung những lời căn dặn của Người. Tư tưởng - Đạo đức - Phong cách Hồ Chí Minh kết tinh trong bản văn 1.000 từ này nổi bật ở năm vấn đề.

Thứ nhất, khẳng định niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Người nhấn mạnh, đó là một điều chắc chắn.

Thứ hai, căn dặn việc phải làm đầu tiên ngay sau khi cách mạng toàn thắng, giải phóng hoàn toàn miền Nam là tập trung chỉnh đốn lại Đảng. Trong Đảng, trước hết phải giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí, từ Trung ương tới chi bộ như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Phải xứng đáng là một Đảng cầm quyền. Người nhấn mạnh bốn lần chữ “thật” trong một đoạn văn ngắn về Đảng cầm quyền mà cốt lõi là đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, phải đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân để xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Thứ ba, đầu tiên là công việc với con người. Đây là một phác thảo toàn bộ chương trình, kế hoạch xây dựng đất nước sau chiến tranh mà trung tâm là chăm lo cuộc sống cho nhân dân, từ “đền ơn đáp nghĩa” đối với thương binh, liệt sĩ, những gia đình có công với nước; giáo dục truyền thống, phát triển kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục, giải quyết các vấn đề và quản lý xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Người đặc biệt quan tâm tới thanh niên và phụ nữ. Đảng phải chú trọng giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm quan trọng và cần thiết. Đào tạo họ về học vấn và kỹ thuật, chính trị và văn hóa, thành lớp người chủ chốt xây dựng đất nước, “vừa hồng, vừa chuyên”. Quan tâm tới sự phát triển và tiến bộ của phụ nữ và bản thân phụ nữ phải chủ động vươn lên giành lấy quyền bình đẳng. Cuộc cách mạng bình quyền này phải có sự chủ động tham gia của phụ nữ. Các cấp ủy Đảng và chính quyền phải thường xuyên quan tâm tới sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Miễn thuế nông nghiệp cho nông dân, quan tâm tới đồng bào miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số. Giúp đỡ đồng bào, các tầng lớp xã hội trong chế độ cũ bằng các biện pháp giáo dục và hành chính để tăng cường đoàn kết, hòa hợp, đồng thuận xã hội với tất cả tấm lòng bao dung, đầy tính nhân đạo.

Phác thảo ấy là tất cả những trù tính, định liệu, lo toan của Người, trước mắt cũng như lâu dài, hiện tại và tương lai, tất cả vì quyền sống, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Người hình dung đây là những công việc to lớn, nặng nề, phức tạp nhưng cũng rất vẻ vang trong tái thiết đất nước sau chiến tranh. Đó thực sự là một cuộc chiến đấu chống lại những cái cũ kỹ, lạc hậu, lỗi thời, hư hỏng để xây dựng những cái tiến bộ, mới mẻ, tốt tươi. Để giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này, phải dựa vào dân, gây dựng phong trào và lực lượng trong dân để dân thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng. Giá trị to lớn và ý nghĩa sâu xa từ những trù tính chiến lược này của Người là ở chỗ, Người đề cập tới đổi mới, đưa ra một quan niệm về đổi mới như một cuộc cách mạng, kiến tạo phát triển trong tương lai vô cùng tinh tế, sâu sắc. Cũng như vậy, tâm nguyện của Người, điều mong muốn cuối cùng của Người lại chính là quan niệm về chủ nghĩa xã hội Việt Nam mà ngày nay, kế thừa tư tưởng của Người, Đảng ta xác định thành hệ mục tiêu của đổi mới, là đặc trưng tổng quát về xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tính mới, tính hiện đại trong tư tưởng của Người làm nên giá trị trường tồn, sức sống và ý nghĩa của Di chúc.

Thứ tư, Di chúc còn đề cập tới tư tưởng và tình cảm của Người đối với phong trào cộng sản quốc tế, với các nước xã hội chủ nghĩa anh em trên thế giới, trong bối cảnh diễn biến phức tạp bởi những bất đồng về quan điểm và những mâu thuẫn nảy sinh trong quan hệ giữa các Đảng, các nước. Đây cũng là những lời căn dặn hệ trọng và xúc động của Người đối với Đảng ta. Người tự hào về sự lớn mạnh của phong trào cách mạng thế giới bao nhiêu thì Người càng đau lòng bấy nhiêu trước những bất đồng đó. Người căn dặn Đảng ta phải ra sức góp phần củng cố tình đoàn kết quốc tế. Người cũng tin chắc rằng, các Đảng, các nước anh em rồi nhất định sẽ phải đoàn kết lại. Người là hiện thân của tình cảm quốc tế trong sáng, người chiến sĩ cách mạng trung thành với chủ nghĩa quốc tế chân chính xã hội chủ nghĩa và nỗi đau của Người không chỉ là nỗi đau nhân thế ở đời mà còn là nỗi đau đời, sự dằn vặt của trí tuệ và lương tâm thời đại. Đó cũng là sự tỏa sáng tâm hồn cao thượng của Người với tầm vóc vĩ nhân.

Thứ năm, về việc riêng, và đây chính là nỗi niềm của Người, đến phút cuối cùng, trước lúc ra đi vẫn nặng lòng với dân với nước. Người nói rõ, sau khi Người qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân. Người yêu cầu thi hài Người được đốt đi, nói chữ là “hỏa táng”, sau này, khi đã có nhiều điện thì điện táng càng tốt hơn, nên trở thành phổ biến, như thế đã tốt vì hợp vệ sinh cho người đang sống lại đỡ tốn đất, ruộng của nông dân. Cảm động và cao quý ở đức hy sinh, dấn thân của Người khi sống và tranh đấu cho độc lập tự do, nay, đến lúc ra đi, về cõi vĩnh hằng, lại muốn nằm trong lòng đất Mẹ, về với tự nhiên, hóa thân vào dân tộc, nhân dân, đất nước, ở cả ba miền. Người linh cảm tới việc không chờ được ngày toàn thắng, không gặp được đồng bào miền Nam - miền Nam luôn ở trong trái tim Người. Với Người, mọi miền đất nước đều là quê hương nên Người dặn, tro thì bỏ vào ba hộp sành, cho mỗi miền một hộp, đồng bào mỗi miền tìm một quả đồi mà chôn hộp tro đó. Trên mộ không cần bia đá tượng đồng, chỉ cần xây một cái nhà đơn giản, thoáng đãng để đồng bào đến thăm thì có chỗ nghỉ ngơi. Người còn dặn trồng cây xung quanh, lâu dần cây tốt thành rừng, vừa đẹp cho phong cảnh vừa lợi cho nông nghiệp.

Đó không chỉ là tư tưởng của Người về môi trường mà còn là nét đẹp tinh tế trong triết lý nhân sinh, trong văn hóa ở đời và làm người mà Người thể hiện qua những lời cảm động, thấm đẫm tình người. Khi sống đã một đời không màng danh lợi, ở ngoài vòng danh lợi, nay dù phải từ biệt thế giới này, Người cũng thanh thản về với thiên nhiên, cây cỏ, đem tất cả tình thương mến cho dân ở mọi miền. Thương dân suốt dặm dài đất nước, Người không muốn dân vất vả trong mỗi lần thăm viếng. Quả thật là, đoạn văn nói về việc riêng, thêm một lần nữa ta cảm nhận sâu xa tình cảm và tâm hồn Hồ Chí Minh - con người với trái tim nhân hậu, với tình thương bao la, nơi có chỗ cho tất cả mọi người, con người của mọi người, con người vì mọi người, cảm thông, chia sẻ với mọi cảnh đời và số phận.

Như thế, bản văn 1.000 từ trong suốt bốn năm Người suy nghĩ, viết và sửa, bổ sung và hoàn thiện đã kết tinh tất cả trí tuệ và tình cảm, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người. Đó không chỉ là Quốc bảo mà còn là Pháp bảo của muôn đời.

2. Đẩy mạnh thực hiện Di chúc của Bác Hồ để xứng tầm với Quốc bảo

Nhớ lại nửa thế kỷ trước đây, trong giờ phút đau thương vĩnh biệt Người, Tổng Bí thư Lê Duẩn thay mặt toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đọc 5 lời thề thiêng liêng trước anh linh Người. Nội dung 5 lời thề thiêng liêng đó bao quát những điều cốt yếu nhất trong bản Di chúc 1.000 từ của Bác.

Năm mươi năm qua, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã giữ trọn lời thề, ra sức thực hiện Di chúc của Người. Miền Nam đã được giải phóng, Tổ quốc đã thống nhất. Độc lập chủ quyền được giữ vững. Đất nước đã thay da đổi thịt trong xây dựng, tái thiết sau chiến tranh. Đời sống vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân không ngừng được cải thiện, nhất là trong hơn 30 năm đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế vừa qua. Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là trong 10 năm trở lại đây, theo chỉ dẫn của Người, làm cho Đảng thật trong sạch để thật vững mạnh, là một Đảng cách mạng chân chính, là đạo đức, là văn minh, xứng đáng là một Đảng lãnh đạo và cầm quyền đã đạt được những chuyển biến tích cực, những kết quả quan trọng. Niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ được giữ vững và phát huy. Uy tín và ảnh hưởng của Đảng trong xã hội và trong đời sống quốc tế được nâng cao. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã định hình thành một nhu cầu văn hóa trong Đảng, trong dân, kể cả trong cộng đồng người Việt Nam lao động, sinh sống ở nước ngoài. Qua đó, đã xuất hiện ngày một nhiều những điển hình tiêu biểu, cả tập thể và cá nhân. Sức lan tỏa và hiệu ứng xã hội rộng lớn từ việc học tập và làm theo Bác đã đem lại sức mạnh, niềm tin mới trong Đảng, trong dân, tạo nên động lực tinh thần mạnh mẽ để chúng ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong đổi mới và hội nhập, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, để thỏa lòng mong ước của Người. “Chúng ta hãy xứng đáng với Bác hơn nữa”3. Đó là tâm nguyện, là hành động của mỗi người chúng ta trong cuộc sống hằng ngày, được thúc đẩy và dẫn dắt từ tình thương yêu vô hạn và nguồn sáng vô tận của Người dành cho chúng ta, từ tình cảm và niềm tin của mọi thế hệ người Việt Nam đối với Người.

Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Di chúc của Bác Hồ để xứng tầm Quốc bảo trong hoàn cảnh, điều kiện mới hiện nay, trước hết, cần tích cực tuyên truyền, giáo dục sâu rộng về giá trị trường tồn và ý nghĩa to lớn của Di chúc cũng như các tác phẩm của Người đã trở thành bảo vật Quốc gia để nâng cao nhận thức, bồi dưỡng tình cảm, đạo đức và niềm tin cho mọi thế hệ người Việt Nam. Hơn nữa, chúng ta đang ra sức thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thì việc tích cực tuyên truyền, giáo dục từ các bảo vật Quốc gia của Hồ Chí Minh càng trở nên cần thiết và có ý nghĩa lâu dài ở tầm chiến lược, nhất là trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng thật trong sạch, vững mạnh, là đạo đức, là văn minh theo chỉ dẫn của Người. Cần làm cho mọi người hiểu rõ tầm vóc và những cống hiến vô giá của Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, trong đó có những cống hiến lý luận đặc sắc của Người vào việc làm phong phú chủ nghĩa Mác – Lê-nin, phương pháp khoa học sáng tạo và bản lĩnh chính trị của Người trong việc bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Để làm rõ điều đó, cần có nhận thức đúng và đầy đủ về di sản Hồ Chí Minh - đó là toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của Bác, là thời đại Hồ Chí Minh như đánh giá của Đảng ta trong điếu văn vĩnh biệt Người. Cũng cần làm cho mọi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân hiểu rõ, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có trong các tác phẩm, văn phẩm của Người, mà còn thể hiện và thấm nhuần trong hoạt động thực tiễn vô cùng phong phú, đa dạng của Người trong hơn sáu thập kỷ, từ lúc đi tìm đường cứu nước tới khi về với thế giới “người hiền”. Có hiểu biết đầy đủ, sâu sắc di sản và tư tưởng của Người mới có thể “giữ chủ nghĩa cho vững”, “ít lòng tham muốn vật chất”, “ra sức nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” như Người đã chỉ dẫn. Cũng từ đó mới có sức mạnh và niềm tin khoa học để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên định lý tưởng, mục tiêu cách mạng như Đảng ta đã nhấn mạnh.

Di chúc là sự kết tinh tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người. Di chúc cũng kết tinh những giá trị cao quý trong các bảo vật Quốc gia của Người, không chỉ là Quốc bảo dẫn đường mà còn là Pháp bảo hành động. Bởi thế, việc giáo dục, tuyên truyền về Di chúc Bác Hồ cần được quan tâm thường xuyên, có những tìm tòi về hình thức, phương pháp sao cho hiệu quả, có tác dụng tốt nhất, gây niềm xúc động lớn lao nhất trong tình cảm, tâm hồn của mỗi chúng ta, trong cán bộ, đảng viên, trong thế hệ trẻ và trong các tầng lớp nhân dân.

Thứ hai, một cách thiết thực nhất mà cũng là quan trọng nhất hiện nay là tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng với những chỉ dẫn cụ thể của Người trong Di chúc, sao cho Đảng thực sự xứng đáng là người lãnh đạo, cầm quyền, thật sự trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên thật sự là người đầy tớ trung thành, công bộc tận tụy của nhân dân. Đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là trong đội ngũ cán bộ chủ chốt từ Trung ương đến địa phương và cơ sở. Mỗi người hãy ghi nhớ lời Bác dạy: gương mẫu là cách lãnh đạo tốt nhất. Một tấm gương sống còn có ý nghĩa hơn hàng trăm bài diễn văn tuyên truyền. Ra sức thực hành dân chủ rộng rãi ở trong Đảng để tạo động lực phát huy dân chủ trong xã hội, để tôn trọng nhân dân và phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân. Xiết chặt kỷ luật, kỷ cương, luật pháp của Nhà nước và điều lệ của Đảng, đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng theo đúng tinh thần chỉ đạo của Trung ương là không có ngoại lệ, không có vùng cấm; công khai, minh bạch và xử lý nghiêm khắc các vụ án tham nhũng theo pháp luật và phải thu hồi bằng được các tài sản do tham nhũng chiếm đoạt để bảo vệ lợi ích của dân, của xã hội. Từng đồng tiền đóng thuế của dân, từng công sức lao động với mồ hôi nước mắt của dân phải được quản lý chặt chẽ và đem vào phục vụ dân sinh. Làm được như vậy là cách thiết thực nhất để lấy lại niềm tin của dân vốn bị suy giảm bởi sự hoành hành của tham nhũng từ những kẻ thoái hóa biến chất. Đó cũng là cách thiết thực nhất trong thực hiện lời Bác “Trừng trị tất cả những kẻ bất liêm, bất kể chúng là ai, bất kể chúng ở cương vị nào”.

Thứ ba, quan tâm tới đời sống của nhân dân, nhất là những người nghèo khổ, những đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương và không ngừng chăm sóc những người có công với nước. Đó là các gia đình và thân nhân các thương binh, liệt sĩ, chăm sóc giáo dục thiếu niên nhi đồng, tạo môi trường và điều kiện cho thanh niên phát huy tài năng, khởi nghiệp sáng tạo vì sự phồn vinh của Tổ quốc. Đó là những việc làm cụ thể, thiết thực theo lời Bác trong Di chúc “đầu tiên là công việc với con người”.

Thứ tư, 50 năm thực hiện Di chúc của Bác cũng đồng thời kỷ niệm 70 năm Bác viết tác phẩm “Dân vận” rất nổi tiếng (1949 - 2019). Đó thực sự là Cương lĩnh vận động quần chúng làm cách mạng do chính Người khởi thảo. Quan hệ giữa Đảng với dân là một quan hệ máu thịt. Lòng dân là thành trì của cách mạng. Chữ “Dân” là điều tâm niệm, ấp ủ trong suốt cuộc đời của Người, cũng là tư tưởng, tình cảm nổi bật của Người trong Di chúc: tin dân, thương dân và vì dân, nên Người suốt đời gắn bó với dân như sự sống, lẽ sống của Người. Vì vậy, tiếp tục thực hiện Di chúc sao cho xứng tầm Quốc bảo, cần phải ra sức làm tốt công tác dân vận theo đúng phương châm của Người “thật thà nhúng tay vào việc”, “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, miệng nói, chân đi, tay làm” để dân tin tưởng, dân yêu mến, dân ủng hộ, dân giúp đỡ, dân bảo vệ. Đó là bí quyết của thành công.

Thứ năm, điểm then chốt, mấu chốt của vấn đề là chất lượng cán bộ và công tác cán bộ của Đảng. Thực hiện Di chúc Bác Hồ sao cho xứng tầm Quốc bảo, hãy làm theo lời Bác, coi cán bộ là cái gốc của mọi công việc, là công việc gốc của Đảng. Ở thời điểm hệ trọng hiện nay, khi Đại hội XIII của Đảng đang đến gần, cần phải ra sức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, thường xuyên giáo dục, rèn luyện cán bộ sao cho những người được chọn lọc vào bộ máy, nhất là ở các cơ quan lãnh đạo phải là những người ưu tú, tinh hoa nhất, những hiền tài, thực đức, thực tài, xứng đáng với niềm tin cậy và sự ủy thác của nhân dân. Đã dựa vào dân để xây dựng Đảng thì càng phải dựa vào dân, lắng nghe ý kiến của dân để chọn đúng người, giao đúng việc, kiểm tra thường xuyên. Có như vậy mới có được đội ngũ cán bộ thật sự trung thành, tận tụy, hy sinh vì dân, vì nước, vì Đảng, vì cách mạng.

 “Nhớ lời Di chúc theo chân Bác”, mỗi chúng ta lòng dặn lòng “hãy xứng đáng với Bác hơn nữa”, ra sức thực hiện “điều mong muốn cuối cùng của Người”. Đó là “toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”4. Tâm nguyện ấy của Người thể hiện những mục tiêu và kết tinh những giá trị của chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Đó cũng là chung đúc tầm cao tư tưởng, đạo đức trong sáng, tâm hồn cao thượng và phong cách giản dị - lão thực - hiền minh5 của bậc vĩ nhân Hồ Chí Minh. Đó là những việc cần làm, và làm thật tốt hơn nữa để xứng đáng với Bác, góp phần làm cho Di chúc của Người xứng đáng là Quốc bảo./.

ST.

Xây dựng phong cách lãnh đạo của người đứng đầu theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh là tổng hòa các phương pháp, biện pháp, cách thức thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng của Người. Phong cách đó vừa thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác – Lê-nin, vừa mang đậm bản sắc văn hóa, tâm hồn, cốt cách con người Việt Nam, tạo thành những giá trị bền vững, có ý nghĩa to lớn đối với việc rèn luyện phong cách của cán bộ, lãnh đạo, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp trong điều kiện hiện nay.

Xây dựng phong cách người đứng đầu là vấn đề đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm ngay từ những ngày đầu thành lập Đảng, nhất là khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền. Nội dung này được Người đề cập rõ trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, ra đời cách đây hơn 70 năm; trong đó nhấn mạnh: “Phải sửa đổi lối làm việc của Đảng”1. Đây chính là cách thức tốt nhất để phòng, chống nguy cơ suy thoái của Đảng khi trở thành Đảng cầm quyền. Bởi lẽ, những khuyết điểm, sai lầm, trong đó có sai lầm về phong cách lãnh đạo của người đứng đầu chính là kẻ địch bên trong, còn nguy hiểm hơn kẻ địch bên ngoài. Mặt khác, nếu các tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên nhất là người đứng đầu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm, thì cũng như người “giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh”2.

Xây dựng phong cách lãnh đạo của người đứng đầu theo tư tưởng Hồ Chí Minh là toàn diện, trong đó cần tập trung vào những nội dung cơ bản sau:

Một là, xây dựng phong cách kết hợp giữa nhiệt tình cách mạng với tính khách quan, khoa học. Theo Hồ Chí Minh, lãnh đạo, quản lý trước hết phải có nhiệt tình cách mạng, bởi đây là yếu tố cơ bản, động lực cho mọi hành động. Tuy nhiên, nhiệt tình cách mạng chỉ phát huy hiệu quả khi nó tuân theo các quy luật khách quan và kết hợp chặt chẽ với tri thức khoa học. Không khách quan, khoa học thì nhiệt tình cách mạng sẽ trở thành duy tâm, duy ý chí, dẫn tới thực hiện sai đường lối, chính sách, hành động trái quy luật, làm cản trở bước tiến của cách mạng. Nhiệt tình cách mạng của người cán bộ lãnh đạo, quản lý chỉ có hiệu quả khi họ thực sự am hiểu và có vốn kiến thức phong phú, sâu rộng về công việc, lĩnh vực mà mình phụ trách. Tri thức khoa học được hình thành trong quá trình học tập, nghiên cứu, lăn lộn với thực tế, đời sống để không ngừng thu thập kiến thức, kỹ năng, nâng cao trình độ về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cũng như bồi dưỡng nhạy cảm chính trị trước những diễn biến mới của cách mạng và tình hình thế giới. Do vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Bất kỳ ở hoàn cảnh nào, đảng viên và cán bộ cần phải luôn luôn ra sức phấn đấu, ra sức làm việc, cố gắng học tập để nâng cao trình độ văn hoá, tri thức và chính trị của mình”3.

Tác phong khoa học là yếu tố đầu tiên, tiền đề căn bản để xây dựng phong cách, tác phong công tác của người đứng đầu. Phong cách, tác phong khoa học của người đứng đầu cũng như của cán bộ, đảng viên có vai trò quan trọng, tạo nền tảng để hình thành cách lãnh đạo đúng đắn, khoa học và sáng tạo, không rập khuôn, máy móc. Từ đó, có sự chỉ đạo đúng đắn trong công việc, cách nhìn nhận và đánh giá đúng con người, sử dụng đúng người, đúng việc, trọng dụng người tài. Phong cách khoa học gồm các tiêu chí: phải có thói quen điều tra, nghiên cứu, khảo sát, thâm nhập vào đời sống thực tiễn; xác định rõ mục tiêu công tác, lộ trình, bước đi, biện pháp thích hợp; kiên định về nguyên tắc, mục tiêu nhưng linh hoạt về phương pháp; tích cực kiểm tra, giám sát, kiểm soát, tổng kết, rút kinh nghiệm.

Hai là, xây dựng tác phong dân chủ nhưng quyết đoán. Hồ Chí Minh khẳng định: chế độ ta là chế độ dân chủ, vì “dân là chủ”, nên cách lãnh đạo cũng phải dân chủ. Dân chủ trong Đảng là tất cả đảng viên đều được tự do bày tỏ chính kiến trong sinh hoạt đảng để thống nhất về quan điểm, chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng nghị quyết. Phong cách dân chủ thể hiện ở việc người đứng đầu cần lưu ý bàn bạc, trao đổi, lắng nghe ý kiến trong triển khai thực hiện nhiệm vụ, nhất là ý kiến phản biện trái chiều. Dân chủ nhưng phải tập trung và luôn luôn phòng tránh căn bệnh dân chủ hình thức; dân chủ tập trung để không dẫn đến độc đoán, chuyên quyền. Cán bộ lãnh đạo, nhất là những người đứng đầu, người có trọng trách trong một tập thể, vừa phải thực hành dân chủ, lắng nghe ý kiến của tập thể; đồng thời, phải quyết đoán, nhận thức đầy đủ trách nhiệm và dám ra quyết định, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Chủ tịch Hồ Chí Minh phê bình cách lãnh đạo của một số cán bộ không dân chủ, dẫn đến tình trạng người có ý kiến không dám nói, người muốn phê bình không dám phê bình, làm cho cấp trên, cấp dưới cách biệt nhau, quần chúng với Đảng xa rời nhau, không còn sáng kiến, không còn hăng hái trong khi làm việc. Trong quá trình làm việc, người lãnh đạo, quản lý có ý thức tập thể cao, tạo ra bầu không khí làm việc dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến tập thể, phát huy trí tuệ tập thể, nhưng không có tính quyết đoán, không dám chịu trách nhiệm cá nhân trước tập thể, thì không thể có những quyết định kịp thời, đáp ứng yêu cầu và công việc cũng không thể tiến triển được. Đồng thời, lưu ý các cán bộ lãnh đạo, quản lý là những việc bình thường, một người có thể giải quyết đúng, thì người phụ trách cứ cẩn thận giải quyết. Những việc quan trọng mới cần tập thể quyết định. Người cho rằng, trách nhiệm và tính quyết đoán của người đứng đầu phải luôn được đề cao, đôi khi mang tính quyết định đến hiệu quả công việc. Người lãnh đạo giỏi cần có cách làm việc dân chủ, tập thể, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước tập thể; đồng thời, phải quyết đoán đưa ra những quyết sách đúng trong những thời điểm quyết định.

Ba là, xây dựng phong cách lãnh đạo luôn sâu sát cơ sở, gần gũi với quần chúng. Làm việc sâu sát, đi vào thực tế, hòa mình với quần chúng để thực hiện vai trò lãnh đạo, quản lý là vấn đề có tính nguyên tắc xuất phát từ nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng. Đối với Hồ Chí Minh, người cán bộ lãnh đạo biết lắng nghe, thấu hiểu và phát huy được tính tích cực, tự giác, sáng tạo của quần chúng sẽ đoàn kết, quy tụ được nhân dân, tạo nên động lực và sức mạnh to lớn để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ. Hồ Chí Minh là điển hình về phong cách lãnh đạo sâu sát, gần gũi với quần chúng nhân dân. Trong 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1955 - 1965), theo thống kê của Bảo tàng Hồ Chí Minh, Người đã thực hiện hơn 700 lượt đi thăm hỏi chiến sĩ và đồng bào, xem xét tình hình, kiểm tra công việc. Trung bình mỗi năm có hơn 60 lượt Người đi xuống cơ sở, mỗi tháng có khoảng 6 lần lãnh tụ gặp gỡ quần chúng. Ngoài ra, hằng ngày qua đọc báo, đọc thư của nhân dân gửi lên, thấy có những ý kiến hay, cần tiếp thu, những việc gấp cần giải quyết, Người đều dùng bút đỏ đóng khung lại, chuyển tới các cơ quan có trách nhiệm, yêu cầu nghiên cứu và giải quyết.

Người lãnh đạo, người đứng đầu phải có phong cách quần chúng, phải luôn hòa đồng với quần chúng, học hỏi quần chúng nhưng không theo đuôi quần chúng. Chỉ trên cơ sở sâu sát quần chúng, người cán bộ lãnh đạo mới biết đời sống thực, khả năng thực của quần chúng, biết được những mong muốn, băn khoăn trăn trở của nhân dân để kịp thời uốn nắn và tháo gỡ cùng nhân dân. Lãnh đạo sâu sát quần chúng sẽ nâng cao được tính khách quan, minh bạch, tăng cường được công tác kiểm tra, giám sát, từ đó kiểm soát tốt hơn đối với việc thực thi quyền lực, kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc sử dụng tài sản của Nhà nước, của nhân dân, góp phần phòng, chống tham nhũng có hiệu quả.

Bốn là, xây dựng phong cách nêu gương, nói đi đôi với làm. Gương mẫu, nêu gương, nói đi đôi với làm là một nội dung không thể thiếu đối với người đứng đầu. Người lãnh đạo, người đứng đầu phải tiên phong trong mọi công việc; dám nói, dám làm và dám chịu trách nhiệm, đồng thời giữ được cốt cách tốt, không tha hóa. Nêu gương không chỉ hô khẩu hiệu, không chỉ là lời nói suông mà chủ yếu là hành động, nói ít, làm nhiều. Muốn tiến hành tốt các nội dung nêu gương, người lãnh đạo, người đứng đầu phải luôn thực hiện nói đi đôi với làm. Ðây là nguyên tắc trước hết, cực kỳ quan trọng của việc nêu gương. Thực tế cho thấy, người cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu nói nhiều làm ít, hoặc nói một đằng làm một nẻo, hay nói mà không làm thì không ai tin, sẽ mất uy tín trước quần chúng, trước cấp dưới. Chỉ có nhất quán giữa lời nói và việc làm thì người cán bộ, đảng viên, người đứng đầu mới có được sự tin yêu của tập thể, quần chúng, của cấp dưới.

Người đứng đầu làm gương là phải biết hy sinh lợi ích, quyền lợi cá nhân, hy sinh phần thưởng. Trong điều hành, làm gương là dám nói, dám làm và dám chịu trách nhiệm, đặc biệt là dám trình bày những ý tưởng mới, những đột phá và dám chịu trách nhiệm về những ý tưởng mới của mình. Làm gương trong sinh hoạt là lời nói phải chuẩn mực, rõ ràng, dứt khoát, không nửa vời, nước đôi, tạo ra những chuẩn giá trị của người lãnh đạo.

Năm là, xây dựng phong cách khéo dùng người, trọng dụng người tài. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ và chính cách sử dụng cán bộ của Người là mẫu mực của việc “khéo dùng người, trọng dụng nhân tài”. Người nhấn mạnh đến việc phải chủ động phát hiện và bồi dưỡng nhân tài. Trọng dụng nhân tài là công việc thường xuyên, liên tục; phải tùy tài mà dùng người: “Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy. Biết dùng người như vậy, ta sẽ không lo gì thiếu cán bộ”4. Việc dùng người phải đúng năng lực và sở trường, bởi lẽ: “Chúng ta phải nhớ rằng: người đời ai cũng có chỗ hay chỗ dở. Ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ dở. Dùng người cũng như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tùy chỗ mà dùng được”5. Dùng người mà không đúng, công việc sẽ không chạy, không được việc, làm thui chột nhân tài, có hại cho Đảng và cũng thể hiện sự yếu kém trong công tác cán bộ của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người lãnh đạo, quản lý phải biết trọng dụng nhân tài, nếu không sẽ làm “thui chột” nhân tài. Đồng thời, phải có gan cất nhắc cán bộ, cất nhắc những người có tài, có đức để họ được cống hiến cho Đảng, cho cách mạng và nhân dân. Người cho rằng, một quốc gia, một đất nước không biết sử dụng nhân tài là một khuyết điểm to, làm lãng phí một vốn quý của Đảng và Nhà nước trong xây dựng và kiến thiết.

Xây dựng phong cách lãnh đạo của người đứng đầu theo tư tưởng Hồ Chí Minh không nằm ngoài những quy định chung trong phong cách làm việc của cán bộ, đảng viên; đồng thời, có yêu cầu cao hơn, thể hiện vị trí, vai trò, trách nhiệm của người cán bộ, đảng viên trên cương vị lãnh đạo, quản lý. Phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh là bài học quý để mỗi cán bộ, đảng viên nghiên cứu, học tập, nhằm không ngừng hoàn thiện mình, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới./.

ST.