THÔNG TIN SAI LỆCH TRONG THUYẾT ÂM MƯU CHÍNH TRỊ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH
1. Thuyết âm mưu chính trị
Trong thực tiễn, có rất nhiều động cơ khác nhau để con người lựa chọn thuyết âm mưu như: tâm lý, xã hội, chính trị, văn hóa, cá nhân,... Vì vậy, thuyết âm mưu cũng theo đó mà được phân tách thành nhiều loại khác nhau, trong đó Thuyết âm mưu chính trị là phổ biến nhất. Nếu như từ âm mưu có nguồn gốc từ thuật ngữ conspirare (với nghĩa đen là cùng nhau hít thở), mô tả hành động của hai hay nhiều người muốn hợp nhất với nhau để cùng đạt được một kết quả mong muốn, thì các âm mưu là thỏa thuận của một nhóm người mà không để người khác biết được nhằm gây tổn hại cho quần chúng trong khi lại thúc đẩy lợi ích của chính mình, thường là lợi ích kinh tế hoặc chính trị.
Một âm mưu đúng nghĩa thường có bốn đặc điểm: Đó là hoạt động phối hợp giữa các nhóm chứ không phải là hoạt động của các cá nhân đơn lẻ; chúng có mục đích bất hợp pháp và nham hiểm chứ không phải là những mục đích có lợi cho toàn xã hội; chúng là những hành vi được mưu tính chứ không phải là một loạt các hành vi tự phát và hỗn loạn; chúng là những tính toán được thực hiện theo một quy trình lên kế hoạch bí mật chứ không phải theo một quá trình bàn thảo công khai.
Theo cách diễn giải đó, thuyết âm mưu chính trị có bản chất là “được mưu tính và lan truyền từ tầng lớp trên của xã hội vì lợi ích chính trị, tức là những câu chuyện hư cấu được cố tình bịa đặt và lan truyền vì lợi ích chính trị”.
Trong thuyết âm mưu nói chung và thuyết âm mưu chính trị nói riêng, hướng đến hủy hoại niềm tin của quần chúng vào tầng lớp tinh hoa chính trị là mục tiêu cao nhất. Nó hướng tới việc ngăn cản mọi người tham gia vào các hoạt động chính trị, khiến cho mọi người cảm thấy “bất lực với chính trị”. Từ đó, làm suy giảm niềm tin vào chính đảng lãnh đạo, đồng thời nảy sinh tư tưởng bất hòa, chống đối.
Để đạt được mục tiêu đó, những kẻ thực hiện thuyết âm mưu chính trị sử dụng rất nhiều thủ đoạn khác nhau, trong đó thông tin giả, tin sai sự thật là phương thức thực hiện phổ biến nhất. Thủ đoạn này đã xuất hiện từ rất lâu (một số nghiên cứu cho rằng nó đã xuất hiện từ năm 1550 trong tác phẩm kinh điển The Prince - Quân vương của Machiavelli), được lan truyền thông qua các phương tiện truyền thông, bao gồm cả chính thống và phi chính thống. Đặc biệt, trong thời đại số hiện nay, với sự phát triển của mạng lưới truyền hình, chương trình phát sóng tin tức 24 giờ, cộng với sự “nở rộ” của mạng xã hội,... đều là “mảnh đất màu mỡ” để lan truyền thuyết âm mưu và tin giả.
Sự xuất hiện của mạng xã hội, cộng với việc phổ biến các phương tiện truyền thông trực tuyến khiến cho thế giới tràn ngập thông tin thiếu kiểm soát, khiến cho chúng ta rất khó phân biệt giữa tin thật và tin giả, giữa sự thật và sự giả dối. Nói cách khác, chúng ta đang phải tiếp xúc với rất nhiều thông tin không được kiểm chứng, độ tin cậy của thông tin rất thấp. Nguy hại hơn, sự lan truyền của những thông tin này có thể khiến chúng ta mất đi khả năng diễn giải, thẩm định thông tin một cách đúng đắn. Điều này mở ra không gian để thông tin sai lệch chiếm lĩnh phạm vi công cộng và khiến cho các xã hội dân chủ dễ bị thao túng.
Trong bối cảnh đó đã xuất hiện một loại văn hóa chính trị mới - Chính trị hậu sự thật, khi các bài diễn thuyết, phân tích chính trị - xã hội, hay một cách luận giải sự việc, hiện tượng,... có lợi cho các chủ thể thực hiện được “tung ra”, trong khi người dân đang bị “mắc kẹt” bởi những băn khoăn, thắc mắc hoặc giả thuyết của chính mình.
Xuất phát từ toan tính trong việc sử dụng những thông tin sai lệch, những tín đồ của thuyết âm mưu chính trị thường phản đối các phương tiện truyền thông chính thống, chống lại lối tư duy quen thuộc mà họ cho là do giới tinh hoa chính trị tạo ra. Do đó, các phương tiện truyền thông chính thống thường là mục tiêu của những kẻ thực hiện thuyết âm mưu nói chung và thuyết âm mưu chính trị nói riêng. Và trong cuộc chiến đó, Internet là một lựa chọn hữu hiệu vì nó cung cấp các phương tiện để truyền bá thông tin sai lệch. Điều này càng trở nên nguy hại hơn khi năng lực sàng lọc thông tin của các phương tiện truyền thông chính thống bị suy yếu, khả năng cập nhật và xử lý thông tin không theo kịp được các kênh đài phi chính thống. Đây cũng là một trong những lý do để nhiều chính phủ, tổ chức hoặc cá nhân thay đổi phương pháp nhằm khắc chế hoạt động tung tin giả, tin sai sự thật.
Giờ đây, thay cho việc kiểm duyệt nội dung thông tin trên mạng Internet, thì họ sẽ cung cấp thông tin một cách “bội thực”, khiến cho mạng Internet tràn ngập các thông tin gây nhiễu, giống như cách mà Zeynep Tufekci (Đại học Bắc Carolina) từng khẳng định: “Trước kia, nếu hệ thống kiểm duyệt vận hành bằng cách ngăn chặn các loại thông tin nổi bật, thì trong thời đại quá tải thông tin này, kiểm duyệt hoạt động bằng cách nhấn chìm chúng ta bằng rất nhiều thông tin không thể phân biệt, làm tê liệt khả năng tập trung của chúng ta”.
2. Thông tin sai lệch trong Thuyết âm mưu chính trị chống phá Việt Nam
Thứ nhất, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên CNXH ở nước ta. Chúng thường xuyên phê phán, đả kích: Hệ tư tưởng của Đảng và xã hội ta lạc hậu, lỗi thời; bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức “tự phong”, là người “tiếm quyền” của nhân dân, Đảng “chỉ biết đến lợi ích của Đảng”, là “Đảng đầu hàng”, “bán nước, làm tay sai”, “lệ thuộc” vào Trung Quốc; Cương lĩnh của Đảng ta, nhất là Cương lĩnh thông qua tại Đại hội XI (năm 2011) là “giáo điều, bảo thủ”, là “ảo tưởng”; đường lối chính trị, kinh tế (trong Văn kiện Đại hội và các hội nghị Trung ương) là “sai lầm”, “lạc hậu” vẫn theo mô hình “Xôviết”; chính sách dân tộc, tôn giáo là “vi phạm quyền tự do, tín ngưỡng, tôn giáo”, là “vi phạm quyền tự trị của các dân tộc thiểu số”; đường lối đối ngoại của Việt Nam là “đu dây” (lúc thì ngả sang Trung Quốc, lúc thì ngả sang Mỹ); chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự cô lập mình”; Nhà nước ta là “Nhà nước độc tài”, “vi phạm quyền con người”, là “vi phạm các chuẩn mực nhân quyền quốc tế”, là “bó nghẹt tự do, ngôn luận, báo chí, internet”,...
Thứ hai, tung tin bôi nhọ, xuyên tạc, bịa đặt nhằm gây mất lòng tin của nhân dân vào phẩm chất, uy tín và năng lực của các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước. Chẳng hạn, vào tháng 6-2020, một tài khoản Facebook đã đăng tin xuyên tạc, bịa đặt về một vị lãnh đạo có quan hệ bất chính với một phụ nữ mà bằng chứng chỉ là một bức ảnh. Nhưng sự thật đó lại là hình ảnh một cảnh trong phim nước ngoài có tên “Em là định mệnh đời anh” tập 30. Một thí dụ khác, tháng 8/2020, ngay sau khi Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội bị đình chỉ công tác để “điều tra trách nhiệm có liên quan trong một số vụ án theo quy định của pháp luật” thì trang VOA tiếng Việt đã xuyên tạc rằng, đây là chuyện đấu đá phe phái trong bối cảnh sắp diễn ra Đại hội Đảng.
Thứ ba, thông qua các trang mạng xã hội, chúng tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo sự thật về cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam. Một mặt, chúng xuyên tạc mục tiêu chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta khi rêu rao những nội dung như: “đang có cuộc thanh trừng, đấu đá nội bộ trong Đảng”, “cuộc chiến chống tham nhũng là cuộc đấu đá phe cánh”, “tăng cường phòng, chống tham nhũng chỉ là chiêu trò mị dân”, “chống tham nhũng chỉ là hô khẩu hiệu”,... Mặt khác, chúng cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái vì Đảng cũng tham nhũng, suy thoái. Ngoài ra, chúng còn lợi dụng cuộc đấu tranh chống tham nhũng để kêu gọi biểu tình, khiếu kiện đông người làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội của nước ta.
Thứ tư, các đối tượng phản động tung tin sai sự thật nhằm kích động, tập hợp các phần tử xấu, lôi kéo quần chúng nhân dân biểu tình chống phá Đảng, Nhà nước, gây rối an ninh trật tự. Chúng khai thác những vấn đề gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân (nhất là vấn đề trong lĩnh vực đất đai, tài sản) kêu gọi người dân biểu tình, gây sức ép với chính quyền.
Thứ năm, đăng tải thông tin sai lệch nhằm tuyên truyền tư tưởng chính trị đối lập, tác động đến quá trình xây dựng, ban hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước nhằm lồng ghép vào đó các quan điểm sai trái, có lợi cho chúng và khiến chúng ta chệch hướng phát triển. Chẳng hạn như: Trong quá trình Đảng ta lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII, các đối tượng phản động, chống đối trong và ngoài nước đã đăng tải và phát tán hàng trăm bài xuyên tạc dự thảo Văn kiện Đại hội XIII là “sao chép”, “đánh tráo khái niệm”, không thể đưa đất nước đổi mới, phát triển. Hay khi Đảng, Nhà nước ta lấy ý kiến của nhân dân về sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, chúng đã đăng tải thông tin, công khai phê phán, công kích Đảng, Nhà nước ta, đồng thời kêu gọi đòi xóa bỏ Điều 4 của Hiến pháp; đòi “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang”; chống phá quyết liệt việc thông qua Luật An ninh mạng,...
Thứ sáu, in ấn, đăng tải và phát tán thông tin sai lệch nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của nước ta, kích động sự hằn thù giữa các tôn giáo với nhau, giữa các tôn giáo với Đảng, Nhà nước Việt Nam. Đồng thời, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền; kêu gọi sự ủng hộ, can thiệp từ bên ngoài nhằm mục đích đòi trả tự do cho những đối tượng chống đối bị các cơ quan chức năng bắt giữ. Đơn cử, liên quan đến sự việc phạm nhân Trần Huỳnh Duy Thức tuyên bố “tuyệt thực”, các thế lực phản động trong và ngoài nước đã đẩy mạnh các hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chúng gắn mác đấu tranh cho dân chủ, đã đăng tải, chia sẻ hình ảnh, thông tin trên các trang mạng xã hội, blog, fanpage, facebook, kêu gọi tổ chức quốc tế, “xã hội dân sự”, cộng đồng mạng tìm hiểu, lên tiếng, gây sức ép với chính quyền Việt Nam trả tự cho Trần Huỳnh Duy Thức(13).
Thứ bảy, làm suy giảm vị trí, vai trò của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong việc ứng phó với thách thức an ninh phi truyền thống. Trong thời gian diễn ra đại dịch Covid-19, một số tổ chức phản động lưu vong móc nối, cấu kết với một số phần tử phản động, cơ hội chính trị trong nước sử dụng những thông tin giả, triệt để khai thác ưu thế của không gian mạng, đặc biệt là mạng xã hội để tuyên truyền, xuyên tạc về quan điểm, chủ trương, chính sách, các giải pháp và kết quả phòng, chống dịch của Việt Nam.
Đáng chú ý là một số tổ chức phản động, phần tử cơ hội chính trị đã lợi dụng khoảng trống thông tin khi các cơ quan báo chí, truyền thông của ta chưa kịp đăng phát những thông tin chính thống thì chúng đã lồng ghép những thông tin giả nhằm xuyên tạc, bóp méo sự thật rồi tung lên không gian mạng làm nhiễu loạn thông tin, gây hoang mang trong dư luận; xuyên tạc, công kích Chính phủ Việt Nam “bưng bít thông tin, yếu kém trong xử lý dịch bệnh”,... Chẳng hạn như liên quan đến bệnh nhân Covid thứ 17 ở nước ta, chỉ trong vòng 2 ngày, trên không gian mạng đã xuất hiện hơn 80.000 tin liên quan đến dịch Covid-19 và bệnh nhân số 17. Trong số đó có không ít thông tin thất thiệt, trái chiều, sai sự thật khiến người dân rất khó phân biệt đâu là thông tin thật, đâu là thông tin giả. Điều này, ảnh hưởng không nhỏ đến công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, và các ban, bộ, ngành, địa phương nhằm kiểm soát dịch bệnh.
Như vậy, hoạt động của các thế lực thù địch khi đăng tải, phát tán những thông tin sai lệch trên không gian mạng nói riêng, trong không gian địa lý của Việt Nam nói chung đã tác động xấu đến công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta. Nó làm suy giảm niềm tin của một bộ phận quần chúng nhân dân vào nền tảng tư tưởng của Đảng; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc; làm mất an ninh chính trị, trật tự xã hội; uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế,... Nói cách khác, các thế lực chống phá nước ta đang thực hiện thuyết âm mưu chính trị ở Việt Nam với những “câu chuyện bịa đặt, hư cấu”; những thông tin sai lệch, xấu độc được lan truyền trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, nhằm thực hiện mục đích chính trị của chúng là chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc xây dựng CNXH của nước ta./.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét