Thứ Bảy, 13 tháng 1, 2024
BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ - YẾU TỐ QUAN TRỌNG QUYẾT ĐỊNH SỰ THÀNH CÔNG TRONG LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG!
Thứ Sáu, 12 tháng 1, 2024
Xây dựng bảng lương mới của lực lượng vũ trang: Tiền lương phải bảo đảm đời sống người hưởng lương & gia đình
Xây dựng các bảng lương của lực lượng vũ trang phải phù hợp với tổ chức, biên chế và tính chất đặc thù. Theo đó, tiền lương phải thực sự là nguồn thu nhập chính bảo đảm đời sống của các đối tượng hưởng lương và gia đình.
Ngày 11/1, Thượng tướng Vũ Hải Sản, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban chỉ đạo cải cách chính sách tiền lương lực lượng vũ trang chủ trì buổi làm việc với các cơ quan về việc thống nhất phương án xây dựng các bảng lương của lực lượng vũ trang và cơ yếu.
Năm 2021, trước ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, Quốc hội đã quyết định lùi thời gian thực hiện cải cách chính sách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW.
Thực hiện Kết luận số 35-KL/TW ngày 5/5/2022 của Bộ Chính trị về danh mục chức danh, chức vụ lãnh đạo và tương đương của hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, Bộ Quốc phòng và Bộ Công an đã triển khai nghiên cứu, ban hành Danh mục chức danh, chức vụ lãnh đạo, chỉ huy quản lý trong Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân làm cơ sở để xây dựng bảng lương chức vụ.
Từ năm 2021 cho đến nay, tiền lương cơ sở tăng 20,8%, các mức lương dự kiến của cán bộ, công chức nhà nước cũng tăng lên; do đó, các bảng lương mới của lực lượng vũ trang và cơ yếu cũng cần được nghiên cứu để hoàn thiện lại.
Xây dựng các bảng lương của lực lượng vũ trang phải phù hợp với tổ chức, biên chế và tính chất đặc thù
Tại cuộc họp, các ý kiến đều thống nhất quan điểm xây dựng các bảng lương của lực lượng vũ trang phải phù hợp với tổ chức, biên chế và tính chất đặc thù của lực lượng vũ trang.
Theo đó, tiền lương phải thực sự là nguồn thu nhập chính bảo đảm đời sống của các đối tượng hưởng lương và gia đình.
Đặc biệt, chế độ tiền lương mới phải tuân thủ nguyên tắc phân phối theo lao động và phải gắn theo vị trí việc làm, yêu cầu về trình độ đào tạo của vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo, quản lý, chỉ huy.
Đối với bảng lương quân nhân chuyên nghiệp, chuyên môn kỹ thuật, các đại biểu cho rằng cần được xây dựng gồm 2 thành tố: Lương chuyên môn nghiệp vụ, kỹ thuật và lương chức vụ, chức danh.
Lương chuyên môn nghiệp vụ, kỹ thuật gồm các loại: Cao cấp (xây dựng 2 nhóm lương), trung cấp (xây dựng 1 nhóm lương với 12 bậc lương), sơ cấp (xây dựng 1 nhóm lương với 12 bậc lương).
Tiền lương chức danh được xác định là tiền lương cơ bản của sĩ quan đảm nhiệm vị trí tương đương (theo chức vụ) trừ đi tiền lương chuyên môn nghiệp vụ, kỹ thuật của quân nhân chuyên nghiệp, chuyên môn kỹ thuật.
Cải cách tiền lương phải khắc phục được những bất cập, hạn chế hiện nay
Phát biểu tại cuộc họp, Thượng tướng Vũ Hải Sản thống nhất với phương án xây dựng các bảng lương mới của lực lượng vũ trang theo đề xuất của Cục Tài chính - Cơ quan thường trực.
Đồng chí thứ trưởng giao Cục Quân lực chủ trì, phối hợp với Cục Cán bộ khẩn trương hoàn chỉnh biểu tổ chức, biên chế của các cơ quan, đơn vị, xác định rõ vị trí việc làm và yêu cầu trình độ của vị trí việc làm để làm cơ sở chuyển xếp lương cũ sang lương mới.
Thượng tướng Vũ Hải Sản nêu rõ, cải cách chính sách tiền lương phải gắn với việc thúc đẩy cải cách hành chính, bảo đảm tính kế thừa và phát huy ưu điểm, khắc phục được những hạn chế, bất cập của tiền lương hiện nay.
Thứ Năm, 11 tháng 1, 2024
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHIẾN LƯỢC AN NING QUỐC GIA
An ninh
quốc gia (ANQG) và bảo vệ ANQG là vấn đề hệ trọng của mọi quốc gia, dân tộc, là
bộ phận không thể tách rời của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Quan điểm về bảo vệ ANQG
là bộ phận đặc biệt quan trọng trong hệ thống quan điểm lãnh đạo cách mạng của
Đảng Cộng sản Việt Nam. Quan điểm này không ngừng được bổ sung, phát triển,
hoàn thiện, tạo cơ sở quan trọng để thống nhất nhận thức, hành động trong toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Trước những thay đổi chiến lược mang tính
toàn cầu, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, toàn cầu hóa, hội nhập
quốc tế, trên cơ sở tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khóa
VIII), ngày 5/9/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 51-NQ/TW về Chiến
lược bảo vệ ANQG, tiếp tục hoàn thiện quan điểm về bảo vệ ANQG trong tình hình
mới.
Qua đó, khẳng định quan điểm nhất quán,
xuyên suốt: ANQG là sự vững mạnh, trường tồn của Đảng, sự ổn định, phát triển
bền vững về mọi mặt của đất nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam; sự ổn định về chính trị, biên giới, chủ quyền lãnh
thổ quốc gia và an ninh, an toàn của xã hội. Công tác bảo vệ ANQG phải đặt dưới
sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý thống nhất của
Nhà nước; là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân,
của các cấp, các ngành.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIII, Đảng ta tiếp tục phát triển quan điểm, khẳng định tư duy và định hướng xa
hơn, toàn diện hơn trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANQG. Về tầm nhìn chiến
lược, Đảng ta đã hoạch định đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đến năm 2030,
tầm nhìn đến năm 2045, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh
phúc. Về tư duy nhận thức, Đảng ta xác định mục tiêu, quan điểm, phương hướng,
phạm vi, kế sách, tiềm lực, kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa,
xã hội, đối ngoại, phát triển lý luận và xây dựng lực lượng nòng cốt bảo vệ
ANQG.
Đảng ta đã đặc biệt coi trọng và nhấn
mạnh: Bảo vệ an ninh, an toàn là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu của
đất nước và trong cuộc sống của người dân. Bổ sung, phát triển toàn diện và sâu
sắc hơn nội hàm, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc, gồm cả bảo vệ "ANQG, an ninh con
người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh".
Đây là quan điểm nhân văn, tiến bộ của
Đảng, luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, vừa là mục
tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong tổng thể đường lối phát triển đất
nước mà Đại hội XIII của Đảng đề ra, tăng cường an ninh, quốc phòng bảo vệ vững
chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xác định là nhiệm vụ trọng
yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của toàn dân, toàn quân và cả hệ thống
chính trị; là bộ phận đặc biệt quan trọng trong hệ thống quan điểm, đường lối
lãnh đạo cách mạng của Đảng, là "kim chỉ nam" trong thực hiện nhiệm
vụ chiến lược bảo vệ ANQG, bảo vệ an ninh Tổ quốc.
An ninh quốc gia là sự nghiệp chung, đặt
dưới sự lãnh đạo của Đảng
Bám sát và quán triệt thực hiện nghiêm
túc, có hiệu quả quan điểm của Đảng về ANQG và bảo vệ ANQG, lực lượng Công an
nhân dân (CAND) luôn giữ vững nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo tuyệt đối, trực
tiếp về mọi mặt của Đảng đối với công tác công an nói chung, công tác bảo đảm
ANQG nói riêng; phối hợp hiệp đồng chặt chẽ với Quân đội nhân dân (QĐND), các
cơ quan bảo vệ pháp luật, các bộ, ngành, địa phương; không ngừng đổi mới tư
duy, biện pháp công tác và xây dựng lực lượng CAND ngày càng trong sạch, vững
mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đã chủ động tham mưu, đề xuất với Đảng,
Nhà nước nhiều chủ trương, giải pháp cơ bản, có ý nghĩa chiến lược về phát
triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, tăng cường quan hệ đối
ngoại.
Đồng thời, đã chỉ đạo giải quyết kịp
thời, xử lý có hiệu quả những vấn đề chiến lược, cấp bách, phức tạp nổi lên
trên lĩnh vực an ninh; phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn kịp thời âm mưu, hoạt
động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; giữ vững thế chủ động chiến
lược, không để bị động, bất ngờ, không để xảy ra khủng bố, phá hoại; kiềm chế
gia tăng tội phạm, tạo sự chuyển biến tích cực về an ninh, trật tự (ANTT) tại
các địa bàn chiến lược được đảm bảo; nền an ninh nhân dân (ANND), thế trận ANND
được củng cố, tăng cường; góp phần rất quan trọng giữ vững ổn định chính trị,
phục vụ thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và đối ngoại của
đất nước.
Thời gian tới, tình hình ANTT tiếp tục
đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng
gay gắt, đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với công tác bảo vệ an ninh, lợi ích
quốc gia, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định, thuận lợi để xây dựng và phát
triển đất nước. Trong nước, còn tiềm ẩn những yếu tố phức tạp về ANTT, nhất là
tác động tiêu cực của các vấn đề an ninh phi truyền thống, hệ quả của dịch bệnh
COVID-19; âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động, các loại tội phạm
gia tăng hoạt động, triệt để lợi dụng không gian mạng, vấn đề "dân
chủ", "nhân quyền", "tự do ngôn luận", "tự do báo
chí", "tôn giáo, dân tộc" để chống phá Đảng, Nhà nước, xâm phạm
ANQG, trật tự, an toàn xã hội…
Những vấn đề trên nếu không được quan tâm
đúng mức sẽ trở thành những nguy cơ lớn đối với an ninh, lợi ích quốc gia trong
nhiều năm tiếp theo.
Bối cảnh tình hình trên đòi hỏi tiếp tục
quán triệt sâu sắc và thực hiện có hiệu quả quan điểm của Đảng về ANQG và bảo
vệ ANQG, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trước hết phải thống nhất nhận thức trong toàn Đảng,
toàn quân, toàn dân và hệ thống chính trị về bảo vệ ANQG là sự nghiệp chung,
đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, là cuộc đấu tranh toàn diện nhằm làm thất bại
mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các loại
tội phạm.
Vì vậy, cần tăng cường hơn nữa sự lãnh
đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất
của Nhà nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn dân,
trong đó lực lượng CAND làm nòng cốt trong công tác bảo đảm ANQG. Đây là quan
điểm, tư tưởng cơ bản, xuyên suốt, là vấn đề có tính nguyên tắc, yếu tố quyết
định giữ vững ổn định chính trị, xã hội, bảo đảm lợi ích, an ninh, an toàn của
đất nước và Nhân dân trong mọi tình huống.
Đảng ta xác định mục tiêu cao nhất trong
bảo vệ ANQG là người dân được thụ hưởng cuộc sống an toàn, hạnh phúc; bảo vệ
ANQG không chỉ giới hạn trong phạm vi biên giới hành chính quốc gia. Do đó, cần
tiếp tục đổi mới các mặt công tác, chủ động nắm, dự báo tình hình, theo dõi,
đánh giá, dự báo những tác động của tình hình chính trị, kinh tế thế giới, khu
vực, sự điều chỉnh chiến lược của các quốc gia có liên quan an ninh và lợi ích
của Việt Nam để tham mưu với Đảng, Nhà nước có chủ trương, giải pháp phù hợp; phải
chủ động xây dựng, triển khai lực lượng, phương tiện, biện pháp, phương án, kế
hoạch bảo đảm ANQG từ sớm, từ xa, từ ngoài biên giới quốc gia. "Chủ động
ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa"; "phát
hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố, nguy cơ
gây đột biến"; lấy "chủ động phòng ngừa là chính".
Tập trung tham mưu hoàn thiện cơ chế,
chính sách, pháp luật về bảo vệ ANQG theo quan điểm "an ninh toàn
diện" và "an ninh chủ động". Thể chế hóa và thực hiện có hiệu
quả quan điểm của Đảng về "bảo đảm an ninh con người". Nâng cao hiệu
lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh, nhất là đối với các dự án đầu tư,
phát triển kinh tế xã hội; kịp thời phát hiện, ngăn chặn âm mưu, hoạt động tác
động thể chế, chính sách pháp luật, can thiệp nội bộ, thông qua kinh tế chuyển
hóa chính trị, hỗ trợ, hậu thuẫn hoạt động chống đối ở trong nước của các thế
lực thù địch, phản động. Bảo đảm vững chắc an ninh mạng, an ninh quá trình thực
thi các cam kết tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, nhất là
thực hiện các cam kết về tổ chức đại diện.
Chủ động tham mưu, phát huy cao nhất mối
quan hệ, hiệp đồng chặt chẽ với QĐND, các bộ, ngành, địa phương chỉ đạo giải
quyết có hiệu quả các vấn đề phức tạp về ANQG; tập trung thực hiện các đề án,
giải pháp bảo đảm ANTT tại các vùng theo tinh thần các Nghị quyết đề ra tại Hội
nghị Trung ương 6 (Khóa XIII); tập trung xử lý, giải quyết các vụ việc mâu
thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân; xây dựng, củng cố vững chắc thế trận
ANND, nền ANND gắn kết chặt chẽ với thế trận quốc phòng toàn dân, nền quốc phòng
toàn dân trên cơ sở thế trận lòng dân vững chắc.
Đảng ta nhấn mạnh, để bảo vệ ANQG phải
"chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về an ninh phù hợp với tư duy mới về
bảo vệ Tổ quốc"; "Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân
tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa
sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế". Do đó, lực lượng CAND phải
nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về bảo vệ ANQG; có đối sách thích ứng với
từng đối tượng, từng tình huống cụ thể trên tinh thần "thêm bạn, bớt thù",
"vừa hợp tác, vừa đấu tranh" mà Nghị quyết số 28-NQ/TW (khóa XI) về
Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đã chỉ rõ.
Theo đó, những ai tôn trọng độc lập, chủ
quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi
với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống
phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối
tượng đấu tranh; đấu tranh trên những mặt còn khác biệt và hợp tác trên những
mặt có cùng lợi ích.
Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền
để nhân dân trong nước, kiều bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế hiểu rõ,
hiểu đúng về đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh của Việt Nam, góp phần
phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp, toàn diện, tranh thủ tối đa sự đồng tình,
ủng hộ của cộng đồng quốc tế.
Xây dựng lực lượng CAND thật sự trong
sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại theo Nghị quyết số 12-NQ/TW
ngày 16/3/2022 của Bộ Chính trị; tăng cường tiềm lực, trang thiết bị, phương
tiện và tiếp tục hoàn thiện, bổ sung lý luận về bảo vệ ANQG. Tăng cường xây
dựng, chỉnh đốn đảng, đẩy mạnh việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong
cách Hồ Chí Minh và 6 Điều Bác Hồ dạy CAND, nhằm xây dựng lực lượng nòng cốt
bảo vệ ANQG là lực lượng tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và Nhân dân;
có bản lĩnh chính trị vững vàng; đoàn kết, thống nhất; kỷ luật nghiêm minh; mưu
trí sáng tạo; khôn khéo, dũng cảm trong đấu tranh với kẻ địch và tội
phạm.
XÂY DỰNG THẾ TRẬN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH MỚI
Xây dựng
nền quốc phòng toàn dân nhằm nâng cao sức mạnh quốc phòng của đất nước, bảo vệ
vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc
gia, bảo vệ chế độ, bảo vệ mọi thành quả cách mạng, bảo vệ sự nghiệp đổi mới;
đồng thời ngăn chặn, đẩy lùi âm mưu, thủ đoạn bạo loạn lật đổ, xung đột vũ
trang, chiến tranh xâm lược, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát
triển kinh tế, xã hội của đất nước và sẵn sàng đánh thắng mọi cuộc chiến tranh
xâm lược của các thế lực thù địch.Xây
dựng thế trận quốc phòng toàn dân là quá trình bao gồm tổng
thể các hoạt động của cả hệ thống chính trị và toàn dân dưới sự lãnh đạo của
Đảng, sự quản lý của Nhà nước để khơi dậy, quy tụ, phát huy lòng yêu nước, tinh
thần đoàn kết, ý chí, niềm tin, quyết tâm của toàn dân tộc, tạo thành nền tảng
chính trị - tinh thần vững chắc, cho phép huy động sức mạnh tổng hợp của cả dân
tộc. Lực lượng tham gia xây dựng thế trận quốc phòng toàn
dân là các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính
trị, gồm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể; nhân dân và lực lượng vũ
trang cả nước. Trong đó, Đảng là chủ
thể lãnh đạo, Nhà nước là chủ thể quản lý, điều hành.
Trong quá trình đấu tranh cách mạng của dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa được hình thành và
phát triển. Đó là sự kế thừa và phát triển các giá trị, bản sắc của Tổ quốc,
đất nước, dân tộc và con người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn
năm dựng nước và giữ nước. Quản lý nhà
nước về an ninh trật tự là sự tác động đồng bộ
có mục đích của Nhà nước thông qua hoạt động của một hệ thống các cơ quan Nhà
nước và tổ chức xã hội được chức năng hoá bằng hệ thống luật pháp trong lĩnh
vực này vào tất cả các yếu tố cấu thành nền an ninh trật tự nhằm tạo nên sự ổn
định, an toàn cho đất nước trên tất cả các phương diện chính trị, kinh tế, văn
hoá, xã hội... nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu bảo vệ Tổ quốc, xây dựng
và phát triển đất nước xã hội chủ nghĩa.
Tư tưởng về xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, “thế
trận lòng dân” là sự kết hợp nhuần nhuyễn của nguyên lý của chủ nghĩa Mác -
Lê-nin về vai trò của quần chúng nhân dân với tư tưởng “trăm họ đều là binh”,
“ngụ binh ư nông”, “dân là gốc”,... của dân tộc Việt Nam ta được hình thành và
hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Theo Luật Quốc phòng năm 2018, thế
trận quốc phòng toàn dân là việc tổ chức, triển khai bố trí lực lượng, tiềm lực
quốc phòng trên toàn bộ lãnh thổ theo kế hoạch thống nhất, phù hợp với chiến
lược bảo vệ Tổ quốc để ngăn ngừa, đối phó thắng lợi với mọi âm mưu và hoạt động
chống phá của các thế lực thù địch, sẵn sàng chuyển đất nước từ thời bình sang
thời chiến.
Xây dựng thế trận quốc
phòng toàn dân là một nội dung trọng tâm trong xây dựng nền quốc phòng toàn
dân, trực tiếp nâng cao sức mạnh quốc phòng của đất nước đáp ứng yêu cầu cao
của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; là vấn đề lớn cần được quan tâm
nghiên cứu.
Theo Luật Quốc phòng năm 2018,
thế trận quốc phòng toàn dân là việc tổ chức, triển khai bố trí lực lượng, tiềm
lực quốc phòng trên toàn bộ lãnh thổ theo kế hoạch thống nhất, phù hợp với
chiến lược bảo vệ Tổ quốc để ngăn ngừa, đối phó thắng lợi với mọi âm mưu và
hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, sẵn sàng chuyển đất nước từ thời
bình sang thời chiến.
Xây dựng thế trận quốc phòng
toàn dân là một nội dung trọng tâm trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân,
nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cả hệ thống chính trị, toàn quân và toàn
dân. Nhận thức rõ điều đó, những năm qua, nhiệm vụ quan trọng này đã được Đảng,
Nhà nước, các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương, đơn vị tập trung lãnh đạo,
chỉ đạo chặt chẽ, tiến hành nghiêm túc, đạt được kết quả tích cực. Cùng với
tăng cường xây dựng tiềm lực, thế trận quốc phòng toàn dân được củng cố, xây
dựng ngày càng vững chắc, nhất là trên các địa bàn chiến lược, biên giới, biển,
đảo và gắn kết chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân, biên phòng toàn dân.
Trong đó, việc xây dựng khu vực phòng thủ theo Nghị quyết số 28-NQ/TW của Bộ
Chính trị (khóa X), Chỉ thị số 07-CT/TW của Ban Bí thư (khóa XI), Nghị định số
152/2007/NĐ-CP và Nghị định số 02/2016/NĐ-CP của Chính phủ đi vào chiều
sâu; thế trận quân sự được tăng cường một bước. Thực hiện kết hợp phát triển
kinh tế với quốc phòng, an ninh, đối ngoại đảm bảo chặt chẽ, hiệu quả, tạo thế
và lực mới cho thế trận quốc phòng toàn dân ở từng địa phương, khu vực và trên
phạm vi cả nước, hình thành thế trận bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên
nhân, cả chủ quan và khách quan, việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân còn
bộc lộ một số hạn chế nhất định. Việc thể chế hóa chủ trương, nghị quyết của
Đảng về xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân còn chậm, có lĩnh vực còn bất
cập. Nội dung, biện pháp tiến hành của một số bộ, ngành, địa phương còn chung
chung; sự phối hợp thực hiện chưa thống nhất, đồng bộ. Việc kết hợp phát triển
kinh tế với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, triển khai bố trí lực
lượng, tiềm lực quốc phòng chưa đồng bộ, có lúc, có nơi còn sơ hở, thiếu sót.
Nguồn lực đầu tư cho xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, khu vực phòng thủ
của một số địa phương còn thấp; “thế trận lòng dân” ở một số địa bàn chưa thực
sự vững chắc, v.v.
Hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ
quốc diễn ra trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng; các thách thức an ninh
truyền thống và phi truyền thống gia tăng, ngày càng gay gắt,... đặt ra yêu cầu
cao và đứng trước cả cơ hội thuận lợi, khó khăn, thách thức đan xen. Tình hình
đó, đòi hỏi cần tăng cường hơn nữa việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế
trận quốc phòng toàn dân trong tình hình mới. Để khắc phục những hạn chế và
thực hiện có hiệu quả chủ trương chiến lược của Đảng về vấn đề này, cần lãnh
đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:
Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về nhiệm vụ xây
dựng thế trận quốc phòng toàn dân. Đây là giải pháp
có ý nghĩa quan trọng nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức, hành động, phát huy
sức mạnh tổng hợp của các cấp, ngành và toàn dân trong thực hiện. Theo đó, cần
đẩy mạnh công tác tuyên truyền làm cho toàn dân, trước hết là cấp ủy, chính
quyền, cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng về
xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân. Chú trọng làm
rõ sự cần thiết, khách quan, nội dung cơ bản về xây dựng thế trận quốc phòng
toàn dân; những khó khăn, thách thức, yêu cầu mới đặt ra và đẩy mạnh tuyên
truyền kết quả, kinh nghiệm trong thực hiện của các địa phương. Để đạt hiệu quả
cao, cần vận dụng đa dạng hình thức, biện pháp tuyên truyền; tiếp tục đổi mới,
nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức quốc phòng
và an ninh cho các đối tượng; phát huy hơn nữa hiệu quả của các phương tiện
thông tin đại chúng, mạng xã hội; chú trọng địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng
xa, biên giới, hải đảo, v.v. Quá trình thực hiện, gắn kết chặt chẽ giữa xây và
chống; phát hiện, đấu tranh với tư tưởng, nhận thức lệch lạc, biểu hiện hình
thức, trông chờ ỷ lại.
Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu
quả quản lý của Nhà nước đối với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân. Đây
là nguyên tắc, vấn đề quan trọng hàng đầu, đảm bảo cho việc xây dựng thế trận
quốc phòng toàn dân tiến hành đúng hướng, đạt mục tiêu đề ra. Thực hiện nội
dung này, các cấp, ngành, địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng,
chỉnh đốn Đảng; tiếp tục quán triệt, cụ thể hóa chủ trương chiến lược của Đảng
về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế
trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ bằng nghị quyết, chương trình
hành động, kế hoạch, đề án với lộ trình, biện pháp đồng bộ, khả thi. Nâng cao
năng lực hoạch định đường lối, thể chế hóa và tổ chức thực hiện chủ trương,
nghị quyết về quốc phòng của các cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở. Bổ sung,
hoàn thiện chức năng, mối quan hệ công tác, tăng cường vai trò lãnh đạo của
Quân ủy Trung ương trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng; hoàn thiện và vận hành
tốt cơ chế phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo giữa đảng ủy, bộ tư lệnh các quân khu với
các tỉnh (thành) ủy, ủy ban nhân dân tỉnh (thành phố) trên địa bàn trong lĩnh vực
quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân. Tiếp tục đổi mới phương
thức, cơ chế, kiện toàn cơ cấu, nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của đảng ủy
quân sự địa phương trong xây dựng và hoạt động của khu vực phòng thủ.
Cùng với đó, tiến hành rà
soát, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách liên quan đến
xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân; quy chế phối hợp giữa Bộ Quốc phòng với
các ban, bộ, ngành trong quản lý nhà nước về quốc phòng. Quy định rõ trách
nhiệm, quyền hạn của người đứng đầu ở các cấp, ngành, địa phương trong thực
hiện nhiệm vụ quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng
toàn dân, phù hợp với sự phát triển của thực tiễn.
Ba là, triển khai đồng bộ các biện pháp xây dựng thế trận quốc
phòng toàn dân vững chắc, gắn kết chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân. Nội hàm của thế trận quốc phòng toàn dân rất rộng, nhưng cốt
lõi là “thế trận lòng dân”, đặc trưng là thế trận khu vực phòng thủ cấp tỉnh,
huyện, thế trận phòng thủ quân khu. Để đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong
tình hình mới, yêu cầu xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân phải vững chắc ở
tất cả các cấp, các địa bàn, cả trong nội địa, biên giới, biển, đảo và trên các
môi trường (bộ, không, biển, không gian mạng), sẵn sàng đáp ứng nhiệm vụ quốc
phòng thời bình và chuyển hóa thành thế trận chiến tranh nhân dân khi đất nước
có chiến tranh. Từ kinh nghiệm, kết quả đạt được và yêu cầu đặt ra, thời gian
tới, cùng với xây dựng “thế trận lòng dân” vững mạnh, cần rà soát, làm tốt việc
phân vùng chiến lược về quốc phòng, an ninh, quy hoạch khu kinh tế, khu công nghiệp,
khu chế xuất gắn với quy hoạch tổng thể bố trí quốc phòng, quy hoạch thế trận
quân sự các khu vực phòng thủ. Đẩy mạnh kết hợp phát triển kinh tế với củng cố
quốc phòng, an ninh, nhất là điều chỉnh bố trí lại dân cư, đầu tư phát triển cơ
sở hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng lưỡng dụng, hiện đại, đồng bộ, nhất là
trên các địa bàn trọng điểm, chiến lược, biên giới, biển, đảo. Trung ương và
các địa phương tiếp tục huy động nguồn lực cho xây dựng khu vực phòng thủ, nhất
là xây dựng thế trận quân sự; ưu tiên xây dựng các công trình phòng thủ thiết
yếu (căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương, căn cứ hậu cần, kỹ thuật,...) gắn với
phòng thủ dân sự; quản lý chặt chẽ các công trình quốc phòng, địa hình có giá
trị,... tạo lập thế trận rộng khắp, liên hoàn, vững chắc giữa các khu vực và
trên từng hướng chiến lược. Cùng với đó, đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang
nhân dân; điều chỉnh bố trí lực lượng quốc phòng, lực lượng an ninh hình thành
thế chiến lược mới đảm bảo sẵn sàng xử lý thắng lợi các tình huống quốc phòng,
an ninh, không để bị động, bất ngờ.
Phòng, chống những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Dưới góc độ thống nhất
và đấu tranh của các mặt đối lập, Hồ Chí Minh đã phân tích, luận giải khá đầy
đủ về suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng
viên. Đó là trong mỗi con người xuất hiện và tồn tại các mặt đối lập - mặt tích cực và mặt tiêu cực. Trong
những điều kiện nhất định mặt tiêu cực phát triển và chiếm ưu thế và trở nên
thắng thế so với mặt tích cực. Quá trình đấu tranh giữa mặt tích cực và mặt
tiêu cực diễn ra từ từ, chậm chạp bên trong mỗi con người qua những giai đoạn
từ thấp đến cao, từ tư tưởng đến hành động. Quá trình đó cũng giống như quá
trình xuất hiện của những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Để công tác phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong
cán bộ, đảng viên hiệu quả, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân, góp phần
bảo vệ Đảng, Nhà nước; đấu tranh làm thất bại “diễn biến hòa bình” của các thế
lực thù địch cần nghiên cứu nhận diện biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, tìm
ra nguyên nhân là hết sức quan trọng. Đồng thời, thực hiện đồng bộ, có hiệu quả
những giải pháp chủ
yếu phòng chống "tự diễn biến", "tự chuyển
hoá" ở
đội ngũ cán bộ, đảng
viên trong tình hình mới. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóа”lần đầu tiên được chính
thức đề cập trоng Văn kiện Đại hội XI củа Đảng. Cho đến nay, trong lý luận và
thực tiễn có nhiều quаn điểm khác nhau về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóа”. Đа
số quаn điểm chо rằng,“tự diễn biến”là sự thаy đổi bên trоng nội bộ tа, là hiện
tượng một bộ phận cán bộ, đảng viênsuy thоái, biến chất, thаm nhũng, tiêu cực.
đây là thời điểm đã có sự chuyển hóа, thаy đổi về bản chất. Do vậy phát hiện và
ngăn chặn kịp thời “tự diễn biến”, “tự chuyển hóа” là một đòi hỏi tất yếu.
Sự thờ ơ về chính trị, vô cảm trước vận mệnh củа Đảng và dân tộc. Những
cán bộ, đảng viên có biểu hiện này này chỉ lо vun vén chо lợi ích cá nhân, né
tránh trách nhiệm, không dám đấu trаnh với những quаn điểm, hành động sаi trái;
không chịu học tập, nâng cао nhận thức về chủ nghĩа Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, quаn điểm đường lối củа Đảng, chính sách, pháp luật củа Nhà nước; bề
ngоài vẫn tin tưởng nhưng bên trоng thì không tin vàо sự lãnh đạо củа Đảng, sự
điều hành củа Chính phủ, luôn tỏ thái độ chê bаi người khác, không thấy trách
nhiệm củа mình, chо mình “vô cаn” trước những yếu kém củа cơ quаn, tổ chức nơi
mình công tác.
Hоạt động móc nối của những
đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị với các thế lực thù địch, tổ chức
phản động người Việt Nаm lưu vоng để tiến hành các hoạt động chống Đảng, nhà
nước Việt Nam và nhân dân Việt Nam. Số đối tượng này ngоài việc công khаi thể
hiện quаn điểm chống Đảng, Nhà nước, còn tiến hành các hoạt động khác như: viết
bài, cung cấp tài liệu về tình hình trоng nước chо các thế lực chống Việt Nаm.
Thậm chí, một số đối tượng đã thаm giа các tổ chức phản động người Việt ở nước
ngоài. Giải pháp chủ yếu phòng, chống “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa” hiện nay
Một là, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn
Đảng trong sạch vững mạnh. Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh sẽ tạo môi trường
chính trị thuần khiết, để tu dưỡng rèn luyện đảng viên, chống lại các
tác động tiêu cực từ bên ngoài, ngăn ngừa suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống, ngăn chặn và đẩy lùi những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa
trong nội bộ đảng và trong từng cán bộ đảng viên. Theo đó, Văn kiện Đại hội XII
xác định: “Chú trọng xây dựng Đảng về chính trị”(15), tập trung thực hiện mục
tiêu: Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo
đức. Tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng văn hóa chính trị, văn hóa cầm quyền
trong Đảng, xây dựng văn hóa lãnh đạo, cầm quyền và nâng cao năng lực cầm quyền
của Đảng. Bên cạnh đó cần thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ; xây dựng
và thực hiện văn hóa tự phê bình và phê bình trong tình hình mới.
Hai là, đổi mới mạnh mẽ công tác cán
bộ, coi trọng công tác bảo vệ nội bộ. Làm tốt công tác này chính là xây dựng
được thể chế để phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Văn kiện Đại hội
XII của Đảng đã đề cập việc đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, góp phần thiết
thực phòng, chống những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong đội ngũ cán
bộ, đảng viên, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, quản lý, đội ngũ cán bộ chủ chốt,
cán bộ chiến lược. Vì đây là đội ngũ cán bộ đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ
quan, đơn vị. Họ có vai trò quan trọng đặc biệt. Bởi lẽ, người đứng đầu
chịu trách nhiệm cao nhất trong lãnh đạo, quản lý đơn vị mà Đảng, Nhà nước và
nhân dân giao cho; là người chịu trách nhiệm cao nhất trước cấp trên việc lãnh
đạo, quản lý, xây dựng cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh, giáo dục và rèn
luyện cán bộ, nhân viên thuộc quyền. Theo đó, cần “tập trung xây dựng đội ngũ
cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín,
ngang tầm nhiệm vụ”(16). Đối với công tác bảo vệ nội bộ phải gắn với công tác
xây dựng, chỉnh đốn đảng, đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện cục bộ, bè
phái, “lợi ích nhóm”, xử lý nghiêm các cán bộ, đảng viên vi phạm các quy
định của Đảng, đấu tranh có hiệu quả với âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa
bình” của các thế lực thù địch.
Ba là, đổi mới công
tác tư tưởng, lý luận. Công tác tư tưởng, lý luận có vai trò quan trọng hàng
đầu trong việc đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước đến với mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân. Đấu tranh làm thất bại
các âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, chủ động
ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch; đấu
tranh vạch trần các hành vi tha hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên, định
hướng tư tưởng, tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng
viên. Theo đó, Đảng ta xác định vai trò của công tác tư tưởng lý luận đối với
việc phòng, chống tự diễn biến, tự chuyển hóa: “Đổi mới công tác tuyên truyền,
giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Đấu
tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức,
lối sống; ngăn chặn đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
KHÔNG THỂ TÁCH RỜI KINH TẾ VỚI QUỐC PHÒNG TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH MỚI
Kết hợp kinh tế với quốc
phòng-an ninh (QP-AN) là vấn đề trọng yếu đối với tất cả các quốc gia nói
chung, Việt Nam nói riêng. Kết
hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh là một tất yếu
khách quan, một nội dung quan trọng trong đường lối phát triển đất nước của
Đảng ta, nhằm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa
xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thực tế phát
triển nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) cho thấy
không phải mọi lúc, mọi nơi, sự kết hợp này được bảo đảm. Vì vậy, cần xây dựng,
hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách cũng như tổ chức thực hiện nhằm
kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc
phòng, an ninh của đất nước.
Phát
triển kinh tế xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng an ninh phải toàn
diện, cơ bản, lâu dài ngay từ trong chiến lược, quy hoạch kế hoạch phát triển
kinh tế xã hội với tăng cường quốc phòng an ninh trên phạm vi cả nước, từng
vùng, từng ngành và ở từng địa phương. Phát triển kinh tế xã hội gắn với tăng
cường, củng cố quốc phòng an ninh phải tập trung có trọng điểm, quan tâm đầu tư
vào những vùng, địa bàn chiến lược trọng yếu, biên giới, hải đảo, những ngành,
những lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội quan trọng.
Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý giữa các vùng, miền trong
cả nước; sẵn sàng động viên nền kinh tế, động viên công nghiệp khi chuyển địa
phương từ thời bình sang thời chiến. Bảo đảm an ninh trong công nghiệp, nông
nghiệp (an ninh lương thực), chú trọng dự trữ quốc gia. Gắn việc nâng cao năng
lực, hiệu quả đánh bắt thủy hải sản xa bờ, hoạt động thăm dò, khai thác dầu
khí, vận tải biển và phát triển hải đảo với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của tổ
quốc. Phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ, y tế với việc thực hiện
tốt chính sách dân tộc, tôn giáo. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng,
an ninh; tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật, bảo đảm cho các lực lượng vũ trang
từng bước được trang bị hiện đại.
Gắn kết ngay từ khâu lực chọn đối tác trong các dự án đầu
tư nước ngoài, những đối tác đầu tư vào nước ta phải có ưu thế chế ngự, cạnh
tranh với các thế lực mạnh bên ngoài, làm cho các thế lực thù địch muốn chống
phá ta cũng khó khăn. Lựa chọn, phân bố đầu tư vào các vùng, ngành phải chú ý
lợi ích cả trước mắt và lâu dài, không ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc.
Phải
phối hợp chặt chẽ và toàn diện hoạt động giữa các ngành khoa học với các ngành
khoa học của quốc phòng, an ninh trong việc hoạch định chiến lược nghiên cứu
phát triển và quản lý sử dụng phục vụ cho cả xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Coi
trọng giáo dục bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài của đất nước, đáp ứng cả sự
nghiệp xây dựng phát triển kinh tế xã hội, cả quốc phòng, an ninh. Thực hiện có
hiệu quả công tác giáo dục quốc phòng, an ninh cho các đối tượng, đặc biệt là
trong các nhà trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
Quan điểm của
Đảng về kết hợp kinh tế với quốc phòng
Kết
hợp phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh là quan điểm
xuyên suốt, chủ trương nhất quán của Đảng, được bổ sung, phát triển phù hợp với
điều kiện thực tế qua các kỳ đại hội. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng
định: “Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với
quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và
đối ngoại”2. Thực hiện chủ trương mỗi bước phát triển kinh
tế - xã hội là một bước tăng cường quốc phòng, an ninh, những năm qua,
việc kết hợp kinh tế với quốc phòng trên phạm vi cả nước đã được thực hiện ngày
càng toàn diện, chặt chẽ, đồng bộ, trách nhiệm và hiệu quả hơn. Điều đó được
thể hiện ngay từ khâu xây dựng chiến lược, quy hoạch vùng, lãnh thổ, các ngành,
lĩnh vực; các kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn; trong từng công trình,
dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,... đều gắn với quy hoạch tổng thể
xây dựng thế trận quân sự trong khu vực phòng thủ. Các địa phương, nhất là ở
địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo đã coi trọng quy
hoạch phân bố dân cư, phát triển lực lượng dân phòng cùng các tổ, đội liên kết
của ngư dân,... bảo đảm mục tiêu vừa phát triển kinh tế - xã hội, vừa tăng
cường quốc phòng, an ninh bảo vệ vững chắc địa bàn biên giới, biển, đảo. Các
đơn vị Quân đội vừa bảo đảm huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, vừa tham gia phát
triển kinh tế, xã hội, xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn đóng quân, v.v.
Các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng, bên cạnh việc sản xuất sản phẩm phục
vụ nhu cầu quốc phòng còn tận dụng tiềm năng, thế mạnh tham gia sản xuất các
mặt hàng phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội. Điển hình như những doanh
nghiệp trong lĩnh vực đóng và sửa chữa tàu, cơ khí, hóa chất, điện - điện tử,
quang học với nhiều sản phẩm uy tín, có thương hiệu và hội nhập sâu rộng vào
thị trường trong nước, khu vực và thế giới. Tổng Công ty Sông Thu, Công ty đóng
tàu Hồng Hà, Nhà máy Z189 đã đóng được nhiều loại tàu, xuồng hiện đại phục vụ
nhu cầu trong nước và xuất khẩu sang thị trường châu Âu, châu Mỹ. Nhiều nhà máy
đã bứt phá mạnh mẽ với các sản phẩm quốc phòng mũi nhọn và sản phẩm phục vụ nhu
cầu thị trường. Trong đó, Nhà máy Z176 đã và đang là “lá cờ đầu” trong việc sản
xuất sản phẩm kinh tế xuất khẩu (hiện xuất khẩu chiếm hơn 80% tổng doanh thu),
v.v. Những kết quả từ sự kết hợp đó đã góp phần trực tiếp tăng cường sức mạnh
quốc phòng của đất nước; đồng thời, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để
thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế đất nước nhanh, bền vững.
Trong
lĩnh vực y tế: Phối hợp, kết hợp chặt
chẽ giữa ngành y tế dân sự với y tế quân sự trong nghiên cứu, ứng dụng, trong
đào tạo nguồn nhân lực. Xây dựng kế hoạch động viên y tế dân sự cho quân sự khi
có chiến tranh, dịch bệnh xảy ra. Phát huy vai trò của y tế quân sự trong phòng
chống, khám chữa bệnh cho nhân dân thời bình và thời chiến. Sự phát triển KTTT
cũng có những tác động tiêu cực đến tiềm lực quốc phòng, an ninh đất nước, cụ
thể:
Một
là, phát triển KTTT dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo,
phân tầng xã hội. Đây là một tất yếu do có sự hoạt động và phát huy tác dụng
của các quy luật kinh tế khách quan. Sự phân hóa giàu nghèo làm phát sinh những
biểu hiện tiêu cực, bất mãn - cơ hội, điều kiện để các thế lực thù địch, tội
phạm có thể lợi dụng để dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc, kích động người dân gây tình
huống phức tạp về an ninh, trật tự xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân
tộc, làm ảnh hưởng xấu tới việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế
trận an ninh nhân dân.
Hai
là, phát triển KTTT tác động đến tư tưởng, tình cảm của
cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang. Kinh tế thị trường tạo điều kiện cho
mọi cá nhân trong xã hội làm giàu hợp pháp và đang có nhiều người, bằng tài
năng, sức lực và nguồn lực của mình trở nên giàu có. Nhưng cũng có không ít cá
nhân làm giàu bất chính và một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức lợi dụng vị
trí công tác có hành vi tham nhũng, nhận hối lộ, có nhiều tài sản bất hợp pháp.
Điều này tác động đến nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm, tâm lý, đạo đức
của mỗi con người trong đó có cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang, đặc biệt
là đối với những người có hoàn cảnh gia đình khó khăn.
Ba
là, đầu tư và thương mại quốc tế bên cạnh những kết quả
tích cực mang lại cho nền kinh tế cũng có những tác động tiêu cực tới lĩnh vực
quốc phòng, an ninh. Thông qua con đường hợp tác đầu tư, thương mại, các thế
lực thù địch, phản động có thể lợi dụng để thâm nhập vào trong nước, móc nối
với các nhân vật bất mãn, phản động, tổ chức các hoạt động chống phá. Cũng
thông qua hoạt động đầu tư, thương mại, các thế lực thù địch tìm cách mua
chuộc, khống chế cán bộ, công chức trong các cơ quan trọng yếu của Đảng và Nhà
nước để cung cấp cho chúng các thông tin liên quan đến quốc phòng, an ninh,
phục vụ âm mưu phá hoại, lật đổ. Thông qua đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào lĩnh
vực giáo dục, đào tạo, văn hóa, nghệ thuật... để truyền bá tư tưởng, văn hóa
độc hại, thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình.
Bốn là. nâng cao nhận thức cho cán bộ các cấp, các ngành về mối quan hệ giữa
kinh tế với QP-AN. Trong Dự thảo các
văn kiện trình Đại hội XI của Đảng đã xác định: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với
QP-AN, QP-AN với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách
phát triển KT-XH”1. Đây là quan điểm thể hiện sự phát triển nhận
thức của Đảng ta về quy luật: dựng nước đi đôi với giữ nước; đồng thời, cũng
khẳng định: kết hợp kinh tế với QP-AN là sự nghiệp, nhiệm vụ trọng yếu, thường
xuyên của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, của cả hệ thống chính trị, dưới
sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, sự kết hợp đó phải được quán triệt, thống nhất
nhận thức và triển khai thực hiện đồng bộ, có hiệu quả ở tất cả các cấp, các
ngành, các lĩnh vực từ Trung ương đến địa phương, cơ sở. Trong điều kiện mới,
cần thường xuyên quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết và các quan điểm
của Đảng về kết hợp chặt chẽ phát triển KT-XH với tăng cường QP-AN trong từng
ngành, lĩnh vực, từng địa bàn và cả nước.
“CÓ ANH HÙNG LÀ VÌ CÓ TẬP THỂ ANH HÙNG. CÓ TẬP THỂ ANH HÙNG LÀ VÌ CÓ NHÂN DÂN ANH HÙNG, DÂN TỘC ANH HÙNG, ĐẢNG ANH HÙNG”
Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bài Phát biểu tại buổi tiếp đại biểu các đơn vị anh hùng và chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước ngày 2-1-1967: “…Có anh hùng là vì có tập thể anh hùng. Có tập thể anh hùng là vì có nhân dân anh hùng, dân tộc anh hùng, Đảng anh hùng”, đăng trên Báo Nhân dân, số 4660, ngày 10-1-1967, trong bối cảnh nhân dân trên hai miền Nam, Bắc phát huy tinh thần yêu nước, không sợ hy sinh, gian khổ, đang gắng sức thi đua xây dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

