Thứ Bảy, 13 tháng 1, 2024

BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ - YẾU TỐ QUAN TRỌNG QUYẾT ĐỊNH SỰ THÀNH CÔNG TRONG LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG!

     Bản lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam là một yếu tố quan trọng đưa đến những thành công trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Những bài học kinh nghiệm về bản lĩnh chính trị của Đảng vẫn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa hướng dẫn cho sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay. Nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên tiếp tục được Đại hội XIII của Đảng đặc biệt quan tâm và là nhiệm vụ cần được nghiêm túc thực hiện trong thời gian tới!

Bản lĩnh chính trị và việc rèn luyện bản lĩnh chính trị của Đảng
Bản lĩnh chính trị của một cá nhân, tập thể là khả năng vượt qua những áp lực, khó khăn, thách thức; là lòng tin, sự kiên định, quyết tâm lớn lao và năng lực ứng biến với những thay đổi của thực tiễn, sự đoàn kết đồng lòng để tìm ra cách thức đúng đắn, nhằm thực hiện thành công mục tiêu chính trị của mình. Bản lĩnh chính trị dựa trên sự nắm vững tri thức khoa học và khả năng đúc rút tri thức mới từ thực tiễn hoạt động chính trị của chủ thể. 

Bản lĩnh chính trị của một cá nhân, một chính đảng không tự nhiên mà có. Khả năng tự chủ, đứng vững trước áp lực, sáng suốt tìm ra con đường đúng đắn… của chủ thể chính trị chỉ có thể có được qua quá trình khổ công rèn luyện lâu dài. Rèn luyện bản lĩnh chính trị là hoạt động có mục đích, nhằm từng bước xây dựng, củng cố thái độ, quyết tâm và khả năng giữ vững, bảo vệ và phát triển quyết định của cá nhân, tập thể trong hoạt động chính trị, bất chấp những áp lực từ nhiều phía. Tuy nhiên, hoạt động chính trị của con người thường xuyên, liên tục chịu tác động bởi nhiều yếu tố bất định, khó lường; vì thế, việc tự giác rèn luyện là điều kiện cần, để tạo nên nền tảng cơ bản cho bản lĩnh chính trị của chủ thể; nhưng khả năng vượt qua áp lực, thử thách mới chính là sự khẳng định và làm dạn dày thêm bản lĩnh chính trị của chủ thể. Chỉ khi vượt qua được những thử thách, áp lực không định trước được, bản lĩnh chính trị mới trở nên ổn định, vững chắc, trở thành bản chất cố hữu của chủ thể chính trị. 

Việc rèn luyện bản lĩnh chính trị của chủ thể chính trị diễn ra trong thực tiễn chính trị, được tiến hành thông qua các hoạt động có tính mục đích chính trị rõ ràng, được tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và sự tham gia tích cực của quần chúng nhân dân. 

Rèn luyện bản lĩnh chính trị bắt đầu với việc truyền bá, học tập, quán triệt và nắm vững, hiểu biết ngày càng sâu sắc về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng... Đây là kim chỉ nam soi sáng cho nhận thức và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng, nhất là khi gặp phải những tình thế khó khăn, trở ngại, là cơ sở nền tảng để các chủ thể chính trị phân tích, đánh giá đúng tình hình, tìm ra bản chất, quy luật, tính quy luật của sự vật, hiện tượng chính trị, từ đó đưa ra được những giải pháp phù hợp, tập hợp được sức mạnh cần thiết để vượt qua khó khăn, thách thức, hoàn thành tốt nhiệm vụ, đạt được mục tiêu chính trị đề ra. 

Rèn luyện bản lĩnh chính trị thông qua việc củng cố niềm tin chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Những trải nghiệm chính trị, những bài học kinh nghiệm “xương máu” được đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân rút ra từ thực tiễn và những thành tựu cách mạng dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng làm cho nhận thức chính trị của họ càng thêm sâu sắc, từ đó tình cảm, niềm tin chính trị vào Đảng càng thêm sâu nặng. Lúc này, tình cảm, niềm tin chính trị đã trở thành bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân. Điều này được V.I. Lê-nin chỉ rõ, qua thực tiễn cách mạng vô sản Nga: “… khi đụng đến một phong trào bao gồm hàng triệu quần chúng nhân dân, thì chỉ những lời nói thôi không đủ; quần chúng nhân dân phải có kinh nghiệm của bản thân họ để họ tự kiểm nghiệm những chỉ thị và tin vào kinh nghiệm của bản thân”. 

Rèn luyện bản lĩnh chính trị thông qua việc tổ chức thành công các phong trào hành động chính trị, nhằm đạt các mục tiêu mà Đảng đề ra. Bản lĩnh chính trị không chỉ biểu hiện thông qua cuộc đấu tranh trên mặt trận lý luận chính trị, mà còn thông qua các phong trào hành động cách mạng trong thực tiễn, nhằm cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng. Kết quả thực tế của các phong trào hành động cách mạng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân là minh chứng thuyết phục nhất cho bản lĩnh chính trị của Đảng. 

Những biểu hiện cụ thể, đặc điểm bản lĩnh chính trị của Đảng trong những thời điểm mang tính bước ngoặt
Một là, những biểu hiện cụ thể bản lĩnh chính trị của Đảng trong những thời điểm mang tính bước ngoặt.
Kiên định mục tiêu, giữ vững nguyên tắc, nhưng mềm dẻo về phương pháp, sách lược, nhất là ở các thời điểm khó khăn khi đưa ra các quyết định lựa chọn. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta nhiều lần thể hiện việc kiên định mục tiêu chiến lược, nhưng thực hiện mục tiêu đó bằng phương pháp, sách lược mềm dẻo, để vừa khẳng định và giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, vừa giành được những thành quả trên thực tế; đồng thời, thu hút được ngày càng nhiều quần chúng yêu nước tham gia vào phong trào cách mạng. 

Một trong những điển hình cho việc Đảng kiên định mục tiêu chiến lược, nhưng thực hiện bằng phương pháp, sách lược mềm dẻo chính là thực tiễn cách mạng những năm 1936 - 1939, khi Đảng lãnh đạo thực hiện những mục tiêu cải thiện về dân chủ và nhân quyền, từ ảnh hưởng của việc Chính phủ Pháp do những đảng cánh tả nắm quyền năm 1936. Kết quả là, tập hợp được đông đảo quần chúng xung quanh Đảng thông qua các tổ chức chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng; đời sống chính trị - xã hội có những cải thiện nhất định đã ảnh hưởng tốt tới thiện cảm của quần chúng nhân dân với Đảng; qua phong trào, đội ngũ đảng viên được rèn luyện bởi thực tiễn cách mạng, được trang bị thêm kiến thức hoạt động nghị trường, vì thế, cũng có sự trưởng thành nhất định. Chính trong giai đoạn này, nhiều nhà cách mạng tiền bối của Đảng, như Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… đã trực tiếp tham gia viết báo, tổ chức tờ báo..., vì thế đã được rèn giũa những kỹ năng nhất định, rất cần thiết cho hoạt động cách mạng sau này. 

Quyết đoán quyết định ở thời điểm vô cùng khó khăn. Một điển hình của việc dũng cảm đưa ra quyết định vào thời điểm khó khăn được thể hiện trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Khi đó, thực tế chiến trường đã có những thay đổi lớn so với khi chuẩn bị phương án ban đầu là đánh nhanh, thắng nhanh; nếu cứ tiếp tục thực hiện theo phương án đã đề ra, thì chúng ta sẽ phải chịu những tổn thất to lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng tới lực lượng cách mạng. Tuy nhiên, từ những thông tin phản biện, cùng với sự cân nhắc kỹ lưỡng về tương quan giữa quân ta và quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đưa ra quyết định mà theo ông là khó khăn nhất trong cuộc đời làm tướng của mình, đó là chuyển phương châm từ đánh nhanh, thắng nhanh, sang đánh chậm, tiến chắc. Như vậy, người đưa ra quyết định mang tính lịch sử đó phải có bản lĩnh lớn, xuất phát từ tài thao lược kiệt xuất, phương pháp làm việc khoa học, căn cứ vào thực tế chiến trường, khắc ghi những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đánh khi chắc thắng, không chắc thắng không đánh. 

Dám đương đầu với thách thức, quyết tâm tận dụng cơ hội, không bỏ lỡ thời cơ, biến thách thức thành cơ hội, nhất là vào các thời điểm bước ngoặt của cách mạng. Điển hình của trường hợp này chính là cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của dân tộc ta. Đảng ta đã huy động sức mạnh toàn dân tộc, quyết tâm vượt qua khó khăn, tận dụng thời cơ cách mạng để phát động Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 và đi đến thành công. Khi đó, phát xít Nhật đã đầu hàng Đồng minh, còn lực lượng Pháp chưa kịp trở lại Đông Dương; lực lượng phản cách mạng ở trong thế yếu, còn phong trào cách mạng đang lên cao chưa từng thấy. Trong tình thế đó, nếu Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên khắp cả nước và ở các thành phố lớn không diễn ra kịp thời, thì kết quả của cuộc Tổng khởi nghĩa sẽ khó đạt mục tiêu đề ra, thành quả của cách mạng sẽ không triệt để. 

Dũng cảm đối mặt với sai lầm, khuyết điểm và kiên quyết sửa chữa khuyết điểm, tự chỉnh đốn Đảng để hoàn thiện. Một trong những điển hình của việc Đảng thể hiện bản lĩnh chính trị, dũng cảm đối mặt với sai lầm, khuyết điểm và kiên quyết sửa chữa khuyết điểm là việc sửa chữa những sai lầm trong cải cách ruộng đất những năm 1953 - 1955. Đảng đã thẳng thắn thừa nhận “có phạm sai lầm nghiêm trọng”, từ đó, nghiêm túc đề ra biện pháp để sửa chữa những lỗi lầm nói trên. Chủ tịch Hồ Chí Minh có “Thư gửi đồng bào nông thôn và cán bộ nhân dịp cải cách ruộng đất ở miền Bắc căn bản hoàn thành”, đăng Báo Nhân dân, ngày 18/8/1956; qua đó, khẳng định sự thành công và ý nghĩa to lớn của cải cách ruộng đất với cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, Người cũng chỉ rõ những sai lầm đã mắc phải trong khi thực hiện và nghiêm túc chỉ ra: “Trung ương Đảng và Chính phủ đã nghiêm khắc kiểm điểm những sai lầm, khuyết điểm ấy, và đã có kế hoạch kiên quyết sửa chữa, nhằm đoàn kết cán bộ, đoàn kết nhân dân, ổn định nông thôn, đẩy mạnh sản xuất”. 

Thái độ công khai, thẳng thắn trong đánh giá, nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, trong thực hiện nhiệm vụ chung của sự nghiệp cách mạng, cách bày tỏ chân tình, thấu đáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước quần chúng nhân dân đã khiến cho những khúc mắc được giải tỏa, lòng tin của nhân dân với sự lãnh đạo của Đảng càng được củng cố, tạo thành sức mạnh mới cho phong trào. Cách ứng xử của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trước những sai lầm xảy ra trong khi thực hiện cải cách ruộng đất chính là sự thể hiện rất rõ bản lĩnh chính trị của Đảng. 

Dám đổi mới và sẵn sàng chịu trách nhiệm trước dân tộc, trước nhân dân, trước lịch sử về quyết định của mình. Với việc tiến hành đổi mới toàn diện tại Đại hội VI của Đảng (năm 1986), Đảng ta đã thể hiện rõ trách nhiệm trước dân tộc, khẳng định bản lĩnh chính trị của mình trong sự nghiệp cách mạng. Khi đó, tư duy đổi mới phải đối diện với những áp lực không hề nhỏ từ nhiều phía, trong đó có áp lực từ lối tư duy sáo mòn, kinh viện, duy ý chí gắn với cơ chế kế hoạch hóa tập trung vốn đã ăn sâu trong suy nghĩ và hành động của số đông. 

Sự thống nhất giữa "ý Đảng và lòng dân" đã đưa đến thành công của Đại hội VI của Đảng - Đại hội đổi mới. Toàn bộ đánh giá, nhận định trong Văn kiện Đại hội VI toát lên tinh thần nghiêm túc nhìn nhận vấn đề, thể hiện thái độ dũng cảm trong đánh giá thực tế, phê bình và tự phê bình những sai lầm mà Đảng đã phạm phải trong quá trình lãnh đạo cách mạng từ sau năm 1975. “Những sai lầm và khuyết điểm trong công tác lãnh đạo của đảng trước hết thuộc về trách nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Hội đồng Bộ trưởng… làm cho sự lãnh đạo của Đảng trong những năm gần đây không đáp ứng những đòi hỏi của tình hình mới. Ban Chấp hành Trung ương xin tự phê bình nghiêm túc về những khuyết điểm của mình trước Đại hội”. Đó chính là bản lĩnh chính trị của một đảng cách mạng chân chính theo tư tưởng Hồ Chí Minh, khi không che dấu khuyết điểm, thành khẩn tự phê bình và chỉ ra phương hướng khắc phục khuyết điểm, đồng thời quyết tâm khắc phục. 

Hai là, đặc điểm bản lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bản lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện bản lĩnh chính trị của đảng vô sản theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và dìu dắt, chịu sự ảnh hưởng của truyền thống chính trị dân tộc qua nhiều thời kỳ, có dấu ấn tác động của vị trí địa - chính trị của đất nước Việt Nam. 

Bản lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện ở việc kiên cường vượt qua những khó khăn, thử thách của phong trào cách mạng, được trui rèn để ngày càng trưởng thành, là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất về ý chí và hành động; đoàn kết, hy sinh không sờn lòng; kiên định vượt qua những trở ngại to lớn; dũng cảm tự phê bình để ngày càng trưởng thành; giữ vững bản chất của một đảng vì nước, vì dân; tiếp tục vững vàng lãnh đạo dân tộc vượt qua những thách thức trong giai đoạn cách mạng mới. 

Rèn luyện bản lĩnh chính trị có quan hệ chặt chẽ với nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng. Đó chính là quan hệ gắn bó giữa việc thường xuyên giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên, với việc chuẩn bị khả năng thích ứng cao với mọi hoàn cảnh khó khăn, đột xuất, đòi hỏi phải đưa ra được những quyết định kịp thời, chuẩn xác. 

Rèn luyện bản lĩnh chính trị có quan hệ chặt chẽ, qua lại với rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cầm quyền của Đảng và đều yêu cầu người đảng viên cần phải phấn đấu cao nhất vì lý tưởng cách mạng, vì thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự phấn đấu đó là thường xuyên, liên tục, không có điểm dừng, bởi cuộc cách mạng nhằm đem lại hạnh phúc cho toàn thể dân tộc phải vượt qua những thử thách không thể đoán định được, đòi hỏi phải có nỗ lực cao nhất. 

Rèn luyện bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng
Làm tốt công tác giáo dục, bồi dưỡng, thử thách, tạo môi trường rèn luyện cho đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược. 

Cần thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, để họ thấm nhuần sâu sắc hệ tư tưởng của Đảng và phương pháp làm việc khoa học, từ đó có sự sáng suốt, vững vàng trước những thử thách để có thể lựa chọn và đưa ra những quyết định đúng đắn, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn cách mạng. Muốn vậy, cần “Đổi mới căn bản nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo hướng khoa học, sáng tạo, hiện đại và gắn lý luận với thực tiễn; đưa việc bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp đi vào nền nếp, nâng cao chất lượng, hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng”. 

Thời gian tới, để làm tốt công tác giáo dục, bồi dưỡng, thử thách đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị của Đảng, cần thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp mà Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra. Đó là: “Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng nâng cao năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương”; “Nâng tầm tư duy lý luận của Đảng, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp kịp thời cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tổng kết thực tiễn 40 năm đổi mới để bổ sung, phát triển lý luận của Đảng. Tiếp tục bổ sung, phát triển hệ thống các quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. 

Để rèn luyện bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, cần tạo môi trường rèn luyện từ chính thực tiễn công tác phong phú, đa dạng hằng ngày. Chính trong môi trường đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải đối mặt với những nhiệm vụ thường xuyên, trong đó có cả những nhiệm vụ mới, khó; nếu tổ chức đảng biết cách bố trí, sắp xếp hợp lý, động viên, giúp đỡ thì khó khăn, thử thách đó lại chính là cơ hội rèn luyện bản lĩnh, giúp cán bộ có điều kiện phát huy hết năng lực. 

Hiện nay, nhiều đảng bộ thực hiện việc giao nhiệm vụ mới, khó gắn với sản phẩm, kết quả cụ thể để rèn luyện, thử thách đối với đội ngũ cán bộ được đưa vào diện quy hoạch. Nhiệm vụ đó có thể là những công việc còn tồn đọng qua nhiều nhiệm kỳ, chưa giải quyết triệt để do vướng mắc về cơ chế… Đó có thể là nhiệm vụ mà nếu giải quyết được sẽ tạo ra bước tiến mạnh mẽ trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Thông qua kết quả thực hiện nhiệm vụ đó, tổ chức đảng sẽ đánh giá cán bộ một cách toàn diện, cả về năng lực, trình độ, khả năng tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Cách làm trên của một số địa phương, cơ quan, đơn vị thời gian qua là một biện pháp tốt để rèn luyện bản lĩnh chính trị, chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, rất cần được đánh giá, tổng kết để rút ra bài học kinh nghiệm. 

Thực hiện công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, góp phần rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ các cấp.
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ một cách thường xuyên, liên tục chính là công việc quan trọng để rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng. Muốn vậy, cần phải thường xuyên “… xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín”; “tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng lý tưởng, nhân sinh quan cách mạng”. Bên cạnh đó, cần “tiếp tục tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và quyết tâm chính trị của toàn Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng… phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm từ xa, từ sớm”. Kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng là biện pháp cơ bản, quan trọng để xây dựng và chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, cũng là biện pháp hữu hiệu để rèn luyện và nâng cao bản lĩnh chính trị của Đảng. Bởi, kỷ luật là sức mạnh giúp tập thể đồng lòng vượt qua những khó khăn, thử thách. Đồng thời, để rèn luyện bản lĩnh chính trị, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần tu dưỡng, thực hành thường xuyên, nghiêm túc đạo đức cách mạng. “Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức… Kết hợp giữa giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng, đề cao pháp luật của Nhà nước với giáo dục, bồi dưỡng nhân cách, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên”. 

Phát động các phong trào hành động cách mạng rộng lớn hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Các phong trào hành động cách mạng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc, chính là cơ sở thực tiễn, môi trường cho việc rèn luyện bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Để đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, chúng ta còn rất nhiều việc phải làm, đặc biệt là khắc phục những điểm nghẽn, thực hiện thành công 3 đột phá chiến lược, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh,... Muốn vậy, Đảng phải có đủ năng lực, bản lĩnh, uy tín, trí tuệ và đạo đức tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; có sự đồng thuận, ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân, thông qua các phong trào hành động cách mạng rộng khắp trên mọi lĩnh vực, mọi miền đất nước, góp sức cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều biến động phức tạp, khó lường. 

Từ thực tiễn các phong trào hành động cách mạng, các nhân tố mới xuất hiện, đem lại hiệu quả trên nhiều mặt; đồng thời, những vấn đề khó khăn nảy sinh trong quá trình thực hiện sẽ là “đề bài” đòi hỏi tổ chức đảng và đảng viên có trách nhiệm phải tìm ra lời giải. Tất cả những điều đó đều góp phần quan trọng rèn luyện và nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, như chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng, gắn bó mật thiết với nhân dân chính là cội nguồn sức mạnh của Đảng ta. Thời gian qua, do “… chưa tạo được nhiều cơ chế, chính sách, giải pháp có tính đột phá, đồng bộ để tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp, huy động mọi nguồn lực cho phát triển”, “các nguồn lực, tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chưa được phát huy tốt”…, nên đã làm ảnh hưởng nhất định đến việc phát huy sức mạnh to lớn của các phong trào hành động cách mạng rộng khắp của các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. 

Để khắc phục những hạn chế nói trên, thời gian tới, cần “… tuyên truyền sâu rộng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước gắn với đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, hành động trong Đảng và nhân dân”; qua đó, “khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Đồng thời, cần “chú trọng hơn giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc tốt đẹp của người Việt Nam; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”./.

Yêu nước ST.

Thứ Sáu, 12 tháng 1, 2024

Xây dựng bảng lương mới của lực lượng vũ trang: Tiền lương phải bảo đảm đời sống người hưởng lương & gia đình

 

Xây dựng các bảng lương của lực lượng vũ trang phải phù hợp với tổ chức, biên chế và tính chất đặc thù. Theo đó, tiền lương phải thực sự là nguồn thu nhập chính bảo đảm đời sống của các đối tượng hưởng lương và gia đình.

Ngày 11/1, Thượng tướng Vũ Hải Sản, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban chỉ đạo cải cách chính sách tiền lương lực lượng vũ trang chủ trì buổi làm việc với các cơ quan về việc thống nhất phương án xây dựng các bảng lương của lực lượng vũ trang và cơ yếu.

Năm 2021, trước ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, Quốc hội đã quyết định lùi thời gian thực hiện cải cách chính sách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW.

Thực hiện Kết luận số 35-KL/TW ngày 5/5/2022 của Bộ Chính trị về danh mục chức danh, chức vụ lãnh đạo và tương đương của hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, Bộ Quốc phòng và Bộ Công an đã triển khai nghiên cứu, ban hành Danh mục chức danh, chức vụ lãnh đạo, chỉ huy quản lý trong Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân làm cơ sở để xây dựng bảng lương chức vụ.

Từ năm 2021 cho đến nay, tiền lương cơ sở tăng 20,8%, các mức lương dự kiến của cán bộ, công chức nhà nước cũng tăng lên; do đó, các bảng lương mới của lực lượng vũ trang và cơ yếu cũng cần được nghiên cứu để hoàn thiện lại.

Xây dựng các bảng lương của lực lượng vũ trang phải phù hợp với tổ chức, biên chế và tính chất đặc thù

Tại cuộc họp, các ý kiến đều thống nhất quan điểm xây dựng các bảng lương của lực lượng vũ trang phải phù hợp với tổ chức, biên chế và tính chất đặc thù của lực lượng vũ trang.

Theo đó, tiền lương phải thực sự là nguồn thu nhập chính bảo đảm đời sống của các đối tượng hưởng lương và gia đình.

Đặc biệt, chế độ tiền lương mới phải tuân thủ nguyên tắc phân phối theo lao động và phải gắn theo vị trí việc làm, yêu cầu về trình độ đào tạo của vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo, quản lý, chỉ huy.

Đối với bảng lương quân nhân chuyên nghiệp, chuyên môn kỹ thuật, các đại biểu cho rằng cần được xây dựng gồm 2 thành tố: Lương chuyên môn nghiệp vụ, kỹ thuật và lương chức vụ, chức danh.

Lương chuyên môn nghiệp vụ, kỹ thuật gồm các loại: Cao cấp (xây dựng 2 nhóm lương), trung cấp (xây dựng 1 nhóm lương với 12 bậc lương), sơ cấp (xây dựng 1 nhóm lương với 12 bậc lương).

Tiền lương chức danh được xác định là tiền lương cơ bản của sĩ quan đảm nhiệm vị trí tương đương (theo chức vụ) trừ đi tiền lương chuyên môn nghiệp vụ, kỹ thuật của quân nhân chuyên nghiệp, chuyên môn kỹ thuật.

Cải cách tiền lương phải khắc phục được những bất cập, hạn chế hiện nay

Phát biểu tại cuộc họp, Thượng tướng Vũ Hải Sản thống nhất với phương án xây dựng các bảng lương mới của lực lượng vũ trang theo đề xuất của Cục Tài chính - Cơ quan thường trực.

Đồng chí thứ trưởng giao Cục Quân lực chủ trì, phối hợp với Cục Cán bộ khẩn trương hoàn chỉnh biểu tổ chức, biên chế của các cơ quan, đơn vị, xác định rõ vị trí việc làm và yêu cầu trình độ của vị trí việc làm để làm cơ sở chuyển xếp lương cũ sang lương mới.

Thượng tướng Vũ Hải Sản nêu rõ, cải cách chính sách tiền lương phải gắn với việc thúc đẩy cải cách hành chính, bảo đảm tính kế thừa và phát huy ưu điểm, khắc phục được những hạn chế, bất cập của tiền lương hiện nay.

Thứ Năm, 11 tháng 1, 2024

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHIẾN LƯỢC AN NING QUỐC GIA


 An ninh quốc gia (ANQG) và bảo vệ ANQG là vấn đề hệ trọng của mọi quốc gia, dân tộc, là bộ phận không thể tách rời của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Quan điểm về bảo vệ ANQG là bộ phận đặc biệt quan trọng trong hệ thống quan điểm lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quan điểm này không ngừng được bổ sung, phát triển, hoàn thiện, tạo cơ sở quan trọng để thống nhất nhận thức, hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Trước những thay đổi chiến lược mang tính toàn cầu, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, trên cơ sở tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khóa VIII), ngày 5/9/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 51-NQ/TW về Chiến lược bảo vệ ANQG, tiếp tục hoàn thiện quan điểm về bảo vệ ANQG trong tình hình mới.

Qua đó, khẳng định quan điểm nhất quán, xuyên suốt: ANQG là sự vững mạnh, trường tồn của Đảng, sự ổn định, phát triển bền vững về mọi mặt của đất nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; sự ổn định về chính trị, biên giới, chủ quyền lãnh thổ quốc gia và an ninh, an toàn của xã hội. Công tác bảo vệ ANQG phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, của các cấp, các ngành.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta tiếp tục phát triển quan điểm, khẳng định tư duy và định hướng xa hơn, toàn diện hơn trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANQG. Về tầm nhìn chiến lược, Đảng ta đã hoạch định đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Về tư duy nhận thức, Đảng ta xác định mục tiêu, quan điểm, phương hướng, phạm vi, kế sách, tiềm lực, kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, phát triển lý luận và xây dựng lực lượng nòng cốt bảo vệ ANQG.

Đảng ta đã đặc biệt coi trọng và nhấn mạnh: Bảo vệ an ninh, an toàn là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu của đất nước và trong cuộc sống của người dân. Bổ sung, phát triển toàn diện và sâu sắc hơn nội hàm, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc, gồm cả bảo vệ "ANQG, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh". 

Đây là quan điểm nhân văn, tiến bộ của Đảng, luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Trong tổng thể đường lối phát triển đất nước mà Đại hội XIII của Đảng đề ra, tăng cường an ninh, quốc phòng bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xác định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị; là bộ phận đặc biệt quan trọng trong hệ thống quan điểm, đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng, là "kim chỉ nam" trong thực hiện nhiệm vụ chiến lược bảo vệ ANQG, bảo vệ an ninh Tổ quốc.

An ninh quốc gia là sự nghiệp chung, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng

Bám sát và quán triệt thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả quan điểm của Đảng về ANQG và bảo vệ ANQG, lực lượng Công an nhân dân (CAND) luôn giữ vững nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với công tác công an nói chung, công tác bảo đảm ANQG nói riêng; phối hợp hiệp đồng chặt chẽ với Quân đội nhân dân (QĐND), các cơ quan bảo vệ pháp luật, các bộ, ngành, địa phương; không ngừng đổi mới tư duy, biện pháp công tác và xây dựng lực lượng CAND ngày càng trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đã chủ động tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước nhiều chủ trương, giải pháp cơ bản, có ý nghĩa chiến lược về phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, tăng cường quan hệ đối ngoại. 

Đồng thời, đã chỉ đạo giải quyết kịp thời, xử lý có hiệu quả những vấn đề chiến lược, cấp bách, phức tạp nổi lên trên lĩnh vực an ninh; phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn kịp thời âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; giữ vững thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ, không để xảy ra khủng bố, phá hoại; kiềm chế gia tăng tội phạm, tạo sự chuyển biến tích cực về an ninh, trật tự (ANTT) tại các địa bàn chiến lược được đảm bảo; nền an ninh nhân dân (ANND), thế trận ANND được củng cố, tăng cường; góp phần rất quan trọng giữ vững ổn định chính trị, phục vụ thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và đối ngoại của đất nước.

Thời gian tới, tình hình ANTT tiếp tục đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với công tác bảo vệ an ninh, lợi ích quốc gia, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định, thuận lợi để xây dựng và phát triển đất nước. Trong nước, còn tiềm ẩn những yếu tố phức tạp về ANTT, nhất là tác động tiêu cực của các vấn đề an ninh phi truyền thống, hệ quả của dịch bệnh COVID-19; âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động, các loại tội phạm gia tăng hoạt động, triệt để lợi dụng không gian mạng, vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", "tự do ngôn luận", "tự do báo chí", "tôn giáo, dân tộc" để chống phá Đảng, Nhà nước, xâm phạm ANQG, trật tự, an toàn xã hội… 

Những vấn đề trên nếu không được quan tâm đúng mức sẽ trở thành những nguy cơ lớn đối với an ninh, lợi ích quốc gia trong nhiều năm tiếp theo.

Bối cảnh tình hình trên đòi hỏi tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện có hiệu quả quan điểm của Đảng về ANQG và bảo vệ ANQG, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trước hết phải thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và hệ thống chính trị về bảo vệ ANQG là sự nghiệp chung, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, là cuộc đấu tranh toàn diện nhằm làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các loại tội phạm.

Vì vậy, cần tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó lực lượng CAND làm nòng cốt trong công tác bảo đảm ANQG. Đây là quan điểm, tư tưởng cơ bản, xuyên suốt, là vấn đề có tính nguyên tắc, yếu tố quyết định giữ vững ổn định chính trị, xã hội, bảo đảm lợi ích, an ninh, an toàn của đất nước và Nhân dân trong mọi tình huống.

Đảng ta xác định mục tiêu cao nhất trong bảo vệ ANQG là người dân được thụ hưởng cuộc sống an toàn, hạnh phúc; bảo vệ ANQG không chỉ giới hạn trong phạm vi biên giới hành chính quốc gia. Do đó, cần tiếp tục đổi mới các mặt công tác, chủ động nắm, dự báo tình hình, theo dõi, đánh giá, dự báo những tác động của tình hình chính trị, kinh tế thế giới, khu vực, sự điều chỉnh chiến lược của các quốc gia có liên quan an ninh và lợi ích của Việt Nam để tham mưu với Đảng, Nhà nước có chủ trương, giải pháp phù hợp; phải chủ động xây dựng, triển khai lực lượng, phương tiện, biện pháp, phương án, kế hoạch bảo đảm ANQG từ sớm, từ xa, từ ngoài biên giới quốc gia. "Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa"; "phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố, nguy cơ gây đột biến"; lấy "chủ động phòng ngừa là chính".

Tập trung tham mưu hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về bảo vệ ANQG theo quan điểm "an ninh toàn diện" và "an ninh chủ động". Thể chế hóa và thực hiện có hiệu quả quan điểm của Đảng về "bảo đảm an ninh con người". Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh, nhất là đối với các dự án đầu tư, phát triển kinh tế xã hội; kịp thời phát hiện, ngăn chặn âm mưu, hoạt động tác động thể chế, chính sách pháp luật, can thiệp nội bộ, thông qua kinh tế chuyển hóa chính trị, hỗ trợ, hậu thuẫn hoạt động chống đối ở trong nước của các thế lực thù địch, phản động. Bảo đảm vững chắc an ninh mạng, an ninh quá trình thực thi các cam kết tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, nhất là thực hiện các cam kết về tổ chức đại diện.

Chủ động tham mưu, phát huy cao nhất mối quan hệ, hiệp đồng chặt chẽ với QĐND, các bộ, ngành, địa phương chỉ đạo giải quyết có hiệu quả các vấn đề phức tạp về ANQG; tập trung thực hiện các đề án, giải pháp bảo đảm ANTT tại các vùng theo tinh thần các Nghị quyết đề ra tại Hội nghị Trung ương 6 (Khóa XIII); tập trung xử lý, giải quyết các vụ việc mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân; xây dựng, củng cố vững chắc thế trận ANND, nền ANND gắn kết chặt chẽ với thế trận quốc phòng toàn dân, nền quốc phòng toàn dân trên cơ sở thế trận lòng dân vững chắc.

Đảng ta nhấn mạnh, để bảo vệ ANQG phải "chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về an ninh phù hợp với tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc"; "Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế". Do đó, lực lượng CAND phải nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về bảo vệ ANQG; có đối sách thích ứng với từng đối tượng, từng tình huống cụ thể trên tinh thần "thêm bạn, bớt thù", "vừa hợp tác, vừa đấu tranh" mà Nghị quyết số 28-NQ/TW (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đã chỉ rõ. 

Theo đó, những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh; đấu tranh trên những mặt còn khác biệt và hợp tác trên những mặt có cùng lợi ích. 

Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền để nhân dân trong nước, kiều bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế hiểu rõ, hiểu đúng về đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh của Việt Nam, góp phần phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp, toàn diện, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế.

Xây dựng lực lượng CAND thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại theo Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 16/3/2022 của Bộ Chính trị; tăng cường tiềm lực, trang thiết bị, phương tiện và tiếp tục hoàn thiện, bổ sung lý luận về bảo vệ ANQG. Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn đảng, đẩy mạnh việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và 6 Điều Bác Hồ dạy CAND, nhằm xây dựng lực lượng nòng cốt bảo vệ ANQG là lực lượng tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; có bản lĩnh chính trị vững vàng; đoàn kết, thống nhất; kỷ luật nghiêm minh; mưu trí sáng tạo; khôn khéo, dũng cảm trong đấu tranh với kẻ địch và tội phạm. 

 

XÂY DỰNG THẾ TRẬN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân nhằm nâng cao sức mạnh quốc phòng của đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ chế độ, bảo vệ mọi thành quả cách mạng, bảo vệ sự nghiệp đổi mới; đồng thời ngăn chặn, đẩy lùi âm mưu, thủ đoạn bạo loạn lật đổ, xung đột vũ trang, chiến tranh xâm lược, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế, xã hội của đất nước và sẵn sàng đánh thắng mọi cuộc chiến tranh xâm lược của các thế lực thù địch.Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân là quá trình bao gồm tổng thể các hoạt động của cả hệ thống chính trị và toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước để khơi dậy, quy tụ, phát huy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí, niềm tin, quyết tâm của toàn dân tộc, tạo thành nền tảng chính trị - tinh thần vững chắc, cho phép huy động sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc. Lực lượng tham gia xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân là các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị, gồm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể; nhân dân và lực lượng vũ trang cả nước. Trong đó, Đảng là chủ thể lãnh đạo, Nhà nước là chủ thể quản lý, điều hành.

Trong quá trình đấu tranh cách mạng của dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa được hình thành và phát triển. Đó là sự kế thừa và phát triển các giá trị, bản sắc của Tổ quốc, đất nước, dân tộc và con người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước. Quản lý nhà nước về an ninh trật tự là sự tác động đồng bộ có mục đích của Nhà nước thông qua hoạt động của một hệ thống các cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội được chức năng hoá bằng hệ thống luật pháp trong lĩnh vực này vào tất cả các yếu tố cấu thành nền an ninh trật tự nhằm tạo nên sự ổn định, an toàn cho đất nước trên tất cả các phương diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội... nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và phát triển đất nước xã hội chủ nghĩa.

Tư tưởng về xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, “thế trận lòng dân” là sự kết hợp nhuần nhuyễn của nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về vai trò của quần chúng nhân dân với tư tưởng “trăm họ đều là binh”, “ngụ binh ư nông”, “dân là gốc”,... của dân tộc Việt Nam ta được hình thành và hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Theo Luật Quốc phòng năm 2018, thế trận quốc phòng toàn dân là việc tổ chức, triển khai bố trí lực lượng, tiềm lực quốc phòng trên toàn bộ lãnh thổ theo kế hoạch thống nhất, phù hợp với chiến lược bảo vệ Tổ quốc để ngăn ngừa, đối phó thắng lợi với mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, sẵn sàng chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến.

Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân là một nội dung trọng tâm trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, trực tiếp nâng cao sức mạnh quốc phòng của đất nước đáp ứng yêu cầu cao của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; là vấn đề lớn cần được quan tâm nghiên cứu.

Theo Luật Quốc phòng năm 2018, thế trận quốc phòng toàn dân là việc tổ chức, triển khai bố trí lực lượng, tiềm lực quốc phòng trên toàn bộ lãnh thổ theo kế hoạch thống nhất, phù hợp với chiến lược bảo vệ Tổ quốc để ngăn ngừa, đối phó thắng lợi với mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, sẵn sàng chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến.

Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân là một nội dung trọng tâm trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cả hệ thống chính trị, toàn quân và toàn dân. Nhận thức rõ điều đó, những năm qua, nhiệm vụ quan trọng này đã được Đảng, Nhà nước, các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương, đơn vị tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, tiến hành nghiêm túc, đạt được kết quả tích cực. Cùng với tăng cường xây dựng tiềm lực, thế trận quốc phòng toàn dân được củng cố, xây dựng ngày càng vững chắc, nhất là trên các địa bàn chiến lược, biên giới, biển, đảo và gắn kết chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân, biên phòng toàn dân. Trong đó, việc xây dựng khu vực phòng thủ theo Nghị quyết số 28-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X), Chỉ thị số 07-CT/TW của Ban Bí thư (khóa XI), Nghị định số 152/2007/NĐ-CP và Nghị định số  02/2016/NĐ-CP của Chính phủ đi vào chiều sâu; thế trận quân sự được tăng cường một bước. Thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh, đối ngoại đảm bảo chặt chẽ, hiệu quả, tạo thế và lực mới cho thế trận quốc phòng toàn dân ở từng địa phương, khu vực và trên phạm vi cả nước, hình thành thế trận bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, cả chủ quan và khách quan, việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân còn bộc lộ một số hạn chế nhất định. Việc thể chế hóa chủ trương, nghị quyết của Đảng về xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân còn chậm, có lĩnh vực còn bất cập. Nội dung, biện pháp tiến hành của một số bộ, ngành, địa phương còn chung chung; sự phối hợp thực hiện chưa thống nhất, đồng bộ. Việc kết hợp phát triển kinh tế với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, triển khai bố trí lực lượng, tiềm lực quốc phòng chưa đồng bộ, có lúc, có nơi còn sơ hở, thiếu sót. Nguồn lực đầu tư cho xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, khu vực phòng thủ của một số địa phương còn thấp; “thế trận lòng dân” ở một số địa bàn chưa thực sự vững chắc, v.v.

Hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc diễn ra trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng; các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống gia tăng, ngày càng gay gắt,... đặt ra yêu cầu cao và đứng trước cả cơ hội thuận lợi, khó khăn, thách thức đan xen. Tình hình đó, đòi hỏi cần tăng cường hơn nữa việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân trong tình hình mới. Để khắc phục những hạn chế và thực hiện có hiệu quả chủ trương chiến lược của Đảng về vấn đề này, cần lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về nhiệm vụ xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân. Đây là giải pháp có ý nghĩa quan trọng nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức, hành động, phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, ngành và toàn dân trong thực hiện. Theo đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền làm cho toàn dân, trước hết là cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân. Chú trọng làm rõ sự cần thiết, khách quan, nội dung cơ bản về xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân; những khó khăn, thách thức, yêu cầu mới đặt ra và đẩy mạnh tuyên truyền kết quả, kinh nghiệm trong thực hiện của các địa phương. Để đạt hiệu quả cao, cần vận dụng đa dạng hình thức, biện pháp tuyên truyền; tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng; phát huy hơn nữa hiệu quả của các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội; chú trọng địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, v.v. Quá trình thực hiện, gắn kết chặt chẽ giữa xây và chống; phát hiện, đấu tranh với tư tưởng, nhận thức lệch lạc, biểu hiện hình thức, trông chờ ỷ lại.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân. Đây là nguyên tắc, vấn đề quan trọng hàng đầu, đảm bảo cho việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân tiến hành đúng hướng, đạt mục tiêu đề ra. Thực hiện nội dung này, các cấp, ngành, địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tiếp tục quán triệt, cụ thể hóa chủ trương chiến lược của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ bằng nghị quyết, chương trình hành động, kế hoạch, đề án với lộ trình, biện pháp đồng bộ, khả thi. Nâng cao năng lực hoạch định đường lối, thể chế hóa và tổ chức thực hiện chủ trương, nghị quyết về quốc phòng của các cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở. Bổ sung, hoàn thiện chức năng, mối quan hệ công tác, tăng cường vai trò lãnh đạo của Quân ủy Trung ương trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng; hoàn thiện và vận hành tốt cơ chế phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo giữa đảng ủy, bộ tư lệnh các quân khu với các tỉnh (thành) ủy, ủy ban nhân dân tỉnh (thành phố) trên địa bàn trong lĩnh vực quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân. Tiếp tục đổi mới phương thức, cơ chế, kiện toàn cơ cấu, nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của đảng ủy quân sự địa phương trong xây dựng và hoạt động của khu vực phòng thủ.

Cùng với đó, tiến hành rà soát, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách liên quan đến xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân; quy chế phối hợp giữa Bộ Quốc phòng với các ban, bộ, ngành trong quản lý nhà nước về quốc phòng. Quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của người đứng đầu ở các cấp, ngành, địa phương trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, phù hợp với sự phát triển của thực tiễn.

Ba là, triển khai đồng bộ các biện pháp xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc, gắn kết chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân. Nội hàm của thế trận quốc phòng toàn dân rất rộng, nhưng cốt lõi là “thế trận lòng dân”, đặc trưng là thế trận khu vực phòng thủ cấp tỉnh, huyện, thế trận phòng thủ quân khu. Để đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, yêu cầu xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân phải vững chắc ở tất cả các cấp, các địa bàn, cả trong nội địa, biên giới, biển, đảo và trên các môi trường (bộ, không, biển, không gian mạng), sẵn sàng đáp ứng nhiệm vụ quốc phòng thời bình và chuyển hóa thành thế trận chiến tranh nhân dân khi đất nước có chiến tranh. Từ kinh nghiệm, kết quả đạt được và yêu cầu đặt ra, thời gian tới, cùng với xây dựng “thế trận lòng dân” vững mạnh, cần rà soát, làm tốt việc phân vùng chiến lược về quốc phòng, an ninh, quy hoạch khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất gắn với quy hoạch tổng thể bố trí quốc phòng, quy hoạch thế trận quân sự các khu vực phòng thủ. Đẩy mạnh kết hợp phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh, nhất là điều chỉnh bố trí lại dân cư, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng lưỡng dụng, hiện đại, đồng bộ, nhất là trên các địa bàn trọng điểm, chiến lược, biên giới, biển, đảo. Trung ương và các địa phương tiếp tục huy động nguồn lực cho xây dựng khu vực phòng thủ, nhất là xây dựng thế trận quân sự; ưu tiên xây dựng các công trình phòng thủ thiết yếu (căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương, căn cứ hậu cần, kỹ thuật,...) gắn với phòng thủ dân sự; quản lý chặt chẽ các công trình quốc phòng, địa hình có giá trị,... tạo lập thế trận rộng khắp, liên hoàn, vững chắc giữa các khu vực và trên từng hướng chiến lược. Cùng với đó, đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; điều chỉnh bố trí lực lượng quốc phòng, lực lượng an ninh hình thành thế chiến lược mới đảm bảo sẵn sàng xử lý thắng lợi các tình huống quốc phòng, an ninh, không để bị động, bất ngờ.

 

Phòng, chống những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 

Dưới góc độ thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, Hồ Chí Minh đã phân tích, luận giải khá đầy đủ về suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên. Đó là trong mỗi con người xuất hiện và tồn tại các mặt đối lập - mặt tích cực và mặt tiêu cực. Trong những điều kiện nhất định mặt tiêu cực phát triển và chiếm ưu thế và trở nên thắng thế so với mặt tích cực. Quá trình đấu tranh giữa mặt tích cực và mặt tiêu cực diễn ra từ từ, chậm chạp bên trong mỗi con người qua những giai đoạn từ thấp đến cao, từ tư tưởng đến hành động. Quá trình đó cũng giống như quá trình xuất hiện của những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Để công tác phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên hiệu quả, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân, góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước; đấu tranh làm thất bại “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch cần nghiên cứu nhận diện biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, tìm ra nguyên nhân là hết sức quan trọng. Đồng thời, thực hiện đồng bộ, có hiệu quả những giải pháp chủ yếu phòng chống "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tình hình mới. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóа”lần đầu tiên được chính thức đề cập trоng Văn kiện Đại hội XI củа Đảng. Cho đến nay, trong lý luận và thực tiễn có nhiều quаn điểm khác nhau về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóа”. Đа số quаn điểm chо rằng,“tự diễn biến”là sự thаy đổi bên trоng nội bộ tа, là hiện tượng một bộ phận cán bộ, đảng viênsuy thоái, biến chất, thаm nhũng, tiêu cực. đây là thời điểm đã có sự chuyển hóа, thаy đổi về bản chất. Do vậy phát hiện và ngăn chặn kịp thời “tự diễn biến”, “tự chuyển hóа” là một đòi hỏi tất yếu.

Sự thờ ơ về chính trị, vô cảm trước vận mệnh củа Đảng và dân tộc. Những cán bộ, đảng viên có biểu hiện này này chỉ lо vun vén chо lợi ích cá nhân, né tránh trách nhiệm, không dám đấu trаnh với những quаn điểm, hành động sаi trái; không chịu học tập, nâng cао nhận thức về chủ nghĩа Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quаn điểm đường lối củа Đảng, chính sách, pháp luật củа Nhà nước; bề ngоài vẫn tin tưởng nhưng bên trоng thì không tin vàо sự lãnh đạо củа Đảng, sự điều hành củа Chính phủ, luôn tỏ thái độ chê bаi người khác, không thấy trách nhiệm củа mình, chо mình “vô cаn” trước những yếu kém củа cơ quаn, tổ chức nơi mình công tác.

Hоạt động móc nối của những đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị với các thế lực thù địch, tổ chức phản động người Việt Nаm lưu vоng để tiến hành các hoạt động chống Đảng, nhà nước Việt Nam và nhân dân Việt Nam. Số đối tượng này ngоài việc công khаi thể hiện quаn điểm chống Đảng, Nhà nước, còn tiến hành các hoạt động khác như: viết bài, cung cấp tài liệu về tình hình trоng nước chо các thế lực chống Việt Nаm. Thậm chí, một số đối tượng đã thаm giа các tổ chức phản động người Việt ở nước ngоài. Giải pháp chủ yếu phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hiện nay

Một là, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch vững mạnh. Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh sẽ tạo môi trường chính trị thuần khiết, để tu dưỡng rèn luyện đảng viên, chống lại các tác động tiêu cực từ bên ngoài, ngăn ngừa suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ngăn chặn và đẩy lùi những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ đảng và trong từng cán bộ đảng viên. Theo đó, Văn kiện Đại hội XII xác định: “Chú trọng xây dựng Đảng về chính trị”(15), tập trung thực hiện mục tiêu: Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng văn hóa chính trị, văn hóa cầm quyền trong Đảng, xây dựng văn hóa lãnh đạo, cầm quyền và nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng. Bên cạnh đó cần thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ; xây dựng và thực hiện văn hóa tự phê bình và phê bình trong tình hình mới.

Hai là, đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, coi trọng công tác bảo vệ nội bộ. Làm tốt công tác này chính là xây dựng được thể chế để phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã đề cập việc đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, góp phần thiết thực phòng, chống những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, quản lý, đội ngũ cán bộ chủ chốt, cán bộ chiến lược. Vì đây là đội ngũ cán bộ đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị.  Họ có vai trò quan trọng đặc biệt. Bởi lẽ, người đứng đầu chịu trách nhiệm cao nhất trong lãnh đạo, quản lý đơn vị mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho; là người chịu trách nhiệm cao nhất trước cấp trên việc lãnh đạo, quản lý, xây dựng cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh, giáo dục và rèn luyện cán bộ, nhân viên thuộc quyền. Theo đó, cần “tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”(16). Đối với công tác bảo vệ nội bộ phải gắn với công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng, đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện cục bộ, bè phái,  “lợi ích nhóm”, xử lý nghiêm các cán bộ, đảng viên vi phạm các quy định của Đảng, đấu tranh có hiệu quả với âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Ba là, đổi mới công tác tư tưởng, lý luận. Công tác tư tưởng, lý luận có vai trò quan trọng hàng đầu trong việc đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân. Đấu tranh làm thất bại các âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch; đấu tranh vạch trần các hành vi tha hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên, định hướng tư tưởng, tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên. Theo đó, Đảng ta xác định vai trò của công tác tư tưởng lý luận đối với việc phòng, chống tự diễn biến, tự chuyển hóa: “Đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống; ngăn chặn đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

 

KHÔNG THỂ TÁCH RỜI KINH TẾ VỚI QUỐC PHÒNG TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Kết hợp kinh tế với quốc phòng-an ninh (QP-AN) là vấn đề trọng yếu đối với tất cả các quốc gia nói chung, Việt Nam nói riêng. Kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh là một tất yếu khách quan, một nội dung quan trọng trong đường lối phát triển đất nước của Đảng ta, nhằm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thực tế phát triển nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) cho thấy không phải mọi lúc, mọi nơi, sự kết hợp này được bảo đảm. Vì vậy, cần xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách cũng như tổ chức thực hiện nhằm kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước.

Phát triển kinh tế xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng an ninh phải toàn diện, cơ bản, lâu dài ngay từ trong chiến lược, quy hoạch kế hoạch phát triển kinh tế xã hội với tăng cường quốc phòng an ninh trên phạm vi cả nước, từng vùng, từng ngành và ở từng địa phương. Phát triển kinh tế xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng an ninh phải tập trung có trọng điểm, quan tâm đầu tư vào những vùng, địa bàn chiến lược trọng yếu, biên giới, hải đảo, những ngành, những lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội quan trọng.

Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý giữa các vùng, miền trong cả nước; sẵn sàng động viên nền kinh tế, động viên công nghiệp khi chuyển địa phương từ thời bình sang thời chiến. Bảo đảm an ninh trong công nghiệp, nông nghiệp (an ninh lương thực), chú trọng dự trữ quốc gia. Gắn việc nâng cao năng lực, hiệu quả đánh bắt thủy hải sản xa bờ, hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí, vận tải biển và phát triển hải đảo với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của tổ quốc. Phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ, y tế với việc thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh; tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật, bảo đảm cho các lực lượng vũ trang từng bước được trang bị hiện đại.

Gắn kết ngay từ khâu lực chọn đối tác trong các dự án đầu tư nước ngoài, những đối tác đầu tư vào nước ta phải có ưu thế chế ngự, cạnh tranh với các thế lực mạnh bên ngoài, làm cho các thế lực thù địch muốn chống phá ta cũng khó khăn. Lựa chọn, phân bố đầu tư vào các vùng, ngành phải chú ý lợi ích cả trước mắt và lâu dài, không ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc.

Phải phối hợp chặt chẽ và toàn diện hoạt động giữa các ngành khoa học với các ngành khoa học của quốc phòng, an ninh trong việc hoạch định chiến lược nghiên cứu phát triển và quản lý sử dụng phục vụ cho cả xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Coi trọng giáo dục bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài của đất nước, đáp ứng cả sự nghiệp xây dựng phát triển kinh tế xã hội, cả quốc phòng, an ninh. Thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục quốc phòng, an ninh cho các đối tượng, đặc biệt là trong các nhà trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.

Quan điểm của Đảng về kết hợp kinh tế với quốc phòng

Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh là quan điểm xuyên suốt, chủ trương nhất quán của Đảng, được bổ sung, phát triển phù hợp với điều kiện thực tế qua các kỳ đại hội. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại”2. Thực hiện chủ trương mỗi bước phát triển kinh tế - xã hội là một bước tăng cường quốc phòng, an ninh, những năm qua, việc kết hợp kinh tế với quốc phòng trên phạm vi cả nước đã được thực hiện ngày càng toàn diện, chặt chẽ, đồng bộ, trách nhiệm và hiệu quả hơn. Điều đó được thể hiện ngay từ khâu xây dựng chiến lược, quy hoạch vùng, lãnh thổ, các ngành, lĩnh vực; các kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn; trong từng công trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,... đều gắn với quy hoạch tổng thể xây dựng thế trận quân sự trong khu vực phòng thủ. Các địa phương, nhất là ở địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo đã coi trọng quy hoạch phân bố dân cư, phát triển lực lượng dân phòng cùng các tổ, đội liên kết của ngư dân,... bảo đảm mục tiêu vừa phát triển kinh tế - xã hội, vừa tăng cường quốc phòng, an ninh bảo vệ vững chắc địa bàn biên giới, biển, đảo. Các đơn vị Quân đội vừa bảo đảm huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, vừa tham gia phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn đóng quân, v.v. Các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng, bên cạnh việc sản xuất sản phẩm phục vụ nhu cầu quốc phòng còn tận dụng tiềm năng, thế mạnh tham gia sản xuất các mặt hàng phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội. Điển hình như những doanh nghiệp trong lĩnh vực đóng và sửa chữa tàu, cơ khí, hóa chất, điện - điện tử, quang học với nhiều sản phẩm uy tín, có thương hiệu và hội nhập sâu rộng vào thị trường trong nước, khu vực và thế giới. Tổng Công ty Sông Thu, Công ty đóng tàu Hồng Hà, Nhà máy Z189 đã đóng được nhiều loại tàu, xuồng hiện đại phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu sang thị trường châu Âu, châu Mỹ. Nhiều nhà máy đã bứt phá mạnh mẽ với các sản phẩm quốc phòng mũi nhọn và sản phẩm phục vụ nhu cầu thị trường. Trong đó, Nhà máy Z176 đã và đang là “lá cờ đầu” trong việc sản xuất sản phẩm kinh tế xuất khẩu (hiện xuất khẩu chiếm hơn 80% tổng doanh thu), v.v. Những kết quả từ sự kết hợp đó đã góp phần trực tiếp tăng cường sức mạnh quốc phòng của đất nước; đồng thời, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế đất nước nhanh, bền vững.

Trong lĩnh vực y tế: Phối hợp, kết hợp chặt chẽ giữa ngành y tế dân sự với y tế quân sự trong nghiên cứu, ứng dụng, trong đào tạo nguồn nhân lực. Xây dựng kế hoạch động viên y tế dân sự cho quân sự khi có chiến tranh, dịch bệnh xảy ra. Phát huy vai trò của y tế quân sự trong phòng chống, khám chữa bệnh cho nhân dân thời bình và thời chiến. Sự phát triển KTTT cũng có những tác động tiêu cực đến tiềm lực quốc phòng, an ninh đất nước, cụ thể:

Một là, phát triển KTTT dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội. Đây là một tất yếu do có sự hoạt động và phát huy tác dụng của các quy luật kinh tế khách quan. Sự phân hóa giàu nghèo làm phát sinh những biểu hiện tiêu cực, bất mãn - cơ hội, điều kiện để các thế lực thù địch, tội phạm có thể lợi dụng để dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc, kích động người dân gây tình huống phức tạp về an ninh, trật tự xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm ảnh hưởng xấu tới việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân.

Hai là, phát triển KTTT tác động đến tư tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang. Kinh tế thị trường tạo điều kiện cho mọi cá nhân trong xã hội làm giàu hợp pháp và đang có nhiều người, bằng tài năng, sức lực và nguồn lực của mình trở nên giàu có. Nhưng cũng có không ít cá nhân làm giàu bất chính và một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức lợi dụng vị trí công tác có hành vi tham nhũng, nhận hối lộ, có nhiều tài sản bất hợp pháp. Điều này tác động đến nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm, tâm lý, đạo đức của mỗi con người trong đó có cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang, đặc biệt là đối với những người có hoàn cảnh gia đình khó khăn.

Ba là, đầu tư và thương mại quốc tế bên cạnh những kết quả tích cực mang lại cho nền kinh tế cũng có những tác động tiêu cực tới lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Thông qua con đường hợp tác đầu tư, thương mại, các thế lực thù địch, phản động có thể lợi dụng để thâm nhập vào trong nước, móc nối với các nhân vật bất mãn, phản động, tổ chức các hoạt động chống phá. Cũng thông qua hoạt động đầu tư, thương mại, các thế lực thù địch tìm cách mua chuộc, khống chế cán bộ, công chức trong các cơ quan trọng yếu của Đảng và Nhà nước để cung cấp cho chúng các thông tin liên quan đến quốc phòng, an ninh, phục vụ âm mưu phá hoại, lật đổ. Thông qua đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo, văn hóa, nghệ thuật... để truyền bá tư tưởng, văn hóa độc hại, thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình.

          Bốn là. nâng cao nhận thức cho cán bộ các cấp, các ngành về mối quan hệ giữa kinh tế với QP-AN. Trong Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng đã xác định: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với QP-AN, QP-AN với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển KT-XH”1. Đây là quan điểm thể hiện sự phát triển nhận thức của Đảng ta về quy luật: dựng nước đi đôi với giữ nước; đồng thời, cũng khẳng định: kết hợp kinh tế với QP-AN là sự nghiệp, nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, sự kết hợp đó phải được quán triệt, thống nhất nhận thức và triển khai thực hiện đồng bộ, có hiệu quả ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực từ Trung ương đến địa phương, cơ sở. Trong điều kiện mới, cần thường xuyên quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết và các quan điểm của Đảng về kết hợp chặt chẽ phát triển KT-XH với tăng cường QP-AN trong từng ngành, lĩnh vực, từng địa bàn và cả nước.

 

 

BƯỚC PHÁT TRIỂN MỚI TRONG TƯ DUY CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG VỀ NHIỆM VỤ BẢO VỆ TỔ QUỐC



“CÓ ANH HÙNG LÀ VÌ CÓ TẬP THỂ ANH HÙNG. CÓ TẬP THỂ ANH HÙNG LÀ VÌ CÓ NHÂN DÂN ANH HÙNG, DÂN TỘC ANH HÙNG, ĐẢNG ANH HÙNG”

  Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bài Phát biểu tại buổi tiếp đại biểu các đơn vị anh hùng và chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước ngày 2-1-1967: “…Có anh hùng là vì có tập thể anh hùng. Có tập thể anh hùng là vì có nhân dân anh hùng, dân tộc anh hùng, Đảng anh hùng”, đăng trên Báo Nhân dân, số 4660, ngày 10-1-1967, trong bối cảnh nhân dân trên hai miền Nam, Bắc phát huy tinh thần yêu nước, không sợ hy sinh, gian khổ, đang gắng sức thi đua xây dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

Trong lời phát biểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi nhận, tôn vinh những cá nhân, tập thể đã cống hiến, hy sinh xương máu vì sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong suốt mấy chục năm; động viên, huấn thị mọi người, mọi tập thể hãy cố gắng hơn nữa, thi đua sản xuất, công tác và chiến đấu, lập nhiều thành tích to lớn, góp phần cùng toàn dân đánh thắng giặc Mỹ xâm lược bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước.
Lời phát biểu năm ấy của Hồ Chí Minh đã lan tỏa tới quốc dân đồng bào, thâm nhập sâu vào quân đội, trở thành động lực thúc đẩy mọi cán bộ, chiến sĩ hăng hái thi đua học tập, công tác, huấn luyện, chiến đấu, lập nên nhiều chiến công lớn trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Đến hôm nay, lời phát biểu năm xưa của Người vẫn tỏa hào khí mạnh liệt, đang được mọi cán bộ, chiến sĩ toàn quân khắc ghi, đoàn kết thi đua, nỗ lực thực hiện thắng lợi Cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ"; xây dựng và nhân rộng nhiều tập thể, cá nhân Anh hùng lao động, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới và tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến; quan tâm tạo điều kiện để các tập thể, cá nhân anh hùng, điển hình tiên tiến tiếp tục phát huy thành tích cao hơn nữa; phát động, khuyến khích, cổ vũ động viên cán bộ, chiến sĩ toàn quân tích cực học tập, làm theo, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
St