Xây dựng
nền quốc phòng toàn dân nhằm nâng cao sức mạnh quốc phòng của đất nước, bảo vệ
vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc
gia, bảo vệ chế độ, bảo vệ mọi thành quả cách mạng, bảo vệ sự nghiệp đổi mới;
đồng thời ngăn chặn, đẩy lùi âm mưu, thủ đoạn bạo loạn lật đổ, xung đột vũ
trang, chiến tranh xâm lược, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát
triển kinh tế, xã hội của đất nước và sẵn sàng đánh thắng mọi cuộc chiến tranh
xâm lược của các thế lực thù địch.Xây
dựng thế trận quốc phòng toàn dân là quá trình bao gồm tổng
thể các hoạt động của cả hệ thống chính trị và toàn dân dưới sự lãnh đạo của
Đảng, sự quản lý của Nhà nước để khơi dậy, quy tụ, phát huy lòng yêu nước, tinh
thần đoàn kết, ý chí, niềm tin, quyết tâm của toàn dân tộc, tạo thành nền tảng
chính trị - tinh thần vững chắc, cho phép huy động sức mạnh tổng hợp của cả dân
tộc. Lực lượng tham gia xây dựng thế trận quốc phòng toàn
dân là các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính
trị, gồm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể; nhân dân và lực lượng vũ
trang cả nước. Trong đó, Đảng là chủ
thể lãnh đạo, Nhà nước là chủ thể quản lý, điều hành.
Trong quá trình đấu tranh cách mạng của dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa được hình thành và
phát triển. Đó là sự kế thừa và phát triển các giá trị, bản sắc của Tổ quốc,
đất nước, dân tộc và con người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn
năm dựng nước và giữ nước. Quản lý nhà
nước về an ninh trật tự là sự tác động đồng bộ
có mục đích của Nhà nước thông qua hoạt động của một hệ thống các cơ quan Nhà
nước và tổ chức xã hội được chức năng hoá bằng hệ thống luật pháp trong lĩnh
vực này vào tất cả các yếu tố cấu thành nền an ninh trật tự nhằm tạo nên sự ổn
định, an toàn cho đất nước trên tất cả các phương diện chính trị, kinh tế, văn
hoá, xã hội... nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu bảo vệ Tổ quốc, xây dựng
và phát triển đất nước xã hội chủ nghĩa.
Tư tưởng về xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, “thế
trận lòng dân” là sự kết hợp nhuần nhuyễn của nguyên lý của chủ nghĩa Mác -
Lê-nin về vai trò của quần chúng nhân dân với tư tưởng “trăm họ đều là binh”,
“ngụ binh ư nông”, “dân là gốc”,... của dân tộc Việt Nam ta được hình thành và
hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Theo Luật Quốc phòng năm 2018, thế
trận quốc phòng toàn dân là việc tổ chức, triển khai bố trí lực lượng, tiềm lực
quốc phòng trên toàn bộ lãnh thổ theo kế hoạch thống nhất, phù hợp với chiến
lược bảo vệ Tổ quốc để ngăn ngừa, đối phó thắng lợi với mọi âm mưu và hoạt động
chống phá của các thế lực thù địch, sẵn sàng chuyển đất nước từ thời bình sang
thời chiến.
Xây dựng thế trận quốc
phòng toàn dân là một nội dung trọng tâm trong xây dựng nền quốc phòng toàn
dân, trực tiếp nâng cao sức mạnh quốc phòng của đất nước đáp ứng yêu cầu cao
của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; là vấn đề lớn cần được quan tâm
nghiên cứu.
Theo Luật Quốc phòng năm 2018,
thế trận quốc phòng toàn dân là việc tổ chức, triển khai bố trí lực lượng, tiềm
lực quốc phòng trên toàn bộ lãnh thổ theo kế hoạch thống nhất, phù hợp với
chiến lược bảo vệ Tổ quốc để ngăn ngừa, đối phó thắng lợi với mọi âm mưu và
hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, sẵn sàng chuyển đất nước từ thời
bình sang thời chiến.
Xây dựng thế trận quốc phòng
toàn dân là một nội dung trọng tâm trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân,
nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cả hệ thống chính trị, toàn quân và toàn
dân. Nhận thức rõ điều đó, những năm qua, nhiệm vụ quan trọng này đã được Đảng,
Nhà nước, các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương, đơn vị tập trung lãnh đạo,
chỉ đạo chặt chẽ, tiến hành nghiêm túc, đạt được kết quả tích cực. Cùng với
tăng cường xây dựng tiềm lực, thế trận quốc phòng toàn dân được củng cố, xây
dựng ngày càng vững chắc, nhất là trên các địa bàn chiến lược, biên giới, biển,
đảo và gắn kết chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân, biên phòng toàn dân.
Trong đó, việc xây dựng khu vực phòng thủ theo Nghị quyết số 28-NQ/TW của Bộ
Chính trị (khóa X), Chỉ thị số 07-CT/TW của Ban Bí thư (khóa XI), Nghị định số
152/2007/NĐ-CP và Nghị định số 02/2016/NĐ-CP của Chính phủ đi vào chiều
sâu; thế trận quân sự được tăng cường một bước. Thực hiện kết hợp phát triển
kinh tế với quốc phòng, an ninh, đối ngoại đảm bảo chặt chẽ, hiệu quả, tạo thế
và lực mới cho thế trận quốc phòng toàn dân ở từng địa phương, khu vực và trên
phạm vi cả nước, hình thành thế trận bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên
nhân, cả chủ quan và khách quan, việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân còn
bộc lộ một số hạn chế nhất định. Việc thể chế hóa chủ trương, nghị quyết của
Đảng về xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân còn chậm, có lĩnh vực còn bất
cập. Nội dung, biện pháp tiến hành của một số bộ, ngành, địa phương còn chung
chung; sự phối hợp thực hiện chưa thống nhất, đồng bộ. Việc kết hợp phát triển
kinh tế với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, triển khai bố trí lực
lượng, tiềm lực quốc phòng chưa đồng bộ, có lúc, có nơi còn sơ hở, thiếu sót.
Nguồn lực đầu tư cho xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, khu vực phòng thủ
của một số địa phương còn thấp; “thế trận lòng dân” ở một số địa bàn chưa thực
sự vững chắc, v.v.
Hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ
quốc diễn ra trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng; các thách thức an ninh
truyền thống và phi truyền thống gia tăng, ngày càng gay gắt,... đặt ra yêu cầu
cao và đứng trước cả cơ hội thuận lợi, khó khăn, thách thức đan xen. Tình hình
đó, đòi hỏi cần tăng cường hơn nữa việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế
trận quốc phòng toàn dân trong tình hình mới. Để khắc phục những hạn chế và
thực hiện có hiệu quả chủ trương chiến lược của Đảng về vấn đề này, cần lãnh
đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:
Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về nhiệm vụ xây
dựng thế trận quốc phòng toàn dân. Đây là giải pháp
có ý nghĩa quan trọng nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức, hành động, phát huy
sức mạnh tổng hợp của các cấp, ngành và toàn dân trong thực hiện. Theo đó, cần
đẩy mạnh công tác tuyên truyền làm cho toàn dân, trước hết là cấp ủy, chính
quyền, cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng về
xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân. Chú trọng làm
rõ sự cần thiết, khách quan, nội dung cơ bản về xây dựng thế trận quốc phòng
toàn dân; những khó khăn, thách thức, yêu cầu mới đặt ra và đẩy mạnh tuyên
truyền kết quả, kinh nghiệm trong thực hiện của các địa phương. Để đạt hiệu quả
cao, cần vận dụng đa dạng hình thức, biện pháp tuyên truyền; tiếp tục đổi mới,
nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức quốc phòng
và an ninh cho các đối tượng; phát huy hơn nữa hiệu quả của các phương tiện
thông tin đại chúng, mạng xã hội; chú trọng địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng
xa, biên giới, hải đảo, v.v. Quá trình thực hiện, gắn kết chặt chẽ giữa xây và
chống; phát hiện, đấu tranh với tư tưởng, nhận thức lệch lạc, biểu hiện hình
thức, trông chờ ỷ lại.
Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu
quả quản lý của Nhà nước đối với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân. Đây
là nguyên tắc, vấn đề quan trọng hàng đầu, đảm bảo cho việc xây dựng thế trận
quốc phòng toàn dân tiến hành đúng hướng, đạt mục tiêu đề ra. Thực hiện nội
dung này, các cấp, ngành, địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng,
chỉnh đốn Đảng; tiếp tục quán triệt, cụ thể hóa chủ trương chiến lược của Đảng
về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế
trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ bằng nghị quyết, chương trình
hành động, kế hoạch, đề án với lộ trình, biện pháp đồng bộ, khả thi. Nâng cao
năng lực hoạch định đường lối, thể chế hóa và tổ chức thực hiện chủ trương,
nghị quyết về quốc phòng của các cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở. Bổ sung,
hoàn thiện chức năng, mối quan hệ công tác, tăng cường vai trò lãnh đạo của
Quân ủy Trung ương trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng; hoàn thiện và vận hành
tốt cơ chế phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo giữa đảng ủy, bộ tư lệnh các quân khu với
các tỉnh (thành) ủy, ủy ban nhân dân tỉnh (thành phố) trên địa bàn trong lĩnh vực
quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân. Tiếp tục đổi mới phương
thức, cơ chế, kiện toàn cơ cấu, nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của đảng ủy
quân sự địa phương trong xây dựng và hoạt động của khu vực phòng thủ.
Cùng với đó, tiến hành rà
soát, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách liên quan đến
xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân; quy chế phối hợp giữa Bộ Quốc phòng với
các ban, bộ, ngành trong quản lý nhà nước về quốc phòng. Quy định rõ trách
nhiệm, quyền hạn của người đứng đầu ở các cấp, ngành, địa phương trong thực
hiện nhiệm vụ quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng
toàn dân, phù hợp với sự phát triển của thực tiễn.
Ba là, triển khai đồng bộ các biện pháp xây dựng thế trận quốc
phòng toàn dân vững chắc, gắn kết chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân. Nội hàm của thế trận quốc phòng toàn dân rất rộng, nhưng cốt
lõi là “thế trận lòng dân”, đặc trưng là thế trận khu vực phòng thủ cấp tỉnh,
huyện, thế trận phòng thủ quân khu. Để đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong
tình hình mới, yêu cầu xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân phải vững chắc ở
tất cả các cấp, các địa bàn, cả trong nội địa, biên giới, biển, đảo và trên các
môi trường (bộ, không, biển, không gian mạng), sẵn sàng đáp ứng nhiệm vụ quốc
phòng thời bình và chuyển hóa thành thế trận chiến tranh nhân dân khi đất nước
có chiến tranh. Từ kinh nghiệm, kết quả đạt được và yêu cầu đặt ra, thời gian
tới, cùng với xây dựng “thế trận lòng dân” vững mạnh, cần rà soát, làm tốt việc
phân vùng chiến lược về quốc phòng, an ninh, quy hoạch khu kinh tế, khu công nghiệp,
khu chế xuất gắn với quy hoạch tổng thể bố trí quốc phòng, quy hoạch thế trận
quân sự các khu vực phòng thủ. Đẩy mạnh kết hợp phát triển kinh tế với củng cố
quốc phòng, an ninh, nhất là điều chỉnh bố trí lại dân cư, đầu tư phát triển cơ
sở hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng lưỡng dụng, hiện đại, đồng bộ, nhất là
trên các địa bàn trọng điểm, chiến lược, biên giới, biển, đảo. Trung ương và
các địa phương tiếp tục huy động nguồn lực cho xây dựng khu vực phòng thủ, nhất
là xây dựng thế trận quân sự; ưu tiên xây dựng các công trình phòng thủ thiết
yếu (căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương, căn cứ hậu cần, kỹ thuật,...) gắn với
phòng thủ dân sự; quản lý chặt chẽ các công trình quốc phòng, địa hình có giá
trị,... tạo lập thế trận rộng khắp, liên hoàn, vững chắc giữa các khu vực và
trên từng hướng chiến lược. Cùng với đó, đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang
nhân dân; điều chỉnh bố trí lực lượng quốc phòng, lực lượng an ninh hình thành
thế chiến lược mới đảm bảo sẵn sàng xử lý thắng lợi các tình huống quốc phòng,
an ninh, không để bị động, bất ngờ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét