Thứ Năm, 18 tháng 1, 2024

Hoàn thành một trong những nhiệm vụ lập pháp quan trọng hàng đầu


Cụ thể, thứ nhất, Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai (sửa đổi), hoàn thành một trong những nhiệm vụ lập pháp quan trọng hàng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV theo đúng Hiến pháp năm 2013, đúng chủ trương, đường lối của Đảng, mà trực tiếp là Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

Việc thông qua Luật Đất đai (sửa đổi) tại Kỳ họp này, cùng với Luật Nhà ở (sửa đổi), Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) tại Kỳ họp thứ 6 vừa qua và có hiệu lực đồng thời từ 1/1/2025 đã đáp ứng yêu cầu hoàn thiện đồng bộ chính sách, pháp luật về quản lý và sử dụng đất phù hợp với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, để nguồn lực đất đai được quản lý, khai thác, sử dụng tiết kiệm, bền vững, hiệu quả cao nhất; đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, công bằng và ổn định xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao.

Đây là thành quả của quá trình phối hợp chặt chẽ, chuẩn bị thận trọng, kỹ lưỡng, khoa học, từ sớm, từ xa, với nỗ lực và quyết tâm rất cao của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, các cơ quan, tổ chức hữu quan; huy động mọi nguồn lực với tinh thần thực sự cầu thị, lắng nghe, dân chủ; tranh thủ tối đa trí tuệ, đóng góp của các chuyên gia, các nhà khoa học, cộng đồng doanh nghiệp, cử tri và Nhân dân cả nước; là bài học kinh nghiệm quý về đổi mới tư duy, phương pháp làm việc, quyết liệt hành động để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác lập pháp cũng như các quyết sách khác của Quốc hội.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đề nghị Chính phủ bố trí nguồn lực, chuẩn bị ngay các điều kiện bảo đảm, ban hành và triển khai kế hoạch cụ thể để nhanh chóng đưa Luật vào cuộc sống. Khẩn trương xây dựng, ban hành theo thẩm quyền và chỉ đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ ban hành các văn bản quy định chi tiết; hướng dẫn việc chuyển tiếp đúng quy định, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp; tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về đất đai, hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu số và hệ thống thông tin quốc gia về đất đai tập trung, thống nhất, đa mục tiêu và kết nối liên thông; kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về đất đai bảo đảm tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; loại bỏ khâu trung gian, thực hiện phân cấp, phân quyền theo quy định của Luật, đồng thời tăng cường kiểm tra, thanh tra và kiểm soát quyền lực; giải quyết hiệu quả trên thực tế những tồn tại, vướng mắc có liên quan đến quản lý và sử dụng đất, thị trường quyền sử dụng đất và thị trường bất động sản nói chung.

 

 

Hàng trăm nội dung mới trong Luật Đất đai (sửa đổi) vừa được thông qua

Thông tin thêm về Luật Đất đai (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Phan Đức Hiếu cho biết, khi trình dự thảo Luật thì Chính phủ cũng trình dự thảo Nghị định ban hành kèm theo. Thống kê sơ bộ có khoảng 65 điều khoản giao Chính phủ quy định chi tiết, do đó, Chính phủ sẽ ban hành các Nghị định để hướng dẫn thi hành 65 điều khoản này. Ông Phan Đức Hiếu đề nghị Chính phủ cần sớm có kế hoạch triển khai thi hành Luật, trong đó, xác định việc soạn thảo, ban hành sớm các Nghị định hướng dẫn thi hành, bảo đảm Luật sớm đi vào cuộc sống.

“Nếu liệt kê chi tiết sẽ có hàng trăm nội dung mới trong Luật Đất đai (sửa đổi). Cá nhân tôi cho rằng có 5 nhóm vấn đề mới: Các quy định nhằm bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của người sử dụng đất; các quy định tiếp cận đất đai của người dân và doanh nghiệp; các quy định nâng cao hiệu quả sử dụng đất; các quy định về tài chính đất đai và các quy định nâng cao hiệu quả hiệu lực quản lý nhà nước về sử dụng đất đai”, ông Phan Đức Hiếu nói.

Về ảnh hưởng của Luật Đất đai (sửa đổi) đối với phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) đang được quy định trong dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi), Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho rằng, đây là điểm mới trong nhóm các quy định về tiếp cận đất đai để phục vụ phát triển hạ tầng kỹ thuật kinh tế - xã hội.

“Từ kinh nghiệm về tái định cư dự án đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô, thành phố Hà Nội đã có kiến nghị trong sửa đổi Luật Đất đai cần quy định dành quỹ đất thuận lợi cho tái định cư các dự án thu hồi đất phục vụ cho các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của địa phương. Từ đó, trong Luật Đất đai (sửa đổi) đã có một số chế định nhằm luật hóa các kiến nghị này.

 

Hoàn thành một trong những nhiệm vụ lập pháp quan trọng hàng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV

Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Bùi Văn Cường khẳng định, sau 3,5 ngày làm việc, Kỳ họp bất thường lần thứ 5, Quốc hội khóa XV đã diễn ra thành công tốt đẹp; hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra.

Tại Kỳ họp, Quốc hội đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, phát huy dân chủ, trí tuệ, thẳng thắn thảo luận, xem xét kỹ lưỡng và biểu quyết thông qua các nội dung: Luật Đất đai (sửa đổi); Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi); Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia; Nghị quyết về việc sử dụng dự phòng chung, dự phòng nguồn ngân sách trung ương của Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 cho các Bộ, cơ quan trung ương, địa phương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam.

"Những nội dung được Quốc hội quyết định tại Kỳ họp này có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ đối với việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của năm 2024 và cả nhiệm kỳ mà còn có ý nghĩa căn cơ, chiến lược, lâu dài, là minh chứng cho tinh thần lập pháp vì dân", Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Bùi Văn Cường khẳng định.

Về các nội dung cụ thể, thông tin tại họp báo cho biết, Luật Đất đai (sửa đổi) đã được Quốc hội thông qua gồm 16 chương và 260 điều, hoàn thành một trong những nhiệm vụ lập pháp quan trọng hàng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV theo đúng Hiến pháp năm 2013, đúng chủ trương, đường lối của Đảng, mà trực tiếp là Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

Việc thông qua Luật Đất đai (sửa đổi) tại Kỳ họp này, cùng với Luật Nhà ở (sửa đổi), Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) tại Kỳ họp thứ 6 vừa qua và có hiệu lực đồng thời từ 1/1/2025 đã đáp ứng yêu cầu hoàn thiện đồng bộ chính sách, pháp luật về quản lý và sử dụng đất phù hợp với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, để nguồn lực đất đai được quản lý, khai thác, sử dụng tiết kiệm, bền vững, hiệu quả cao nhất; đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, công bằng và ổn định xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao.

Đây là dự án luật lớn, có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống chính trị, kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường của đất nước; có tác động sâu rộng đến các tầng lớp Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp; đồng thời, cũng là dự án Luật rất khó và phức tạp.

Trước khi được thông qua, dự án Luật đã được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan, tổ chức hữu quan chuẩn bị rất trách nhiệm, kỹ lưỡng, công phu qua nhiều vòng, nhiều bước; được trình Quốc hội tại 4 kỳ họp, 2 Hội nghị Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách, 8 phiên họp chính thức của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (trong đó có 1 phiên cho ý kiến về Kế hoạch lấy ý kiến Nhân dân) và được chỉnh lý, tiếp thu ý kiến của các cơ quan, tổ chức, chuyên gia, nhà khoa học, đối tượng chịu sự tác động và trên 12 triệu lượt ý kiến của Nhân dân. 

Quốc hội xem xét dự thảo Luật tại Kỳ họp bất thường thứ 5 theo quy trình đặc biệt và tất cả ý kiến đại biểu Quốc hội đã được tiếp thu, giải trình, không còn đại biểu Quốc hội nào phát biểu thêm. Điều đó cho thấy tinh thần cẩn trọng của Quốc hội và các cơ quan trong hoạt động lập pháp, luôn đề cao chất lượng và hiệu quả.

Tại phiên bế mạc Kỳ họp bất thường lần thứ 5, Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai (sửa đổi) với 432 đại biểu tán thành (chiếm 87.63% tổng số đại biểu Quốc hội), điều đó thể hiện sự thống nhất cao của các vị đại biểu Quốc hội.

Đối với Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi), trên cơ sở ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo Cơ quan chủ trì thẩm tra, Cơ quan soạn thảo và các cơ quan hữu quan nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật bảo đảm thận trọng, kỹ lưỡng, bám sát yêu cầu cơ cấu lại, nâng cao năng lực, hiệu quả của hệ thống tổ chức tín dụng theo đúng chủ trương của Đảng, nghị quyết của Quốc hội.

Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) được thông qua gồm 15 chương, 210 điều. Đây là dự án Luật có nhiều nội dung chuyên sâu, có tác động trực tiếp đến chính sách tài chính, tiền tệ, ổn định kinh tế vĩ mô, việc tiếp thu, hoàn thiện dự thảo Luật được thực hiện kỹ lưỡng, thận trọng, phù hợp với đường lối, chính sách và Hiến pháp 2013.

Việc Quốc hội thông qua Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) tại Kỳ họp lần này với 450 đại biểu tán thành (chiếm 91.28% tổng số đại biểu Quốc hội) góp phần bảo đảm sự an toàn, lành mạnh, minh bạch, ổn định và bền vững của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng, phát triển theo đúng nguyên tắc thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thông lệ, chuẩn mực quốc tế phổ biến, nâng cao khả năng cạnh tranh, tiếp tục phát huy vai trò là kênh dẫn vốn quan trọng của nền kinh tế.

Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia được thông qua gồm 6 điều, quy định về 8 cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, đồng thời thực hiện khoản 2, Điều 2, Nghị quyết số 108/2023/QH15 ngày 29/11/2023 của Quốc hội về giám sát chuyên đề các chương trình mục tiêu quốc gia.

Các cơ chế, chính sách cụ thể bao gồm: Về phân bổ, giao dự toán chi thường xuyên ngân sách trung ương hằng năm; về điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước, điều chỉnh kế hoạch đầu tư vốn hằng năm; về ban hành quy định trình tự, thủ tục, tiêu chí, mẫu hồ sơ lựa chọn dự án phát triển sản xuất; về sử dụng ngân sách nhà nước trong trường hợp giao chủ dự án phát triển sản xuất tự thực hiện việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ để thực hiện dự án phát triển sản xuất; về quản lý, sử dụng tài sản hình thành từ dự án hỗ trợ phát triển sản xuất; về ủy thác vốn cân đối của ngân sách địa phương qua hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội…

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 18/1/2024 cho đến khi có quy định mới.

Nghị quyết về việc sử dụng dự phòng chung, dự phòng nguồn ngân sách trung ương của Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 cho các bộ, cơ quan trung ương, địa phương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam được thông qua cho phép sử dụng 63.725 tỷ đồng dự phòng chung nguồn ngân sách trung ương của Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 tương ứng với nguồn tăng thu ngân sách trung ương năm 2022. 

Trong đó, phân bổ 33.156,987 tỷ đồng dự phòng chung nguồn ngân sách trung ương của Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương chi tiết theo từng ngành, lĩnh vực để thực hiện nhiệm vụ, dự án đủ thủ tục đầu tư đã báo cáo Quốc hội tại Kỳ họp bất thường lần thứ 5, Quốc hội khóa XV. Nghị quyết giao Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo rà soát, giao kế hoạch vốn cho các nhiệm vụ, dự án theo đúng quy định của Luật Đầu tư công.

Đối với số vốn còn lại 30.568,013 tỷ đồng dự kiến bố trí cho các dự án đã báo cáo Quốc hội tại Kỳ họp bất thường lần thứ 5, Quốc hội khóa XV nhưng chưa đủ thủ tục đầu tư theo quy định, Chính phủ chỉ đạo các bộ, cơ quan trung ương và địa phương khẩn trương hoàn thiện thủ tục đầu tư theo thẩm quyền, báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định phân bổ Kế hoạch đầu tư công trung hạn cho các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương khi đủ thủ tục đầu tư theo quy định của pháp luật, trường hợp cấp bách, giữa 2 kỳ họp Quốc hội, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định phân bổ và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

 

 

 

KINH NGHIỆM PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở TRUNG QUỐC

Tham nhũng là hiện tượng xã hội có tính lịch sử, xuất hiện và tồn tại cùng với xã hội phân chia thành giai cấp và hình thành nhà nước. Hiện nay, tham nhũng đã trở thành hiện tượng khá phổ biến, diễn ra ở hầu khắp các nước; là một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm hàng đầu ở tất cả các nước; làm ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển cũng như uy tín và vị thế của mỗi quốc gia trên trường quốc tế. 

Sau hơn 37 năm thực hiện công cuộc đổi mới, bên cạnh những thành tựu đã đạt được về mọi mặt, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ, trong đó có tệ tham nhũng. Cùng với lãng phí, tham nhũng đang diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi và tính chất rộng lớn, phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của Nhân dân, là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta. Nhận thức rõ nguy cơ của tham nhũng, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về phòng chống tham nhũng. Vì vậy, việc nghiên cứu nắm vững những vấn đề cơ bản về phòng, chống tham nhũng, tham khảo kinh nghiệm của các nước trên thế giới để đấu tranh ngăn chặn và đẩy lùi nguy cơ  tham nhũng ở Việt Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Sau đây, bài viết đề cập đến kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng tại Trung Quốc

Nhận thức rõ tầm quan trọng của công cuộc phòng, chống tham những. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã ban hành nhiều chủ trương. chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Tháng 9-2007, Trung Quốc thành lập Cục Phòng, chống tham nhũng quốc gia và sửa đổi Luật Chống tham nhũng năm 1997.

Từ năm 2007, Ủy ban Kiểm tra kỷ luật trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc được củng cố, kiện toàn và được trao quyền rất lớn nên hoạt động phòng, chống tham nhũng của cơ quan này đã thu được những thành quả rất to lớn.

Năm 2008, Trung Quốc đề ra chiến lược phòng, chống tham nhũng mới: "Kế hoạch phòng, chống tham những giai đoạn 2008-2012". Năm 2010 Trung Quốc đã xây dựng khung pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Cũng trong năm đó, Trung Quốc đã gia nhập Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng. Ngày 28-2-2010, Quốc hội Trung Quốc sửa đổi Bộ luật Hình sự, thắt chặt hơn các quy định về chống tham nhũng. Bộ luật sửa đổi đã tăng hình phạt đối với các hành vi tham nhũng có các tình tiết không kê khai tài sản hoặc có một lượng lớn tài sản hoặc thu nhập mà họ không thể giải trình được nguồn gốc. Tháng 12-2010, Chính phủ Trung Quốc công bố sách trắng về “Chống tham nhũng và xây dựng liêm chính của Trung Quốc”, trong đó chỉ rõ xây dựng kiện toàn hệ thống bộ máy nhà nước để trừng trị và phòng ngừa tham nhũng. Đặc biệt, trong 5 năm thực hiện kế hoạch chống tham nhũng (2013-2017), Chủ tịch Tập Cận Bình đưa ra chủ trương “đã hổ, diệt ruồi” (chống tham nhũng cả ở cấp cao và cấp thấp), hoặc chiến dịch “săn cáo", (cho người sang các nước tìm kiếm những quan chức tham nhũng trốn ra nước ngoài đem về nước xét xử).

Trung Quốc đã tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thông qua một số biện pháp sau đây:

- Đề cao vai trò và trách nhiệm của lãnh đạo các cấp trong đấu manh phòng, chống tham nhũng. Theo đó, lãnh đạo Đảng, chính quyền của đơn vị là người chịu trách nhiệm đầu tiên, lãnh đạo phụ trách tài chính là người chịu trách nhiệm thứ hai, bí thư ban kỷ luật (tổ trưởng tổ kiểm tra kỷ luật) là người chịu trách nhiệm thứ ba.

- Thẩm tra tài chính đối với cán bộ chuẩn bị thôi giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. Tăng cường quản lý tài vụ, đẩy mạnh công tác giám sát, kiểm toán. 

- Thực hiện mua bán rõ ràng, xóa bỏ tình trạng hưởng "hoa hồng" vì tình trạng "hoa hồng" trong mua sắm tài sản công Trung Quốc đã làm cho một số cán bộ sa ngã, biến chất, tham nhũng.

- Công khai hóa công tác của thôn, thực hiện chế độ quản lý dân chủ[1].


[1] Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, PGS, TS Nguyễn Cảnh Quý (C nhiệm): Báo cáo Tổng hợp kết quả nghiên cứu Đề tài khoa học cấp bộ (trọng điểm Giải pháp đột phá đấu tranh phòng, chống hiệu quả tham nhũng trong bộ máy nước ở Việt Nam hiện nay, H.2018, tr.60-66.

“LẬP PHÁP CHỦ ĐỘNG, GIÁM SÁT HIỆU QUẢ, QUYẾT SÁCH KỊP THỜI, BỨT PHÁ PHÁT TRIỂN”


Chủ tịch Quốc hội cho biết, từ thành công của kỳ họp đầu tiên trong năm mới 2024, đề nghị Quốc hội tiếp tục phát huy tinh thần “lập pháp chủ động, giám sát hiệu quả, quyết sách kịp thời, bứt phá phát triển”.
Sau 3,5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, khoa học, dân chủ, trách nhiệm và thống nhất, đồng thuận cao, Kỳ họp bất thường lần thứ 5, Quốc hội khóa XV đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra và tiến hành phiên bế mạc.
Phát biểu tại phiên bế mạc, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đề nghị, Quốc hội tiếp tục phát huy tinh thần “lập pháp chủ động, giám sát hiệu quả, quyết sách kịp thời, bứt phá phát triển”, để cùng Chính phủ, các cơ quan trong hệ thống chính trị thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2024 và giai đoạn 2021-2025, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.
Chuẩn bị các điều kiện nhanh chóng đưa Luật Đất đai (sửa đổi) vào cuộc sống
Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nhấn mạnh, việc Quốc hội thông qua Luật Đất đai (sửa đổi), đã hoàn thành một trong những nhiệm vụ lập pháp quan trọng hàng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV.
Việc thông qua Luật Đất đai (sửa đổi) tại Kỳ họp này, cùng với Luật Nhà ở (sửa đổi), Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) tại Kỳ họp thứ 6 vừa qua và có hiệu lực đồng thời từ 1/1/2025 đã đáp ứng yêu cầu hoàn thiện đồng bộ chính sách, pháp luật về quản lý và sử dụng đất phù hợp với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, để nguồn lực đất đai được quản lý, khai thác, sử dụng tiết kiệm, bền vững, hiệu quả cao nhất; đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, công bằng và ổn định xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao.
Chủ tịch Quốc hội cho rằng, đây là thành quả của quá trình phối hợp chặt chẽ, chuẩn bị thận trọng, kỹ lưỡng, khoa học, từ sớm, từ xa, với nỗ lực và quyết tâm rất cao của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, các cơ quan, tổ chức hữu quan; huy động mọi nguồn lực với tinh thần thực sự cầu thị, lắng nghe, dân chủ; tranh thủ tối đa trí tuệ, đóng góp của các chuyên gia, các nhà khoa học, cộng đồng doanh nghiệp, cử tri và nhân dân cả nước; là bài học kinh nghiệm quý về đổi mới tư duy, phương pháp làm việc, quyết liệt hành động để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác lập pháp cũng như các quyết sách khác của Quốc hội.
Chủ tịch Quốc hội đề nghị: "Chính phủ bố trí nguồn lực, chuẩn bị ngay các điều kiện bảo đảm, ban hành và triển khai kế hoạch cụ thể để nhanh chóng đưa Luật vào cuộc sống. Khẩn trương xây dựng, ban hành theo thẩm quyền và chỉ đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ ban hành các văn bản quy định chi tiết; hướng dẫn việc chuyển tiếp đúng quy định, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.
Tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về đất đai, hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu số và hệ thống thông tin quốc gia về đất đai tập trung, thống nhất, đa mục tiêu và kết nối liên thông; kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về đất đai bảo đảm tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; loại bỏ khâu trung gian, thực hiện phân cấp, phân quyền theo quy định của Luật, đồng thời tăng cường kiểm tra, thanh tra và kiểm soát quyền lực; giải quyết hiệu quả trên thực tế những tồn tại, vướng mắc có liên quan đến quản lý và sử dụng đất, thị trường quyền sử dụng đất và thị trường bất động sản nói chung".
Hoàn thiện cơ sở pháp lý về xử lý nợ xấu, tình trạng sở hữu chéo
Tại kỳ họp bất thường lần này cũng đã thông qua Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi). Chủ tịch Quốc hội cho rằng, với các nội dung được sửa đổi, bổ sung rất căn bản, toàn diện và đồng bộ, Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) sẽ góp phần kịp thời thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực ngân hàng phù hợp với nguyên tắc thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu cơ cấu lại hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự an toàn, lành mạnh, ổn định và bền vững của hệ thống; tăng cường tính công khai, minh bạch, phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế phổ biến.
"Hoàn thiện cơ sở pháp lý về xử lý nợ xấu, tình trạng sở hữu chéo, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ số trong lĩnh vực ngân hàng và phát triển những sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại có giá trị gia tăng cao; tăng cường năng lực tài chính, quản trị và chất lượng hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng; phân định rõ thẩm quyền, tăng cường trách nhiệm của ngân hàng Nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước các cấp; nâng cao năng lực, chất lượng và hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động tổ chức tín dụng...", Chủ tịch Quốc hội cho biết.
Về dự án luật này, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu Chính phủ chú trọng công tác tổ chức, quán triệt, tuyên truyền, phổ biến nội dung Luật và xây dựng các văn bản quy định chi tiết thi hành; khẩn trương nghiên cứu, tiếp tục đề xuất hoàn thiện pháp luật có liên quan về ngân hàng nhà nước, pháp luật về bảo hiểm tiền gửi và pháp luật có liên quan để tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho việc thực hiện các quy định của Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) vừa được Quốc hội biểu quyết thông qua.
Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia. Theo Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, đây là bước tiếp nối kết quả giám sát tối cao về chuyên đề này của Quốc hội tại kỳ họp trước, khẳng định tinh thần trách nhiệm, đi đến cùng vấn đề giám sát, qua đó, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ, bảo đảm thực hiện hiệu quả 3 chương trình mục tiêu quốc gia có ý nghĩa hết sức quan trọng về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Quốc hội đề nghị Chính phủ tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản có liên quan để bảo đảm đồng bộ, thống nhất với Nghị quyết này; khẩn trương bố trí nguồn lực, tăng cường phân cấp, phân quyền hợp lý giữa Trung ương và địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho các Bộ, ngành, địa phương đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện, hoàn thành mục tiêu của các Chương trình theo yêu cầu đề ra.
Quốc hội phân bổ 58.000 tỷ đồng cho 32 dự án giao thông trọng điểm
Một trong những nội dung quan trọng được Quốc hội xem xét, quyết định tại kì họp này là các vấn đề liên quan đến tài chính, ngân sách. Theo đó, cho phép phân bổ, sử dụng gần 64.000 tỷ đồng cho các nhiệm vụ, dự án thuộc 5 lĩnh vực: quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, khoa học công nghệ và giao thông, trong đó dành gần 58.000 tỷ đồng cho 32 dự án giao thông trọng điểm.
Cùng với các dự án quan trọng quốc gia đã được Quốc hội quyết định đầu tư từ đầu nhiệm kỳ đến nay và Nghị quyết thí điểm một số chính sách đặc thù về đầu tư xây dựng công trình đường bộ đã được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 6 vừa qua.
Những vấn đề tài chính, ngân sách được Quốc hội quyết định tại Kỳ họp này là tiền đề quan trọng để đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện các dự án, công trình trọng điểm, thúc đẩy phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược đồng bộ, hiện đại, nhất là hệ thống đường cao tốc, đường ven biển, cảng hàng không, các dự án liên kết vùng, góp phần hoàn thành mục tiêu có hơn 3.000 km đường bộ cao tốc vào năm 2025.
Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, năm 2024 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025 và hướng tới Đại hội XIV của Đảng.
"Từ thành công của kỳ họp đầu tiên trong năm mới 2024, đề nghị Quốc hội tiếp tục phát huy tinh thần “lập pháp chủ động, giám sát hiệu quả, quyết sách kịp thời, bứt phá phát triển”, để cùng Chính phủ, các cơ quan trong hệ thống chính trị thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2024 và giai đoạn 2021-2025, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững", Chủ tịch Quốc hội cho biết.
Chủ tịch Quốc hội cũng đề nghị các cấp, các ngành, các địa phương quán triệt sâu sắc, triển khai đồng bộ, kịp thời, toàn diện các nghị quyết của Trung ương Đảng, Quốc hội và các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tại Nghị quyết số 01 và số 02 ngày 5/1/2024 của Chính phủ ngay từ những ngày đầu, tháng đầu của năm mới, kiên quyết không để xảy ra tình trạng “đầu năm đủng đỉnh, cuối năm vội vàng”; theo dõi sát diễn biến, dự báo tình hình trong nước và thế giới, có giải pháp, chính sách phù hợp, khả thi.
Chủ tịch Quốc hội mong muốn, các cấp, các ngành, các địa phương quán triệt đầy đủ, nghiêm túc Chỉ thị số 26 của Ban Bí thư, tập trung chuẩn bị tốt nhất các điều kiện phục vụ nhân dân vui xuân, đón mừng năm mới, Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024 đầm ấm, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm, bảo đảm mọi nhà, mọi người đều có điều kiện vui xuân, đón Tết. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nỗ lực thi đua, lập thành tích mừng Đảng, mừng Xuân, mừng đất nước đổi mới, chào mừng kỷ niệm 94 năm Ngày thành lập Đảng./.
Báo VOV

THAM NHŨNG KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO MỘT ĐẢNG HAY ĐA ĐẢNG


Lợi dụng một số cán bộ là bí thư, chủ tịch một số địa phương của Việt Nam bị khởi tố, bắt tạm giam để điều tra, làm rõ những sai phạm, tiêu cực, các trang mạng, đài báo nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam đã phát tán nhiều tài liệu xuyên tạc, chỉ trích công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Chúng xuyên tạc cho rằng, chế độ một Đảng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là “nguyên nhân” dẫn đến nhiều cán bộ cấp cao tham ô, tham nhũng, tiêu cực... Đây thực chất vẫn là luận điệu mà các thế lực thù địch, phản động cố tình gieo rắc nhằm chống phá Việt Nam trong nhiều năm qua.
Nói ra điều ấy các thế lực thù địch, phản động đã cố tình phớt lờ một thực tế rằng, bóng ma tham nhũng đã phủ khắp toàn cầu, tệ nạn tham nhũng đã hoành hành ở mọi quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Nguy cơ phát sinh tham nhũng không phụ thuộc vào chế độ chính trị. Xã hội có phân chia giai cấp, có nhà nước là có nguy cơ phát sinh tham nhũng. Theo phân tích, đánh giá của Tổ chức Minh bạch thế giới (TI) tình trạng tham nhũng trên thế giới đang ở mức báo động, đặc biệt nghiêm trọng ở những nước giàu tài nguyên thiên nhiên. Theo báo cáo chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) do Tổ chức Minh bạch quốc tế công bố đầu năm 2023 thì trên thế giới này không có quốc gia, vùng lãnh thổ nào không có tham nhũng, không có nhà nước nào là hoàn toàn minh bạch, trong sạch. Những quốc gia đứng đầu bảng xếp hạng về phòng, chống tham nhũng cũng không hoàn toàn minh bạch, trong sạch. Cũng theo báo cáo của Tổ chức Minh bạch thế giới thì tình trạng tham nhũng ở từng quốc gia không phụ thuộc vào chế độ chính trị là tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa, đa đảng hay một đảng. Trong bảng xếp hạng 180 quốc gia và vùng lãnh thổ về chỉ số CPI, Việt Nam đứng thứ 80. Như vậy, xếp dưới Việt Nam trong bảng xếp hạng này còn có 100 quốc gia và vùng lãnh thổ khác. Hầu hết các quốc gia đó theo tư bản chủ nghĩa và chế độ chính trị đa đảng. Vậy các thế lực thù địch, phản động cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là “nguyên nhân” dẫn đến nhiều cán bộ cấp cao tham ô, tham nhũng, tiêu cực… là hoàn toàn không chính xác và nhằm động cơ xấu đối với Việt Nam.
Chúng ta chẳng lạ gì lâu nay các thế lực thù địch, phản động vẫn rêu rao rằng, chế độ một đảng cầm quyền là nguyên nhân sinh ra tham nhũng; tham nhũng thuộc về bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chỉ khi nào ở Việt Nam không còn chế độ độc đảng lãnh đạo, thực hiện chế độ đa đảng thì nạn tham nhũng mới được triệt tiêu. Đây là những luận điệu sai trái và rất nguy hiểm vì nó dễ làm cho người dân ngộ nhận, giảm sút ý chí, quyết tâm và niềm tin vào cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực mà Việt Nam đang tiến hành.
Cần phải thấy rằng, đối với mọi nhà nước và chế độ xã hội, việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là vấn đề tất yếu khách quan. Bởi lẽ, tham nhũng là trở ngại rất lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Có nhiều nguyên nhân gây ra tham nhũng nhưng một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tham nhũng đó là do quản lý xã hội yếu kém, đội ngũ quan chức, công chức bị thoái hóa... Vì thế, yếu tố có tính chất quyết định hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng chính là nâng cao năng lực quản lý của nhà nước và chất lượng đội ngũ quan chức, công chức...
Đối với Việt Nam, nhận thức sâu sắc về hậu quả nặng nề do nạn tham nhũng gây ra, từ khi ra đời đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là một nhiệm vụ trọng tâm và thiết yếu trong việc giữ vững sự ổn định về chính trị và phát triển đất nước. Quốc lệnh, do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký và ban hành ngày 26-01-1946, đã ghi rõ “Tham ô, lãng phí và quan liêu là kẻ thù của nhân dân và Chính phủ, là “giặc ở trong lòng”, “giặc nội xâm”. Kể từ đó cho đến nay, qua các thời kỳ cách mạng, cả trong những năm kháng chiến chống giặc ngoại xâm, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam chưa bao giờ lơ là, xem nhẹ công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng.
Đảng Cộng sản Việt Nam xác định một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ là tệ tham nhũng, tiêu cực. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là cuộc đấu tranh phòng, chống “giặc ở trong lòng”, “giặc nội xâm”. Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là việc làm cần thiết, một xu thế tất yếu, không thể đảo ngược. Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là phải tiến hành một cách kiên trì, nhân văn, bài bản và thuyết phục. Mục tiêu của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói là: Nhằm làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước, để phát triển đất nước. Với tinh thần “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, “không chịu bất cứ sức ép nào”, “bất kể người đó là ai”... Những năm qua, đặc biệt là từ khi thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (năm 2013) đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn thể nhân dân, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam đã trở thành quyết tâm chính trị và đạt nhiều kết quả quan trọng, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình ủng hộ, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.
Thực tế những gì đã và đang diễn ra ở Việt Nam đã chứng minh tham nhũng không phụ thuộc vào chế độ một đảng hay đa đảng; không phải chế độ một đảng cầm quyền là nguyên nhân dẫn đến tham nhũng và càng không phải một đảng cầm quyền không thể đấu tranh chống tham nhũng thành công. Hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng hoàn toàn không phụ thuộc vào chế độ một đảng hay đa đảng. Nếu ai đó nói rằng, chế độ do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo không thể chống tham nhũng, tiêu cực hiệu quả hay chỉ có thực hiện chế độ đa đảng thì mới loại bỏ được tham nhũng là hoàn toàn sai lầm./.

 

ĐỂ CÓ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ XÃ HỘI KỊP THỜI
 

Qua 37 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được các thành tựu nổi bật về phát triển xã hội. Đặc biệt, trên cơ sở đánh giá lại những kết quả về lĩnh vực này mà các đại hội Đảng trước đó đã khẳng định, văn kiện Đại hội XIII đã xác định một trong các nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ là: “...tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam".[1]

Song, do nhiều nguyên nhân đẫn đến sai lệch xã hội đã kìm hãm đến quá trình tăng trưởng và phát triển của đất nước. Từ kết quả nghiên cứu thực thực tiễn phát triển xã hội Việt Nam sau 37 năm năm đổi mới, dưới tác động chủ yếu của mặt trái nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; những bấp cập, sở hở yếu kém trong quản lý xã hội của bộ máy Nhà nước, chúng tôi đề xuất một số nguyên nhân dẫn đến sai lệch xã hội như sau:

Một là, do những sai lệch trong hệ thống giá trị. Hệ thống giá trị trong xã hội được hình thành qua các thời kỳ lịch sử nhất định và do vậy nó mang tính lịch sử; nó sẽ mất đi khi không còn phù hợp với thực tiễn xã hội song nó lại được hình thành mới khi thực tiễn biến đổi. Hệ thống giá trị được chia thành các giá trị chung phố quát (giá trị nhân loại) và các giá trị thuộc về một giai cấp hay tầng lớp nào đó. Bất kỳ một sự chệch hướng giá trị của xã hội hiện hành đều có thể bị coi là sai lệch xã hội.

Hai là, do sự biến đổi các chuẩn mực xã hội. Trong đời sống xã hội, chuẩn mực xã hội là những quy ước chung của cả công đồng hay một nhóm xã hội nhất định, quy định những hành vi cụ thể của mỗi cá nhân trong mỗi tình huống cụ thể nhất định Sự xem nhẹ các chuẩn mực xã hội, không tuân thủ các chuẩn mực xã hội có thể dẫn tới những hành vi sai lệch xã hội. Tuy nhiên, cũng như bất kỳ hiện tượng xã hội nào, chuẩn mực xã hội cũng luôn biến đổi theo thời gian. Chuẩn mực đã biến đổi hoặc bị bóp méo hoặc không được áp dụng đúng chỗ thì dẫn đến hành vi sai lệch xã hội.

Ba là, do sự thay đổi các quan hệ xã hội. Quan hệ xã hội nảy sinh trong quá trình con người cùng nhau hoạt động sản xuất và tinh thần. Quan hệ sản xuất vật chất là quan hệ cơ bản, là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội, là mối quan hệ cơ bản, chi phối các mối quan hệ khác. Sự vận động và phát triển của quan hệ sản xuất kéo theo sự thay đổi của các quan hệ xã hội. Chuẩn mực, giá trị xã hội vừa phản ánh các quan hệ xã hội vừa điều chỉnh các quan hệ xã hội các quan hệ xã hội thay đổi sẽ làm cho hệ thống giá trị, chuẩn mực xã hội cũng biến đổi và dẫn đến các hành vi sai lệch xã hội.

Bốn là, do sự rối loạn các thiết chế xã hội. Các thiết chế xã hội có chức năng điều chỉnh, hướng dẫn và kiểm soát hành vi con người phù hợp với các chuẩn mực mà thiết chế xã hội tạo ra . Chúng được thiết lập trên các nhu cầu cơ bản của xã hội. Các thiết chế xã hội có vai trò kiểm soát và quản lý xã hội. Tuy nhiên, trong không ít tình huống vì nhiều lý do khác nhau dẫn đến thiết chế xã hội không được vận hành một cách bình thường, thậm chí rối loạn dẫn tới mất ổn định xã hội. Vì vậy, bất kỳ một sự rối loạn hay đổ vỡ thiết chế xã hội nào đều trở thành vấn đề xã hội nghiêm trọng, dẫn đến hành vi sai lệch xã hội.

Để kịp thời điều chỉnh, khắc phục sai lệch xã hội, một trong những công cụ quan trọng là đổi mới thiết chế và thể chế trong lĩnh vực này./.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021, tII, tr 336.

QUÁN TRIỆT, THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI LÃNH ĐẠO CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG

 

Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam; giải quyết vấn đề dân tộc vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng Việt Nam. Vì, đây là cơ sở để động viên nguồn lực con người, tài trí của tất cả các dân tộc; đảm bảo ổn định chính trị - xã hội cho sự phát triển. Mặt khác, trong bối cảnh chính trị-xã hội thế giới diễn biến rất phức tạp như hiện nay, các thế lực thù địch đang lợi dụng các đặc điểm trong quan hệ dân tộc - tộc người, nhất là lợi dụng tính nhạy cảm của tâm lý dân tộc, tâm lý tôn giáo, những khó khăn trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số nhằm kích động chia rẽ đoàn kết các dân tộc, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”.

Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Chống tư tưởng kỳ thị và chia rẽ dân tộc. Đại hội XII khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực, nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc”  “Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ tổ quốc; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích của quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết dân tộc.

Hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc diễn ra trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng; các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống gia tăng, ngày càng gay gắt, đặt ra yêu cầu cao và đứng trước cả cơ hội thuận lợi, khó khăn, thách thức đan xen. Tình hình đó, đòi hỏi cần tăng cường hơn nữa việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân trong tình hình mới. Xử lý đúng đắn, hài hòa việc ưu tiên đầu tư hỗ trợ theo vùng và theo từng dân tộc cụ thể phải thống nhất trong nhận thức, đảm bảo nguyên tắcbình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhaugiữa các dân tộc trên cơ sở nhất quán các nội dung sau:

Một là, bình đẳng dân tộc chỉ có thể được thực hiện khi dân tộc ta được độc lập, nhân dân ta được tự do, đất nước ta được thống nhất. Bình đẳng dân tộc luôn gắn bó mật thiết với sự nghiệp giải phóng và giữ vững nền độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc.

Hai là, đoàn kết các dân tộc phải trên cơ sở bình đẳng dân tộc gắn liền với sự nghiệp giải phóng con người để mọi người đều được hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Bình đẳng và đoàn kết dân tộc gắn liền với tôn trọng và tin cậy lẫn nhau, tương trợ giúp nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc.

Ba là, giải quyếtvấn đề dân tộc cầnphải có thời gian, lộ trình qua nhiều giai đoạn với những bước đi thích hợp để từng bước thu hẹp khoảng cách chênh lệch trên từng vấn đề cụ thể giữa các dân tộc.

Thực hiện chính sách “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ” của Đảng, Nhà nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay.Hệ thống chính trị các cấp ở các địa phương có đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống phảixác định 3 mục tiêu chủ yếucơ bản sau:1) Xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống, sức khỏe của đồng bào các dân tộc thiểu số. 2) Xóa được mù chữ, nâng cao dân trí, tôn trọng và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc. 3) Xây dựng được cơ sở chính trị, đội ngũ cán bộ và đảng viên của các dân tộc ở các vùng, các cấp trong sạch vững mạnh.