Thứ Hai, 6 tháng 5, 2024

ĐIỆN BIÊN PHỦ: CHIẾN THẮNG CỦA CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC, ANH HÙNG CÁCH MẠNG!

     Trong tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc, chiến thắng Điện Biên Phủ, "là một cái mốc chói lọi bằng vàng", "đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến lâu dài gian khổ và anh dũng của nhân dân cả nước ta, chống thực dân Pháp và sự can thiệp của đế quốc Mỹ. Đó là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta, mà cũng là chiến thắng chung của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Chiến thắng Điện Biên Phủ càng làm sáng ngời chân lý của chủ nghĩa Mác - Lênin"!

Để làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ, dân tộc Việt Nam đã trải qua 8 năm kháng chiến, từ "lột sắt đường tàu rèn thêm dao kiếm", "Thuốc súng kém, chân đi không mà lòng người giàu lòng vì nước", vừa đánh giặc vừa xây dựng lực lượng, giành thắng lợi từng bước.

Toàn dân kiên trì thực hiện đường lối "kháng chiến, kiến quốc" với niềm tin "Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi" mà Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra trong những ngày đầu kháng chiến.

Đến nay, sự kiện lịch sử "chấn động địa cầu" đã lùi xa 70 năm, có nhiều cuộc hội thảo, các học giả trong ngoài nước, các chính trị gia… phân tích tìm nguyên nhân nào để một dân tộc nhỏ bé lại làm nên điều kỳ diệu, chiến thắng kẻ thù mạnh hơn mình gấp bội.

Bài viết nhỏ này chỉ đề cập đến vấn đề "chủ nghĩa yêu nước, anh hùng cách mạng" một nhân tố làm nên thắng lợi Điện Biên Phủ.

Nói về chủ nghĩa yêu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của dân tộc ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước".

Chủ nghĩa yêu nước là điểm cốt lõi của bản sắc văn hóa Việt Nam. Là sợi dây bền chặt gắn bó cố kết con người Việt Nam để tạo thành sức mạnh chống chọi thiên nhiên, giữ gìn bảo vệ non sông bờ cõi, đó chính là hạt nhân của văn hóa Việt. Chính nhờ sức mạnh của nền văn hóa ấy mà dưới ách đô hộ hơn một nghìn năm của phong kiến phương Bắc, dân tộc ta đã không bị đồng hóa mà liên tiếp dựng cờ khởi nghĩa chống quân xâm lược bạo tàn.

Chủ nghĩa yêu nước từ chỗ chủ yếu là một yếu tố trong tâm lý xã hội, đã trở thành hệ tư tưởng, trở thành lực lượng tinh thần vô cùng mạnh mẽ, động viên mọi người đứng lên bảo vệ tổ quốc chống lại mọi kẻ thù xâm lăng. Bước vào thời kỳ mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chủ nghĩa yêu nước được bồi đắp phát triển lên tầm cao mới, là sức mạnh chính trị - tinh thần của toàn dân tộc.

Trải qua 8 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, quân dân ta bước vào cuộc quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ trong bối cảnh tương quan lực lượng không nghiêng về phía Việt Nam. Quân Pháp xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm lớn, được bao bọc bởi những dãy núi cao, đó chính là bức tường thành thiên nhiên vững chắc, được bố trí phòng thủ chặt chẽ trong các công sự hầm ngầm kiên cố.

Trước giờ nổ súng, lực lượng địch có 10.871 tên, gồm 12 tiểu đoàn dù, hai tiểu đoàn lựu pháo 105 ly (24 khẩu), hai tiểu đoàn súng cối 120 ly (20 khẩu) và một đại đội xe tăng 18 tấn (10 chiếc). Ngoài ra còn có 2 trung đội súng máy 12,7 ly, có 7 máy bay khu trục, 5 trinh sát, 4 vận tải và 1 máy bay thường trực, đó là chưa kể địch có ưu thế về vận tải đường không, nên suốt quá trình diễn ra chiến dịch chúng đã đưa số quân lên đến 16.200.

Với lực lượng như vậy, Heri Nava tác giả của tập đoàn cứ điểm này cho rằng đó là "pháo đài bất khả xâm phạm" là nơi "nghiền nát chủ lực Việt Minh".

Ông ta cho rằng đối phương phải có gấp năm lần quân số thì mới dám nghĩ đến chuyện tấn công, bởi "các công trình phòng ngự của Pháp được tổ chức theo nguyên tắc hiện đại nhất, đặc biệt có sự giúp đỡ của người Mỹ là bất khả xâm phạm. Pháo binh Việt Nam dù sao đi nữa cũng thua kém pháo binh ta, không thể nào leo lên đến các đỉnh núi cao quanh lòng chảo. Các lực lượng của tướng Giáp không thể nào được tiếp tế vũ khí, đạn dược và lương thực. Vận chuyển hàng vạn tấn qua rừng rậm là việc làm kỳ dị, chúng ta làm chủ trên không và bắn phá các con đường giao thông của Việt Minh, họ không thể nào tránh được".

Về phía ta, quân số tham gia chiến dịch là 51.445 người, được biên chế trong 9 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn sơn pháo 75mm (15 khẩu), 2 tiểu đoàn lựu pháo 105 ly (24 khẩu), 4 đại đội súng cối 120 ly (16 khẩu), 1 trung đoàn cao xạ 37 ly (24 khẩu), 2 tiểu đoàn công binh. Hoàn toàn không có sự yểm hộ của xe tăng và máy bay, phương tiện tác chiến cực kỳ cần thiết trong thực hành tiến công.

Harrison, nhà bình luận quân sự nổi tiếng cho rằng: "Nếu một tướng phương Tây ở vào vị trí của Tướng Giáp thì còn cần thêm 100 xe tăng và một đội máy bay yểm hộ nữa. Ngoài ra để chắc chắn cần phải có thêm một lực lượng hậu bị".

Nhưng trên toàn cục chiến trường Đông Dương, lực lượng ta chỉ bằng 2/3 quân số địch (304.376/445.000), địch lại chiếm hoàn toàn ưu thế về phương tiện chiến tranh (xe tăng, máy bay, tàu thuyền). Với tương quan như vậy, dưới con mắt của các nhà quân sự phương Tây việc tấn công của Việt Minh là không thể, nếu phát động tiến công chỉ là hành động tự sát. Thế nên, Nava tác giả của tập đoàn cứ điểm đã có lúc lo sợ Việt Minh sẽ không dám tấn công vào Điện Biên Phủ, khiến việc lập nên tập đoàn này thành vô ích.

Bên cạnh so sánh về tương quan lực lượng trên chiến trường, các nhà chiến lược quân sự của cả Pháp và Mỹ cũng nhận định để đánh Điện Biên Phủ, Việt Minh cần ít nhất 75.000 quân, nhưng hậu phương của họ ở xa, lại không có phương tiện vận chuyển nên việc cung cấp hậu cần cho mặt trận là việc cực kỳ khó khăn, nên Việt Minh không thể tiến hành một chiến dịch quy mô lớn, dài ngày.

Tuy nhiên, lịch sử đã chứng minh các tướng lĩnh của quân đội thực dân đã không tính đến yếu tố quan trọng nhất, làm nên sức mạnh, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ đó chính là nhân tố con người. Khi cả dân tộc cùng dốc sức ra trận, trên dưới đồng lòng, chủ nghĩa yêu nước, anh hùng cách mạng phát huy cao độ đã làm nên sức mạnh vô địch, chiến thắng được sức mạnh binh khí kỹ thuật, chiến thắng được kẻ thù lớn hơn mình gấp bội.

Thực tế chiến trường Điện Biên Phủ đã chứng minh:
1. Người Pháp cho rằng với địa hình đồi dốc, đường sá xa xôi, không có xe kéo, Việt Minh khó có thể triển khai được pháo hạng nặng, nên họ đã bất ngờ khi pháo ta nã đạn vào Điện Biên Phủ, khiến viên chỉ huy pháo binh phải tự sát.

Vấn đề chính người Pháp không thể tưởng tượng là chỉ bằng sức người, kết hợp tời quay, chiến sĩ pháo binh Việt Nam đã đưa pháo vượt qua những quãng đường lầy lội, đầy đèo dốc, có nơi dốc 60 độ. Nhưng họ sẽ ngạc nhiên hơn việc kéo pháo không chỉ diễn ra một lần mà đưa được pháo vào lại kéo pháo ra, bố trí lại trận địa.

Chỉ bằng đôi vai trần, những cuộn dây thừng, các chiến sĩ pháo binh đã đưa được những khẩu pháo nặng hàng tấn nhích dần từng mét, nhiều chiến sĩ đã hy sinh trong khi kéo pháo. Chỉ có lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ý chí chiến đấu vì độc lập tự do mới tạo nên sức mạnh "kinh khủng", mới tạo nên những người lính pháo binh "chân đồng vai sắt" để hoàn thành nhiệm vụ trên.

2. Về vấn đề bảo đảm hậu cần cho chiến dịch, kẻ địch không thể ngờ rằng chúng ta đã huy động tổng lực của hậu cần chiến tranh nhân dân. Cùng với các đơn vị tiến quân lên Điện Biên Phủ là hàng vạn thanh niên xung phong, phối hợp với công binh mở hàng trăm km đường. Huy động 261.461 dân công với gần 20 triệu ngày công phục vụ chiến dịch, vận chuyển hơn 27 nghìn tấn gạo.

Trong cuộc ra quân tiếp vận cho chiến trường Điện Biên đã nổi bật nên những tấm gương cao đẹp như anh hùng phá thác Phan Tư, kỷ lục xe thồ Ma Văn Thắng với 352 kg, gấp 7 lần trọng lượng của cơ thể. Sức mạnh tập thể được nhân lên từ những nghị lực phi thường được hình thành nên từ động cơ yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

3. Bộ chỉ huy quân Pháp cho rằng họ hoàn toàn nắm giữ ưu thế chiến dịch, làm chủ hoàn toàn trên không, ưu thế tuyệt đối về xe tăng, vượt trội về pháo binh, có công sự hầm ngầm vững chắc và một thế bố trí liên hoàn chặt chẽ và như vậy họ hoàn toàn làm chủ mặt đất. Nhưng họ lại không thể ngờ rằng với cách đánh thông minh và chỉ bằng công cụ thô sơ, bộ đội Việt Nam lại tiến sâu, đánh họ từ trong lòng đất.

Hệ thống giao thông hào dài trăm km, dần tiến dần vào lòng chảo, trở thành "thòng lọng" thít chặt tập đoàn cứ điểm đã hạn chế được ưu thế về mặt quân sự của đối phương, bảo đảm cho cách đánh lâu dài, tiến chắc, đánh chắc.

Rõ ràng chỉ có những con người với lòng yêu nước, chí anh hùng "gan không núng, chí không mòn" mới làm nên những điều kỳ diệu như vậy, những điều không hề có trong sách giáo khoa của các học viện quân sự lừng danh trên thế giới. 

Tinh thần yêu nước nồng nàn, khí phách của một dân tộc với đức tính cần cù thông minh, sáng tạo là mảnh đất nuôi dưỡng chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đã tạo nên sức mạnh phi thường, làm nên những điều mà kẻ thù không tưởng tượng nổi, là nhân tố tạo nên chiến thắng. Tên tuổi của những anh hùng như Trần Can, Tô Vĩnh Diện, Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót... là những điển hình cho tinh thần và sức mạnh đó.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh chiến dịch khẳng định: "Chúng ta, những người trong cuộc, đều biết rõ dân tộc ta đã thắng, trước hết là do sức sống mãnh liệt của nền văn hóa lâu đời, của truyền thống yêu nước hàng nghìn năm, của tinh thần đấu tranh bất khuất thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu làm nô lệ, tư tưởng mà Bác Hồ đã nêu rõ: Không có gì quý hơn độc lập tự do".

Bài học phát huy chủ nghĩa yêu nước, anh hùng cách mạng làm động lực để phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp, giành thắng lợi to lớn trong chiến dịch Điện Biên Phủ vẫn còn nguyên giá trị. Trong giai đoạn hiện nay chúng ta cần kế tục, bổ sung và phát triển chủ nghĩa yêu nước Việt Nam lên tầm cao mới, đáp ứng sự phát triển của tình hình và nhiệm vụ trong thời kỳ mới. Đó cũng là yếu tố quan trọng hàng đầu bảo đảm cho đất nước ta luôn chủ động về chiến lược trong mọi tình huống, ổn định và phát triển bền vững./.
Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh họp bàn cùng Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Trần Đình - mật danh của Chiến dịch Điện Biên Phủ 1953.

Ảnh: Buổi lễ Tổng duyệt diễu binh, diễu hành Kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2024) diễn ra trang trọng lúc 7h30 ngày 5/5 tại sân vận động tỉnh Điện Biên.
Yêu nước ST.

CHUYỆN “LẠ” VẪN PHẢI TIN!

         Cư dân mạng được phen nổi sóng trước những dòng trạng thái chia sẻ của một bậc phụ huynh, trước những bức ảnh phản ánh những đoạn văn tả cảnh đầy gợi d.ục trong cuốn sách “Một thoáng ta rực rỡ nhân gian”. Theo đó, cuốn sách này đã được giáo viên Trường Quốc tế TPHCM (ISHCMC) giới thiệu cho học sinh về nhà đọc. Điều đáng nói và cũng rất may là một bậc phụ huynh đã đồng hành cùng con đọc cuốn sách này và bàng hoàng nhận ra những trang văn miêu tả cảnh “giường chiếu” đến mức không thể chân thật hơn.

Được biết, “Một thoáng ta rực rỡ nhân gian”. là tiểu thuyết đầu tay của nhà thơ người Mỹ gốc Việt Ocean Vuong. Bản dịch tiếng Việt do Nhà xuất bản Hội Nhà văn phát hành năm 2021, đạt giải Sách hay 2022 ở hạng mục sách Văn học. Và có lẽ vì vậy mà cuốn sách này đã thuộc danh mục đọc tham khảo, gồm nhiều ngôn ngữ, kể cả tiếng Việt, do Chương trình Tú tài Quốc tế (IB) giới thiệu và trường quốc tế TPHCM đã lấy đó làm căn cứ để giới thiệu đến học sinh.

Một cuốn sách với những ngôn từ dung tục không những không bị phát hiện ra mà còn được giải văn học, còn được giới thiệu vào trong chương trình học của phía nhà trường thì thật là một điều rất “lạ’ và rất khó hiểu. Dư luận xã hội đang rất quan tâm về quy trình kiểm duyệt nội dung cuốn sách, quy trình bình xét giải thưởng và quy trình nó lọt vào trường học có những lỗ hổng nào mà để một hiện tượng “lạ”, hiếm lại có thật. Đây là điều cần các cơ quan chức năng, những người có trách nhiệm liên quan giải đáp một cách thoả đáng và chịu trách nhiệm một cách “xứng đáng”./.
Yêu nước ST.

Sự trưởng thành của pháo binh Việt Nam trong chiến dịch Điên Biên Phủ

Trong đợt 2 chiến dịch từ 30/3/1954 đến 30/4/1954, kế hoạch tác chiến của ta là "bóc vỏ, bao vây".

Đại tá Trần Liên kể lại khi đó, bộ binh ta đào chiến hào vây lấn ở mặt đất, cao xạ bao vây siết chặt vùng trời, cắt cầu hàng không.

Thời gian này, địch phải thả dù tiếp tế 100-120 tấn hàng gồm: lương thực, thuốc men, đạn pháo, cối… mỗi ngày. Máy bay địch bay cao trên 3.000m nhưng vẫn bị cao xạ của ta bắn, nên việc thả hàng của chúng không chính xác như dự tính, phần lớn hàng tiếp tế rơi vào khu vực ta kiểm soát.

Trong đợt 2, bộ binh ta đã đánh chiếm các cao điểm phía Đông và Tây của cứ điểm, cắt đôi phân khu trung tâm Mường Thanh với Hồng Cúm, chỉ còn đồi A1 chưa giải quyết được. Đợt này, pháo cao xạ đã bắn rơi chiếc pháo đài bay B24 và chiếc F8F, bắt sống giặc lái Robert Daniel.

Từ ngày 1 đến 7/5/1954, ta bắt đầu đợt 3, tiến hành tổng công kích. 20h30 ngày 6/5/1954, ta nổ bộc phá đánh Đồi A1, đến 4h sáng ngày 7/5/1954, ta chiếm được Đồi. Quân địch đầu hàng vào 15h30 cùng ngày.

"Trong chiến dịch, riêng lực lượng pháo cao xạ đã bắn hạ 52 máy bay trong tổng số 62 máy bay địch bị bắn hạ. Tất cả các loại máy bay địch sử dụng (B24, B26, F8F, F6F, F4U, C47, C119) đều bị cao xạ bắn hạ", Đại tá Trần Liên cho biết.

 "Nghệ thuật sử dụng pháo binh trong Chiến dịch Điện Biên Phủ  -  Bài học kinh nghiệm về tổ chức xây dựng lực lượng và huấn luyện chiến đấu hiện nay", cũng là nội dung bài tham luận của Thiếu tướng Nguyễn Hồng Phong (Tư lệnh Binh chủng Pháo binh).

Thiếu tướng Nguyễn Hồng Phong cho biết trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ta đã bí mật sử dụng Trung đoàn 45 lựu pháo 105mm (24 khẩu), là trung đoàn pháo xe kéo đầu tiên của quân đội ta mà quân Pháp không ngờ tới.

Qua 55 ngày đêm chiến đấu, pháo binh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần cùng chiến dịch tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, loại khỏi vòng chiến đấu 16.200 tên địch, phá hủy và thu nhiều vũ khí trang bị.

Theo Thiếu tướng Nguyễn Hồng Phong, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chiến dịch Điện Biên Phủ đã đánh dấu sự trưởng thành lớn mạnh của pháo binh Việt Nam, trong đó, nghệ thuật sử dụng pháo binh có sự phát triển vượt bậc.

Đội hình pháo binh cũng được bố trí hiểm hóc, vững chắc, hình thành thế vây hãm quân địch trong suốt quá trình chiến dịch, theo Thiếu tướng Nguyễn Hồng Phong.

 

 

Thanh Hóa thamg gia chiến dịch Điện Biên Phủ

Theo thống kê, trong chiến dịch Điện Biên Phủ, tỉnh Thanh Hóa huy động 30% số người trong độ tuổi lao động tham gia dân công hỏa tuyến, với tổng số gần 179.000 lượt người, 27 triệu ngày công.

Đặc biệt, Thanh Hóa còn huy động hơn 10.000 xe đạp thồ; 1.300 thuyền nan, thuyền ván; 47 xe ngựa thồ, 31 ô tô, 180 xe trâu vận chuyển lương thực tiếp tế cho tiền tuyến.

Tại Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ hiện nay có nhiều tư liệu, hiện vật thể hiện vai trò của người nông dân trong chiến thắng Điện Biên Phủ. Trong đó, chiếc xe cút kít của ông Trịnh Đình Bầm là hiện vật hết sức tiêu biểu, minh chứng cho tinh thần yêu nước, kiên quyết đấu tranh, sẵn sàng hy sinh cho Tổ quốc của người nông dân Việt Nam.

                                                                                                          

 

Người chở hàng nổi tiếng cả huyện, đi đêm không cần đèn

Ông Tân chia sẻ, vốn là con cả trong gia đình có 5 anh em, vì gia cảnh nhà nông nghèo khó nên từ nhỏ ông Bầm đã có đức tính cần cù, chịu khó. "Khi bố mẹ mất, một mình cha tôi lam lũ làm việc để nuôi các em khôn lớn. Tôi cảm thấy rất tự hào, xúc động trước quá khứ vẻ vang do ông để lại", ông Tân tâm sự.

Sau khi hòa bình lập lại, đất nước được thống nhất, ông Bầm trở về quê hương làm công việc vận chuyển hàng ở nhà máy chuyên về thực phẩm. Với thân hình to cao, khỏe mạnh, ông Bầm được mọi người nể phục bởi biệt tài chở hàng. Thậm chí, khi nhắc đến tên ông Bầm, ai cũng tấm tắc khen vì ông chở hàng khỏe. 

"Thời gian đi chở hàng ở nhà máy thực phẩm, ông khiến nhiều người nể phục bởi sức khỏe và độ dẻo dai. Trung bình mỗi chuyến đạp xe chở hàng của ông có trọng lượng 1,5-2 tạ. Điều đặc biệt, mặc dù bị dị tật một mắt nhưng ông rất giỏi khi chở hàng ban đêm mà không cần dùng đến đèn pin", ông Tân nói.

Làm ở nhà máy thực phẩm được ít năm, ông Bầm trở về kinh doanh cửa hàng thực phẩm tại nhà. Theo ông Tân, không chỉ có sức khỏe, cần cù, chịu khó, ông Bầm còn được nhiều người yêu quý vì tính tình hiền lành và thương người.

Ông Tân nhớ lại kỷ niệm năm 1984, có cặp vợ chồng sinh đôi nhưng vì hoàn cảnh khó khăn nên nhờ ông Bầm nuôi hộ một bé trai. Mặc dù gia đình có tới 8 người con, nhưng ông Bầm vẫn vui vẻ nhận lời, đưa cậu bé đó về làm con nuôi.

"Cả cuộc đời cha tôi vất vả, lam lũ, hy sinh vì đất nước, vì con cháu. Năm 1994, ông lâm bệnh nặng rồi qua đời. Trong số 8 người con của ông, có anh trai tôi là Trịnh Đình Nhân cũng từng nối tiếp truyền thống yêu nước của bố, tham gia chiến đấu và hy sinh ở chiến trường Campuchia. Nhiều năm qua, chúng tôi vẫn thường xuyên căn dặn các cháu phát huy tinh thần và đức tính của ông để góp phần xây dựng quê hương, đất nước", ông Tân chia sẻ.

Chị Trịnh Thị Nhàn (SN 1984, cháu nội ông Bầm) chia sẻ, từ thời đi học đến nay, mỗi khi nghe nhắc đến chiến công, thành tích của ông nội, chị Nhàn cảm thấy bồi hồi xúc động và tự hào. "Trong ký ức của tôi, ông là một người lao động cần cù, chịu khó. Là thế hệ con cháu của ông, chúng tôi rất đỗi tự hào và xúc động. Mong rằng thế hệ sau này, các con của tôi cố gắng phát huy được tinh thần đó để cống hiến sức mình vào sự phát triển của đất nước".

 

Dỡ bàn thờ làm bánh xe cút kít

Những ngày tháng 5 lịch sử, căn nhà nhỏ của gia đình ông Trịnh Đình Tân (SN 1969, con trai ông Trịnh Đình Bầm) ở thôn Duyên Thượng 2, xã Định Liên, huyện Yên Định đón đông đảo người dân, các sở, ban, ngành ghé thăm.

"Mỗi dịp cận kề ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, gia đình vinh dự được mời tham gia các sự kiện, hội nghị tại địa phương. Không chỉ vậy, để tưởng nhớ đến cụ thân sinh ra tôi, nhiều người dân thường đến tận gia đình để thắp hương, trò chuyện cùng gia đình. Chúng tôi rất vinh dự, tự hào trước những công lao to lớn mà cha để lại", ông Tân bày tỏ.

Ông Tân kể, từ khi còn nhỏ đã nhiều lần được nghe cha kể về "chiến tích" hào hùng, cùng hàng trăm dân công Thanh Hóa vận chuyển lương thực tiếp tế vào chiến trường Điện Biên Phủ. Trong đó có câu chuyện cha ông mạnh dạn dỡ bàn thờ chế tạo xe cút kít làm phương tiện tải lương.

Thời điểm đó, Thanh Hóa huy động sức người, sức của, dốc toàn lực, trở thành một trong những hậu phương vững chắc cho tiền tuyến Điện Biên Phủ. Tại nhiều địa phương, người dân, thanh niên trai tráng trong làng xung phong tình nguyện tham gia vào đoàn dân công để vận chuyển lương thực tiếp tế vào chiến trường.

Nông dân Trịnh Đình Bầm khi đó ngoài 20 tuổi, mặc dù đã có vợ con nhưng vẫn hăng hái tham gia dân công. Tuy nhiên, trước ngày chuẩn bị lên đường đi tải lương, do gia đình nghèo khó, không có xe đạp, nếu vận chuyển bằng quang gánh không được bao nhiêu, ông Trịnh Đình Bầm băn khoăn chưa biết làm cách nào.

Sau những trăn trở, ông nghĩ đến việc chế tạo chiếc xe đẩy bằng gỗ (xe cút kít) để có thể vận chuyển được nhiều lương thực.

"Để làm chiếc xe cút kít, bố tôi bắt đầu đi tìm những mảnh gỗ, ván trong nhà làm vật liệu. Nhưng đến khi chuẩn bị hoàn thành thì phần bánh xe lại thiếu một mảnh nhỏ, ông đi tìm khắp nhà nhưng chẳng còn miếng gỗ nào. Sau khi ngước nhìn lên bàn thờ gia tiên, ông nảy ra ý nghĩ táo bạo: lấy ván bàn thờ.

Sau đó ông bàn với bố mẹ để xin phép lấy tấm ván bàn thờ làm bánh xe, nhưng ai cũng lo sợ. Cuối cùng, sau nhiều đắn đo, ông quyết tâm thắp hương xin gia tiên được lấy bàn thờ làm bánh xe cút kít", ông Tân kể.

Chiếc xe cút kít được sáng chế với chiều dài hơn 200cm, càng xe làm bằng gỗ, có hai chân chống bằng tre và bánh xe được ghép từ 3 mảnh gỗ khác nhau, trong đó có một mảnh gỗ được lấy từ một phần bàn thờ gia tiên.

Sau khi chế tạo thành công chiếc xe cút kít, ông Bầm tham gia vận chuyển lương thực trên đoạn đường từ kho lương Sánh - Lược (huyện Thọ Xuân) lên Phố Cống - Trạm Luồng (huyện Ngọc Lặc).

Trong vòng 4 tháng, trung bình 3 ngày một chuyến, người nông dân ưu tú của xứ Thanh vượt những con dốc, đèo núi dài hơn 20km, vận chuyển lương thực phục vụ chiến trường Điện Biên Phủ.

Sau này, qua thống kê của cơ quan chức năng, ông Trịnh Đình Bầm đã vận chuyển khoảng 12.000kg lương thực phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ.

Hiện chiếc xe cút kít nguyên bản của ông Trịnh Đình Bầm được trưng bày tại Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.