Thứ Tư, 8 tháng 5, 2024

NHẬT LỆNH CỦA ĐẠI TƯỚNG TỔNG TƯ LỆNH VÕ NGUYÊN GIÁP ĐỌC TẠI ĐIỆN BIÊN PHỦ, NHÂN DỊP LỄ CHIẾN THẮNG NGÀY 13-5-1954

 Hỡi toàn thể các cán bộ và chiến sĩ các đơn vị bộ binh, công binh, pháo binh, cao xạ pháo chiến thắng trên mặt trận Điện Biên Phủ.

Hỡi toàn thể các cán bộ và chiến sĩ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích khắp các chiến trường toàn quốc.
Hôm nay, tại Điện Biên Phủ giải phóng, tôi trân trọng gửi lời chào mừng đại thắng cho toàn thể các cán bộ và chiến sĩ khắp các chiến trường toàn quốc.
Theo lệnh của Hồ Chủ tịch và Chính phủ, tôi trân trọng tuyên dương công trạng trong toàn thể Quân đội nhân dân Việt Nam, chiến công to lớn của các cán bộ và chiến sĩ các đơn vị bộ binh, công binh, pháo binh, cao xạ pháo đã đại thắng quân địch tại Điện Biên Phủ.
Tôi kính cẩn nghiêng mình trước anh linh các liệt sĩ Điện Biên Phủ đã hy sinh oanh liệt cho thắng lợi lịch sử này.
Chiến thắng Điện Biên Phủ là một chiến thắng vĩ đại xưa nay chưa từng có trong lịch sử chiến đấu của quân đội ta. Chúng ta đã tiêu diệt 1 vạn 6 nghìn quân chủ lực tinh nhuệ của địch trong một tập đoàn cứ điểm kiên cố nhất của chúng. Chúng ta đã giải phóng toàn bộ căn cứ địa Tây Bắc, củng cố hậu phương rộng lớn của cuộc kháng chiến, góp phần bảo đảm cho cuộc cải cách ruộng đất được thành công.
Cùng với các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích khắp toàn quốc, cùng với quân đội giải phóng Pa-thét Lào và quân đội giải phóng Khơ-me, chúng ta đã đánh bại kế hoạch Na-va, chúng ta đã đánh một đòn rất nặng vào âm mưu mở rộng chiến tranh của bọn thực dân hiếu chiến Pháp và bọn can thiệp Mỹ.
Trải qua chiến dịch Điện Biên Phủ, quân đội ta đã trưởng thành vượt bực, từ chỗ đánh công kiên quy mô nhỏ tiêu diệt từng tiểu đoàn của địch tiến đến chỗ đánh công kiên có tính chất trận địa, quy mô tương đối lớn, tiêu diệt hơn 21 tiểu đoàn của địch. Sự trưởng thành đó là một cơ sở vững chắc để quân ta tiến tới tiêu diệt nhiều địch hơn nữa, để cuộc kháng chiến ta giành được những thắng lợi to lớn hơn nữa.
Quân ta đã đại thắng ở Điện Biên Phủ, đó là nhờ ở sự lãnh đạo sáng suốt của Hồ Chủ tịch, Trung ương Đảng và Chính phủ.
Quân ta đã đại thắng ở Điện Biên Phủ, đó là nhờ ở tinh thần chiến đấu dũng cảm, gan dạ, bền bỉ; ở tinh thần chịu đựng gian khổ khắc phục khó khăn của toàn thể cán bộ và chiến sĩ Điện Biên Phủ. Tinh thần đó cần được củng cố và phát huy hơn nữa.
Quân ta đã đại thắng ở Điện Biên Phủ, đó là nhờ ở tinh thần tích cực phục vụ tiền tuyến của anh chị em dân công, của đồng bào Tây Bắc và đồng bào địa phương. Thay mặt bộ đội, tôi xin tỏ lòng biết ơn toàn thể anh chị em dân công, biết ơn toàn thể đồng bào.
Quân ta đã đại thắng ở Điện Biên Phủ, đó là nhờ ở sự phối hợp rất đắc lực của các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích trên chiến trường toàn quốc. Ở đồng bằng Bắc Bộ, chiến tranh du kích đã phát triển mạnh hơn bao giờ hết, bộ đội ta đã nhiều lần cắt đứt đường số 5, đã từng tập kích thắng lợi vào trường bay Gia Lâm, Cát Bi. Ở Bình Trị Thiên, quân ta đã hoạt động mạnh. Ở Liên khu 5, quân ta đã giải phóng Kon Tum, đánh sâu vào lưng địch, làm cho chúng khó lòng thực hiện được âm mưu đánh chiếm cả vùng tự do của ta. Ở Nam Bộ, chiến tranh du kích đã phát triển mạnh. Tôi nhiệt liệt khen ngợi toàn thể cán bộ và chiến sĩ của quân ta trên khắp các chiến trường toàn quốc.
Quân ta đã đại thắng ở Điện Biên Phủ, đó lại là nhờ ở sự phối hợp chặt chẽ của quân đội giải phóng hai nước anh em Khơ-me và Pa-thét Lào. Thay mặt Quân đội nhân dân Việt Nam, tôi nhiệt liệt hoan nghênh tinh thần đoàn kết chiến đấu của quân đội giải phóng Khơ-me, của quân đội giải phóng Pa-thét Lào.
Hôm nay, nhân ngày lễ chiến thắng lịch sử này, nhân danh Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, tôi hạ lệnh cho toàn thể cán bộ và chiến sĩ trên mặt trận Điện Biên Phủ và trên khắp các chiến trường toàn quốc:
1 - Phải nhìn rõ ý nghĩa to lớn của chiến thắng Điện Biên Phủ, đồng thời phải nhận rõ âm mưu thâm độc của bọn hiếu chiến Pháp và can thiệp Mỹ, tuyệt đối không chủ quan tự mãn, không chủ quan khinh địch, phải tỉnh táo đề phòng, phải kiên quyết chiến đấu chống mọi âm mưu mới của địch.
2 - Phải nỗ lực học tập kinh nghiệm quý báu của chiến dịch Điện Biên Phủ, ra sức phát huy tinh thần chiến đấu tích cực dũng cảm, gan dạ, bền bỉ của người “Chiến sĩ Điện Biên Phủ” để nâng cao sức chiến đấu của quân ta, làm cho quân ta trở nên một quân đội vô địch.
3 - Phải tích cực chiến đấu để củng cố và khuếch trương thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, củng cố và khuếch trương thắng lợi của chiến dịch Đông Xuân, tiến tới những thắng lợi mới rực rỡ hơn nữa.
Tôi trân trọng trao cho toàn thể các đơn vị chiến thắng lá cờ Quyết chiến Quyết thắng của Hồ Chủ tịch tặng cán bộ và chiến sĩ mặt trận Điện Biên Phủ.
Dưới ngọn cờ Quyết chiến Quyết thắng của Hồ Chủ tịch, vì độc lập của Tổ quốc, vì ruộng đất của dân cày, vì hòa bình của Á Đông và thế giới, toàn thể các cán bộ và chiến sĩ hãy dũng cảm tiến lên./.
Chào thân ái và quyết thắng!
Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp
ST

THƯ GỬI CÁC ANH EM THƯƠNG, BỆNH BINH MẶT TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ

 Ngày 11-5-1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đã có thư gửi các thương, bệnh binh mặt trận Điện Biên Phủ, thông báo về chiến thắng của Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Tôi vui mừng báo tin để các đồng chí biết rằng: Ngày 7 tháng 5, Quân đội nhân dân anh hùng của chúng ta đã tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ, gồm 21 tiểu đoàn quân tinh nhuệ, cộng 1 vạn 6 nghìn 2 trăm tên, giải phóng toàn bộ lãnh thổ Tây Bắc.
Chiến dịch Điện Biên Phủ đã toàn thắng, chúng ta đã thực hiện được quyết tâm của Trung ương Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch, tạo điều kiện cho những thắng lợi lớn lao hơn nữa của quân dân ta. Tiêu d.iệt quân đ.ịch tại Điện Biên Phủ, chúng ta đã ủng hộ một cách thiết thực và đắc lực cuộc đấu tranh giành ruộng đất của nông dân và cuộc đấu tranh ngoại giao của Đoàn đại biểu Chính phủ ta tại Hội nghị Giơnevơ.
Có được những thắng lợi vẻ vang đó là nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch, nhân dân ta hết sức phục vụ tiền tuyến, một phần quan trọng là nhờ tinh thần dũng cảm chiến đấu, chịu đựng gian khổ của Quân đội nhân dân ta. Trong suốt chiến dịch, các đồng chí đã nêu cao những hành động gương mẫu của Quân đội nhân dân cách mạng, các đồng chí rất xứng đáng là người con ưu tú bảo vệ Tổ quốc, người chiến sĩ bảo vệ hòa bình và dân chủ thế giới. Bác có lời hỏi thăm và khen ngợi các đồng chí.
Các đồng chí!
Bọn đế quốc Pháp - Mỹ thua to đã buộc phải bàn đến việc giải quyết hòa bình vấn đề Đông Dương ở Hội nghị Giơnevơ, nhưng chúng hết sức ngoan cố, chúng vẫn mưu phá hoại hội nghị và tiếp tục mở rộng chiến tranh xâm lược nước ta, chúng ta phải hết sức cảnh giác, phải luôn nhớ lời Bác dạy: "Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bước đầu... Bất kỳ đấu tranh về quân sự hay ngoại giao cũng đều phải đấu tranh trường kỳ gian khổ mới đi đến thắng lợi hoàn toàn". Chúng ta phải sẵn sàng phá tan những âm mưu mới của chúng, đánh cho chúng những đòn nặng hơn nữa.
Các đồng chí!
Trong lúc quân ta vui mừng với chiến thắng, phấn khởi tấp nập chuẩn bị khuếch trương thắng lợi, thì các đồng chí còn nằm điều trị tại các bệnh viện. Các đồng chí vui mừng với chiến thắng, với thành tích xứng đáng của mình, nhưng không khỏi nóng ruột, mong chóng khỏi để trở về đơn vị tiếp tục nhận nhiệm vụ. Tinh thần đó rất đáng khen ngợi. Tôi mong các đồng chí yên tâm tĩnh dưỡng, chúc các đồng chí mau chóng lành mạnh để trở về đơn vị tiếp tục chiến đấu lập nhiều thành tích mới.
Chào thân ái và quyết thắng.
Ngày 11 tháng 5 năm 1954
TỔNG TƯ LỆNH
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP
St

MỨC PHẠT LỖI XE MÁY KHÔNG GƯƠNG MỚI NHẤT

 Người sử dụng phương tiện xe máy thường xuyên gặp lỗi không gương hoặc lỗi gương xe không đạt chuẩn, tuy nhiên không phải ai cũng biết nếu vi phạm sẽ bị mức phạt thế nào.

Theo quy định hiện hành, lỗi không gương sẽ phải chịu mức phạt hành chính theo quy định tại Nghị định 100/2019/NĐ-CP.
Cụ thể, người vi phạm có thể bị phạt tới 400.000 đồng và có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là buộc phải sửa chữa, thay thế thiết bị theo quy định.
Gương chiếu hậu thế nào là đạt chuẩn?
Để đủ điều kiện tham gia giao thông thì xe máy phải gắn gương chiếu hậu ở phía bên trái hoặc là ở cả hai bên và ô tô phải gắn gương chiếu hậu ở cả hai bên; nếu không thực hiện sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 28:2010/BGTVT về gương chiếu hậu của xe máy, gương xe máy đạt chuẩn cần đáp ứng các yêu cầu: Được lắp đặt chắc chắn, có tác dụng phản xạ và gương điều chỉnh được vùng quan sát; người lái có thể nhận rõ hình ảnh ở phía sau với khoảng cách tối thiểu 50m về phía bên phải và bên trái.
Nếu là gương tròn, đường kính của bề mặt phản xạ không được nhỏ hơn 94mm và không được lớn hơn 150mm.
Nếu là gương không tròn, kích thước của bề mặt phản xạ phải đủ lớn để chứa được một hình tròn nội tiếp có đường kính 78mm, nhưng phải được nằm trong một hình chữ nhật có kích thước 120x200mm.
Mức phạt lỗi xe máy không gương
Mức phạt lỗi xe máy không gương được quy định tại khoản 1 Điều 17 Nghị định 100/2019/NĐ-CP.
Cụ thể, mức phạt từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với xe máy không có gương chiếu hậu bên trái hoặc có nhưng không có tác dụng. Điều khoản này chỉ quan tâm việc xe máy có gương chiếu hậu bên trái hay không. Nếu người dân có gương bên phải nhưng không trang bị gương bên trái thì vẫn bị phạt với mức phạt trên
Mức xử phạt vi phạm hành chính đối với người điều khiển xe ô tô không đủ kính chiếu hậu được quy định tại Điều 16 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, được sửa đổi bởi khoản 9 Điều 2 Nghị định 123/2021/NĐ-CP.
Cụ thể, phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với ô tô không có gương chiếu hậu hoặc có nhưng không có tác dụng.
Ngoài ra, người điều khiển xe máy, ô tô không gương còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là buộc phải sửa chữa, thay thế thiết bị theo quy định.
Do vậy, để đảm bảo an toàn cho bản thân và người khác, bạn nên tuân thủ luật giao thông và trang bị đầy đủ gương chiếu hậu cho xe máy khi tham gia giao thông./.
St

XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH – SỰ PHÁT TRIỂN MỚI VỀ TƯ DUY NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU, NHIỆM VỤ THỜI KỲ MỚI

 Thành tố đầu tiên của chủ đề Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng là: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”. Quan điểm chỉ đạo thứ năm về công tác xây dựng Đảng nêu rõ phải: “xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện”.

Như vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã chính thức khẳng định một quan điểm, một chủ trương mới của Đảng là phải gắn liền xây dựng Đảng với xây dựng hệ thống chính trị, nói cách khác, xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị là một chỉnh thể đặc điểm liền với nhau.
Đây chính là thể hiện sự phát triển nhận thức của Đảng về vị trí, mối quan hệ, nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng trong điều kiện mới. Sự phát triển mới về nhận thức của Đảng xuất phát từ những yêu cầu nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, về mặt lý luận
- Do vai trò, nhiệm vụ của Đảng cộng sản cầm quyền và hệ thống chính trị
Khi trở thành đảng cầm quyền, Đảng là lực lượng lãnh đạo xã hội thông qua việc đề ra đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; Nhà nước tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thông qua chức năng quản lý Nhà nước; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội vận động thành viên, hội viên, đoàn viên thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mình. Tất cả hợp thành một hệ thống, một chỉnh thể thống nhất, không thể có Đảng trong sạch, vững mạnh khi các tổ chức khác trong hệ thống chính trị không trong sạch, vững mạnh. Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức trong hệ thống thực chất cũng là góp vào xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, thực hiện tốt vai trò lãnh đạo của Đảng.
- Do bản chất của xây dựng hệ thống chính trị
Bản chất hệ thống chính trị XHCN của nước ta là công cụ thực hiện sự thống trị của giai cấp công nhân, do đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo thiết lập nên. Một mặt nó phục vụ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mặt khác, về tổ chức, nó là những tổ chức của Đảng và một bộ phận lớn thành viên của hệ thống chính trị chính là đảng viên của Đảng. Bởi vậy, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh cũng chính là góp vào xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
- Do đặc điểm của Đảng và xây dựng Đảng trong điều kiện đảng cầm quyền
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, một bộ phận lớn đảng viên của Đảng trở thành cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội thuộc hệ thống chính trị XHCN; một phần lớn hệ thống tổ chức của Đảng được thiết lập bên trong và tương ứng với hệ thống tổ chức của các tổ chức trong hệ thống chính trị, do đó, giữa xây dựng Đảng và xây dựnghệ thống chính trị XHCN có mối quan hệ chặt chẽ tự nhiên với nhau, nó vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện cho nhau. Muốn xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh thì phải xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; ngược lại, muốn xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh thì cần phải xây dựng trong sạch, vững mạnh.
+ Thứ hai, về mặt thực tiễn
Thực tế công tácxây dựng Đảng đã luôn có yêu cầu gắn liền, đi đôi với xây dựnghệ thống chính trị và ngược lại. Ở đâu, khi nào có sự gắn liền này thì thành công và tách rời, xem nhẹ mặt nào đó sẽ không thể có kết quả tốt đẹp. Thực trạng vừa qua đã có không ít cán bộ, công chức, viên chức của Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật do coi thường các nguyên tắc xây dựng Đảng là minh chứng cho yêu cầu phải gắn xây dựng Đảng với xây dựng hệ thống chính trị và ngược lại.
Từ kinh nghiệm thực tiễn đó và yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ công cuộc đổi mới trong giai đoạn hiện nay đang đòi hỏi phải gắn liền và đòi hỏi đồng thời làm tốt xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện. Do đó, để thực hiện được các mục tiêu và nhiệm vụ đang đặt ra, cần thực hiện tốt các nôi dung sau:
Một là, tuyên truyền quán triệt tốt chủ trương mới này của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng để nâng cao, thống nhất nhận thức, trách nhiệm trong toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị về việc gắn liền xây dựng Đảng với xây dựng hệ thống chính trị. Cần lưu ý chữ “và” hàm nghĩa là xây dựng Đảngphải đồng thời, phải đi liền với xây dựnghệ thống chính trị và phải coi trọng cả 2 công tác này.
Hai là, trong hoạt động xây dựng Đảng phải luôn tính đến xây dựng hệ thống chính trị tương ứng, phải bảo đảm xây dựng Đảng luôn gắn với xây dựnghệ thống chính trị; các nhiệm vụ, giải pháp phải đảm bảo tính hệ thống, tính đồng bộ giữa xây dựng Đảng và xây dựnghệ thống chính trị.
Ba là, mặt khác, trong xây dựng hệ thống chính trị nói chung, xây dựng mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị nói riêng phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng; phải gắn với xây dựng Đảng, không được tách rời, biệt lập việc xây dựng tổ chức của mình, đưa ra những biện pháp, những quy định trái với đường lối, chủ trương, quy định của Đảng.
Bốn là, trong lãnh đạo, chỉ đạo, “đầu tư" cho xây dựng Đảng thế nào thì cũng phải quan tâm cho xây dựng hệ thống chính trị tương ứng./.
St

TIẾP TỤC KHẲNG ĐỊNH GIÁ TRỊ KHOA HỌC VÀ CÁCH MẠNG CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

 Lợi dụng bối cảnh lịch sử mới và cuộc Cách mạng khoa học công nghệ 4.0 hiện nay, các thế lực thù địch, phản động đang ra sức xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã “lỗi thời”, “không còn phù hợp”. Song, lý luận, thực tiễn đều đã chứng minh, bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin là vấn đề có tính khách quan và vẫn còn nguyên giá trị đối với phong trào cách mạng thế giới.

Trong lịch sử nhân loại, chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết có ảnh hưởng lớn nhất với những giá trị bền vững, không thể phủ nhận. Giá trị này được quy định bởi những đóng góp to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Thứ nhất, quan niệm duy vật về lịch sử: C.Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính quy luật của sự phát triển xã hội loài người, đó là: lịch sử xã hội loài người vận động trên cơ sở những động cơ vật chất, nhất là là động cơ lợi ích kinh tế - điều mà sau này V.I.Lênin đã nhận xét rằng, đó là “thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học”. Quan niệm duy vật về lịch sử xem xét xã hội một cách toàn diện, chỉnh thể, trên nền của sự phát sinh, phát triển và suy tàn của các hình thái kinh tế - xã hội. Mặc dù con người không thể tùy tiện thay đổi hay xóa bỏ các quy luật của xã hội, nhưng thông qua hoạt động thực tiễn của mình, con người có thể tác động để các quy luật xã hội diễn ra nhanh hơn hay chậm đi. Nói chung, quan niệm duy vật về lịch sử là cơ sở phương pháp luận giúp con người nhận thức xã hội, thực tiễn một cách đúng đắn và cho đến nay còn nguyên giá trị, không thể lỗi thời cho dù trong điều kiện của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra.
Thứ hai, lý luận về hình thái kinh tế - xã hội. Với góc độ tiếp cận khoa học, hình thái kinh tế - xã hội làm sáng tỏ quy luật phát triển của xã hội loài người. Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng, quy luật phát triển của xã hội loài người không phải là cái gì khó hiểu và phức tạp, đó chính là sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội bởi các cuộc cách mạng xã hội. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội là một cơ cấu xã hội hoàn chỉnh, phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Lịch sử xã hội loại người cho thấy, sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng sẽ tồn tại trong khoảng thời gian dài nhất định, cho tới khi mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất không còn phù hợp nữa. Đó là do lực lượng sản xuất phát triển không ngừng, còn quan hệ sản xuất phát triển chậm hơn nên nó ngày càng không phù hợp với lực lượng sản xuất nữa, lúc đó xã hội đòi hỏi một quan hệ sản xuất mới phù hợp với lực lượng sản xuất, và để đáp ứng sự phù hợp này thường là các cuộc cách mạng xã hội. Đó là cơ sở để chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra những mâu thuẫn cũng như khuyết tật cố hữu của chủ nghĩa tư bản, đồng thời cung cấp căn cứ lý luận xác đáng để đi đến khẳng định: “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”.
Thứ ba, lý luận về giá trị thặng dư: Thông qua việc đi sâu phân tích phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Mác đã vén lên “bức màn bí mật” của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nguyên nhân và cơ chế vận hành của sự bóc lột đối với công nhân, người làm thuê. Đặc biệt hiện nay, chính sự phát triển vũ bão của khoa học - công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã không làm cho lý luận về giá trị thặng dư, về mối quan hệ sở hữu, trở nên lỗi thời, mà ngược lại, đã và đang minh chứng rõ nét hơn, cụ thể hơn cho tính đúng đắn của lý luận về giá trị thặng dư.
Chính những vấn đề cơ bản nói trên đã quy định bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng thời, là cơ sở tạo lên sức sống và sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa Mác - Lênin. Hiện nay, cuộc Cách mạng khoa học công nghệ 4.0 đã đưa đến bước phát triển như vũ bão của lực lượng sản xuất, giúp con người có thêm những cơ hội phát triển, lợi ích, giá trị cao quý, tích cực; song cũng mang lại nhiều thách thức, tiêu cực, nhiều giá trị truyền thống bị đảo lộn. Lợi dụng bối cảnh đó, các thế lực thù định đã tìm mọi cách lợi dụng để chống phá, xuyên tạc, bóp méo các lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin với những luận điệu cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã “lỗi thời”, “không còn phù hợp” với thế kỷ XXI. Nhiều ý kiến cố tình đồng nhất lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin với sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu, từ đó cho rằng Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động là “sai lầm”, “cần phải thay đổi”,…
Song trên thực tế, ở một số quốc gia như Trung Quốc, Việt Nam, các đảng cộng sản vẫn trung thành với lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin. Đặc biệt, tại Việt Nam, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh luôn được lấy làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Và trên nền tảng đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đưa đất nước ta từ đói nghèo, lạc hậu vươn lên trở thành một nước có uy tín trên trường quốc tế. Đặc biệt, sau gần 40 năm đổi mới, “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Việt Nam đã trở thành quốc gia tiệm cận phát triển, chính trị - xã hội ổn định, mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” ngày càng được hiện thực hóa rõ rệt. Mọi học thuyết chỉ có giá trị khi thực sự thâm nhập vào thực tiễn, định hướng hành động thực tiễn của quần chúng nhân dân, góp phần cải tạo thực tiễn. Do đó, những thành quả các mạng, nhất là kết quả sự nghiệp đổi mới trong gần 40 năm qua chính là minh chứng rõ ràng nhất cho giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Dù các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, song thực tiễn lịch sử nhân loại trong hơn 170 năm qua đã khẳng định, chủ nghĩa Mác - Lênin thực sự là một lý thuyết xã hội tiến bộ, khoa học và cách mạng. Bằng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lênin đã luận giải một cách khoa học về những vấn đề cơ bản nhất của xã hội loài người, đặc biệt là sự vận động, phát triển, thay thế lẫn nhau giữa các hình thái kinh tế - xã hội, và tính tất yếu diệt vong của chủ nghĩa tư bản tất yếu cũng như tính tất yếu tiến lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản của xã hội loài người.
Chủ nghĩa Mác - Lênin với tính cách là học thuyết mở, cách mạng, khoa học, phát triển không ngừng là cơ sở quan trọng để chúng ta bồi dưỡng niềm tin, tích cực đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới hiện nay./.
St

TỪ Ý KIẾN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, NGHĨ VỀ ĐỘI NGŨ VĂN NGHỆ SĨ TÀI NĂNG VỚI SỨ MỆNH NGHỀ NGHIỆP TRONG THỜI CUỘC MỚI

 Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát về đối tượng phục vụ của văn nghệ: “Chúng ta phải phục vụ đại đa số nhân dân, cần phải nói dứt khoát như thế, không thể nói nghệ thuật vị nghệ thuật”.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc rồi xây dựng và bảo vệ đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn trân trọng tài năng đặc biệt, hiếm có của văn nghệ sĩ, chân tình khuyến nghị văn nghệ sĩ gắn bó tài năng của mình với sứ mệnh nghề nghiệp cao cả trước xã hội và thời cuộc.
Năm 1942, trong nhà tù hà khắc của Tưởng Giới Thạch, lãnh tụ cách mạng Việt Nam đã phát biểu có tính chất tuyên ngôn về sứ mệnh trọng đại của văn nghệ cách mạng và nhiệm vụ của người nghệ sĩ yêu nước. Người viết:
Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp
Mây gió trăng hoa tuyết núi sông
Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong.
(Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi” - Nhật kí trong tù(1))
Qua bài thơ, có thể nhận ra hàm ý sâu xa của một nhà cách mạng trong khi chỉ ra sự “thiên ái” của thơ xưa chỉ chú trọng miêu tả cái đẹp của thiên nhiên, vũ trụ khách quan mà Người thấy rằng như thế là chưa đủ, Người khơi dậy khát vọng gắn bó với cuộc sống con người và cuộc đấu tranh trong xã hội cho những mục đích cao đẹp của dân tộc và đất nước. Văn nghệ sĩ không thể chỉ cảm thán trước cái đẹp của thiên nhiên, mà cần nêu cao tinh thần tiên phong của người chiến sĩ dấn thân vào trường tranh đấu sinh tử cho cái đẹp, cái tốt nơi xã hội và con người.
Sau này, khi đất nước giành được độc lập, Người phát triển ý kiến trên, chỉ ra rằng “văn hóa cần vào sâu trong tâm lí quốc dân”, “phải soi đường cho quốc dân đi”, “lãnh đạo quốc dân thực hiện độc lập, tự cường và tự chủ”.(2)
Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát về đối tượng phục vụ của văn nghệ: “Chúng ta phải phục vụ đại đa số nhân dân, cần phải nói dứt khoát như thế, không thể nói nghệ thuật vị nghệ thuật.”(3)
Đó là vấn đề có tính chất then chốt của nguyên lí mĩ học mác-xít mà Hồ Chủ tịch quán triệt, trước hết là về lý tưởng chính trị - nghệ thuật, về đối tượng phục vụ và vai trò, vị trí của văn nghệ sĩ yêu nước, cách mạng.
Tiếp đó, về phương diện nghề nghiệp, Người cho rằng văn nghệ sĩ cần luôn luôn tâm huyết xây dựng những tác phẩm xứng đáng với sự nghiệp đại nghĩa của dân tộc, đó là những tác phẩm tốt, hay và đẹp, có thể ví như những hòn ngọc quý, để đời. Những tác phẩm có giá trị đó cần đáp ứng đầy đủ hai tiêu chuẩn đồng bộ, hữu cơ cả về tư tưởng cao đẹp, cả về nghệ thuật nhuần nhuyễn, không thể xem nhẹ mặt nào; trong đó qua sự miêu tả bằng ngôn ngữ và chất liệu, thủ pháp nghệ thuật… phải đạt mức độ chân thực cao, hùng hồn, hay, hấp dẫn và bổ ích với công chúng tiếp nhận đông đảo.
Là một vị lãnh tụ cách mạng hết lòng vì dân, vì nước, đồng thời cũng là một nghệ sĩ, nhà báo, nhà tuyên truyền, người cầm bút làm thơ, viết văn, vẽ tranh, hoạt động nhiếp ảnh, sân khấu…, tác giả Hồ Chí Minh am hiểu sâu sắc tâm lí học sáng tạo và lao động nghệ thuật đặc thù của văn nghệ sĩ, ưu thế cũng như giới hạn của từng loại hình nghệ thuật với các ngôn ngữ thể hiện khác nhau… Người đã có những gợi ý rất quý báu về nghề nghiệp để các văn nghệ sĩ và công chúng nghệ thuật tham khảo bổ ích.
Hồ Chí Minh cho rằng những căn bệnh hay gặp trong sáng tạo nghệ thuật cần tránh, như là điều tối kị, đó là sự công thức, nhàm chán vô bổ, lười biếng rập khuôn, lập dị khó hiểu đến mức không ai hiểu được, xa rời cốt cách dân tộc…
Để trở thành một nhà nghệ sĩ lớn, người sáng tạo nghệ thuật không thể không quan tâm tu dưỡng đạo đức, trau dồi và nâng cao trình độ nghề nghiệp, không ngừng đáp ứng đòi hỏi của công chúng, tôn trọng sự thưởng ngoạn nghệ thuật của công chúng. Có vậy công chúng mới tôn trọng lại nhân cách và tác phẩm của anh ta.
Có mấy sự việc dưới đây mà tôi nguyên là cán bộ nghiên cứu của Viện Văn học (1967-2006) cùng các đồng nghiệp ở cơ quan này luôn truyền bảo nhau nhớ mãi, xem đó là những bài học vỡ lòng cho nghề cầm bút.
Chuyện thứ nhất
Đầu năm 1960, Viện Văn học theo sự chỉ đạo của đồng chí Trường Chinh và đồng chí Tố Hữu, đã phối hợp tổ chức dịch xong tập bản thảo viết tay Ngục trung nhật kí, nguyên tác chữ Hán của lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng tác những năm 1942-1943. Bản thảo dịch đầu tiên có tên là Nhật kí trong tù, được Viện Văn học trân trọng gửi lên Văn phòng Phủ Chủ tịch với đề nghị được Bác Hồ xem duyệt và cho ý kiến.
Thư kí Vũ Kỳ trình bản dịch thơ Bác được đánh máy khi lên làm việc với Bác. Bác đã yêu cầu đồng chí Vũ Kỳ thử đọc bản dịch mấy bài trong tập xem sao. Nghe xong 3 bài, Bác ra hiệu ngừng lại và nói: “Chú trả lại ngay cho nơi gửi.” Rồi Bác nói tiếp: “Thơ các chú dịch hay hơn thơ Bác”(4).
Qua đây, nên chăng hiểu đây là sự phê bình, đánh giá thân tình mà dí dỏm, hóm hỉnh rằng: dịch văn học là một công việc khó, phải công phu, thận trọng và tài năng mới có thể đạt tới các tiêu chí “tín, đạt, nhã”, như yêu cầu rất cao của công việc khó khăn này. Nghĩa là ở đây bản dịch do Viện Văn học chủ trì vẫn còn những chữ chưa ổn, chưa có sức thuyết phục tác giả nguyên bản, chưa sát, chưa trung thành với nguyên tác, khiến cho tác giả không nhận ra mình qua bản dịch thơ mình - một người viết trọng sự giản dị, hàm súc, có phong cách riêng. Dù người dịch thiện chí, sáng tạo thêm thắt vào nguyên tác chỗ này chỗ nọ để tác phẩm “đèm đẹp” hơn, và cho rằng như thế mới là hay, tôn vinh tác phẩm lên, nhưng đã vô tình làm mất đi tính chân thật tự nhiên gắn với tác giả từ gốc, từ hồn cốt, thì có nên chăng? Theo thiển ý của tôi, Bác Hồ dè chừng với cách làm này và đề nghị nên làm lại thì hơn.
Chuyện thứ hai
Cuối tháng 9 năm 1960, Viện Văn học triệu tập hội nghị bàn về cải tiến chữ quốc ngữ, tại Hà Nội. Được biết Chủ tịch Hồ Chí Minh từ lâu quan tâm đến vấn đề này, Ban tổ chức hội nghị đã gửi đến Văn phòng Phủ Chủ tịch bản dự thảo báo cáo chính sẽ trình bày trước hội nghị để Bác Hồ được biết những vấn đề giới nghiên cứu khoa học ngữ văn đang quan tâm.
Giữa lúc hội nghị đang họp, Ban tổ chức vinh dự được Bác Hồ cho gặp để nghe Bác phát biểu một số ý kiến liên quan đến các khía cạnh thuộc nội dung hội nghị.
a) Về vần quốc ngữ: Bác Hồ cho rằng cần nghiên cứu cẩn thận, làm chắc chắn để sửa đổi những chỗ còn bất hợp lí hoặc thêm vần trong việc viết chữ quốc ngữ, sao cho như thế “sẽ tiện hơn, mà lại viết gọn, ít tốn giấy”.
b) Về cách viết tiếng Việt: Khi sử dụng chữ quốc ngữ, theo Bác Hồ, để dễ phân biệt nghĩa của từ và đỡ tốn giấy, có thể nghiên cứu tiến hành dần dần việc viết liền những từ có nhiều âm tiết. Còn trong khoa học tự nhiên, đối với những công thức hóa học đã phổ cập với quốc tế, thì ta phải viết liền như quốc tế đã làm.
c) Về hội nghị: Theo Bác cần bàn những vấn đề thiết thực, nhằm tới những mục đích rõ ràng, nhưng không nên nóng vội, phải có hiệu quả, cải tiến nhưng phải làm thận trọng, dần dần, đừng gây xáo trộn, để người ta làm quen dần với cái mới, không sợ cái mới quá.
d) Về ngôn ngữ tiếng Việt: Bác Hồ cho rằng phải tôn trọng và quý báu, tận tâm, tận lực cho sự phát triển tiếng của dân tộc mình, tránh tự ti hoặc hẹp hòi thái quá. Chỉ nên vay mượn tiếng nước ngoài khi thật cần thiết, chống lạm dụng và lười biếng. Phải luôn quan tâm làm mới cách diễn đạt của tiếng Việt, phát triển nó là chính, vay mượn chỉ là phụ.
Những ý kiến ngắn gọn nói trên của Bác Hồ đã được ghi lại cẩn thận, nhưng Bác không đồng ý công bố các ý kiến của mình trong khi hội nghị đang diễn ra, để đảm bảo tính dân chủ trong tranh luận, trao đổi học thuật khi vấn đề còn đang bàn bạc, tranh cãi, chưa ngã ngũ. Bác khiêm tốn chỉ xem ý kiến riêng của mình là bình đẳng với các ý kiến khác.
Mãi sau ngày Bác mất (2/9/1969) những ý kiến nói trên của Bác mới công bố lần đầu trên tạp chí chuyên ngành ngôn ngữ học.(5)
Chuyện thứ ba
Cuối tháng 10 năm 1962, một hôm cơ quan Viện Văn học nhận được một bì thư từ Phủ Chủ tịch gửi xuống. Mở ra trong bì thư chỉ có một bài báo do Hồ Chủ tịch cắt ra từ một tờ báo nước ngoài mới xuất bản mà Người vừa đọc. Người lấy bút mực đỏ khuyên vào một câu trong bài báo đó (nguyên văn in bằng chữ Trung Quốc). Câu đó tác giả bài báo trích dẫn câu nói nổi tiếng của cổ nhân: “Lương công bất thị nhàn dĩ phác”, dịch ra tiếng Việt là “Người thợ khéo không đưa cho người dùng những sản phẩm vụng về”(6).
Biết việc này, lãnh đạo và toàn thể cán bộ Viện Văn học vô cùng xúc động, trân trọng tìm hiểu qua đó những ý tứ sâu xa mà Người muốn gửi gắm tới những người nghiên cứu - phê bình văn học nói riêng cũng như toàn giới văn học nghệ thuật nói chung.
Phải chăng, Người muốn thân tình nhắc nhở những người hoạt động văn học nghệ thuật ở tất cả các lĩnh vực của nghề nghiệp, phải có được một bản lĩnh và đạo đức nghề nghiệp cần thiết, biết tôn trọng công chúng và người đọc, để tâm huyết và dụng công làm ra những sản phẩm thuộc văn hóa tinh thần tinh xảo ở trình độ tay nghề bậc cao, hoàn mĩ, cho thấy sự thành thục về tài năng và tay nghề của mình khi trao gửi tác phẩm cho công chúng. Chỉ có như vậy, hoạt động của người nghệ sĩ mới có ích, thân thiện với mọi người, mang lại hiệu quả xã hội cao, không phụ sự chờ đợi của công chúng. Qua đó, uy tín, “thương hiệu” của người sản xuất được khẳng định, gây được lòng tin, sự mến mộ của công chúng, thiết lập sự tri âm tri kỉ lâu bền giữa đôi bên.
Chúng tôi cũng nghiêm khắc tự liên hệ về những hành xử của mình, nhận ra những thiếu sót, bất cập bởi có lúc, có nơi, dựa vào những lí do thuộc về chủ quan là chính nhưng biện bạch gọi là “bất khả kháng” cho phép mình dung túng sự thiếu tâm huyết, cẩu thả, làm lấy được hoặc tự bằng lòng với trình độ còn thấp về tay nghề của mình cùng với những nguyên nhân khác, đưa ra những bài viết, công trình nghiên cứu vội vàng, giá trị khoa học chưa cao, chưa đạt với chuẩn mong muốn, phụ lòng chờ đợi của công chúng và đồng nghiệp, gây thất vọng nơi họ, làm hỏng thị hiếu khoa học - nghệ thuật của công chúng.
Qua các ý kiến trên, theo Hồ Chí Minh, tác phẩm nghệ thuật muốn tiềm tàng những giá trị sâu sắc phải “gắn với cuộc sống, đi sát cuộc sống, trở về với cuộc sinh hoạt thực tại của con người”. Nghệ sĩ “không thể tùy ý tưởng tượng ra thế nào cũng được, đến nỗi không ai hiểu gì” khi tiếp cận tác phẩm, “rồi quần chúng phê bình lại bảo người ta dốt”. Người yêu cầu cao về sự phong phú, đa dạng, muôn hình muôn vẻ của nghệ thuật, tránh sự đơn điệu nghèo nàn, suy tôn duy nhất một kiểu tư duy, một kiểu bút pháp, một loại phong cách. “Cần làm cho món ăn tinh thần được phong phú, không nên bắt mọi người chỉ được ăn một món thôi. Cũng như vào vườn hoa, cần cho mọi người thấy nhiều hoa đẹp.”(7)
Sau hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh kì vọng khi sáng tạo, văn nghệ sĩ cần vượt qua những cái nhất thời, không vụ vào những điều hiện hữu trước mắt, cần quan tâm đến cấu trúc tổng thể và sự hoàn thiện để tác phẩm có được sự trường tồn, phổ cập, bền vững, để đời, không chỉ cho hôm nay mà còn cho mai sau, không chỉ cho đồng bào dân tộc mình mà còn để cho công chúng rộng rãi toàn thế giới được biết nữa. Nghệ thuật chân chính sẽ có sức lan tỏa rộng rãi trong nhiều trường không - thời gian khác nhau, chịu được sự thử thách của công chúng qua nhiều thời đại.
Học tập và quán triệt tư tưởng văn hóa - văn nghệ Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam qua các nghị quyết, chỉ thị đã khẳng định văn hóa - nghệ thuật góp phần quan trọng bồi đắp nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực của sự phát triển bền vững đất nước. Phải kiên quyết chống bệnh sơ lược, chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa tự nhiên, bệnh lai căng mất gốc, bắt chước mù quáng nước ngoài một cách nô lệ; tự giam mình trong khuôn sáo cũ; bệnh cẩu thả, thiếu trách nhiệm, không đáp ứng sự thụ hưởng các giá trị cao đẹp của văn hóa văn nghệ dân tộc và thế giới.
Đảng chủ trương chăm lo ba thứ quân của lực lượng văn nghệ, trong đó đội ngũ văn nghệ sĩ chuyên nghiệp là quân chủ lực, gánh vác những trọng trách không thay thế được để xây dựng nền văn hóa - văn nghệ dân tộc phong phú, tiên tiến, khoa học và nhân văn, đảm bảo chất lượng cao. Văn nghệ sĩ là “kĩ sư tâm hồn”, là “thư kí và lương tâm của thời đại”; những người ưu tú trong số đó được xếp vào hàng “nguyên khí quốc gia”.
Tác phẩm văn hóa, văn nghệ hay và đẹp có tác dụng giáo dục tư tưởng sâu sắc, nâng cao trình độ và năng lực thẩm mĩ của nhân dân, tác động và truyền cảm mạnh mẽ giúp con người hoàn thiện nhân cách, xứng đáng với bản chất đích thực của nó.(
😎
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong những phát biểu gần đây tại Hội nghị văn hóa toàn quốc, ngày 24/11/2021, tại Lễ kỉ niệm 75 năm thành lập Hội văn nghệ Việt Nam (nay là Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt Nam) đặc biệt nhấn mạnh sự gắn bó mật thiết, đồng hành của văn nghệ sĩ với đất nước, với nhân dân, dấy lên khát vọng lớn lao trong sáng tạo nghệ thuật, nhập cuộc với cao trào của công cuộc chấn hưng đất nước với niềm tự hào về sự lớn mạnh của Việt Nam trong thời cuộc quốc tế hiện nay.
Vui mừng về những thành quả đã đạt được trong 75 năm qua, những văn nghệ sĩ Việt Nam cần biết “tự soi, tự sửa” để khắc phục những mặt còn chưa được bằng người, bền chí vươn lên, tự đổi mới mình, để có trình độ, tầm nhìn, cách nghĩ và những tìm tòi về phương thức hoạt động, sáng tạo có hiệu quả hơn nữa, phù hợp và đáp ứng với thực tiễn phát triển của nước Việt Nam đang trên đà hiện đại hóa, sánh vai cùng bạn bè quốc tế(9).
Chúng ta quyết tâm đoàn kết xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ lớn mạnh, không để cho sự tầm thường dễ dãi ám ảnh mình mà không tự biết. Phải thăng hoa, công phu sáng tạo những tác phẩm đỉnh cao, rung động trái tim và khối óc hàng triệu công chúng. Đó là những tác phẩm chiếu sáng cuộc sống, soi đường cho quốc dân đi, chứ không chỉ là nơi cuộc sống hiện hình. Tác phẩm như vậy cũng nhằm bồi dưỡng, nâng cao con người, chứ không phải chỉ là nơi nghệ sĩ khuôn mình giãi bày những tâm trạng cá nhân riêng tư, tầm thường hóa, nếu không phải là hạ thấp con người(10).
Vinh dự và trách nhiệm của văn nghệ sĩ ngày nay là rất vẻ vang, nhưng cũng vô cùng nặng nề. Hướng tới những tác phẩm đỉnh cao ở đó có sự kết hợp tinh hoa của tư tưởng và sự điêu luyện nghệ thuật, tính chân thực của hiện thực và lịch sử; tính dân tộc như là căn cước của giống nòi; tính nhân dân như là gốc rễ cội nguồn; tính quốc tế để phổ cập và hội nhập vào văn minh nhân loại - đó vừa là tâm nguyện vừa là thời cơ và thách thức đang đón đợi chúng ta vượt lên và thành công./.
St

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH - SỰ PHÁT TRIỂN MỚI VỀ TƯ DUY NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU, NHIỆM VỤ THỜI KỲ MỚI!

         Thành tố đầu tiên của chủ đề Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng là: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”. Quan điểm chỉ đạo thứ năm về công tác xây dựng Đảng nêu rõ phải: “xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện”!

Như vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã chính thức khẳng định một quan điểm, một chủ trương mới của Đảng là phải gắn liền xây dựng Đảng với xây dựng hệ thống chính trị, nói cách khác, xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị là một chỉnh thể đặc điểm liền với nhau.

Đây chính là thể hiện sự phát triển nhận thức của Đảng về vị trí, mối quan hệ, nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng trong điều kiện mới. Sự phát triển mới về nhận thức của Đảng xuất phát từ những yêu cầu nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, về mặt lý luận
- Do vai trò, nhiệm vụ của Đảng cộng sản cầm quyền và hệ thống chính trị

Khi trở thành đảng cầm quyền, Đảng là lực lượng lãnh đạo xã hội thông qua việc đề ra đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; Nhà nước tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thông qua chức năng quản lý Nhà nước; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội vận động thành viên, hội viên, đoàn viên thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mình. Tất cả hợp thành một hệ thống, một chỉnh thể thống nhất, không thể có Đảng trong sạch, vững mạnh khi các tổ chức khác trong hệ thống chính trị không trong sạch, vững mạnh. Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức trong hệ thống thực chất cũng là góp vào xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, thực hiện tốt vai trò lãnh đạo của Đảng.

- Do bản chất của xây dựng hệ thống chính trị
Bản chất hệ thống chính trị XHCN của nước ta là công cụ thực hiện sự thống trị của giai cấp công nhân, do đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo thiết lập nên. Một mặt nó phục vụ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mặt khác, về tổ chức, nó là những tổ chức của Đảng và một bộ phận lớn thành viên của hệ thống chính trị chính là đảng viên của Đảng. Bởi vậy, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh cũng chính là góp vào xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

- Do đặc điểm của Đảng và xây dựng Đảng trong điều kiện đảng cầm quyền
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, một bộ phận lớn đảng viên của Đảng trở thành cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội thuộc hệ thống chính trị XHCN; một phần lớn hệ thống tổ chức của Đảng được thiết lập bên trong và tương ứng với hệ thống tổ chức của các tổ chức trong hệ thống chính trị, do đó, giữa xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị XHCN có mối quan hệ chặt chẽ tự nhiên với nhau, nó vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện cho nhau. Muốn xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh thì phải xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; ngược lại, muốn xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh thì cần phải xây dựng trong sạch, vững mạnh.

Thứ hai, về mặt thực tiễn
Thực tế công tác xây dựng Đảng đã luôn có yêu cầu gắn liền, đi đôi với xây dựng hệ thống chính trị và ngược lại. Ở đâu, khi nào có sự gắn liền này thì thành công và tách rời, xem nhẹ mặt nào đó sẽ không thể có kết quả tốt đẹp. Thực trạng vừa qua đã có không ít cán bộ, công chức, viên chức của Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật do coi thường các nguyên tắc xây dựng Đảng là minh chứng cho yêu cầu phải gắn xây dựng Đảng với xây dựng hệ thống chính trị và ngược lại.

Từ kinh nghiệm thực tiễn đó và yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ công cuộc đổi mới trong giai đoạn hiện nay đang đòi hỏi phải gắn liền và đòi hỏi đồng thời làm tốt xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện. Do đó, để thực hiện được các mục tiêu và nhiệm vụ đang đặt ra, cần thực hiện tốt các nôi dung sau:
Một là, tuyên truyền quán triệt tốt chủ trương mới này của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng để nâng cao, thống nhất nhận thức, trách nhiệm trong toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị về việc gắn liền xây dựng Đảng với xây dựng hệ thống chính trị. Cần lưu ý chữ “và” hàm nghĩa là xây dựng Đảng phải đồng thời, phải đi liền với xây dựng hệ thống chính trị và phải coi trọng cả 2 công tác này.

Hai là, trong hoạt động xây dựng Đảng phải luôn tính đến xây dựng hệ thống chính trị tương ứng, phải bảo đảm xây dựng Đảng luôn gắn với xây dựng hệ thống chính trị; các nhiệm vụ, giải pháp phải đảm bảo tính hệ thống, tính đồng bộ giữa xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị.

Ba là, mặt khác, trong xây dựng hệ thống chính trị nói chung, xây dựng mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị nói riêng phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng; phải gắn với xây dựng Đảng, không được tách rời, biệt lập việc xây dựng tổ chức của mình, đưa ra những biện pháp, những quy định trái với đường lối, chủ trương, quy định của Đảng.

Bốn là, trong lãnh đạo, chỉ đạo, “đầu tư" cho xây dựng Đảng thế nào thì cũng phải quan tâm cho xây dựng hệ thống chính trị tương ứng./.
Yêu nước ST.

CÔ DÂU ĐIỆN BIÊN PHỦ VÀ ĐÁM CƯỚI TRÊN CHIẾN ĐỊA

 Tại nhà khách của Bộ Quốc phòng ở TP. Hồ Chí Minh một sáng đầu tháng 5/2024, khi thấy hình dáng người phụ nữ nhỏ nhắn, mặc bộ quân phục màu xanh oliu trên có gắn huân huy chương, gương mặt hiền từ bình lặng, bước vào, gần như tất cả ánh mắt ngưỡng mộ, trìu mến, thân thương của mọi người dồn vào bà - “cô dâu Điện Biên”, người đẹp Điện Biên Phủ năm xưa. 94 tuổi, nhưng Đại tá GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Toản vẫn giữ nét đẹp của một “công nương” Hoàng tộc triều Huế, trí óc minh mẫn, kể chuyện rất mạch lạc.

Cách đó hơn một tháng, không quản quãng đường xa vạn dặm, không quản tuổi 94 chân đã yếu mắt đã mờ, bà đã về nơi lưu dấu một thời sống và chết, sinh và tử trong gang tấc, để phục dựng hồi sinh ký ức đám cưới “lên xe tăng về nhà chồng” của mình với người chồng tướng quân thân thương.
Cô gái "Hoàng tộc" chiến sỹ quân y tiền phương Điện Biên Phủ
Đại tá GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Toản là con gái của quan Thượng thư Tôn Thất Đàn (1871 - 1936). Cụ Đàn có 7 người con: GS.BS Tôn Thất Lang; Tôn Thất Long (liệt sĩ); Tôn Nữ Ngọc Trai - nhà văn, nguyên Phó TBT Báo Văn Nghệ; Tôn Nữ Thị Cung - vợ của GS.BS Đặng Văn Ngữ; Tôn Nữ Ngọc Toản (Nguyễn Thị Ngọc Toản).
Năm 1950, gia đình cụ Tôn Thất Đàn theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ Huế được tổ chức đưa lên Việt Bắc, trong đó có Tôn Nữ Ngọc Toản, cô nữ sinh trường Đồng Khánh (Huế) 15 tuổi. Vào chiến khu, bà đi theo người anh rể là bác sĩ Đặng Văn Ngữ, học ngành y. Năm 1953, khi đang là sinh viên y khoa trường Y Việt Bắc, được giao nhiệm vụ tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, được phân công nhiệm vụ ở Đội điều trị 2.
Có rất nhiều kỷ niệm gian khó của đội quân y dã chiến thời ấy, không chỉ thiếu thốn thuốc men dụng cụ y tế trăm bề, mà còn phải khắc phục thời tiết mưa lạnh của miền rừng núi. Bà kể, có lần phụ mổ bác sĩ Tôn Thất Tùng, chân dẫm trong bùn lầy, rồi con vắt bu đầy cắn hút ngứa đau, vẫn phải trân mình chịu, để đưa dụng cụ, đưa bông gạc,… xong ca mổ thì hai chân mình cũng sưng tấy, đỏ bầm chi chít vết cắn của vắt. Rồi, giữa những ca mổ, được vài phút nghỉ, thì đứng ngủ ngay trong căn hầm sũng bùn nước…
Tháng 3/1954, khi chiến dịch vào hồi “đỉnh”, mặt trận lập trạm quân y tiền phương sát ngay chiến địa gọi là T59, đó cũng là những ngày trên đầu thì máy bay Pháp quần thảo, pháo sáng rực trời đêm, thương binh đưa về nằm la liệt, gần như làm việc không phải ngày 24 giờ, mà một ngày là 36-48 giờ không nghỉ, ngay cả ăn cũng vội vàng chút cơm vắt cá khô, thậm chí còn nhường suất ăn cho thương binh.
Và kỷ niệm nhiệm vụ chiến trận sau cùng của bà, làm phiên dịch và giải thích chính sách khoan hồng của Việt Minh cho một nữ tù binh Pháp duy nhất của chiến dịch Điện Biên Phủ - cô y tá Genevière de Gallard, được lính Pháp gọi là “bông hồng Điện Biên Phủ”. Sau đó cô ý tá đã được thả tự do về nước, trở thành một nhân vật nổi tiếng. Năm 1994, kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, bà Gallard đã viết hồi ký về việc bị bắt năm 1954 và đã gửi tặng GS Ngọc Toản cuốn sách này.
Chú rể tướng quân văn võ song toàn
Trung tướng Cao Văn Khánh xuất thân trong một gia đình nhà nho ở Huế. Ông học tú tài và tốt nghiệp Đại học Luật Hà Nội. Học xong Trường Luật, ông về dạy trung học tư thục Lyceum Việt Anh. Sau đó, ông bỏ ra dạy ở Trường tư thục Hồng Đức cùng ông Hữu Ngọc. Rồi tham gia phong trào hướng đạo ở Huế và đi theo Việt Minh tham gia kháng chiến. Tâm nguyện của ông ngày ấy “Tôi chỉ muốn là công dân tốt, Tổ quốc cần thì đi đánh giặc, xong lại về dạy học, thế là mãn nguyện rồi”.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông là Đại đoàn phó Đại đoàn 308 - Đại đoàn Quân Tiên phong thiện chiến lẫy lừng, đã lập nhiều chiến công vang đội trong các chiến dịch lớn như Sông Thao, Lê Hồng Phong, Biên giới, Hoàng Hoa Thám, Hòa Bình, Quang Trung, Tây Bắc, Thượng Lào, Phố Lu, Tu Vũ, Vĩnh Yên,...
Trong Chiến dịch Biên giới, Đại đoàn 308, trong cùng ngày đã lập chiến công lẫy lừng diệt cả hai binh đoàn Le Page và Charton - lực lượng tiến công lớn của Pháp ở Đông Dương và bắt sống Charton, làm cả nước Pháp thời đó choáng váng. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại đoàn 308 của ông đã đánh trận đồi Độc Lập, đồi A1, bao vây Mường Thanh, góp phần trong việc đập tan cứ điểm Điện Biên Phủ. Đánh thắng thực dân Pháp, Đại đoàn phó Cao Văn Khánh tiếp tục giữ nhiều trọng trách trong quân đội. Ông tham gia chỉ huy nhiều trận đánh trong kháng chiến chống Mỹ. Chức vụ cao nhất của ông là Trung tướng Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông mất năm 1980 khi đang tham gia cuộc chiến thứ ba và thứ tư trong cuộc đời binh nghiệp của mình, bảo vệ biên giới Tổ quốc phía Tây Nam và phía Bắc.
Chuyện tình đẹp như hoa ban Điện Biên Phủ
Trong ký ức của những chiến sĩ Điện Biên Phủ, nhất là với các sĩ quan cấp cao, sau chiến thắng 7/5/1954, có một đám cưới “độc lạ” và cũng đầy lãng mạn được diễn ra trong hầm Tướng Pháp De Castries vào ngày 22/5/1954 giữa Đại đoàn phó Đại đoàn Quân Tiên phong 308 Cao Văn Khánh với cô dâu Nguyễn Thị Ngọc Toản, sinh viên y khoa năm thứ hai, chiến sĩ quân y công tác ở Đội Điều trị số 2, chiến trường Điện Biên Phủ.
“Cô dâu Điện Biên” là tên gọi thân thương vẫn được nhiều người nhắc về đám cưới này mỗi lần kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ. Có người ví von, tình yêu của họ trong chiến trận và đám cưới sau ngày chiến thắng làm cho hoa ban Điện Biên thêm phần rực rỡ cả núi rừng.
“Tình sử” của Đại đoàn phó Cao Văn Khánh và cô sinh viên y Ngọc Toản có thể nói đẹp như một thiên tình sử diễm lệ trong bối cảnh chiến trận khốc liệt, sinh - tử cận kề, giữa trai anh hùng gái anh thư, giữa tình đồng hương tình đồng chí cùng chung chiến hào.
Bà Ngọc Toản, dù tuổi 94, nói năng có chút khó khăn, vẫn nhớ những kỷ niệm tình yêu của mình như khắc cốt ghi tâm. Ngày đó, bà và Tướng Cao Văn Khánh gặp nhau lần đầu tiên năm 1951. Vì mải đánh trận mà ông đã 34 tuổi vẫn chưa lập gia đình. Trong một lần, Tướng Lê Quang Đạo cho vị Đại đoàn phó xem bức ảnh chụp ba cô gái, và chỉ vào người trẻ nhất, nói cô này là em vợ của bác sĩ Đặng Văn Ngữ, đang là sinh viên y Việt Bắc. Chỉ ngay cái nhìn đầu tiên qua ảnh, ông Khánh “phải lòng”, ông đi xe đạp cả nửa ngày từ Thái Nguyên tới trường y khoa ở Chiêm Hóa (Tuyên Quang). Và khi gặp rồi, trái tim vị tướng trăm trận trăm thắng đã đập những nhịp không bình thường.
Sau đó thì đồng đội hết sức vun vào. Đích thân Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ trực tiếp đến gặp mẹ bà để xin phép cho ông Khánh được làm quen với Ngọc Toản. Còn bà, khi gặp ông, cũng rung lên những cảm xúc thuần khiết, cùng có những tần số giao cảm đồng điệu. Bà và ông cùng giao ước, sẽ thư từ qua lại nuôi tình cảm, để hiểu nhau nhiều hơn, và đợi chiến thắng thì sẽ về chiến khu xin phép gia đình làm lễ cưới.
Những lá thư từ chiến hào được viết giữa quãng nghỉ của chiến trận, đã nhen nhóm dần ngọn lửa tình yêu của hai người ngày càng nồng đượm. Và khi cả hai cùng có mặt ở chiến trận trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, thì tình yêu của họ chính là động lực để vượt qua những lằn ranh sinh tử, để vững niềm tin chiến thắng, để được bên nhau “được ghen, được hờn, được thương, được giận, để thành chồng thành vợ và để được hôn con”.
Đám cưới "Lên xe tăng về nhà chồng"
Sau ngày chiến thắng 7/5/1954, cả hai ông bà, mỗi người một đơn vị khác nhau, nhiệm vụ khác nhau, nên ý định về chiến khu Việt Bắc tổ chức đám cưới không thành. Lúc đó ông Trần Lương, Phó Chủ nhiệm Tổng Cục Chính trị, Chủ nhiệm chính trị mặt trận (tức tướng Trần Nam Trung, sau này là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam), bèn “lập mưu” đưa Ngọc Toản ra Mường Thanh gặp người yêu sau nhiều năm xa cách.
Bà Ngọc Toản nhớ lại: Lúc đó ông Trần Lương gửi thư, thông báo đúng ngày 18/5 phải có mặt ở mặt trận nhận nhiệm vụ mới. Vâng! Quân lệnh mà, 5 giờ chiều 17/5, tôi rời Bản Tấu ở cây số 62, nơi Đội điều trị 2 đóng quân, theo anh liên lạc đi suốt đêm, đến Mường Thanh vào 2 giờ sáng. Và rồi tôi đã nhìn thấy căn hầm Tướng De Castries, lúc đó trăng mờ, trên nóc hầm có che dù, lá cờ chiến thắng vẫn bay trong gió lộng. Anh Khánh đang nằm ngủ trên chiếc giường vải đặt trên nóc hầm, nghe lao xao, giật mình choàng dậy, và không tin vào mắt mình, người yêu Ngọc Toản đang đứng bên, bằng xương bằng thịt.
Và giữa cảnh chiến trường vẫn còn ngổn ngang, vương đầy mùi chiến trận, ông kéo bà ngồi xuống và không kìm lòng được, ôm ghì lấy bà, miệng lắp bắp: “Ôi em đây rồi, không phải anh mơ chứ, anh có em thật rồi, hạnh phúc quá”.
Ngày 19/5, ông Trần Lương lại nói còn một nhiệm vụ nữa phải hoàn thành, và ông quyết: “Ta nên tổ chức cưới ngay tại đây, không đợi về hậu phương nữa, tôi sẽ đứng làm chủ hôn cho”. Rồi ông định ngày đám cưới là 22/5. Và một đám cưới ngay chiến địa chưa tan mùi thuốc súng, xe tăng, súng, pháo còn ngổn ngang.
Hầm Tướng De Castries trở thành phòng tiệc cưới. Vải dù đủ màu được chăng lên, trên có dòng chữ “Vui duyên mới không quên nhiệm vụ”, khoảng 40 khách đàng trai là Đại đoàn 308, đàng gái là là bên quân y. Trong ánh đèn măng-sông, chú rể vẫn bộ quần áo chiến binh còn vương mùi thuốc súng, cô dâu chải lại mái tóc cho gọn gàng, mặc chiếc áo sơ mi, rồi cả hai nắm tay nhau bước vào phòng cưới. Ông Trần Lương làm chủ hôn, tuyên bố hai người hôn nhau trước mặt mọi người để thừa nhận là vợ chồng. Chú rể góp vui bài hát “Bộ đội về làng”, cô dâu hát “Em bé Mường La”. Ai cũng chúc phúc cho “cô dâu Điện Biên”.
Sau đó cô dâu chú rể chụp một bức ảnh cưới trên chiếc xe tăng chiến lợi phẩm còn để ở sân bay Mường Thanh. Đó là tấm ảnh 2x3 nhỏ xíu duy nhất còn lưu giữ đến bây giờ, hình hai vợ chồng đứng trên tháp pháo xe tăng, cùng nhau hướng mắt nhìn về phía đồi A1.
Sau đám cưới của hai ông bà Cao Văn Khánh và Nguyễn Thị Ngọc Toản, thì có thêm mấy đám cưới của các đôi yêu nhau trước và sau chiến dịch: đám cưới của Trưởng phòng Tuyên huấn Mặt trận Hoàng Xuân Tùy với cô văn công Tổng cục Chính trị Song Ninh; đám cưới của bác sĩ Vũ Trọng Kính, đội trưởng đội điều trị Quyết Thắng với nữ y sĩ Bích Hoàn.
Nói về tình yêu với Tướng Cao Văn Khánh, bà Ngọc Toản rưng rưng: “Tôi may mắn gặp và yêu đúng người. Tình yêu đó làm chúng tôi trưởng thành, vững vàng hơn trong chiến tranh và gian khổ. Tình yêu thời chiến là vậy, có thể ngày mai ngã xuống nhưng hôm nay vẫn sống và yêu hết mình”.
Và hình ảnh “lên xe tăng về nhà chồng” cho đến 70 năm sau vẫn truyền cảm hứng đầy chất thơ, chất lãng mạn kiêu hùng cho thế hệ trẻ hôm nay như một hình ảnh đẹp của thanh xuân cùng tình yêu đôi lứa, tình yêu đất nước./.
St

ẤN TƯỢNG VỚI “KÝ HỌA TRONG CHIẾN HÀO”

 Nhân dịp kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7.5.1954 -7.5.2024) tập sách “Ký họa trong chiến hào” của họa sĩ Phạm Thanh Tâm vừa được Nhà Xuất bản Kim Đồng ấn hành.

“Ký họa trong chiến hào" là nhật ký của họa sĩ Phạm Thanh Tâm (1932-2019) được ông viết khi tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ với tư cách phóng viên chiến trường Báo Quyết Thắng (tờ báo của Đại đoàn Pháo binh 351).
“Ký họa trong chiến hào" được viết trực tiếp tại chiến trường, ngay trong chiến hào, dưới bom đạn, gồm 3 phần: "Đường ra trận", "Trong chiến hào" và "Về hậu phương".
Họa sĩ Phạm Thanh Tâm sinh năm 1932 tại Hải Phòng, quê gốc Nam Định. Ông theo học một trong những khóa mỹ thuật kháng chiến đầu tiên được mở ở chiến khu, với sự dìu dắt của các họa sĩ bậc thầy như Mai Văn Nam, Lương Xuân Nhị, Bùi Xuân Phái... Ông từng tham gia các chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) và Khe Sanh (1968). Ông nghỉ hưu với quân hàm đại tá và qua đời tại TP Hồ Chí Minh năm 2019.
Các tác phẩm của ông hiện là một phần trong bộ sưu tập tranh thời chiến của Bảo tàng Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh, Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam và Bảo tàng Anh./.
St