Thứ Hai, 5 tháng 8, 2024

 Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng

Cùng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học-công nghệ, không gian mạng không chỉ là công cụ để kết nối mà còn là công cụ truyền tải thông tin hữu hiệu, trở thành động lực phát triển của nhiều quốc gia. Tuy nhiên, với đặc tính “ẩn danh, có chủ đích và xuyên biên giới”, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền, kích động, thực hiện “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, hòng nhằm làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.

  

Trung tâm 286, Bộ Tư lệnh 86 (Bộ Quốc phòng) trưng bày sản phẩm tác chiến không gian mạng, bảo đảm công nghệ thông tin tại Đại hội thi đua quyết thắng giai đoạn 2019-2024 của đơn vị. (Nguồn: Bộ Tư lệnh 86)

Thực tế cho thấy, trong những năm qua, hệ thống thông tin quan trọng quốc gia, thông tin quân sự-quốc phòng... tiếp tục là mục tiêu tấn công mạng có chủ đích của các nhóm hacker nước ngoài; các hoạt động trinh sát mạng, cài cắm mã độc, phầm mềm gián điệp và tấn công mạng nhằm vào Việt Nam ngày càng gia tăng. Hoạt động xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội trên không gian mạng của các thế lực thù địch diễn biến phức tạp, với thủ đoạn ngày càng tinh vi, trực diện và khó kiểm soát, nhất là chúng lợi dụng các sự kiện chính trị, vụ việc phức tạp, nhạy cảm, vấn đề được dư luận xã hội quan tâm để đẩy mạnh các hoạt động chống phá.

Chủ động phối hợp đấu tranh

Là đơn vị thực hiện nhiệm vụ tác chiến trên không gian mạng và bảo đảm công nghệ thông tin cho các cơ quan, đơn vị toàn quân đứng chân trên địa bàn các tỉnh, thành phố phía nam, thời gian qua, Trung tâm 286 (Bộ Tư lệnh 86) đã tích cực, chủ động phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thượng tá Nguyễn Quốc Hoàn, Chính ủy Trung tâm 286 cho biết: Trung tâm đã chủ động phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng với các tỉnh, thành phố trên địa bàn; tham gia tổ chức hàng chục buổi tập huấn, tuyên truyền về nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, Luật An ninh mạng, giải pháp bảo đảm an toàn thông tin, nội dung của bộ quy tắc ứng xử trên không gian mạng, công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng cho cán bộ, nhân viên các cơ quan, đơn vị, địa phương trên địa bàn; trao đổi, phối hợp thực hiện nhiều nội dung có giá trị cao trong công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; triển khai nhiều phương pháp phòng thủ, bảo vệ các kênh truyền thông của các cơ quan, tổ chức; kịp thời phối hợp với các lực lượng chức năng trên địa bàn xác minh, xử lý, hạn chế xảy ra các cuộc khủng hoảng truyền thông gây bất lợi cho hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Bên cạnh đó, Trung tâm 286 chủ động phối hợp các đơn vị, địa phương trên địa bàn thường xuyên trao đổi thông tin liên quan trực tiếp đến địa phương, cung cấp thông tin về các đối tượng phản động, thường xuyên đăng tải các thông tin xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội, kích động người dân tụ tập đông người, biểu tình để phối hợp theo dõi; đồng thời nắm bắt, tổng hợp dư luận xã hội, thông tin trái chiều liên quan đến các vụ việc “nóng”, phức tạp, nhạy cảm, các sự kiện chính trị, xã hội quan trọng của đất nước và địa phương khu vực phía nam.

Chủ động trinh sát phát hiện thông tin tiêu cực, sai sự thật có thể làm ảnh hưởng đến uy tín của các tổ chức, cá nhân để kịp thời cảnh báo, khuyến cáo cộng đồng mạng và tham mưu với cơ quan chức năng xử lý, không để tạo khoảng trống hoặc khủng hoảng thông tin để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá. Điển hình là việc ngăn chặn thông tin bịa đặt liên quan đến Trường Quân sự Quân khu 7 ngày 11/1/2023, hoặc thông tin xảy ra bạo động ở Lâm Đồng dịp 30/4/2024...

Thượng tá Nguyễn Quốc Hoàn cho biết, khi phát hiện trên không gian mạng xuất hiện các thông tin xấu độc, nhận định có thể tạo hiệu ứng xấu trên mạng xã hội, có thể tạo cơ hội cho các thế lực thù địch lợi dụng khoảng trống thông tin gây hậu quả nghiêm trọng, khó lường, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chỉ huy Trung tâm 286 đã kịp thời tham mưu cho cơ quan chức năng thông tin đầy đủ sự việc; đồng thời bao vây thông tin, phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội bóc gỡ, vô hiệu hóa thông tin sai sự thật; tham mưu, đề xuất cơ quan chức năng xử lý đối tượng đăng tải thông tin bịa đặt, xuyên tạc đúng quy định của pháp luật, bảo đảm tính răn đe kịp thời.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, thích ứng với sự bùng nổ thông tin, cùng với các đơn vị, Trung tâm 286 đã nghiên cứu phát triển một số công cụ tự động hóa thao tác giúp tiết kiệm thời gian của đội ngũ cán bộ và nâng cao khả năng quản lý, tổng hợp báo cáo kết quả tuyên truyền; hỗ trợ nắm bắt, tổng hợp thông tin từ nhiều nền tảng ứng dụng mạng xã hội, giúp kịp thời phát hiện xu hướng thông tin; tham mưu, đề xuất với sở thông tin và truyền thông, ban tuyên giáo các tỉnh, thành phố có chính sách phù hợp trong việc tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, các kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng an ninh ở địa phương.

Lấy cái đẹp dẹp cái xấu

Đại tá Hồ Văn Dũng, Phó Chủ nhiệm Chính trị, Bộ Tư lệnh 86 cho biết, với đặc thù đơn vị thực hiện nhiệm vụ tác chiến không gian mạng, đấu tranh thông tin, tác chiến thông tin là nhiệm vụ chính trị của các cơ quan, đơn vị; thực hiện phương châm chỉ đạo “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, lấy thông tin tích cực làm chủ đạo trong xây dựng môi trường không gian mạng an toàn, lành mạnh, nhân văn, rộng khắp; những năm qua, Đảng ủy Bộ Tư lệnh 86 đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị tích cực, chủ động đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tuyên truyền lan tỏa thông tin tích cực, chính thống trong đơn vị và các trang, nhóm mạng xã hội.

Chỉ tính riêng 5 năm qua, các cơ quan, đơn vị đã phối hợp và trực tiếp đăng tải, chia sẻ hàng vạn tin, bài, ảnh trên các phương tiện thông tin đại chúng, cổng thông tin điện tử và các trang, nhóm mạng xã hội của các cơ quan, đơn vị trong Bộ Tư lệnh; chuyển tải kịp thời, đầy đủ về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, đường lối quốc phòng, quân sự; tuyên truyền gương người tốt, việc tốt, cách làm hay, sáng tạo; các thành tựu trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước; thân thế, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các Anh hùng, Liệt sĩ, nhà hoạt động cách mạng... đến với đông đảo cán bộ, chiến sĩ và nhân dân; góp phần định hướng dư luận, nhất là những thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, quân đội, cũng như khi có các vụ việc phức tạp xảy ra; đồng thời tích cực chủ động đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

Đảng ủy, Bộ Tư lệnh 86 đã luôn coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo tận dụng có hiệu quả môi trường không gian mạng, tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, làm cho cán bộ, đảng viên, nhân viên, chiến sĩ trong Bộ Tư lệnh luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Các cơ quan, đơn vị quan tâm làm tốt công tác giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc, quân đội, đơn vị; đẩy mạnh triển khai thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua “Cán bộ, chiến sĩ quân đội thi đua thực hiện văn hóa công sở, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”...; góp phần nâng cao lòng tự tôn dân tộc, tinh thần yêu nước; bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, nhân cách quân nhân và ý thức trách nhiệm cao trong thực hiện nhiệm vụ; giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, hình ảnh “Người chiến sĩ Tác chiến không gian mạng ưu tú”.

 “Các cơ quan, đơn vị trong Bộ Tư lệnh 86 tích cực tham gia xây dựng môi trường văn hóa giao tiếp, ứng xử lành mạnh, tin cậy, trong sáng, văn minh trên không gian mạng; chủ động phối hợp với các cơ quan, đơn vị trong và ngoài Quân đội bóc gỡ, vô hiệu hóa nhiều tài khoản trên mạng xã hội phát tán thông tin tiêu cực, xuyên tạc, nói xấu Đảng, Nhà nước, Quân đội; tham mưu, đề xuất và hỗ trợ kỹ thuật cho Ban Tuyên giáo Trung ương, các địa phương và toàn quân chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phản động, các thông tin xấu độc, văn hóa lai căng... trên mạng xã hội; góp phần bảo vệ các giá trị văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trên không gian mạng”, Đại tá Hồ Văn Dũng nhấn mạnh.

 Bảo đảm quyền tiếp cận công nghệ số cho người dân

Ngày đăng 02/08/2024 19:46

Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm nỗ lực bảo đảm mọi người dân đều được tiếp cận công bằng với công nghệ số. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, mức hưởng thụ công nghệ của người dân đang ít nhiều có sự chênh lệch giữa các vùng, miền, nhóm đối tượng khác nhau, từ đó tạo nên rào cản cho quá trình chuyển đổi số toàn diện và sự phát triển chung của xã hội. Vì thế, cần có những định hướng và giải pháp phù hợp nhằm khắc phục tình trạng này.

  

Cán bộ Công an hướng dẫn người dân sử dụng phần mềm VNeID.

Tạo điều kiện cho người dân tiếp cận công nghệ số là mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, công nghệ số là cơ sở để thực hiện chuyển đổi số, xây dựng nền kinh tế số, xã hội số..., từ đó tạo cơ hội để người dân được thụ hưởng tốt nhất các quyền con người cơ bản. Vì thế, bảo đảm tiếp cận công bằng với công nghệ số luôn là ưu tiên của Đảng và Nhà nước ta nhằm mục đích tất cả mọi người dân đều được hưởng lợi từ công cuộc chuyển đổi số. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, hiện nay mức hưởng thụ công nghệ của người dân vẫn ít nhiều có sự chênh lệch giữa các vùng, miền; cũng như giữa các nhóm đối tượng.

Có thể thấy rõ nhất sự chênh lệch này đối với đồng bào dân tộc thiểu số và khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Kết quả điều tra 53 dân tộc thiểu số của Tổng cục Thống kê thực hiện gần đây cho thấy hiện có 10,3% số hộ gia đình dân tộc thiểu số có sử dụng máy vi tính. Tỷ lệ đồng bào sử dụng điện thoại, trong đó có điện thoại thông minh tăng nhưng vẫn tập trung ở các dân tộc có thu nhập ở nhóm cao. Từ thực tế nêu trên cho thấy, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông chưa được xây dựng đầy đủ và phủ sóng ở tất cả các vùng dân tộc thiểu số, làm hạn chế khả năng truy cập, tiếp cận và khai thác công nghệ số của đồng bào.

Nhiều chương trình, đề án, dự án của Nhà nước hầu như chỉ tập trung vào phát triển kinh tế-xã hội mà chưa chú trọng đầu tư đúng mức vào các ứng dụng công nghệ thông tin dành riêng, phù hợp với trình độ, nhận thức, ngôn ngữ, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số. Những điều này trở thành rào cản lớn đối với việc đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận công nghệ và tiếp nhận thông tin. Cùng với đó, người dân ở một số vùng dân tộc thiểu số chưa mặn mà với công nghệ, vẫn còn tư tưởng trông chờ vào sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước. Ngoài ra, sự khác biệt về tỷ lệ hộ sử dụng máy vi tính giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn cũng khó chênh lệch. Từ đây tạo ra sự khác biệt về cơ hội tiếp cận công nghệ của người dân giữa các khu vực này.

Mức hưởng thụ công nghệ số thấp còn là thực trạng ở nhóm người khuyết tật, người già, người có hoàn cảnh khó khăn. Mặc dù đã có những tiến bộ trong phát triển cơ sở hạ tầng nhưng chi phí cho các nền tảng kỹ thuật số vẫn còn cao, vì vậy, nhiều người hiện còn gặp khó khăn trong vấn đề tận dụng tiềm năng của các nền tảng số để cải thiện chất lượng cuộc sống. Công nghệ số đòi hỏi người sử dụng phải có tiền để mua thiết bị, trong khi đó, người nghèo còn nhiều nỗi lo và không đủ tiền để trang bị điện thoại thông minh, máy tính, kết nối internet. Còn đối với người khuyết tật (khiếm thị, khiếm thính, khuyết tật chân tay hay thiểu năng trí tuệ), vẫn chưa có nhiều công cụ, sản phẩm, tiện ích hỗ trợ họ tiếp cận công nghệ. Chưa kể, việc cài đặt các chương trình, ứng dụng và cách sử dụng cũng không hề đơn giản với người khuyết tật. Những thực tế này dẫn đến hệ quả là số lượng người khuyết tật tiếp cận sử dụng công nghệ thông tin còn thấp và có xu hướng tăng chậm, chưa theo kịp tốc độ phát triển công nghệ số của xã hội hiện nay. Bên cạnh đó, phần lớn người cao tuổi cảm thấy e ngại công nghệ số, gặp khó khăn khi thao tác quét mã (QR), trả tiền qua ví điện tử, qua ứng dụng...

Việc bảo đảm tiếp cận công bằng với công nghệ số cũng là thách thức với nhiều quốc gia trên thế giới. Đối với các nước thuộc nhóm thu nhập trung bình và điều kiện khách quan còn nhiều khó khăn như Việt Nam, thách thức này còn lớn hơn rất nhiều. Cần thấy rằng khoảng cách công nghệ càng lớn, càng là rào cản đối với mục tiêu thực hiện chuyển đổi số quốc gia. Do đó Đảng và Nhà nước ta luôn nỗ lực hướng tới thu hẹp khoảng cách này thông qua việc mở rộng tiếp cận internet đến vùng nông thôn và khu vực khó khăn, nâng cao trình độ kỹ thuật số và tăng cường hỗ trợ cho nhóm dễ bị tổn thương. Việt Nam đã và đang hoàn thiện hành lang pháp lý để công nghệ số cùng với chuyển đổi số đi đến mục tiêu cuối cùng là phục vụ con người.

Ngày 12/4/2019, Chính phủ đã ra Quyết định 414/QĐ-TTg Phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo an ninh trật tự vùng đồng bào dân tộc thiểu số Việt Nam giai đoạn 2019-2025”. Mục tiêu của Đề án là hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số ứng dụng công nghệ thông tin, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng dân tộc thiểu số với các địa bàn trong cả nước, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, chủ động phòng chống các tình huống gây mất an ninh, trật tự vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước cho thấy nỗ lực của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền bình đẳng về mọi mặt, trong đó có cơ hội tiếp cận công nghệ số của đồng bào dân tộc và miền núi.

Đồng thời, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận, sử dụng công nghệ thông tin, thể hiện trong các quy định của Luật Người khuyết tật và văn bản dưới Luật. Tiêu biểu có thể kể đến Quyết định số 1190/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2021-2030, các hoạt động trợ giúp tiếp cận và sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông như xây dựng và ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về trợ giúp người khuyết tật tiếp cận công nghệ thông tin và truyền thông; duy trì, phát triển, nâng cấp các cổng thông tin điện tử hỗ trợ người khuyết tật; nghiên cứu phát triển các công nghệ hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận công nghệ thông tin và truyền thông; nghiên cứu phát triển các công nghệ hỗ trợ người khuyết tật hòa nhập cộng đồng và nâng cao chất lượng cuộc sống, giúp họ có thể hòa nhập và tự mình thực hiện các hoạt động như sử dụng dịch vụ công, dịch vụ y tế, giao tiếp, mua sắm trực tuyến...

Bất chấp những thành quả mà Việt Nam đã đạt được, các đối tượng thù địch, thiếu thiện chí đã lợi dụng một số hạn chế, tiêu cực trong xã hội; những thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật ở từng bộ phận, địa phương, tổ chức, cá nhân, nhất là địa bàn còn nhiều khó khăn, sự phân hóa, chênh lệch giàu nghèo... để chống phá, bóp méo chính sách, pháp luật Việt Nam về quyền của nhóm dễ bị tổn thương. Chúng xuyên tạc rằng chính sách, pháp luật Việt Nam chưa ghi nhận, tôn trọng đầy đủ quyền của nhóm dễ bị tổn thương và Việt Nam tạo rào cản trong tiếp cận và hưởng thụ các quyền như quyền được hưởng thụ công nghệ, quyền lao động việc làm, quyền được giáo dục, quyền chăm sóc sức khỏe và các quyền an sinh xã hội khác của nhóm yếu thế.

Cần khẳng định rằng, những khó khăn, bất cập là khó tránh khỏi trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội và có thể xảy ra ở bất cứ quốc gia hay chế độ chính trị nào. Vì thế, những luận điệu vô căn cứ nêu trên đều xuất phát từ góc nhìn phiến diện và động cơ chính trị đen tối của các thế lực thù địch, phản động. Những kết quả tích cực, những thay đổi toàn diện trên mọi mặt đời sống xã hội nói chung và trong việc bảo đảm người dân được tiếp cận công bằng với công nghệ số nói riêng không chỉ khẳng định bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa mà còn là minh chứng sinh động, đập tan các âm mưu, luận điệu phủ nhận thiếu thiện chí của các thế lực thù địch.

Trong bối cảnh hiện nay, bảo đảm tiếp cận công bằng với công nghệ số là điều kiện cần thiết để bảo đảm kinh tế-xã hội phát triển bền vững và đồng đều hơn. Vì thế, cần tiếp tục phát huy hiệu quả từ những việc đã làm được, đồng thời, tích cực xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thu hẹp khoảng cách chênh lệch trong hưởng thụ công nghệ giữa các vùng, miền, giữa các nhóm người trong xã hội, nhất là nhóm yếu thế. Nâng cao nhận thức và năng lực của người dân nói chung và nhóm yếu thế nói riêng về ứng dụng công nghệ thông tin, từ đó, tăng cơ hội tiếp cận các dịch vụ số, hòa nhập hơn vào xã hội số. Giảm tỷ lệ hộ nghèo để người dân có điều kiện trang bị các thiết bị công nghệ và kết nối internet.

Mặt khác, tăng cường đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng mạng internet, nhất là các ứng dụng về công nghệ phù hợp với đồng bào ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để người dân có cơ hội tiếp cận công nghệ dễ dàng hơn; chú trọng đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin để vừa tuyên truyền, vừa hướng dẫn, tập huấn cho người dân biết cách sử dụng các ứng dụng, phần mềm công nghệ hữu ích cho đời sống hằng ngày, nhất là các dịch vụ hành chính công, y tế công... Đối với người khuyết tật, các doanh nghiệp công nghệ cần nghiên cứu, sáng tạo nhiều ứng dụng, phần mềm, công cụ hỗ trợ thân thiện, giúp họ sớm tiếp cận, làm chủ công nghệ để có công việc tốt hơn trong tương lai, đóng góp nhiều hơn cho xã hội.

 Định hướng tư tưởng bộ đội trong đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng

Hiện nay, các thế lực thù địch tăng cường đăng tải, tán phát, chia sẻ các thông tin sai trái hòng tác động trực tiếp tới nhận thức, tư tưởng, tình cảm, niềm tin của cán bộ, chiến sĩ Quân đội, hòng thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tiến tới “phi chính trị hóa” Quân đội. Bởi vậy, làm cho mỗi quân nhân hiểu được ý thức, trách nhiệm, vững vàng trước những thông tin xấu độc khi tham gia mạng xã hội là vấn đề cấp thiết hiện nay.

Nhận thức rõ tác động tiêu cực của những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng đối với công tác tư tưởng trong Quân đội, cấp ủy, chỉ huy các cấp đã chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp đấu tranh phòng, chống. Trong đó, tăng cường nắm bắt, định hướng tư tưởng cán bộ, chiến sĩ là một giải pháp quan trọng trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Quán triệt, thực hiện nghiêm sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị về đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng1, Ban Chỉ đạo 35, cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp đã lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai đồng bộ nội dung, hình thức, biện pháp tiến hành phù hợp; giải quyết tư tưởng nảy sinh, định hướng kịp thời, góp phần ổn định tư tưởng bộ đội, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Tuy nhiên, trong tổ chức thực hiện vẫn còn một số cơ quan, đơn vị chưa quan tâm coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng bộ đội trước sự tác động tiêu cực của không gian mạng dẫn đến một số quân nhân chưa nhận thức đúng “kẻ thù giấu mặt”, vi phạm quy định khi tham gia mạng xã hội đến mức phải xử lý kỷ luật làm ảnh hưởng đến hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Để khắc phục hạn chế trên, cần có giải pháp định hướng tư tưởng bộ đội trong đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng.

Một là, phát huy vai trò của cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị và lực lượng nòng cốt, chuyên sâu. Thực hiện giải pháp này, các đơn vị cần quán triệt, thực hiện thống nhất sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo 35 các cấp; thường xuyên làm tốt công tác nắm tình hình và định hướng tư tưởng bộ đội, nhằm kịp thời phát hiện, ngăn ngừa những thông tin sai trái, thù địch xâm nhập vào đơn vị. Duy trì tốt nền nếp, các khâu, các bước của công tác tư tưởng, coi trọng thực hiện tốt năm chủ động2; đi sâu vào công tác giáo dục, định hướng, dự báo, phân tích, đánh giá để kịp thời có chủ trương, biện pháp giải quyết hiệu quả. Nội dung tập trung vào việc nắm khuynh hướng tư tưởng trong đời sống sinh hoạt thường ngày của bộ đội; niềm tin vào sự nghiệp cách mạng, vào sự lãnh đạo của Đảng; tính tích cực trong rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, đoàn kết, kỷ luật, v.v. Tiến hành đồng bộ các biện pháp nắm bắt tình hình tư tưởng bộ đội thông qua: sinh hoạt tổ ba người, chiến sĩ dân vận, chiến sĩ bảo vệ, tổ đội thanh niên xung kích; các mối quan hệ: đồng chí, đồng đội, quan hệ cấp trên, cấp dưới, chiến sĩ cũ và chiến sĩ mới, gia đình và quan hệ xã hội. Phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, bí thư, chính ủy (chính trị viên), người chỉ huy, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp trong nắm bắt, định hướng tư tưởng thông qua hoạt động: “Ngày Chính trị và văn hóa tinh thần”, “Ngày Pháp luật” ở đơn vị, hoặc các hình thức học tập chuyên đề, thông báo thời sự, sinh hoạt chính trị - tư tưởng, đọc báo, nghe đài, diễn đàn, v.v.

Cùng với đó, tổ chức tập huấn nội dung, kỹ năng, phương pháp đấu tranh trên không gian mạng cho cấp ủy, cơ quan chính trị và lực lượng nòng cốt chuyên trách ở đơn vị; duy trì nghiêm nền nếp chế độ giao ban nắm tình hình hằng tuần, tháng, quý để rút kinh nghiệm, thống nhất nội dung định hướng tư tưởng bộ đội, nhất là trước những nhiệm vụ quan trọng của đơn vị, các sự kiện trọng đại của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Phát huy vai trò của lực lượng nòng cốt, chuyên sâu trong nghiên cứu âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; nắm vững tư tưởng, tâm trạng của cán bộ, chiến sĩ để dự báo, tham mưu cho lãnh đạo, chỉ huy những biện pháp giáo dục, định hướng tư tưởng, bảo đảm cho mọi quân nhân kiên định, vững vàng về chính trị, tư tưởng trong mọi tình huống.

Hai là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị. Hoạt động tuyên truyền, giáo dục cần kết hợp chặt chẽ việc nắm bắt tư tưởng, giáo dục nâng cao nhận thức với thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động và xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh để nắm bắt, quản lý, định hướng tư tưởng bộ đội. Tổ chức tốt công tác tuyên truyền miệng và hoạt động báo cáo viên, coi đây là kênh thông tin quan trọng nhất3 kịp thời định hướng tư tưởng cán bộ, chiến sĩ, nhất là các vấn đề nhạy cảm, phức tạp tác động trực tiếp tới tư tưởng tình cảm cán bộ, chiến sĩ. Hằng tuần, tháng duy trì tốt chế độ nói chuyện thời sự, thông báo chính trị, trực tiếp cung cấp thông tin có định hướng theo đúng quan điểm của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị cho các đối tượng. Đặc biệt, trước các vấn đề nhạy cảm về chính trị, đối ngoại, an ninh, quốc phòng, những vấn đề nóng của tình hình thế giới, Biển Đông, các hoạt động quan trọng của lãnh đạo Đảng và Nhà nước,... cần nhanh chóng triển khai cho báo cáo viên thông tin, định hướng kịp thời, góp phần ổn định tình hình, thống nhất về nhận thức, nâng cao tinh thần cảnh giác của bộ đội, hướng vào đối tượng là cán bộ trẻ, chiến sĩ mới. Tổ chức nhiều nội dung, hình thức tuyên truyền, giáo dục phong phú gắn với phê phán, phản bác luận điệu sai trái bằng những lý lẽ sắc sảo, khoa học, khách quan, thực tế, có sức thuyết phục cao. Tăng cường công tác thông tin, truyền tuyền, kịp thời giải đáp thông tin từ nội bộ, cơ sở, tạo dư luận rộng rãi phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, chỉ đạo và tổ chức lực lượng nòng cốt, chuyên sâu đấu tranh trực tiếp vào các trang mạng để chia sẻ thông tin chính thống, đăng tải bài viết, comment vạch trần quan điểm sai trái, thù địch, vấn nạn xã hội trên không gian mạng để người đọc nhận thức đúng, nhất là các vấn đề nhạy cảm.

Ba là, xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh tại đơn vị. Phát huy có hiệu quả các thiết chế văn hóa ở đơn vị; tổ chức tốt các hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể thao, vui chơi giải trí, nhất là trong ngày nghỉ, giờ nghỉ, tạo sân chơi lành mạnh, bổ ích góp phần ngăn chặn sự xâm nhập của văn hóa phẩm, thông tin có nội dung xấu độc, xuyên tạc, kích động trên các trang mạng xã hội xâm nhập vào đơn vị. Thực hiện tốt Quy chế Dân chủ cơ sở và Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Nắm vững phương châm lấy “xây” để “chống”, lấy “cái đẹp, dẹp cái xấu”; cổ vũ mạnh mẽ các nhân tố tích cực, lấy cái tích cực, cái tốt đẩy lùi cái tiêu cực, cái xấu. Lấy xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh là nhân tố quyết định; phòng ngừa những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; khắc phục tình trạng thụ động, chủ quan, lơ là, mất cảnh giác. Duy trì tốt mô hình: “Tổ tư vấn tâm lý - pháp lý quân nhân”; “Hồ sơ thông tin chiến sĩ”; quản lý tư tưởng theo nhóm; “Tổ định hướng đồng hành”; phân công “Mỗi đảng viên giúp đỡ một nòng cốt, một nòng cốt giúp đỡ ba quần chúng”; cán bộ người dân tộc thiểu số giúp đỡ, kèm cặp chiến sĩ người dân tộc thiểu số, thực hiện “ba cùng” (cùng ăn, cùng ở, cùng chia sẻ), v.v. Đây là những mô hình đã được khẳng định trong thực tiễn, nhằm giúp cán bộ, chiến sĩ (nhất là chiến sĩ mới) nắm được kỹ năng sống, hiểu được những vấn đề còn vướng mắc và tự quyết định hướng giải quyết một cách đúng đắn. Đồng thời, nâng cao sự hiểu biết về pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội và các quy định của đơn vị; xây dựng tinh thần lạc quan, thái độ, hành vi ứng xử đúng đắn, tích cực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ; tránh được sự tác động của những thông tin sai trái, thù địch trên không gian mạng.

Bốn là, quản lý tốt hoạt động khai thác, sử dụng mạng internet của các tập thể và cá nhân trong đơn vị. Quy định rõ việc cung cấp, khai thác, sử dụng thông tin, tránh để lộ, lọt thông tin của đơn vị; chú trọng việc hướng dẫn sử dụng và quản lý hoạt động khai thác internet và các trang mạng xã hội. Tăng cường quản lý cán bộ, chiến sĩ khi sử dụng các phương tiện máy tính, điện thoại thông minh có kết nối mạng internet, tham gia mạng xã hội theo đúng quy định của đơn vị, Quân đội và Luật An toàn thông tin mạng, Luật An ninh mạng. Quản lý các hoạt động cung cấp và sử dụng thông tin điện tử trên internet theo đúng các quy định của pháp luật về công nghệ thông tin, báo chí, xuất bản, bảo vệ bí mật Nhà nước và các quy định quản lý thông tin điện tử trên internet. Động viên cán bộ, chiến sĩ chấp hành nghiêm kỷ luật trong quản lý, sử dụng khai thác mạng internet, bảo vệ bí mật của Quân đội, bí mật của Đảng và Nhà nước. Khai thác tốt các máy tính ảo tại đơn vị, chủ động “phủ xanh” thông tin, không để “khoảng trống” thông tin trên mạng internet. Tận dụng không gian mạng internet để truyền bá quan điểm đúng, thông tin trung thực, khách quan, kịp thời, chính xác cho cán bộ, chiến sĩ. Đồng thời, thông qua hệ thống Blogger để tổ chức đấu tranh trực diện với quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng theo phương châm: “chủ động, kiên quyết, nhạy bén, kịp thời, liên tục, triệt để”.

Nghiên cứu, vận dụng linh hoạt các giải pháp trên để định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ nhận rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch, nhất là trên không gian mạng. Qua đó, tạo sức đề kháng, “hệ miễn dịch” trong mỗi quân nhân, góp phần tạo sự thống nhất cao về chính trị, tư tưởng, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong mỗi cơ quan, đơn vị và toàn quân.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn hội kiến Tổng thống Timor Leste

 Chiều 1/8, tại Nhà Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn hội kiến Tổng thống Timor Leste Jose Ramos-Horta đang thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam (từ ngày 31/7 - 3/8/2024)

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn bày tỏ vui mừng được đón Tổng thống Timor Leste trở lại thăm Việt Nam sau hơn 14 năm; tin tưởng chuyến thăm sẽ thành công tốt đẹp, tạo động lực mới thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam và Timor Leste phát triển mạnh mẽ hơn nữa. Chủ tịch Quốc hội cũng chân thành cảm ơn Tổng thống Jose Ramos-Horta đã gửi thư chia buồn về việc Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từ trần.

Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, Việt Nam bày tỏ sự trân trọng và ngưỡng mộ trước những thành quả mà Nhà nước và nhân dân Timor Leste đã giành được trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc mà Tổng thống Jose Ramos-Horta là một trong những nhà lãnh đạo tiêu biểu với Giải thưởng Nobel hòa bình năm 1996.

Việt Nam chúc mừng Chính phủ và nhân dân Timor Leste đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng; kinh tế có sự phục hồi tích cực sau COVID-19 và đặc biệt là việc Timor Leste được chấp thuận về nguyên tắc trở thành thành viên thứ 11 của ASEAN.


Chủ tịch Quốc hội đánh giá cao kết quả hội đàm sâu rộng và thực chất giữa Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng thống Jose Ramos-Horta; hoan nghênh hai bên đã ký được Hiệp định song phương về miễn thị thực cho người mang hộ chiếu ngoại giao và công vụ. Quốc hội Việt Nam ủng hộ và sẽ tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho việc thúc đẩy ký kết và triển khai các thỏa thuận hợp tác giữa hai nước.

Chủ tịch Quốc hội nêu rõ: Với lịch sử hình thành và phát triển hơn 78 năm, Quốc hội Việt Nam luôn thực hiện tốt sứ mệnh quan trọng mà Đảng và nhân dân giao phó; luôn giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quốc hội luôn tìm tòi, đổi mới phương thức, nâng cao chất lượng hoạt động, ngày càng phát huy dân chủ, công khai, minh bạch, tăng tính chuyên nghiệp và pháp quyền để thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất theo quy định của Hiến pháp. Trong tổng thể quan hệ hợp tác đang phát triển giữa hai nước, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn mong hợp tác Quốc hội sẽ là trụ cột hợp tác quan trọng giữa hai nước.

Chủ tịch Quốc hội đề nghị thời gian tới hai bên thúc đẩy trao đổi đoàn cấp cao và các cấp; tăng cường hiểu biết, trao đổi văn hóa và giao lưu nhân dân hai nước; thúc đẩy tổ chức kỳ họp đầu tiên của Ủy ban hỗn hợp Việt Nam - Timor Leste nhằm rà soát, nghiên cứu và đề ra các biện pháp cụ thể tăng cường hợp tác song phương trên các lĩnh vực.

Hai nước tăng cường hợp tác kinh tế, thương mại thông qua đẩy mạnh xuất, nhập khẩu các mặt hàng hai bên có tiềm năng và nhu cầu như gạo, hàng dệt may, giày dép, đồ uống, thực phẩm chế biến…; mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực tiềm năng khác như nông nghiệp, thủy sản, dầu khí, xây dựng hạ tầng, giáo dục - đào tạo, du lịch…

Theo Chủ tịch Quốc hội, tiềm năng và dư địa hợp tác nghị viện giữa hai nước rất lớn, hiện tại chưa có cơ chế hợp tác, trao đổi đoàn trực tiếp, thường xuyên giữa các cơ quan của Quốc hội. Hai bên có thể tiến hành chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác trong các lĩnh vực xây dựng pháp luật, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia.

Để thúc đẩy hợp tác nghị viện, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn mong muốn Tổng thống Jose Ramos-Horta ủng hộ Quốc hội hai nước tăng cường trao đổi đoàn cấp cao và các cấp; thúc đẩy hợp tác, giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm giữa các Ủy ban chuyên môn, nghị sĩ Quốc hội nhằm tăng cường hiểu biết, chia sẻ kinh nghiệm hoạt động nghị viện và các vấn đề hai bên cùng quan tâm; chia sẻ kinh nghiệm xây dựng pháp luật nhất là việc nội luật hóa để đảm bảo triển khai hiệu quả các điều ước và cam kết quốc tế mà hai nước là thành viên, xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy hợp tác hai nước. Đồng thời, tăng cường phối hợp chặt chẽ và ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn nghị viện đa phương...

Tổng thống Timor Leste cảm ơn sự đón tiếp nồng hậu của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; chia sẻ những khó khăn trong công cuộc phát triển đất nước trên các lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, y tế, nông nghiệp, an ninh lương thực...

Tổng thống Jose Ramos-Horta bày tỏ ngưỡng mộ sự nghiệp cách mạng, xây dựng và phát triển đất nước của lãnh đạo và nhân dân Việt Nam; nhấn mạnh Timor Leste coi trọng, mong muốn thúc đẩy hơn nữa quan hệ hữu nghị tốt đẹp với Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp để đảm bảo an ninh lương thực; mong muốn học tập kinh nghiệm trong các lĩnh vực Việt Nam tiên phong, có thế mạnh.

Cho rằng hai bên còn nhiều tiềm năng hợp tác, Tổng thống Jose Ramos-Horta mong muốn Quốc hội Việt Nam ủng hộ các hoạt động hợp tác giữa hai nước, nhất là trong những lĩnh vực Timor  Leste có nhu cầu./.


Tiếp tục đổi mới phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng: Cần tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp xây dựng phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, đảm bảo thiết thực, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng khu vực, địa bàn...

Chiều 2/8, Chủ tịch nước Tô Lâm đã tới dự Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc ở cơ sở tại Phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Cùng dự có Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Bùi Thị Minh Hoài; Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang; Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Trần Sỹ Thanh cùng đại diện lãnh đạo một số đơn vị ở Trung ương và Hà Nội.

Nằm ở phía Đông Bắc của Quận Hoàn Kiếm, phường Cửa Đông là một trong những khu vực trung tâm của Thủ đô với mật độ dân số cao, cơ cấu dân cư đa dạng, thu hút số lượng lớn du khách khi đến thăm Hà Nội. Toàn phường có hơn 400 cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị quân đội và cơ sở kinh doanh dịch vụ. Những đặc điểm trên đặt ra những thách thức cho cơ quan quản lý về vấn đề đảm bảo an ninh trật tự, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn phường.

Những năm qua, Ban Chỉ đạo xây dựng phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc phường tiếp tục triển khai mô hình, chuyên đề thiết thực như: Câu lạc bộ phòng, chống tội phạm; chuyên đề “Hộ tự phòng - Số nhà tự quản”… huy động lực lượng quần chúng tham gia phòng ngừa, đấu tranh, tố giác các loại tội phạm, góp phần làm giảm tình hình tội phạm, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Công an phường duy trì hoạt động của 5 trạm tuần tra nhân dân phục vụ công tác khai báo tạm trú, tạm vắng và thông báo lưu trú; huy động trên 350 lượt bảo vệ dân phố, dân phòng và nhân dân tham gia các hoạt động đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn.

Công tác phối hợp giữa Công an phường với các ban ngành, đoàn thể, tổ dân phố và lực lượng trong công tác đảm bảo an ninh trật tự được duy trì thường xuyên. Qua đó, an ninh quốc gia ở phường tiếp tục được giữ vững và ổn định; trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, không xảy ra các vụ án nghiêm trọng, tội phạm hoạt động theo kiểu “xã hội đen”, không để phát sinh các điểm ma túy phức tạp gây bức xúc trong dư luận.

Cùng với đó, các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội của phường đã chủ động thực hiện tốt chương trình công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, nhất là dịp diễn ra các sự kiện chính trị, văn hóa, xã hội quan trọng của Thủ đô và đất nước. Việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật phòng, chống tội phạm, phát động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc đã được các cơ quan, đơn vị trong phường thực hiện nghiêm túc, phát huy hiệu quả tích cực.

Bày tỏ vui mừng được tham dự Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc của phường Cửa Đông, Chủ tịch nước nhấn mạnh, những năm qua phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc ở Hà Nội có sự phát triển mạnh mẽ, sáng tạo cả về nội dung và hình thức; nhiều mô hình tự quản về an ninh trật tự, các câu lạc bộ phòng chống tội phạm phát huy rất hiệu quả, phù hợp với xu thế xã hội, được ghi nhận và nhân rộng trong toàn quốc. Trong đó, phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm là một trong những điểm sáng về xây dựng phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc của Thủ đô.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước biểu dương và đánh giá cao sự nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền, quân và dân thành phố Hà Nội nói chung và quận Hoàn Kiếm, phường Cửa Đông nói riêng, đã kiên trì phấn đấu, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, đạt được những kết quả rất đáng trân trọng, tự hào, đóng góp quan trọng vào thành tựu chung trong xây dựng phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc của cả nước.

Chủ tịch nước cho rằng, với vị trí, vai trò là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế, là trái tim của cả nước, Hà Nội luôn là địa bàn trọng điểm mà các thế lực thù địch, phản động, các loại tội phạm tập trung chống phá. Vì vậy, công tác bảo đảm an ninh, trật tự, tạo môi trường bình yên, an ninh, an toàn, phục vụ phát triển kinh tế  xã hội là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, hết sức quan trọng của cả hệ thống chính trị Hà Nội.

Để tiếp tục đẩy mạnh phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, góp phần khơi dậy và phát huy sức mạnh, tiềm năng to lớn của nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh trật tự, Chủ tịch nước đề nghị cấp ủy, chính quyền các cấp của Hà Nội tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả chủ trương, chỉ đạo về xây dựng phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc và tổ chức "Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc".

Chủ tịch nước yêu cầu cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể và cán bộ, đảng viên cần thấm nhuần quan điểm "Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân"; nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên phải đi sâu, đi sát, thực sự thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; thật sự gương mẫu, đi đầu trong phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Theo Chủ tịch nước, cần gắn kết chặt chẽ giữa phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc với các phong trào thi đua do Đảng, Nhà nước, các cơ quan, đơn vị, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể tổ chức phát động, tạo hiệu ứng cộng hưởng tích cực và sự lan tỏa sâu rộng trong đời sống nhân dân; thường xuyên quan tâm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, hỗ trợ, đảm bảo sinh kế giúp người dân có hoàn cảnh khó khăn. Cơ quan chức năng kịp thời động viên, khen thưởng những gương cán bộ, quần chúng nhân dân có thành tích xuất sắc trong bảo đảm an ninh trật tự, phòng chống tội phạm; có chính sách thoả đáng đối với những trường hợp bị thương, hy sinh hoặc bị thiệt hại về tài sản khi tham gia phong trào.

Chủ tịch nước cho rằng cần tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp xây dựng phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, đảm bảo thiết thực, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng khu vực, địa bàn; phát triển và nâng cao chất lượng các hình thức tự quản, tự phòng, tự bảo vệ, tự hòa giải từ gia đình đến cộng đồng dân cư, trong cơ quan, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục.

Chủ tịch nước đề nghị tiếp tục tăng cường mối quan hệ phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng Công an với Quân đội, Mặt trận Tổ quốc và các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội, phát huy vai trò của lực lượng tham gia bảo vệ an ninh trật tự ở cơ sở trong xây dựng phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Đồng thời cần quan tâm xây dựng lực lượng công an cơ sở có phẩm chất chính trị, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, pháp luật, gần dân, sát dân, hiểu dân, có khả năng tham mưu với cấp uỷ, chính quyền địa phương chỉ đạo thực hiện hiệu quả phong trào và Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Phát huy những thành tích, kết quả đã đạt được, Chủ tịch nước bày tỏ tin tưởng chắc chắn rằng, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền Thành phố Hà Nội, quận Hoàn Kiếm, phường Cửa Đông, cũng như sự phối hợp chặt chẽ của các ban, ngành, đoàn thể, đặc biệt là sự ủng hộ, tham gia tích cực của nhân dân, phong trào Toàn dân bảo vệ an Tổ quốc ở địa phương sẽ phát triển mạnh mẽ hơn nữa, góp phần quan trọng giữ vững môi trường an ninh, an toàn, lành mạnh, phục vụ đắc lực nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội.

Nhân dịp này, Chủ tịch nước đã tặng quà chúc mừng Ngày hội cho cán bộ, nhân dân phường Cửa Đông; các cá nhân tiêu biểu trong phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc và đối tượng chính sách có hoàn cảnh khó khăn./.

Hoanh nghênh Costa Rica công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường.

 Thứ trưởng Nguyễn Minh Vũ đánh giá cao quyết định của chính phủ Costa Rica công nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam, cho rằng đây là bước đi phù hợp để tiếp tục thắt chặt quan hệ song phương Việt Nam - Costa Rica; khẳng định Việt Nam hoan nghênh các bước đi của Costa Rica tăng cường hội nhập kinh tế với khu vực Đông Á, bao gồm các nỗ lực gia nhập các thể chế thương mại khu vực như CPTPP.

Ngày 5/8, tại Nhà khách Chính phủ, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Vũ tiếp và làm việc với Bộ trưởng Ngoại thương Cộng hòa Costa Rica Manuel Tovar, hiện đang thăm Việt Nam từ ngày 5 - 6/8.

Tại buổi tiếp, Thứ trưởng Nguyễn Minh Vũ chào mừng Bộ trưởng Manuel Tovar lần đầu tiên tới thăm Việt Nam, đánh giá cao những hoạt động hai nước đã triển khai thời gian qua nhân dịp kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (24/4/1976 - 24/4/2021), nổi bật là cuộc hội đàm trực tuyến giữa Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn và Bộ trưởng Ngoại giao và tín ngưỡng Rodolfo Solano Quirós vào ngày 29/4/2021; khẳng định Việt Nam coi trọng thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt với Costa Rica.

Về phần mình, Bộ trưởng Manuel Tovar chuyển lời chia buồn của chính phủ Costa Rica tới Chính phủ Việt Nam trước sự ra đi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Bộ trưởng M. Tovar đánh giá cao những thành tựu của công cuộc Đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế của Việt Nam, khẳng định Costa Rica coi mở rộng quan hệ với Việt Nam mà ưu tiên trong chính sách tăng cường gắn kết với khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Bộ trưởng chia sẻ mục đích chuyến thăm lần này tới Việt Nam bên cạnh việc thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế - thương mại và đầu tư giữa hai nước, còn nhằm công bố việc chính phủ Costa Rica quyết định công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường, qua đó góp phần tạo thuận lợi cho quan hệ kinh tế thương mại song phương, cũng như hợp tác với Việt Nam tại Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và các khuôn khổ thương mại đa phương khác.

Thứ trưởng Nguyễn Minh Vũ đánh giá cao quyết định của chính phủ Costa Rica công nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam, cho rằng đây là bước đi phù hợp để tiếp tục thắt chặt quan hệ song phương Việt Nam - Costa Rica; khẳng định Việt Nam hoan nghênh các bước đi của Costa Rica tăng cường hội nhập kinh tế với khu vực Đông Á, bao gồm các nỗ lực gia nhập các thể chế thương mại khu vực như CPTPP.

Thứ trưởng bày tỏ mong muốn thúc đẩy trao đổi các đoàn cấp cao giữa hai nước, cũng như triển khai cơ chế Tham khảo Chính trị cấp Thứ trưởng Ngoại giao, tiếp tục tham vấn thường xuyên và phối hợp chặt chẽ tại các tổ chức quốc tế và diễn đàn đa phương, đề nghị Costa Rica có tiếng nói ủng hộ vai trò và quan điểm của ASEAN trong các vấn đề khu vực./.

VẺ ĐẸP VĂN HOÁ QUA PHÁT BIỂU CỦA NSND TỰ LONG!

     Những ngày qua, tiết mục “Trống Cơm” của NSND Tự Long cùng các nghệ sĩ Soobin Hoàng Sơn và Cường Seven trong chương trình “Anh trai vượt ngàn chông gai” đã nhận được nhiều lời khen ngợi từ khán giả. Màn trình diễn kết hợp tinh hoa văn hóa dân tộc với hiện đại, thể hiện qua trang phục truyền thống, nhạc cụ dân gian và các điệu múa võ!

Phát biểu của NSND Tự Long nhấn mạnh tầm quan trọng của văn hóa, nghệ thuật như một mặt trận giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc. Anh cho rằng văn hóa là cội nguồn, là bản chất của dân tộc, và khát khao làm giàu kho tàng văn hóa Việt Nam. Từ phần trình diễn "Trống Cơm", NSND Tự Long muốn khơi dậy tình yêu và niềm tự hào với văn hóa dân tộc trong lòng thế hệ trẻ.

Lời phát biểu đầy cảm hứng này không chỉ tôn vinh giá trị văn hóa dân tộc, mà còn khích lệ các bạn trẻ hiểu hơn, yêu hơn và tiếp nối truyền thống quý báu của cha ông. NSND Tự Long đã chứng minh rằng, văn hóa nghệ thuật không chỉ tồn tại mà còn phát triển mạnh mẽ, trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho mọi thế hệ.

Tiết mục “Trống cơm” vừa qua của NSND Tự Long không chỉ là màn trình diễn, mà là sự hòa quyện tinh tế giữa văn hóa và nghệ thuật, mang đến một không gian nghệ thuật đầy màu sắc Việt Nam. Sự tôn trọng và tình yêu văn hóa truyền thống đã làm cho mỗi màn trình diễn trở thành một bản hùng ca văn hóa, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng khán giả. 

NSND Tự Long, với tâm huyết và tài năng, đã và đang tiếp tục đóng góp không nhỏ vào việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc, truyền cảm hứng và lòng yêu mến văn hóa Việt cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau./.
Yêu nước ST.

Dư luận Ấn Độ đánh giá cao chuyến thăm của Thủ tướng Phạm Minh Chính.

 Truyền thông Ấn Độ đã đăng tải nhiều bài viết đánh giá cao chuyến thăm cấp Nhà nước của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tới Ấn Độ từ ngày 30/7 - 1/8; cho rằng, sự kiện này sẽ tạo xung lực mới thúc đẩy quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam - Ấn Độ


Hãng tin ANI ngày 2/8 (theo giờ địa phương) đăng tải bài viết nhận định thực tế địa chính trị hiện nay đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa Ấn Độ và Việt Nam, hai nước cần nhất trí tăng cường hơn nữa quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện trên mọi lĩnh vực. Trong chuyến thăm, Thủ tướng Narendra Modi và Thủ tướng Phạm Minh Chính đã ra tuyên bố chung ghi nhận sự “đồng nhất” trong quan điểm về thế giới, đồng thời bày tỏ lập trường ủng hộ khu vực Nam Bán cầu có tiếng nói và vai trò lớn hơn trong các vấn đề quốc tế. Trên cơ sở quan hệ song phương tốt đẹp hiện có giữa Việt Nam và Ấn Độ, hai nhà lãnh đạo đã nhất trí duy trì trao đổi thường xuyên ở các cấp.

Bên cạnh đó, Thủ tướng Phạm Minh Chính và Thủ tướng Modi đã đánh giá cao các cơ chế đa phương giữa hai nước trong những lĩnh vực như chính sách đối ngoại, an ninh và hàng hải, hợp tác quốc phòng, trao đổi nghị viện, thương mại và đầu tư, nông nghiệp, y tế, hàng không dân dụng, công nghệ thông tin và truyền thông, khoa học và công nghệ (bao gồm công nghệ vũ trụ và hạt nhân), du lịch và văn hóa. Ngoài ra, là hai nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng, các nhà lãnh đạo hai nước nhất trí tăng cường hợp tác ở cấp chính phủ và doanh nghiệp để tăng cường quan hệ đối tác thương mại, đầu tư và công nghệ hai chiều.

Các nhà lãnh đạo cũng nhất trí nâng cao hơn nữa kim ngạch thương mại song phương từ mức hiện tại là khoảng 15 tỷ USD lên 20 tỷ USD. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, hai bên cũng nhất trí về sự cần thiết phải hợp tác chặt chẽ hơn trong việc dỡ bỏ các rào cản thương mại nhằm tạo điều kiện thuận lợi và tăng cường thương mại song phương. Tuyên bố chung nêu rõ quá trình rà soát Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN - Ấn Độ đang diễn ra sẽ tạo ra một cơ chế thân thiện hơn, đơn giản hơn và thuận lợi hơn cho cả hai nước.

Các nhà lãnh đạo nhất trí tiếp tục nỗ lực thúc đẩy dòng vốn đầu tư giữa hai nước. Việt Nam hoan nghênh đầu tư từ Ấn Độ vào cơ sở hạ tầng, công nghệ cao, công nghệ nguồn, công nghệ sạch, công nghệ thông tin, công nghiệp hỗ trợ và sản xuất, dệt may, công nghiệp ô tô và vật liệu, nông nghiệp xanh, nông nghiệp thông minh, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp, chất bán dẫn, năng lượng tái tạo và các dự án bảo tồn năng lượng, sản xuất điện, khí sinh học và vải polyester, cùng nhiều dự án khác ở Việt Nam.

Cùng ngày, trang tin Hindustantimes đánh giá chuyến thăm cấp Nhà nước của Thủ tướng Phạm Minh Chính tới Ấn Độ tạo động lực mới cho quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện giữa hai nước và mở rộng hợp tác sang các lĩnh vực mới như kinh tế số và năng lượng tái tạo. Ngoài ra, hai bên cũng vạch ra các định hướng để làm sâu sắc hơn quan hệ song phương trên nhiều lĩnh vực, phù hợp với lợi ích của cả hai nước trong bối cảnh có những thay đổi địa chính trị và kinh tế phức tạp trong khu vực và trên thế giới. Hai bên cũng khẳng định chuyến thăm là cơ hội để Việt Nam và Ấn Độ tăng cường hợp tác, ủng hộ lẫn nhau trong các vấn đề khu vực, quốc tế và tại các diễn đàn đa phương, đồng thời góp phần vào công cuộc thúc đẩy hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Một số tờ báo uy tín khác của Ấn Độ bình luận hợp tác quốc phòng là trụ cột trong mối quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam - Ấn Độ và ngày càng trở nên quan trọng hơn khi hai nhà lãnh đạo nhất trí tăng cường hợp tác quốc phòng dựa trên lợi ích chung và các ưu tiên của hai nước. Đường lối này sẽ góp phần tăng cường sự ổn định ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Theo Thứ trưởng Ngoại giao phụ trách phương Đông của Ấn Độ Jaideep Mazumdar, chuyến thăm cấp Nhà nước của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tới Ấn Độ sau 10 năm mang ý nghĩa hết sức quan trọng sau khi hai nước nâng cấp lên quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện. Chuyến thăm lần này là dịp để hai bên trao đổi, đánh giá về các vấn đề nội hàm trong mối quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện, cũng như vạch ra định hướng của mối quan hệ này trong tương lai.

Thứ trưởng Mazumdar khẳng định Ấn Độ coi Việt Nam là trụ cột trong chính sách Hành động hướng Đông, là đối tác quan trọng trong Sáng kiến Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và là một trong những đối tác quan trọng trong ASEAN. Việt Nam là quốc gia có mối liên hệ gần gũi, lâu đời cả về lịch sử và văn minh với Ấn Độ. Mối quan hệ giữa hai nước đang phát triển trên nhiều lĩnh vực, trong đó tiêu biểu như quốc phòng và an ninh, kinh tế, thương mại và đầu tư, giao lưu nhân dân… Ngoài ra, hai nước còn có chung tầm nhìn, định hướng phát triển: Việt Nam phấn đấu trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, thuộc nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu khu vực châu Á đến năm 2045; Ấn Độ khát vọng về một “Viksit Bharat” (Ấn Độ phát triển) vào năm 2047.

Giáo sư Reena Marwah tại Đại học Delhi (Ấn Độ), đồng thời là Tổng Thư ký Hiệp hội học giả châu Á, đánh giá chuyến thăm của Thủ tướng Phạm Minh Chính có ý nghĩa rất lớn đối với quan hệ Việt Nam - Ấn Độ và cũng là cơ hội để hai bên củng cố quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện ở mức độ cao, trong mọi lĩnh vực. Nhiều biên bản ghi nhớ đã được ký kết và đạt được sự hiểu biết tầm cao mới về chính sách phát triển lấy người dân làm trung tâm. Bên cạnh đó, hai nước còn nhấn mạnh tầm quan trọng của chủ nghĩa đa phương trong việc giải quyết các vấn đề như biến đổi khí hậu, đại dịch... cũng như sẽ phối hợp nhằm khẳng định tầm quan trọng của tự do hàng hải, hướng tới mục tiêu xây dựng một khu vực hòa bình, ổn định, dựa trên luật pháp, trong bối cảnh an ninh khu vực đang có những diễn biến phức tạp./.

LŨ ĐẦU TÔM!

     Năm 2022, Việt Nam có 142.779 người đi lao động ở nước ngoài theo đường chính ngạch, gửi về nước 4 tỉ USD. Còn Phillipines có 1.2 triệu người đi lao động ở nước ngoài và gửi về 32.5 tỉ USD, xấp xỉ 10% tổng sản lượng kinh tế!

Xuất khẩu lao động không chỉ mang lại lợi ích cho kinh tế vĩ mô mà còn là cơ hội đổi đời cho nhiều lao động trẻ, được trải nghiệm môi trường làm việc đa dạng ở nước ngoài và tích lũy một khoản tiền tiết kiệm đáng kể sau những năm tháng làm việc vất vả. Ngoài ra, các nhà hoạch định chính sách kỳ vọng rằng lao động xuất khẩu hồi hương sẽ mang lại những kỹ năng và kinh nghiệm quý giá, gia nhập vào lực lượng lao động đang rất cần nhân sự có tay nghề cao.

Hơn nữa, xuất khẩu lao động cũng có một vị trí quan trọng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Trong hai lần nâng cấp ngoại giao lên quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Hàn Quốc (2022) và Nhật Bản (2023), xuất khẩu lao động là chủ đề được các bên hết sức quan tâm. Lao động Việt Nam gần đây đã thay thế lao động Trung Quốc để trở thành nhóm lao động nước ngoài lớn nhất ở cả Nhật Bản và Hàn Quốc (trừ người Hàn Quốc có quốc tịch Trung Quốc), với số lượng lần lượt là 512.000 và 113.000 người.

Xuất khẩu lao động, mặc dù mang lại nhiều tác động tích cực, nhưng nên được tiếp cận như một đòn bẩy tạm thời thay vì là động năng tăng trưởng lâu dài.

Vì lý do đó, Chính phủ coi trọng xuất khẩu lao động và từ lâu nhìn nhận đây là giải pháp then chốt để phát triển nhân lực, giải quyết vấn đề thất nghiệp, tạo kiều hối và nâng cao kỹ năng cho người lao động. Kết quả là kể từ năm 2010, hơn 1,4 triệu lao động đã ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng ngắn hạn. Quốc hội đã ban hành Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng vào năm 2020 để điều chỉnh lĩnh vực đang bùng nổ này.

Tất nhiên, bức tranh xuất khẩu lao động không chỉ toàn màu hồng. Có 3 vấn đề chính đã, đang và sẽ phải giải quyết:
- Hoạt động này có thể cạnh tranh với thị trường lao động trong nước. Đặc biệt, lĩnh vực sản xuất đang phải đối mặt với tình trạng thiếu lao động do nhiều người chọn cơ hội làm việc ở nước ngoài thay vì trong nước. 

- Thứ hai, xuất khẩu lao động tạo ra những hệ quả xã hội to lớn. Tương tự như Philippines, ở nước ta, các địa phương có nhiều lao động ở nước ngoài gặp nhiều vấn đề với sự tan rã của cấu trúc gia đình truyền thống, tỷ lệ ly hôn cao và tệ nạn xã hội gia tăng. Các công nhân ở nước ngoài cũng đối diện với nhiều rủi ro hơn ở trong nước. Việc mong muốn có thu nhập cao hơn – một phần là để trả các khoản phí môi giới rất cao – khiến nhiều người lựa chọn trốn ra làm việc bất hợp pháp, ở lại quá thời gian cho phép, vi phạm hợp đồng, và dễ rơi vào các cạm bẫy lừa đảo. Điều này làm trầm trọng thêm các vấn đề xã hội ở nước sở tại và cũng khiến hình ảnh Việt Nam bị ảnh hưởng. 

- Thứ ba, xuất khẩu lao động, tương tự như tài nguyên thiên nhiên, có thể dẫn đến tình trạng mà các nhà kinh tế gọi là “lời nguyền tài nguyên”, khi một quốc gia bị lệ thuộc vào một nguồn tài nguyên và khiến nền kinh tế không thể phát triển. Việt Nam đã đi qua được một nửa “cơ cấu dân số vàng”, khi cứ hai người trong độ tuổi lao động từ 15-64 tuổi trở lên mới có một người phụ thuộc. Đối với hầu hết các quốc gia, đây là cơ hội chỉ có một lần để thoát “bẫy thu nhập trung bình” nhờ cơ cấu tuổi thuận lợi. Hàn Quốc, từng là nước xuất khẩu lao động lớn với ước tính khoảng 1,6 triệu lao động hợp đồng từ năm 1963-1987, đã tận dụng thành công xuất khẩu lao động để tài trợ cho quá trình công nghiệp hóa trong những năm 1970. Đến những năm 1990, khi đạt được vị thế quốc gia có thu nhập cao, Seoul dần chuyển hướng từ xuất khẩu sang nhập khẩu lao động giá rẻ phục vụ cho ngành sản xuất trong nước.

Phân tích cơ bản thì như thế. Còn ai đó ngồi ở nước ngoài gáy về thì nghe to lắm, mà thực tế đúng kiểu "tầm nhìn xa không đầy ba mét"./.
Yêu nước ST.