Thứ Ba, 6 tháng 8, 2024

LỢI DỤNG PHẬT GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ - ÂM MƯU THÂM ĐỘC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH…

 


Lợi dụng các tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng để chống phá cách mạng là một trong những âm mưu, hoạt động thâm độc của các thế lực, thù địch, phản động. Bài viết: “Phật giáo Việt Nam và nguyên nhân gốc rễ của vấn đề” của Song Chi đăng trên “Bbc” là một trong số đó.

Lợi dụng việc một số chức sắc Phật giáo bị Giáo hội Phật giáo Việt Nam kỷ luật, như: Thích Chân Quang, Thích Trúc Thái Minh, Thích Nhuận Đức, Song Chi đã xuyên tạc tình hình tôn giáo ở Việt Nam nói chung, Phật giáo nói riêng. Song Chi đã đánh đồng những người này với những tín đồ, chức sắc Phật giáo sống “tốt đời, đẹp đạo”, vì họ đã “tích cực tham gia chính trị, hết lòng trung thành với đảng, với chế độ”. Từ đó, bài viết xuyên tạc Giáo hội Phật giáo Việt Nam “được nhà nước cộng sản lập ra để khống chế phật giáo trong nước, để đánh bóng bộ mặt nhà nước trên trường quốc tế” hay “phục vụ chế độ, phục vụ cho một số quan chức, chứ không phải để xiển dương đạo pháp đúng nghĩa”. Song Chi phiến diện cho rằng: “khi còn chế độ độc tài, khi chưa có tự do tôn giáo” thì tình trạng đó vẫn tiếp diễn, và đưa ra lời khuyên: “phải chấp nhận có những tổ chức Phật giáo khác nhau, nhiều hình thức tu khác nhau, chứ không phải bất cứ ai, tổ chức nào đứng bên ngoài hệ thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là ngăn cấm, đàn áp, tiêu diệt”. Thực chất của những luận điệu trên là xuyên tạc, hướng lái dư luận nhận thức sai lệch tự do tôn giáo ở Việt Nam. Thực tế đã bác bỏ những luận điệu trên.

Thứ nhất, những chức sắc Phật giáo bị kỷ luật vì họ đã vi phạm Hiến chương, giáo lý, giáo luật của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Bất kỳ tổ chức, dân tộc, quốc gia trên thế giới đều có luật lệ, pháp luật để quy định việc các tổ chức, cá nhân phải tuân thủ, thực hiện, nếu thành viên nào vi phạm đều bị tổ chức đó xử lý. Trong tôn giáo cũng vậy, mỗi một tôn giáo đều có giới luật, luật lệ riêng để quy định về những điều chức sắc, chức việc, tín đồ của mình được làm hay không được làm, qua đó khuyến khích con người làm lành, tránh dữ. Tại Điều 7, Chương II, Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam sửa đổi lần thứ VII tại Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ IX năm 2023 ghi rõ: “Mục đích của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là hoằng dương Phật pháp, phát triển Giáo hội Phật giáo Việt Nam ở trong nước và nước ngoài, tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, phục vụ dân tộc, góp phần xây dựng hòa bình, an lạc cho thế giới”. Điều 11, Chương III cũng nhấn mạnh: “Giáo hội Phật giáo Việt Nam hoạt động theo nguyên tắc lấy Đạo pháp làm mục tiêu tối thượng; Tăng Ni, Cư sĩ, Phật tử làm trung tâm; các thành viên tham gia tự nguyện, đoàn kết, hòa hợp, kính ngưỡng, phụng hành Giáo pháp, Giới luật và tuân thủ pháp luật Nhà nước”. Tại Khoản 2, Điều 82, Chương XIII quy định: “Thành viên Giáo hội Phật giáo Việt Nam có hoạt động và hành vi làm tổn hại đến thanh danh, đến sự hòa hợp, đến quyền lợi của Giáo hội hoặc các thành viên của Giáo hội, phương hại đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đến hòa bình, độc lập, thống nhất của Tổ quốc, Giáo hội sẽ xử lý theo giáo luật và tùy mức độ vi phạm, Giáo hội sẽ đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét, xử lý theo pháp luật”. Đối chiếu với các quy định trên, nếu chức sắc, tín đồ nào vi phạm, tùy theo mức độ mà sẽ bị tổ chức tôn giáo quản lý xử lý kỷ luật. Các chức sắc Phật giáo mà Song Chi đề cập trong bài viết đã vi phạm Hiến chương, giáo lý, giáo luật nên đã bị Giáo hội Phật giáo Việt Nam kỷ luật, chứ hoàn toàn không phải họ bị “ngăn cấm, đàn áp, tiêu diệt”.

Thứ hai, Giáo hội Phật giáo Việt Nam là tổ chức duy nhất đại diện cho tăng ni, tín đồ phật tử Phật giáo Việt Nam trong và ngoài nước.

Phật giáo được truyền vào Việt Nam từ những năm đầu Công nguyên. Trong quá trình du nhập và phát triển, Phật giáo đã chứng tỏ là một tôn giáo hòa bình, dung hợp với tín ngưỡng truyền thống của người Việt. Tinh thần Từ - Bi - Hỷ - Xả của Phật giáo đã giáo dục con người biết sống vị tha, hòa hợp, coi trọng bình đẳng và tiến bộ xã hội. Giáo lý của Phật giáo rất phù hợp với đạo đức xã hội ở Việt Nam. Phật giáo là môi trường hoặc tạo điều kiện cho các loại hình văn học, nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc… phát triển. Ở mỗi thời kỳ lịch sử, Phật giáo đều để lại những dấu ấn sâu đậm, thể hiện tinh thần gắn bó đồng hành cùng dân tộc, nhiều nhà sư đứng ra giúp đời, giúp nước được sử sách ghi nhận.

Tháng 11/1981, thể theo ý chí, nguyện vọng của tăng ni, tín đồ phật tử cả nước, Hội nghị Đại biểu Thống nhất Phật giáo đã được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội với sự tham dự của 168 đại biểu tăng ni, cư sĩ đại diện cho 9 tổ chức, hệ phái trong cả nước. Đại hội đã thống nhất thành lập một tổ chức chung của Phật giáo cả nước lấy tên là “Giáo hội Phật giáo Việt Nam”, thông qua Hiến chương và đường hướng hoạt động “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”. Tuyệt đại đa số tăng ni đã tích cực góp phần xây dựng Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày một trưởng thành, khẳng định vị trí của mình trong lòng dân tộc. Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày càng nâng cao vị thế và uy tín thông qua việc mở rộng hoạt động giao lưu quốc tế, tích cực hỗ trợ hoạt động của Phật giáo Việt Nam ở nước ngoài, đăng cai và phối hợp tổ chức thành công 3 kì Đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc VESAK tại Việt Nam (2008, 2014, 2019). Hoạt động từ thiện xã hội của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo, giảm bớt những khó khăn, gánh nặng cho cộng đồng, xã hội. Bên cạnh đó, Giáo hội Phật giáo Việt Nam còn tham gia nhiều hoạt động an sinh xã hội vì cộng đồng: xây cầu, đóng góp làm đường giao thông nông thôn, nuôi dưỡng và chăm sóc bệnh nhân nhiễm HIV - AIDS, hỗ trợ đồng bào bị thiên tai, dịch bệnh. Điều đó khẳng định những đóng góp xứng đáng của Phật giáo cho sự nghiệp cách mạng. Còn những tín đồ, chức sắc vi phạm Hiến chương, giáo lý, giáo luật chỉ là những “con sâu làm rầu nồi canh”, chứ không phải là bản chất, “biến tướng, biến chất” của Giáo hội Phật giáo Việt Nam như Song Chi và đồng bọn xuyên tạc.

Như vậy, bài viết “Phật giáo Việt Nam và nguyên nhân gốc rễ của vấn đề” đã xuyên tạc, hướng lái dư luận nhận thức sai lệch về Phật giáo nói riêng, tự do tôn giáo ở Việt Nam nói chung. Chúng ta cần tỉnh táo, cảnh giác vạch trần và đấu tranh bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của chúng./.

# nguồn sưu tầm

 SO SÁNH


Có một số người hình như quên phép so sánh. Lão xin phép nhắc lại là, một khi muốn so sánh thì phải đưa hai vật về cùng một “điều kiện”. Lão nói vậy thôi, mọi người đều biết cả rồi.


Chả là trên facebook nhiều người cứ so sánh nước ta với Nhật, Hàn quốc, Mỹ vân vân rồi chê nước mình. Đó là một sự so sánh rất khiên cưỡng. Mỗi nước có một hoàn cảnh và điều kiện cũng như xuất phát điểm khác nhau. Tỷ như, nền kinh tế của nước đó hiện thời là một nền kinh tế dựa trên công nghiệp phát triển hay vẫn là một nước chỉ với nền nông nghiệp lạc hậu; hoặc như nước đó đã có bao nhiêu năm được sống trong hòa bình để phát triển kinh tế và xã hội hay là một nước bị chiến tranh tàn phá liên miên? 


Lão xin lỗi những người có hiểu sâu biết rộng, đối với những người như thế, thì những câu nói trên của lão khác nào “đánh trống qua cửa nhà sấm”. Xin tha lỗi, nhưng lão thấy có những người thích so sánh như vậy nên lão phải nói.


Không nói chuyện thế giới nữa. Lão xin quay về chuyện trong nước. Đất nước ta đã trải qua các thời kỳ khác nhau, thời kỳ sau tiến bộ hơn thời kỳ trước thì đương nhiên thế hệ người Việt sau đương nhiên là có trình độ về văn hóa, về khoa học, về hiểu biết cao hơn thế hệ trước.


Lão lấy ví dụ ngay đây. Trừ một số vị đã từng thuộc giới trí thức như cụ Hồ, cụ Phạm Văn Đồng, cụ Trường Chinh, cụ Võ Nguyên Giáp, cụ Phan Kế Toại, cụ Phạm Khắc Hòe, cụ Trần Đại Nghĩa vân vân, thì xin hỏi trong hàng ngũ những cách mạng giai đoạn khởi sự ấy được bao nhiêu là xuất thân từ giới trí thức? Không nhiều đâu các bạn ạ.


Đến năm 1954, dân tộc ta chuyển sang một giai đoạn lịch sử mới – đánh thắng thực dân Pháp, nửa nước được độc lập. Giai đoạn này đất nước ta đã có được một đội ngũ trí thức kha khá. Đó là những sinh viên đại học “lưu dung” (tức là sinh viên các trường đại học ở Hà Nội thời Pháp chuyển sang học tiếp); đó là hơn hai chục ngàn sinh viên mà cụ Hồ gởi đi học ở các nước XHCN trở về để chuẩn bị cho thời kỳ này; đó là một số trí thức yêu nước hồi hương từ vài nước tư bản phương tây (chủ yếu là từ Pháp); đó là một số trí thức từng làm việc cho Pháp đã ở lại miền bắc, chung tay xây dựng lại đất nước, thời đó gọi là công chức “lưu dung”. Đó, chỉ có thế.


Phần lớn những nhà lãnh đạo của ngành, của địa phương là những người từ chiến trường trở về, trong số họ, chẳng có mấy ai đã từng ngồi ghế ở các trường đại học. Chí biết họ là những người có công góp phần làm nên chiến thắng của dân tộc. Thế là bố trí họ vào các vị trí lãnh đạo, cao hay thấp tuy vào hàm, cấp trong thời gian họ tham gia kháng chiến. Thí dụ, ông Cục trưởng cụ Điện lực thời mới giải phóng thủ đô là một vị đại tá trong quân đội, không có trình độ đại học. Đại thể như thế.  


Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975, nhân dân cả nước tập trung vào nhiệm vụ “đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” thì đội ngũ trí thức đã tăng lên đáng kể, nhà máy nào, công xưởng nào cũng có các kỹ sư thuộc ngành nghề khác nhau. Thí dụ, nhà máy điện Lào Cai của lão nhỏ xíu, chỉ có 8 MW công suất, thế mà cũng có kỹ sư điện, kỹ sư lò hơi, kỹ sư turbine vân vân, đứng đầu các kỹ sư là ông kỹ sư trưởng từ bỏ nước Pháp trở về xây dựng quê hương. Song, do điều kiện kinh tế, điều kiện cả nước có chiến tranh nên chưa thể có những ngành KHKT “mũi nhọn” như bây giớ.


Sau khi đất nước được thống nhất đến năm Mỹ và đám chư hầu bỏ cấm vận kinh tế nước ta (1975-1995), chúng ta vẫn còn khó khăn lắm. Đặc biệt là ở miền nam, các nhà máy công nghiệp (nhất là các cơ sở điện lực) đều là thiết bị được chính quyền cũ nhập về từ các nước “không thân thiện”. Một số nhà trí thức miền nam cùng gia đình đi di tản, nhà nước phải điều các kỹ sư từ miền bắc vào để trám vào lỗ hổng ấy.


Nói đúng ra, đất nước ta mới tạm được yên ổn làm ăn để xây dựng và phát triển được 30 năm chứ mấy (1995-2024). Trong gần 30 năm ấy, đội ngũ trí thức đã tăng lên theo tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước nhà. Không biết lão nói có đúng không, chứ trước khi nước nhà được thống nhất, các vị lãnh đạo quốc gia có khi chưa từng kinh qua trường đại học khoa học nào, ngoại trừ trường chính trị và quản lý xí nghiệp cao cấp. Ngày nay thì cứ nhìn từ trên cao xuống thấp toàn thấy giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, thấp nhất cũng phải là kỹ sư (kinh tế hoặc khoa học kỹ thuật). Vì sao được thế? Vì nhà nước định ra tiêu chuẩn công chức phải như thế. Cũng vì thế mà có ông bà không chịu đi học lại chạy mua một tấm bằng giả để trám vào chỗ trống trong hồ sơ lý lịch. Thế là bị phát hiện, thế là bị xử lý.


Giờ nói đến chuyện người dân. Ngày xưa bảo người nông dân phải đi giày, dép là người ta cười vào mũi cho. Suốt ngày ngâm chân trên đồng ruộng, còn lúc nào mà xỏ chân vào giày dép. Ngày nay người nông dân ngồi trên máy cày máy cấy, máy gặt đập liên hợp, rồi những máy chạy bằng điện vân vân, mà bảo người ta không được mang giày dép thì người ta đập vào mặt cho. Chẳng những thế, người nông dân xưa phải “trông trời trông đất, trông mây. Trông mưa trông nắng, trông ngày trông đêm” vì người ta phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên. Ngày nay thì khác, khác thế nào thì ai cũng biết rồi, lão chẳng cần nói.


Đó, khi so sánh thì phải suy nghĩ thấu đáo. Trong đầu luôn phải có dấu hỏi “tại sao”, tại sao thế này mà không phải thế kia? Chắc chắn lão sẽ không sống đến năm 2030 chứ đừng nói đến năm 2045 để làm cuộc so sánh đất nước ở thời kỳ lão còn tại thế với đất nước của những năm đó. Các bạn trẻ hãy nhớ những gì mình đang có để so với những gì các bạn sẽ có vào năm 2030 và 2045 coi nó khác nhau thế nào nhé. ./.



 THA HÓA QUYỀN LỰC KHÔNG PHẢI BẢN CHẤT CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Lợi dụng việc một số cán bộ, công chức bị kỷ luật thời gian qua, các thế lực thù địch tiếp tục xuyên tạc rằng sai phạm, nhất là tham nhũng do “tha hóa quyền lực” là bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhận diện, đấu tranh chống luận điệu sai trái trên là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên và cấp bách hiện nay.

Theo cách hiểu thống nhất, tha hóa quyền lực là hành vi một số cán bộ, công chức lạm dụng quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước để làm những việc sai trái, khuất tất nhằm mang lại lợi ích cho cá nhân hay một nhóm người, gây tổn hại đến lợi ích chung của tập thể, lợi ích của quốc gia, dân tộc. Trong xã hội hiện đại thì tha hóa quyền lực càng trở nên tinh vi và biến tướng dưới nhiều hình thức phức tạp.

Gần đây, không ít người nắm giữ, thực thi công quyền đã bị cám dỗ bởi “màu hồng” của quyền lực. Khi có chức quyền trong tay, một số người chỉ lăm le khai thác quyền lợi, bổng lộc nhờ quyền lực mang lại mà không khép mình vào khuôn khổ tổ chức, quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước. Trong giai đoạn 2012-2022, có 2.740 tổ chức đảng và hơn 167.700 cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật. Năm 2023 đã thi hành kỷ luật 459 đảng viên do tham nhũng.

Cùng với xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản về kiểm soát quyền lực và phòng, chống suy thoái, tham nhũng, tiêu cực nhằm ngăn chặn kịp thời những “tổ mối” đang đục khoét thể chế, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Lợi dụng việc này, các thế lực thù địch tung ra những luận điệu xuyên tạc, cố tình bóp méo sự thật, cho rằng “tha hóa quyền lực” là bản chất của Đảng, hòng hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm xói mòn niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng và đội ngũ cán bộ. Những thủ đoạn và luận điệu của chúng có thể nhận diện trên một số vấn đề chủ yếu sau:

Thứ nhất, các thế lực thù địch, phản động quy chụp rằng, chế độ “một đảng” là nguyên nhân của tha hóa quyền lực. Chúng rêu rao rằng: Tha hóa quyền lực của cán bộ, công chức bắt nguồn từ chế độ “tập quyền, một đảng”... Cùng với cố tình đổ lỗi cho một đảng là nguyên nhân, mục đích của chúng không gì khác nhằm xóa bỏ vai trò độc tôn lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tha hóa quyền lực được xem là “bóng tối vươn theo quyền lực”, gây suy giảm quyền lực nhà nước, ảnh hưởng trực tiếp đến uy thế, thanh danh của Đảng và Nhà nước, biến bộ máy chính quyền và các tổ chức đảng trở nên quan liêu, xa rời lợi ích của nhân dân. Từ gần 200 năm trước, Karl Marx từng đưa ra những cảnh báo khi ông nghiên cứu về sự tha hóa quyền lực ở các nhà nước phương Tây, nhất là các nước tư bản phát triển.

Ông rút ra một điều: Quyền lực nhà nước càng lớn thì sự tha hóa của nó càng nguy hiểm, nó càng gần với tư cách một lực lượng tự trị thoát khỏi sự kiểm soát của con người. Điều này cho thấy tình trạng tha hóa quyền lực có ở mọi nhà nước, mọi xã hội có giai cấp, nó là một hiện tượng xã hội mà bất cứ chế độ xã hội nào cũng phải giải quyết.

V.I.Lenin cho rằng, “tệ quan liêu, tham nhũng khiến nhiều cán bộ, đảng viên bị tha hóa, trở thành những kẻ chuyên quyền, độc đoán, thậm chí nó có thể phá hủy một chính đảng, làm tiêu vong một chế độ”. Bàn về vấn đề này, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì nguyên nhân sâu xa, gốc rễ dẫn đến tha hóa quyền lực chính là chủ nghĩa cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, “vì cá nhân chủ nghĩa nên đặt lợi ích riêng lên trên lợi ích chung, rồi sinh ra vô kỷ luật, vô tổ chức, tham địa vị, tham danh vọng, bè phái, tham ô, lãng phí, quan liêu”.

Kế thừa, phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sinh thời, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh: “Tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực và là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ; thời đại nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có, không thể xóa bỏ tận gốc tham nhũng trong một thời gian ngắn”. Như vậy, cần khẳng định rằng, chính chủ nghĩa cá nhân và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, công chức, cùng việc chưa có cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả chính là nguyên nhân căn cơ của tha hóa quyền lực. 

 Mặt khác, trên cả phương diện lý luận, các nghiên cứu, phân tích đều đi đến kết luận, tham nhũng là hiện tượng xã hội, tồn tại tất yếu, khách quan trong xã hội có nhà nước (có giai cấp), không phụ thuộc vào chế độ chính trị đa đảng hay một đảng; chế độ nào, quốc gia nào cũng có tham nhũng.

Thực tế ở các quốc gia thực hiện chế độ đa đảng, tham nhũng vẫn là quốc nạn. Báo cáo Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) năm 2023 của Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) cho thấy, trên thế giới không có quốc gia nào không có tham nhũng do tha hóa quyền lực. Quốc gia có điểm số thấp nhất (mức độ tham nhũng cao nhất) là Somalia (11 điểm), Nam Sudan (13 điểm); các quốc gia có điểm số cao (mức độ tham nhũng thấp) là Đan Mạch (90 điểm), Phần Lan (87 điểm)... Như vậy, từ báo cáo trên có thể thấy, tham nhũng, tiêu cực do tha hóa quyền lực không phụ thuộc vào chế độ một đảng lãnh đạo hay chế độ đa đảng. Việc các thế lực thù địch rêu rao rằng tha hóa quyền lực do chế độ một đảng gây ra là luận điệu bịa đặt.

Thứ hai, các thế lực thù địch xuyên tạc mục đích phòng, chống tha hóa quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng rêu rao rằng, mục đích của phòng, chống tha hóa quyền lực chỉ vì phục vụ "lợi ích phe, nhóm", là “cuộc chiến hay đấu đá quyền lực trong thượng tầng của Đảng”, là bước chuẩn bị cho “con em, vây cánh” tiến thân...

Những luận điệu của các thế lực thù địch rất nguy hiểm và hoàn toàn sai trái. Bởi như phân tích ở trên, tha hóa quyền lực luôn có và không bao giờ mất đi khi trong xã hội có giai cấp. Vì vậy, để ngăn chặn nó, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tìm tòi và thực thi trong thực tiễn giải pháp để kiểm soát quyền lực hiệu quả, phải “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế”. Quá trình lãnh đạo cách mạng, nhất là từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhận thức sâu sắc rằng phòng, chống tha hóa quyền lực trong một bộ phận cán bộ, công chức là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Song song với thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, kinh tế... Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng việc ngăn ngừa, chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tha hóa quyền lực nhằm xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính, vừa “hồng”, vừa “chuyên”.

Trên thực tế, những cán bộ, đảng viên “tha hóa” bị xem xét kỷ luật do sai phạm thời gian qua đều được xử lý một cách nghiêm minh, công bằng, công tâm, minh bạch, đúng người, đúng tội và được thông tin rộng rãi đến mọi tầng lớp nhân dân. Đồng thời, thông qua kỷ luật để cảnh tỉnh, răn đe, giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên nhất là những người có chức, có quyền “tự soi”, “tự sửa”, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện về năng lực, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, phòng ngừa chặt chẽ, ngăn chặn từ gốc.

Chính việc xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên tha hóa thời gian qua đã được tuyệt đại đa số ý kiến người dân bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc đấu tranh phòng, chống tha hóa quyền lực. Điều đó càng minh chứng rõ ràng cho mục đích của phòng, chống tha hóa quyền lực là vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích của nhân dân và được nhân dân đồng tình, ủng hộ, chứ không phải như sự xuyên tạc của kẻ thù. Chính điều này đã gây thiện cảm mạnh mẽ, vun đắp niềm tin to lớn của nhân dân vào sự liêm chính, uy tín, sức mạnh và sự trong sạch của Đảng.

Thứ ba, chúng quy chụp rằng "tha hóa quyền lực" là phổ biến, là bản chất của đội ngũ cán bộ, công chức của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc rằng “việc phòng, chống tha hóa quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam rồi sẽ đi đến thất bại”. Viện dẫn cho những suy diễn đó, chúng chắp vá, xâu chuỗi một số vụ việc tiêu cực đơn lẻ ở một bộ phận cán bộ, công chức rồi quy chụp rằng “sâu mọt ở khắp mọi nơi”, đội ngũ cán bộ, đảng viên “đang rơi vào tình trạng tha hóa, biến chất”.

Những quy chụp của các thế lực thù địch là dối trá, đi ngược lại mục đích tốt đẹp của Đảng ta.

Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phải đối mặt với sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, đặc biệt là đối mặt với nguy cơ, thách thức từ tệ nạn tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, quan liêu, làm liên lụy đến sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ, hạnh phúc của nhân dân. Đảng đã thẳng thắn thừa nhận những sai lầm, khuyết điểm trong lãnh đạo công cuộc đổi mới; đồng thời, kiên quyết đấu tranh vạch mặt những kẻ mang danh Đảng, đội lốt đảng viên để phá Đảng, hại nước, hại dân.

Việc ra sức xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh không những thể hiện quyết tâm chính trị lớn lao của Đảng mà còn chứng tỏ Đảng luôn luôn cầu thị, sẵn sàng sửa chữa sai lầm, hạn chế, khuyết điểm để đưa đất nước vươn lên, trở nên tốt đẹp hơn. Nguyên nhân sâu xa dẫn đến tha hóa quyền lực của một bộ phận cán bộ, đảng viên là rơi vào chủ nghĩa cá nhân... cùng với sự thiếu kiểm soát, kiểm tra, giám sát của các cấp. Những con sâu đó chỉ là số ít trong tổng số hơn 5 triệu đảng viên, cần phải được loại bỏ để hàng ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch hơn. Như vậy, từ việc xử lý một số cán bộ, công chức bị thoái hóa mà đánh đồng, quy chụp đó là bản chất của đội ngũ cán bộ, công chức là sự nhìn nhận lệch lạc, cực đoan của một số ít người chỉ với mục đích hạ thấp uy tín của Đảng.

Những luận điệu xuyên tạc, chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam thời gian qua là vô căn cứ, phiến diện, phản khoa học, nhưng sẽ vô cùng nguy hiểm nếu không nhận diện và đấu tranh kịp thời. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải quán triệt và thực hiện nhất quán nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu trong thực hiện công tác cán bộ.

Mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng cần đề cao cảnh giác cách mạng, nhận diện, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch để kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động đó.

Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên cần không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, tư tưởng, trau dồi đạo đức cách mạng, phương pháp, tác phong công tác; luôn “tự soi, tự sửa” để không ngừng tiến bộ; biết đặt lợi ích của cách mạng, của nhân dân, của tập thể lên trên lợi ích cá nhân. Qua đó, góp phần quan trọng xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, vì khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.


 THỰC TIỄN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM PHẢN BÁC NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, XUYÊN TẠC

Ngày 2/8/2024, Bộ Thương mại Mỹ công bố về việc tiếp tục chưa công nhận quy chế kinh tế thị trường (KTTT) ở Việt Nam. Theo đó, dù có ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực về nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua nhưng cơ quan này vẫn tiếp tục chưa công nhận Việt Nam là quốc gia có nền KTTT.

Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch, phản động đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc bản chất, phủ định thành tựu của nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta.

Những luận điệu sai trái, bôi đen hiện thực

Trên các trang tin của những hội nhóm, tổ chức phản động còn tiến hành “tọa đàm, hội luận”, khoe thành quả về các hoạt động vận động, lên tiếng, thúc giục, kêu gọi các tổ chức, cá nhân có tiếng nói gây sức ép lên chính quyền Mỹ từ chối công nhận quy chế nền KTTT ở Việt Nam. VOA tiếng Việt rêu rao “Hàng chục nhà lập pháp Mỹ trong những lần khác nhau đã gửi thư lên Bộ trưởng Thương mại Gina Raimondo để yêu cầu bộ này không cấp quy chế thị trường cho Việt Nam”; BBC Tiếng Việt thì vu cáo “Nguyên nhân Mỹ từ chối nâng cấp Việt Nam lên nền KTTT do nhà nước Việt Nam vẫn can thiệp sâu vào mọi khía cạnh của nền kinh tế, ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hệ thống tư pháp và tệ nạn tham nhũng”. “Té nước theo mưa”, trên Fanpage Việt Tân bôi nhọ rằng, “cứ như thế này thì dân tộc Việt Nam làm sao ngóc đầu nổi”; “Mỹ công bố xếp hạng Việt Nam vào diện nền kinh tế phi thị trường nói lên điều gì”? Để làm nóng sự kiện, Việt Tân còn tổ chức livestream dưới dạng “hội luận” với thành phần tham gia được gắn cái mác như chuyên gia, luật sư, tiến sĩ… Mục đích không gì khác của chiêu trò này là bôi đen, đả phá nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, cổ xúy việc Mỹ chưa công nhận quy chế KTTT cho Việt Nam. Một số phần tử phản động lưu vong cũng nhân cơ hội này lấy làm hả hê, xuyên tạc “độc tài thì làm gì có cơ chế KTTT”, “muốn có KTTT phải đa nguyên, đa đảng”…

Các thế lực thù địch, phản động cố tình lấy cớ sự kiện này để chống phá Đảng, Nhà nước ta, xuyên tạc phải có sự chuyển hướng, thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam, loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chuyển sang đa nguyên, đa đảng thì mới có thể phát triển KTTT. Bằng việc gắn cái mác chuyên gia, nhà quan sát để tỏ ra bài viết, phỏng vấn của mình là có sức nặng, họ “khuyên” Việt Nam thay đổi thể chế thì “lúc đó Mỹ mới có thể công nhận nền KTTT của Việt Nam vì KTTT vốn là của chủ nghĩa tư bản, vận động theo các quy luật của chủ nghĩa tư bản, không thể dung hòa và kết hợp với mục tiêu xây dựng CNXH với định hướng XHCN. Các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong và số đối tượng xấu còn đưa ra suy diễn rằng, dường như Việt Nam đã, đang âm thầm chuyển hướng sang phát triển KTTT theo hướng tư bản chủ nghĩa bằng việc khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, tăng sự điều tiết của thị trường trong những năm qua dù Việt Nam vẫn tuyên truyền bằng cách sử dụng các từ ngữ, khái niệm của CNXH.

Những luận điệu trên cố tình xuyên tạc đường lối phát triển nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam; cố tình thổi phồng sự việc, gây tâm lý hoài nghi, dao động, thiếu niềm tin trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, ảnh hưởng đến sự thống nhất nhận thức, tư tưởng trong Đảng và trong xã hội.

Chủ trương của Đảng, Nhà nước và những thành tựu trong phát triển KTTT định hướng XHCN tại Việt Nam

Về mặt bản chất, KTTT là mô hình kinh tế mà trong đó người mua và người bán tác động với nhau theo quy luật cung cầu, giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ trên thị trường; là một kiểu tổ chức kinh tế phản ánh trình độ phát triển nhất định của văn minh nhân loại. Tại Đại hội lần thứ VII (năm 1991), Đảng ta đã xác định nhiệm vụ “xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”. Thuật ngữ xây dựng “nền KTTT định hướng XHCN” được Đảng sử dụng lần đầu tại Đại hội lần thứ IX (năm 2001).

Những chủ trương trên đã đánh dấu bước ngoặt cơ bản trong tư duy và quan niệm của Đảng về CNXH và con đường xây dựng CNXH ở nước ta. Từ đó đến nay, nhận thức của Đảng ta về KTTT định hướng XHCN ngày càng được bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Đến Đại hội XIII, Đảng ta xác định: “KTTT định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Đó là nền KTTT hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của KTTT, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”.

Đây là kết quả được rút ra từ quá trình tổng kết thực tiễn gần 40 năm đổi mới; đồng thời, là sự kế thừa và phát triển những thành quả lý luận; phản ánh tư duy nhất quán và sự phát triển nhận thức của Đảng ta về vấn đề này ngày càng rõ hơn, đầy đủ hơn. Những thành tựu của gần 40 năm đổi mới đất nước đã chứng minh sự đúng đắn của đường lối phát triển KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam. Từ thực tiễn quá trình đổi mới, nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam về cơ bản đã hội đủ các yếu tố của nền KTTT hiện đại theo các chuẩn mực quốc tế, như đa dạng các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, tự do sản xuất, kinh doanh, lưu thông những hàng hóa mà pháp luật không cấm, các chủ thể kinh tế cạnh tranh bình đẳng, hệ thống các loại thị trường phát triển ngày càng đồng bộ; vai trò của Nhà nước về quản lý kinh tế đã được đổi mới, như quản lý bằng luật pháp, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và sử dụng nguồn lực kinh tế của Nhà nước, không can thiệp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, hạn chế, khắc phục khuyết tật của cơ chế thị trường…

Gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam luôn nằm trong nhóm những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, với mức tăng trưởng trung bình gần 7% mỗi năm. Quy mô tổng sản phẩm trong nước (GDP) không ngừng được mở rộng, năm 2023 đạt khoảng 430 tỷ đôla Mỹ, trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 trong ASEAN và thứ 35 trong 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới. GDP bình quân đầu người tăng 58 lần, lên mức khoảng 4.300 đôla Mỹ năm 2023; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008 và đặt mục tiêu trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030.

Việc hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và đa dạng đã tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế nước ta. Thị trường xuất khẩu của Việt Nam được mở rộng đến 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân trên 10%/năm. Năm 2022, xuất khẩu đạt khoảng 371,5 tỷ USD, tăng 10,5% so với năm 2021. Đây là lần đầu tiên kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt Nam lập kỷ lục mới, vượt mốc 730 tỷ USD (tốp 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại quốc tế). Môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp chủ động hơn trong việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Một số sản phẩm của Việt Nam bước đầu khẳng định thương hiệu và có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Thứ hạng của Việt Nam trong tất cả bảng xếp hạng quan trọng của quốc tế đều được cải thiện. Chỉ số về trình độ phát triển của thị trường Việt Nam tăng 12 bậc so với năm 2020, từ vị trí thứ 34 lên vị trí thứ 22. Các nhóm chỉ số về thương mại, đa dạng hóa và quy mô thị trường tăng từ vị trí thứ 49 lên vị trí thứ 15 – một sự thay đổi hết sức mạnh mẽ; hay chỉ số đa dạng hóa các ngành trong nước cũng xếp thứ hạng khá cao (9/134 nước)

Năm 2020, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) công bố báo cáo đánh giá về nền KTTT của Việt Nam: “Từng là một trong những quốc gia nghèo nhất vào giữa những năm 1980, Việt Nam đã phát triển nhanh chóng, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp vào năm 2010. Công cuộc Đổi mới năm 1986 đã khởi đầu một quá trình chuyển đổi kinh tế trên diện rộng, xóa bỏ nền kinh tế kế hoạch hóa, mở cửa nền kinh tế, bước ra thị trường và thương mại quốc tế, đồng thời khởi xướng các cải cách theo hướng ủng hộ các hoạt động đầu tư, kinh doanh. Sau những chính sách này, Việt Nam đã duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đưa đất nước trở thành nền KTTT mới nổi chỉ trong vòng 25 năm”. Tương tự IMF, các báo cáo do những tổ chức quốc tế khác như Ngân hàng Thế giới (WB) cũng ghi nhận, chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang KTTT đã giúp Việt Nam đạt nhiều thành tựu. Hiện tại, Việt Nam là một trong những quốc gia năng động nhất khu vực Đông Á – Thái Bình Dương.

Đến nay, theo Bộ Công Thương, 72 nước đã công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường, bao gồm các nền kinh tế lớn như Canada, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc… Mới nhất, Vương quốc Anh đã có Thư chính thức công nhận quy chế thị trường của Việt Nam. Việt Nam cũng đã tham gia 16 hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương với hơn 60 đối tác thương mại trên thế giới. Những thành tựu đổi mới của Việt Nam đã cho thấy, việc xây dựng nền KTTT định hướng XHCN không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết rất tốt những vấn đề xã hội.

Thực tế sinh động trên đã khẳng định: Nền kinh tế Việt Nam được các quốc gia, tổ chức, chuyên gia quốc tế đánh giá cao trong việc xây dựng cơ chế thị trường những năm qua, đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho quần chúng nhân dân. Do đó, mỗi chúng ta cần nâng cao tinh thần cảnh giác trước những luận điệu sai trái, xuyên tạc trên không gian mạng, giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và nền KTTT định hướng XHCN của Việt Nam.

Ngày 3/8, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng đã trả lời câu hỏi của phóng viên về phản ứng của Việt Nam trước việc Bộ Thương mại Hoa Kỳ tiếp tục xác định Việt Nam là nền kinh tế phi thị trường. Bà Phạm Thu Hằng cho biết, trong thời gian qua, các cơ quan, doanh nghiệp Việt Nam đã tích cực phối hợp với Bộ Thương mại Hoa Kỳ cung cấp nhiều lập luận thuyết phục khẳng định kinh tế Việt Nam đã đáp ứng đầy đủ 6 tiêu chí KTTT theo quy định của luật pháp Hoa Kỳ. Điều này cũng được nhiều hiệp hội, doanh nghiệp, chuyên gia Hoa Kỳ và quốc tế ủng hộ. Trên thực tế, đến nay, có 72 quốc gia đã công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường. Các tổ chức quốc tế đều ghi nhận những bước tiến vượt bậc của kinh tế Việt Nam. “Trên tinh thần quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, Việt Nam đề nghị Hoa Kỳ tiếp tục thực hiện cam kết về việc phối hợp rộng rãi, mạnh mẽ, mang tính xây dựng và tiến tới sớm công nhận quy chế KTTT của Việt Nam. Các cơ quan hữu quan của Việt Nam sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các đối tác Hoa Kỳ bảo đảm quan hệ kinh tế, thương mại song phương tiếp tục phát triển ổn định, hài hòa, mang lại lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp và người dân hai nước” – Người phát ngôn Phạm Thu Hằng nêu rõ./.


 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng – nhà lãnh đạo đặc biệt xuất sắc trong việc “đưa chủ nghĩa xã hội vào đời sống hàng ngày” và “đưa chính trị vào giữa dân gian”!

“Đưa chủ nghĩa xã hội vào cuộc sống hàng ngày” là luận điểm của V.I.Lênin và “đưa chính trị vào giữa dân gian” là luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với hàm ý rằng, để xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi thì chủ trương, chính sách, biện pháp phải xuất phát từ thực tiễn đời sống của nhân dân, phải dựa vào nhân dân và huy động sức mạnh sáng tạo vĩ đại của toàn dân. Với tài năng, trí tuệ, năng lực tổ chức thực tiễn và sáng ngời đạo đức cách mạng, trọn đời vì nước, vì dân, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là người kế tục đặc biệt xuất sắc việc “đưa chủ nghĩa xã hội vào cuộc sống hàng ngày” và “đưa chính trị vào giữa dân gian”; qua đó, từng bước hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh và hạnh phúc.

Là nhà tư tưởng lý luận uyên bác, nhà lãnh đạo tài năng kiệt xuất, thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo những luận điểm sâu sắc trên trong công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhấn mạnh: “trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước phải luôn luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng””. Bởi “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”. Muốn vậy, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng chỉ rõ cần “thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng; củng cố và tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có nhiều đóng góp quan trọng trong công tác lý luận chính trị của Đảng, đồng chí đã có nhiều bài viết, bài phát biểu, công trình nghiên cứu chứa đựng sâu sắc tư duy lý luận đổi mới của Đảng như: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh"; “Biến thách thức thành cơ hội, quyết tâm tạo đột phá đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững”; “Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng”; “Cả nước đồng lòng, tranh thủ mọi thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng”; “Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng , quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng”... nhất là cuốn Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã góp phần to lớn trong việc hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Những giá trị lý luận, thực tiễn mà Tổng Bí thư đã đúc kết qua các tác phẩm này có tính định hướng cao, đặc biệt đã được các tầng lớp nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế đón nhận, luận bàn sôi nổi, góp phần lan tỏa niềm tin và truyền cảm hứng về khát vọng phát triển đất nước phồn vinh theo con đường XHCN.

Qua đó, hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam đã được phổ biến, quán triệt, lan tỏa một cách rộng rãi; công tác giáo dục chính trị tư tưởng, phổ biến, tuyên truyền đường lối, chính sách được chú trọng và không ngừng đổi mới nâng cao chất lượng, hiệu quả. Các nguyên tắc, phương châm hành động như “trên dưới đồng lòng”, “dọc ngang thông suốt”, chủ trương khuyến khích cán bộ “7 dám”... đã được chia sẻ, quán triệt để cán bộ, đảng viên và Nhân dân hiểu, tin tưởng và đồng tình ủng hộ. Điều quan trọng là dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đa số cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước ngày càng coi trọng việc “tự soi, tự sửa”, không ngừng học tập, rèn luyện, gương mẫu nói đi đôi với làm, dù ở cương vị nào cũng ra sức làm những việc ích quốc lợi dân; gần dân, nghe dân, trọng dân, giải quyết kịp thời những bức xúc, mong muốn, yêu cầu của dân…

Tổng Bí thư nhấn mạnh, đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp cách mạng to lớn, lâu dài, phải phát huy sức mạnh sáng tạo to lớn của các tầng lớp nhân dân để thực hiện thắng lợi các mục tiêu đã đề ra. Đồng thời Tổng Bí thư cũng là người truyền cảm hứng về chỉnh đốn, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng; qua đó củng cố mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với Nhân dân; làm cho Nhân dân ngày càng tin yêu Đảng, chế độ và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước. Trên cương vị là Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực, Tổng Bí thư đã để lại nhiều dấu ấn sâu sắc trong cuộc chiến chống giặc nội xâm, được Nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế đánh giá cao.

Việc “đưa chính trị vào giữa dân gian”, “đưa nghị quyết, chính sách vào cuộc sống”, “đưa chủ nghĩa xã hội vào cuộc sống hàng ngày” được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo tổ chức thực hiện quyết liệt, mang lại hiệu quả to lớn trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội của đất nước. Qua gần 40 năm đổi mới, “quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2023 đạt khoảng 430 tỉ USD, trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 trong ASEAN và thứ 35 trong 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới. GDP bình quân đầu người tăng 58 lần, lên mức khoảng 4.300 USD năm 2023”. Ngoài ra, tỉ lệ hộ nghèo giảm mạnh, “giảm từ 58% theo chuẩn cũ năm 1993 của Chính phủ xuống còn 2,93% theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước) năm 2023”, đưa Việt Nam trở thành điểm sáng, hình mẫu nổi bật về công tác xoá đói giảm nghèo trong số những quốc gia đang phát triển. “Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2023 được các tổ chức xếp thứ 65/137 quốc gia được xếp hạng”; “Chỉ số hòa bình toàn cầu năm 2023 của Việt Nam đứng thứ 41 trong số 163 nước được xếp hạng. Nước ta được các nhà đầu tư nước ngoài và du khách quốc tế đánh giá là điểm đến hấp dẫn và an toàn hàng đầu thế giới”. Từ một nước bị bao vây, cấm vận, tính đến nay, Việt Nam “đã mở rộng, làm sâu sắc thêm quan hệ ngoại giao với 193 nước, trong đó có 3 nước quan hệ đặc biệt, 6 nước đối tác chiến lược toàn diện, 12 nước đối tác chiến lược và 12 nước đối tác toàn diện. Đặc biệt là, nước ta hiện đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện hoặc đối tác chiến lược với tất cả 5 nước Uỷ viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, và mở rộng quan hệ kinh tế - thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ”8. Rõ ràng, “xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt” đã, đang và tiếp tục được hiện thực hóa sinh động trong đời sống hàng ngày trên đất nước Việt Nam. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đảng ta đã khẳng định, qua gần 40 năm đổi mới, với những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử đã đạt được, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay.

Cuộc đời và sự nghiệp vẻ vang, sự liêm khiết, mẫu mực và uy tín của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng những cống hiến đặc biệt xuất sắc của đồng chí đối với cách mạng nước ta, trọn đời vì Đảng, vì Tổ quốc, vì Nhân dân đã truyền cảm hứng đến cán bộ, đảng viên và Nhân dân ta cùng chung sức, chung lòng tranh thủ mọi thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức để thực hiện thắng lợi các mục tiêu đã đề ra.

Thật khó có thể đánh giá hết được những công lao, đóng góp của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đối với Đảng, dân tộc và Nhân dân ta – một nhà lãnh đạo lỗi lạc, kiên trung, trí tuệ, tận trung với nước, cả cuộc đời phấn đấu vì hạnh phúc của Nhân dân, đã có cống hiến đặc biệt xuất sắc đối với sự nghiệp của Đảng, của dân tộc, không ngừng “đưa chủ nghĩa xã hội vào cuộc sống hàng ngày”, “đưa chính trị vào giữa dân gian”. Tin tưởng rằng, với quyết tâm, niềm tin yêu dành cho Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, sự đoàn kết và tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân ta sẽ vượt qua những khó khăn, thách thức, tiếp tục phát huy tối đa lực lượng và sức mạnh để quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng./.


 CÁCH MẠNG THÁNG TÁM - MỞ ĐẦU TRÀO LƯU PHI THỰC DÂN HOÁ TRÊN TOÀN THẾ GIỚI

Đầu thế kỷ XX chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn thứ hai trong lịch sử phát triển. Đó là sự ra đời của chủ nghĩa đế quốc mà V.I.Lênin khẳng định đó là “Giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”. Là người đấu tranh chống lại các trào lưu tư tưởng phi mác xít của “phái hữu” và “phái giữa” trong Quốc tế Hai sau khi Ăngghen mất năm 1895, Lênin đã đấu tranh để vạch rõ bản chất của chủ nghĩa đế quốc. Theo Người, nó không phải là “Khai hoá văn minh” cho các dân tộc thuộc địa lạc hậu như một số lãnh tụ của Quốc tế Hai từng cổ suý mà nó là xâm lược, nô dịch, ăn bám, thối nát và với sự chống đối từ mọi phía. Lênin khẳng định nó tự làm suy yếu, tự nó đưa nó đến chỗ diệt vong.

Trước sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc đối với các dân tộc trên tư bản. Vấn đề đấu tranh chống lại sự xâm lược và ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa đế quốc giải phóng dân tộc trở thành nhiệm vụ trọng tâm trong đời sống chính trị quốc tế đầu thế kỷ XX. Vận dụng quan điểm “cách mạng không ngừng” của Mác - Ăngghen vào tình hình cụ thể. V.I.Lênin đã khẳng định vấn đề dân tộc - thuộc địa là vấn đề sinh tử và là trung tâm của thời đại mới. Chính Người đã chủ động chuẩn bị và lãnh đạo công nông binh Nga biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng. Làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười mở đầu kỷ nguyên mới, thời đại mới. Chính Người đã chuẩn bị và thành lập Quốc tế cộng sản (QTCS) - Tổ chức quốc tế của các Đảng Cộng sản có sự tham gia lần đầu tiên của các dân tộc thuộc địa. Người đã đề ra Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa, coi vấn đề đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức là trọng tâm của đời sống cộng sản quốc tế, là điều kiện được ghi trong Điều lệ để kết nạp các Đảng Cộng sản vào QTCS.

Giải phóng các dân tộc khỏi ách áp bức của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân là nhiệm vụ hàng đầu của các Đảng Cộng sản toàn thế giới lãnh đạo quần chúng nhân dân các thuộc địa. Giải phóng các dân tộc khỏi ách thống trị thực dân là nhiệm vụ trọng tâm của thời đại mới.

Là người tiếp thu học thuyết Mác - Lênin, là người có thực tiễn hoạt động phong phú trong QTCS, từng khảo sát tại các nước tư bản đế quốc nhiều thuộc địa, lớn mạnh nhất đến các nước thuộc địa lạc hậu nhất, Hồ Chí Minh đã vận dụng lý luận và thực tiễn vào cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.

Với những hoạt động không mệt mỏi trong 1/4 thế kỷ (từ năm 1920-1945) Hồ Chí Minh đã biến học thuyết Lênin trở thành hiện thực, điều mà trước đó Lênin vĩ đại đã bổ sung, sáng tạo biến học thuyết Mác - Ăngghen trở thành hiện thực thể hiện qua cách mạng Nga. Là người hiểu và trung thành trong đấu tranh bảo vệ và kiên trì tổ chức thực hiện tư tưởng của Lênin về vấn đề dân tộc thuộc địa, sau khi gia nhập gia đình cộng sản, Hồ Chí Minh đã thực hiện cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Người trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản - bộ tham mưu của giai cấp và dân tộc lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc. Người trực tiếp đề ra chiến lược, sách lược và phương thức tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, tổ chức, lãnh đạo chuẩn bị xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, lãnh đạo chớp thời cơ một cách mau lẹ chính xác làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945.

Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 của Việt Nam là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười, nằm trong quỹ đạo của cách mạng vô sản. Đây là cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, do đó, thành công của cách mạng là triệt để, là "đến nơi" như Hồ Chí Minh khẳng định. Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới chứ không như các cuộc cách mạng dân chủ tư sản trước đây. Thắng lợi của cách mạng đã đập đổ ách thống trị thực dân hàng trăm năm, ách thống trị phong kiến hàng nghìn năm đưa dân tộc Việt Nam vào thời đại mới - thời đại đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, thời đại độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám trở thành một hình mẫu cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, chiến thắng các thế lực xâm lược có thể có nhiều con đường giành thắng lợi, song cách mạng giải phóng dân tộc trên lập trường vô sản là cách mạng giải phóng triệt để nhất, tạo điều kiện cho sự phát triển ổn định, bền vững cho quá trình đi lên của mỗi quốc gia. Và do vậy thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam trong Cách mạng Tháng Tám đã đánh dấu sự mở đầu của trào lưu phi thực dân hoá trên phạm vi quốc tế. Lịch sử thế giới thế kỷ XX đã ghi nhận tầm vóc thời đại của Cách mạng Tháng Mười mở đầu thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH và Cách mạng Tháng Tám mở đầu trào lưu phi thực dân hoá trong trào lưu cách mạng giải phóng dân tộc toàn thế giới.

Sau Cách mạng Tháng Tám và tiếp tục con đường độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dân Việt Nam tiếp tục đi đầu trong việc đánh thắng, tiêu diệt chủ nghĩa thực dân cũ, đánh bại một bước nặng nề chủ nghĩa thực dân mới đã làm cho Việt Nam và Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ tiên phong trên mặt trận đấu tranh tiêu diệt chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân. Cách mạng Tháng Tám với ý nghĩa đó trở thành cuộc cách mạng mở đầu cho trào lưu phi thực dân hoá và biến lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc thế giới thế kỷ XX giành được toàn thắng. Đến nay không còn có nước nào không giành được độc lập dân tộc với những mức độ khác nhau. Chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân hoàn toàn bị tiêu diệt trong thế kỷ XX mà Cách mạng Tháng Tám là sự mở đầu trào lưu phi thực dân hoá, mở đầu thời đại Hồ Chí Minh./.

Thứ Hai, 5 tháng 8, 2024

CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC


Còn nhớ, cố Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đã từng đáp lại lời của Clinton rằng: "Thưa ngài, cái mà ngài gọi là "chiến tranh Việt Nam" thì nhân dân Việt Nam chúng tôi gọi đó là "Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước..."


Cháu vô cùng kính trọng và khâm phục chất "thép" nơi bác vì không những bác là nguyên thủ Quốc gia, mà là một người lính đã từng vào sinh ra tử nơi chiến trường...


Thế mà thời đại của Internet 5G và cuộc sống hiện đại hôm nay, thế hệ trẻ đang bị nhồi sọ lập lờ bản chất của khái niệm "Chiến tranh Việt Nam" hay "KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ" của nhân dân ta dưới chiêu bài nguy hiểm trong chiến lược "Diễn biến hòa bình", chủ nghĩa xét lại của bọn ngụy sử, mấy tay nhà báo rởm ất ơ được sinh ra trong hòa bình, mấy tay làm phim không có lập trường chính trị.


"Chiến tranh Việt Nam"? Vậy Mỹ đem bom đạn dội lên đầu dải đất hình chữ S này thì sao? Mỗi tấc đất ngọn cỏ đều thấm đẫm máu xương đồng bào tôi trong mấy chục năm ròng, những cuộc thảm sát đẫm máu mà nhân chứng sống đang còn đó. Chẳng lẽ bây giờ Mỹ vô can? Chúng ta cầm súng ra trận "đánh cho Mỹ cút", vậy có phải KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ hay không? 


Lịch sử phải công bằng, gọi và hiểu cho đúng bản chất. Đau thương mất mát chúng ra đã quá nhiều rồi, ngồi gác chân trong phòng lạnh hôm nay, các bạn hãy suy nghĩ vì đâu mà có được thành quả đó? Hãy gọi đúng tên và hiểu đúng ý nghĩa của nó: CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC. 

Vạch trần thủ đoạn " cách mạng màu "


Trong những năm qua tư tưởng “Cách mạng Màu”, “Cách mạng Trắng cho Việt Nam” của các thế lực thù địch với các luận điệu xuyên tạc, bịa đặt, xét lại lịch sử đã len lỏi xâm nhập vào Việt Nam bằng nhiều đường, dưới nhiều hình thức, từng bước tiêm nhiễm trong một số trí thức, cán bộ đảng viên, công chức đã nghỉ hưu cũng như đương chức và giới trẻ trong cả tư duy và hành động, phát ngôn trên các trang mạng xã hội Youtube, Facebook, Twitter, Zalo… với các thông tin xấu độc, bôi nhọ nhằm chia rẽ Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Nhằm mục đích giải thể Đảng và Nhà nước Việt Nam. 


Ngay từ trước và sau khi nước nhà giành độc lập cũng như trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước và trong công cuộc Đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng và nhà nước ta đã hết sức quan tâm đến công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Từ đó người Việt Nam sinh sống, làm việc và học tập ở nước ngoài đã có những đóng góp tích cực trong các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Tuy nhiên, trong những năm qua ở cả trong và ngoài nước đã có những người “lợi dụng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với công tác người Việt Nam ở nước ngoài để trục lợi, chống phá đất nước, ảnh hưởng đến uy tín và lợi ích quốc gia - dân tộc.”

Ngày 26/3/2004 Bộ chính trị (khóa IX) đã ban hành Nghị quyết 36, với quan điểm Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Mặc dù sống xa Tổ quốc, đồng bào luôn nuôi dưỡng, phát huy tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống văn hóa và hướng về cội nguồn, dòng tộc, gắn bó với gia đình, quê hương. Nghị quyết 36 đề ra các chủ trương và nhiệm vụ chủ yếu như: Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi và hỗ trợ đồng bào ổn định cuộc sống, yên tâm làm ăn sinh sống, hội nhập vào đời sống xã hội nước sở tại, đồng thời duy trì quan hệ gắn bó với quê hương, đất nước. Tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài về thăm quê hương, thân nhân, thờ cúng tổ tiên. Cụ thể hóa và hoàn thiện hơn nữa các quy định về xuất nhập cảnh, cư trú, đi lại ở trong nước của người Việt Nam ở nước ngoài theo hướng thông thoáng, thuận tiện và đơn giản thủ tục. Hoàn chỉnh và xây dựng mới hệ thống chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, phát huy sự đóng góp của trí thức kiều bào vào công cuộc phát triển đất nước. Hoàn chỉnh và xây dựng mới các chính sách thu hút người Việt Nam ở nước ngoài hoạt động đầu tư, kinh doanh ở trong nước. Ngày 19/5/2015, Bộ Chính trị (khóa XI) đã ra Chỉ thị số 45 về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 36 của Bộ Chính trị khóa IX về công tác với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới. Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết số 36 và hơn 5 năm thực hiện Chỉ thị số 45 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, hàng chục triệu lượt Việt kiều đã về thăm quê hương, du lịch, tìm hiểu hoặc đầu tư, kinh doanh, hợp tác khoa học - công nghệ, hoạt động văn hóa - nghệ thuật và được tạo điều kiện thuận lợi. Từ năm 2012 đến nay, nhiều bà con Việt kiều ở các nước đã được Nhà nước tạo điều kiện tham gia các chuyến thăm quần đảo Trường Sa và Nhà giàn DK1. Nhiều ca sỹ, nghệ sỹ người Việt Nam ở nước ngoài đã được về nước biểu diễn, hoạt động nghệ thuật. Mỗi dịp Tết âm lịch hằng năm Ủy ban TƯ MTTQ Việt Nam đều phối hợp với Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài tổ chức chương trình Xuân quê hương đón tiếp kiều bào về thăm đất nước. Sau gần 20 năm thực hiện công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài có nhiều tiến bộ và đạt nhiều kết quả quan trọng. Đã góp phần tích cực vào việc tăng cường và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; cổ vũ, động viên người Việt Nam ở nước ngoài nâng cao ý thức tự hào dân tộc, lòng yêu nước, gắn bó với quê hương đất nước, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, vươn lên trong cuộc sống, hội nhập vào nước sở tại. 

Tuy nhiên, việc thực hiện Nghị quyết 36, Chỉ thị 45 thời gian qua còn một số hạn chế, bất cập. Đã có những đối tượng lợi dụng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với công tác người Việt Nam ở nước ngoài để trục lợi, chống phá đất nước, ảnh hưởng đến uy tín và lợi ích quốc gia - dân tộc. Từ sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật số và mạng Internet toàn cầu, một số đối tượng chống cộng cực đoan đã về nước lập kênh Facebook, Youtube, Twitter, TikTok, Zalo tuyên truyền bịa đặt, xuyên tạc chống phá các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước. Nhiều người đã tiếp tay cho các thế lực thù địch ở nước ngoài cũng như các hãng truyền thông chống đối Nhà nước như RFA, RFI, BBC, VOA cũng như một số trang mạng xã hội của các tổ chức “Việt Tân”, “Nhân dân hành động”, “Triều đại Việt”, “Tivi tuần san”, TV24, N10TV, “No U”… tuyên truyền Cách mạng Màu – Cách mạng Trắng vào Việt Nam, xuyên tạc, bóp méo, xét lại lịch sử đấu tranh cách mạng của toàn Đảng, toàn Dân, toàn Quân ta. Ở trong nước xuất hiện một số chủ kênh Youtube lợi dụng Nghị quyết 36, Chỉ thị 45 để liên hệ, “giúp đỡ”, “đón tiếp”, chăn dắt Việt kiều nhằm trục lợi cả về vật chất và tinh thần. Ngược lại có Youtube ở nước ngoài về lợi dụng danh nghĩa “luật sư Mỹ” yêu Việt Nam, tìm mọi cách liên hệ, gặp gỡ với các vị nguyên lãnh Đảng, chính quyền đã nghỉ hưu, các cựu tù chính trị, cựu chiến binh ở trong nước với danh nghĩa “đối thoại, hòa giải, hòa hợp dân tộc”, xin được quay phim, chụp ảnh cùng rồi đưa lên kênh Youtube của mình để tuyên truyền, đánh bóng tên tuổi với tuyên ngôn: Một kênh Youtube đông người theo dõi có giá trị tuyên truyền hơn cả một tờ báo trong nước. Trên các kênh Youtube của mình anh ta treo quốc kỳ Việt Nam, nhưng bên cạnh các thông tin vô thưởng, vô phạt cóp nhặt trên mạng thỉnh thoảng anh ta lại xuyên tạc sự kiện, bịa đặt, bóp méo lịch sử, xét lại lịch sử, hạ bệ thần tượng lãnh tụ; công khai tuyên truyền tư tưởng cách mạng Màu, cách mạng Trắng vào Việt Nam. Hành vi và thủ đoạn lôi kéo, tuyên truyền, dẫn dắt của anh ta rất tinh vi nên đã có trên 300.000 người tham gia mạng xã hội đăng ký theo dõi kênh Góc nhìn “luật sư Mỹ”. Một nhóm “Fan cuồng” đã lập ra hàng chục kênh Youtube vệ tinh cổ súy thủ lĩnh cách mạng Trắng, ủng hộ “luật sư Mỹ” và sẵn sàng chửi bới thóa mạ tất cả những ai lên tiếng, góp ý, phản biện những luận điểm sai trái của kênh Góc nhìn “luật sư Mỹ”. Rất may, từ cuối năm 2019 đến nay cùng với các cơ quan chức năng của chính quyền, Ban Tuyên giáo các cấp, Mặt trận – các tổ chức thành viên, các cơ quan thông tấn báo chí trong cả nước và đông đảo quần chúng nhân dân tham gia đấu tranh với các thế lực thù địch trên không gian mạng đã phát hiện và lên tiếng phản bác mạnh mẽ. Hàng loạt các cơ quan báo chí từ Trung ương đến địa phương như: Báo quân đội Nhân dân, Tạp chí Công an, Tạp chí Dân vận, Báo Điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, Báo Sài Gòn Giải phóng, Báo Bắc Giang, Báo Thanh Hóa, Báo Quảng Trị, Truyền hình Quân đội, Truyền hình công an, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo Nhân dân, các Cổng TTĐT, Trang TTĐT của các tỉnh thành ủy, UBND, UBMTTQ, các tổ chức CTXH, Ban chỉ đạo 35 khắp cả nước lên tiếng cảnh giác, đấu tranh, vạch trần những luận điểm xuyên tạc, bịa đặt và các thủ đoạn lôi kéo, lừa mị quần chúng nên Góc nhìn “luật sư Mỹ” giảm hẳn tần suất chống phá. Nhiều người trước đây tham gia hội nhóm Youtube vệ tinh cổ súy thủ lĩnh cách mạng Trắng nay nhận ra sự thật đã lên mạng xin lỗi Nhà nước và nhân dân, công khai tố cáo những thủ đoạn chống phá của Góc nhìn “luật sư Mỹ”.

Lại có những Youtube khác đã nhiều năm tham gia các tổ chức chống cộng cực đoan, hoặc đã từng viết vẽ cho các tờ báo tư nhân tiếng Việt chuyên chống cộng và quảng cáo phát hành miễn phí, ở phố Bolsa (Hoa Kỳ). Họ đã về Việt Nam nhiều lần, đi khắp đất nước để thăm thú, được chính quyền và nhân dân các địa phương đón tiếp cởi mở, chân tình. Có người đã về nước hàng chục năm, sống bằng nghề làm Youtube nhưng luôn xưng danh “nhà báo Mỹ”, nhà báo “hải ngoại”. “Nhà báo Mỹ” cũng sử dụng chiêu thức đánh bóng tên tuổi của “luật sư Mỹ” như trên. Khi đã lấy được niềm tin của khán giả trong và ngoài nước “nhà báo Mỹ” kêu gọi từ thiện, quyên góp giúp đỡ đồng bào bị lũ lụt miền Trung, mở lớp xóa mù chữ cho trẻ em vùng cao? dạy tiếng Anh cho trẻ em nghèo? kêu gọi góp tiền mở đường nhân ái, làm cầu vào bản vùng sâu vùng xa… Vì mục đích kêu gọi từ thiện rất cao đẹp nên đã có nhiều bà con Việt kiều ở nước ngoài và các doanh nghiệp, người hảo tâm trong nước tin tưởng, gửi tiền cho nhóm của anh ta thực hiện các dự án trên từ năm 2019 đến nay. Tiếng lành đồn xa, anh ta đã được một vài tờ báo trong nước “pia” đưa tin ca ngợi và số tiền gửi về cho kênh Youtube của “nhà báo Mỹ” ngày càng nhiều. Từ đó anh ta thao túng cả một số cá nhân trong bộ máy chính quyền cấp huyện, cấp xã và công an xã, thôn. Khi có thanh niên dân tộc Mông người địa phương kể lại cho khách đến thăm về “con đường nhân ái” và các cây cầu được thực hiện ở địa phương bằng tiền quyên góp, do sợ bị lộ các chiêu trò khuất tất trong kinh doanh từ thiện, anh ta đã gọi điện cho lãnh đạo huyện, xã yêu cầu công an xã làm việc với công dân, ép công dân phải kiểm điểm để chụp ảnh, quay phim buổi làm việc của công an xã với công dân, chụp cả ảnh biên bản làm việc ghi lời của công dân với công an xã để gửi cho anh ta đưa lên kênh Youtube của “nhà báo Mỹ”. Ngay các cuộc gọi điện với lãnh đạo huyện, xã cũng được anh ta ghi âm lại và tung lên mạng xã hội nhằm khẳng định quyền lực và đe dọa những ai dám tố cáo những khuất tất trong kinh doanh từ thiện của mình. Tại cuộc Bầu cử đại biểu Quốc hội nhiệm kỳ XV và HĐND các cấp (2021 – 2026) ở một địa phương, “nhà báo Mỹ” này còn xông cả vào phòng bỏ phiếu bầu cử quay cận cảnh cử tri đang gạch tên ứng cử viên trong phiếu bầu rồi tung lên mạng internet toàn cầu. Vi phạm quyền tự do bầu cử, quyền tự do lựa chọn đại biểu của công dân tại Khoản 5, điều 69 Luật bầu cử quốc hội và HĐND các cấp ghi rõ: Khi cử tri viết phiếu bầu cử không ai được xem kể cả thành viên tổ bầu cử. Số tiền “nhà báo Mỹ” quyên góp ủng hộ đồng bào miền Trung bị lũ lụt đã bị thất thoát hơn một nửa so với số liệu thực Báo Nhân dân đã nêu. Những khuất tất, sai trái của “nhà báo Mỹ” đã bị quần chúng nhân dân đặt vấn đề và phê phán từ hơn ba năm qua. Từ đầu 5.2023 đã có hàng loạt Việt kiều ở các nước Mỹ, Úc, Đức, Pháp, Séc, Ba Lan, Nga… và nhiều chủ doanh nghiệp, nhà hảo tâm đã ủng hộ tiền bạc cho “nhà báo Mỹ” làm từ thiện đã lên tiếng tố cáo và gửi đơn đến các cơ quan chức năng cung cấp bằng chứng về các hành vi khuất tất, sai trái của “nhà báo Mỹ” ăn chặn tiền từ thiện của người nghèo, đồng bào bị lũ lụt, của trẻ em vùng cao…

Trước thực tiễn hơn 5 năm qua về hiện tượng một số người lợi dụng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với công tác người Việt Nam ở nước ngoài để trục lợi, chống phá đất nước, ngày 12/8/2021 Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Kết luận số 12 về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới. Kết luận khẳng định: Dù ở bất cứ nơi đâu, đồng bào ta vẫn luôn hướng về Tổ quốc, gắn bó máu thịt với cội nguồn dân tộc, là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Để thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, thời gian tới, công tác người Việt Nam ở nước ngoài cần tiếp tục được triển khai toàn diện và mạnh mẽ hơn, qua đó phát huy nguồn lực to lớn, tinh thần yêu nước của đồng bào ta ở nước ngoài hướng về quê hương, đất nước. Kết luận số 12 đề ra 6 nhiệm vụ, giải pháp, trong đó nhấn mạnh: “Phát huy hiệu quả các phương tiện truyền thông đa dạng của cộng đồng; hoàn thiện và nâng cao hiệu quả cơ chế phối hợp, phản ứng nhanh, kịp thời phản bác những luận điệu sai trái, không đúng sự thật về tình hình đất nước.” Kết luận số 12 còn yêu cầu: “Ngăn chặn và phòng ngừa việc lợi dụng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với công tác người Việt Nam ở nước ngoài để trục lợi, chống phá đất nước, ảnh hưởng đến uy tín và lợi ích quốc gia - dân tộc.”

Có thể khẳng định Nghị quyết 35 về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và Kết luận số 12 - KL/TW ngày 12/8/2021 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới là hết sức cần thiết, nhằm đấu tranh chống lại các thủ đoạn chống phá đất nước của các thế lực thù địch. Kịp thời chỉ đạo và định hướng cho các cơ quan chức năng, hệ thống truyền thông, báo chí từ Trung ương đến địa phương, Mặt trận – các đoàn thể cũng như lực lượng quần chúng đấu tranh với các thế lực thù địch cần nhận thức và hành động đúng đắn, phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc. Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn kịp thời việc lợi dụng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước với công tác người Việt Nam ở nước ngoài để trục lợi, chống phá đất nước. Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng và cuộc sống ấm no, bình yên, hạnh phúc./.

VIÊT TÂN VONG QUỐC, ĂN BÁM NGOẠI QUỐC MÀ DÁM CHÊ MỘT ĐẤT NƯỚC ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ?

         Thời đại internet, Google, chatbot AI… rồi mà Tân còn chơi trò nhét chữ vào mồm này sao Tân? Hay Tân nghĩ thực sự tại Việt Nam không có internet, nên muốn múa gì thì múa?

Câu này nguyên gốc của Lenin là "Khi nhà nước còn tồn tại, sẽ không thể có tự do. Khi có tự do thì sẽ không còn nhà nước.", được xuất hiện trong cuốn sách “Nhà nước và Cách mạng” do Lenin viết vào năm 1917, trong thời kỳ Cách mạng tháng Mười Nga.

Trong cuốn sách này, Lenin trình bày quan điểm của mình về vai trò của nhà nước và cách mà nó sẽ biến mất khi xã hội đạt đến một giai đoạn phát triển cao hơn, không còn cần thiết phải có nhà nước để quản lý.

Lenin cho rằng nhà nước là công cụ của giai cấp thống trị và sẽ không còn cần thiết khi xã hội đạt đến trạng thái cộng sản chủ nghĩa hoàn toàn, nơi mà không còn sự áp bức và bóc lột. Lenin tin rằng chỉ khi nhà nước - theo nghĩa truyền thống của nó - biến mất, con người mới có thể đạt được tự do hoàn toàn.

Tân lần sau có múa thì nên tìm hiểu kỹ chứ đừng có bốc phét thế này Tân nhé!
Yêu nước ST.

LUẬN CỨ ĐẤU TRANH PHẢN BÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

 Cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời và trực tiếp lãnh đạo đất nước 93 năm, cả trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và trong công cuộc đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế hiện nay. 93 năm - một chặng đường gần một thế kỷ và có đủ thời gian để nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với sự phát triển của cả một dân tộc.


Năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, nước ta là một nước thuộc địa nửa phong kiến, nhân dân mất tự do, chịu cảnh lầm than, nô lệ. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã đứng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc, giải phóng mình khỏi thân phận nô lệ nhờ thành công của cuộc cách mạng tháng Tám (năm 1945) và giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp (năm 1954) và chống Mỹ (năm 1975). Những thành tựu to lớn đó đã làm nên những trang sử vẻ vang của dân tộc, được cả thế giới ghi nhận và nhân dân Việt Nam trân trọng, khắc ghi.


Trong bối cảnh đất nước bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh, khủng hoảng toàn diện trên tất cả các mặt, đời sống nhân dân đói nghèo, thiếu thốn, lại thêm Mỹ và phương Tây áp đặt cấm vận kinh tế trong một thời gian dài, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục lãnh đạo cả dân tộc bước vào công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Việc thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến rõ rệt, hết sức sâu sắc và tích cực ở Việt Nam: kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố”(3). Những thành tựu đó không phải tự nhiên mà có và cũng không phải dễ dàng có được. Đó chính là kết quả của quá trình nhận thức về tính tất yếu của đổi mới đất nước, đồng thời, xuất phát từ sự thôi thúc của bản thân Đảng ta với mong muốn ngày càng mang lại sự phát triển phồn vinh cho đất nước, mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.


Những thành tựu đó là bằng chứng thuyết phục để khẳng định năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - một đảng duy nhất cầm quyền và lãnh đạo cả dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước; đồng thời cũng làm cho nhân dân ngày càng thêm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, đồng thuận để Đảng trở thành một lực lượng xã hội duy nhất lãnh đạo toàn xã hội. Do đó, không thể cố tình lờ đi những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của Việt Nam qua hơn 36 đổi mới để cáo buộc rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lãnh đạo, chỉ khiến đất nước rơi vào tình trạng trì trệ, kém phát triển. Vì vậy, những kẻ lấy danh nghĩa là “con dân đất Việt”, lấy hình thức viết “tâm thư”, “thư ngỏ” để kêu gọi Đảng phải từ bỏ Điều 4 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là cố tình chống phá Đảng, chống phá chế độ ta.


Từ việc tổng kết quá trình lãnh đạo của Đảng trong suốt hơn 93 năm nói chung và trong thời kỳ đổi mới nói riêng, Đảng ta đã rút ra bài học kinh nghiệm rất quan trọng. Đó là: “Đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”(4). Tại Đại hội XIII, khi tổng kết kết quả 35 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, Đảng ta cũng khẳng định: “Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”(5). Đây là những nhận định khách quan, phản ánh đậm nét vai trò to lớn, không thể phủ nhận của Đảng Cộng sản Việt Nam với công cuộc đổi mới và phát triển đất nước trong suốt thời gian qua. Do đó, luận điệu cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng lãnh đạo đất nước” hoặc là do nhận thức thiển cận (số này không nhiều), hoặc là cố tình lờ đi, phủ nhận (trường hợp này là đa số) vai trò lãnh đạo to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam với công cuộc đổi mới đất nước. Do đó, mỗi chúng ta cần phải cảnh giác trước những luận điệu đó, đồng thời kiên quyết, kiên trì đấu tranh phản bác trên tất cả mọi mặt trận.


Trong những năm tiếp theo, công cuộc đổi mới đất nước sẽ tiếp tục còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng nếu mỗi chúng ta luôn hiểu và vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng thì sẽ là góp phần củng cố, gia tăng thêm sức mạnh cho Đảng, để Đảng ta tiếp tục là người lãnh đạo, dẫn dắt cả dân tộc thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.


BẢN CHẤT CỦA NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG


Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một trong những luận điệu thường thấy của các thế lực thù địch nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta. Đây là trọng tâm, là mũi nhọn trong chiến lược “diễn biến hòa bình” với âm mưu cơ bản và lâu dài là tạo ra “khoảng trống” về tư tưởng, chính trị nhằm chia rẽ mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân. Đây là một âm mưu nguy hiểm, thâm độc liên quan trực tiếp đến uy tín cũng như sự tồn vong của Đảng, của chế độ nên được các thế lực thù địch ráo riết thực hiện với nhiều thủ đoạn tinh vi.


Để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng với cách mạng Việt Nam, chúng tung ra luận điệu “Đảng Cộng sản Việt Nam có nhiều sai lầm trong quá khứ, dù quá khứ có làm được một số việc thì bây giờ chuyển sang thời kỳ mới, Đảng đã hết vai trò lịch sử”(1) trên nhiều diễn đàn khác nhau bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng.


Ở góc độ khác, có thế lực còn khoét sâu vào những hạn chế, khuyết điểm của Việt Nam trong thời gian qua, nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên để công kích Đảng ta, đòi xóa bỏ điều 4 trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về quyền lãnh đạo trưc tiếp, toàn diện của Đảng. Gần đây, một số phần tử cơ hội chính trị còn rêu rao rằng, hiện nay, Việt Nam vẫn còn là một nước chậm phát triển. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là do “Đảng đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước”(2). Chúng còn vu cáo rằng Đảng Cộng sản Việt Nam tuy có đạt được một số kết quả trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc nhưng hiện đường lối lãnh đạo của Đảng đã không còn phù hợp nữa nên không thể có thành công được!


Trong những dịp Đảng, Quốc hội xin ý kiến rộng rãi các tầng lớp nhân dân về dự thảo các văn kiện, nghị quyết, luật…, các hoạt động chống phá lại càng quyết liệt và tinh vi hơn. Dưới hình thức “Thư ngỏ”, nhiều thế lực thù địch bao gồm các lực lượng phản động ở nước ngoài, các phần tử cơ hội chính trị trong nước đã gửi “tâm thư” kêu gọi Đảng ta phải thay đổi để “cứu vớt” đất nước Những luận điệu này đã lộ rõ bản chất của những kẻ có mưu đồ chống phá - đó là cố tình lờ đi những thành quả không thể phủ nhận của công cuộc đổi mới của Việt Nam và vin vào những hạn chế, khuyết điểm để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với công cuộc đổi mới và phát triển đất nước.


Có thể nhận thấy rõ mưu đồ của các thế lực thù địch khi đưa ra luận điệu “Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng lãnh đạo đất nước” là nhằm xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới và phát triển của Việt Nam hiện nay. Căn nguyên của luận điệu này được chúng đưa ra là do Đảng Cộng sản Việt Nam cho đến nay vẫn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng và các thế lực thù địch luôn rêu rao rao rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã “lỗi thời”, “không còn phù hợp” với thực tiễn hiện nay. Do đó, có thể nhận thấy rõ cái trước mắt là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhưng cội rễ sâu xa là phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin với tính cách là nền tảng tư tưởng, là “kim chỉ nam” cho mọi chủ trương, đường lối và hoạt động của Đảng. Vì thế, đây là một thủ đoạn chống phá Đảng kiểu “rượu cũ bình mới” nên không thể xem thường!



THẾ GIỚI - VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN: PHƯƠNG TÂY VÀ CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH QUYẾT TÂM THAY ĐỔI CHẾ ĐỘ Ở VENEZUELA!

      Loạn đất nước với kịch bản quen thuộc lần này tiếp tục diễn ra trên đất nước Venezuela!
Đầu tiên:
Tổng thống Venezuela Maduro giành chiến thắng trong Cuộc bầu cử tổng thống diễn ra vào ngày 28/7 sau kết quả kiểm phiếu

Tiếp theo:
- Phe đối lập tuyên bố kết quả kiểm phiếu là gian lận
- Đồng loạt các nước Argentina, Costa Rica, Ecuador, Panama, Paraguay, Peru, Uruguay ra tuyên bố yêu cầu kiểm phiếu minh bạch dưới sự giám sát của các quan sát viên
- Tổng thống Argentina Miley tuyên bố sẽ không công nhận chiến thắng của Maduro ngay cả trước khi kết quả bỏ phiếu đầu tiên được công bố
- Một quan chức cấp cao của chính quyền Mỹ cho biết Mỹ không loại trừ việc đưa ra các biện pháp trừng phạt mới đối với Venezuela sau cuộc bầu cử tổng thống ở nước này
- Phe đối lập Venezuela bắt đầu tổ chức các cuộc biểu tình rầm rộ ở nhiều nơi trên đất nước, thủ đô Caracas đang rơi vào tình trạng bất ổn, với các cuộc đụng độ giữa cảnh sát và người biểu tình
- Chính phủ Venezuela ra tuyên bố lên án mạnh mẽ các hành động can thiệp của một nhóm chính phủ cánh hữu trực thuộc Washington cố gắng vực dậy phe đối lập đã thất bại và tìm cách không công nhận kết quả cuộc bầu cử ngày 28 tháng 7 năm 2024./.
Yêu nước ST.

CHÍNH HẾT LÒNG VÌ NƯỚC, VÌ DÂN, LÀ TẤM GƯƠNG SÁNG CHO MỌI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN NOI THEO

 TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG - NGƯỜI CỘNG SẢN CHÂN 

Nhiều học giả, chuyên gia, chính trị gia cho rằng, sở dĩ những chỉ đạo của Tổng Bí thư có uy lực lớn, có sức hiệu triệu nhân tâm, là do một phần vì bản thân ông là một tấm gương thực sự liêm chính trong cả công việc và đời sống.


Nhiều ý kiến từ thủ tướng chính phủ đến các đại biểu quốc hội, các nhà phân tích cho rằng: "chiến dịch phòng chống tham nhũng" của ông được người dân nhiệt tình ủng hộ. "Phòng chống tham nhũng" là khát vọng của nhân dân và là trách nhiệm của Đảng cầm quyền đối với nhân dân.


Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được coi là người “nhóm lò” cho chiến dịch mà như ông nói một cách hình tượng “Cái lò (chống tham nhũng) đã nóng lên rồi thì củi tươi (chỉ những đối tượng tham nhũng) vào đây cũng phải cháy”.


Ở trong nước đông đảo học giả trí thức, các tầng lớp nhân dân ủng hộ. Nhà báo Nhị Lê, Phó Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản nói về tính cách và quyết tâm chống tham nhũng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “Từ khi tôi được biết ông cho tới ngày hôm nay, ông vẫn luôn là người dễ gần, giản dị đến mộc mạc, nghĩa tình, trong sạch, liêm khiết, tận tụy, thủy chung, nhưng cũng hết sức quyết liệt và cực kỳ cẩn trọng. Ông luôn lo cho người khác, còn nỗi buồn, nỗi đau ông cố giữ lại cho riêng mình. Khi còn ở Tạp chí Cộng sản đã 3 lần ông bị chảy máu dạ dày. Có lần tôi chứng kiến tay trái ông ôm bụng, tay phải vẫn duyệt bài. Ông không bao giờ kêu ca, phàn nàn về bất cứ thứ gì. Cách đây 3 tuần, tôi được Tổng Bí thư cho gọi lên phòng làm việc của ông. Trong câu chuyện với Tổng Bí thư, tôi có thưa với ông: “Anh đã đánh trống rồi, người dân đang mong anh đánh trống trận”. Tổng Bí thư nói đây là hồi trống vào trận chống tham nhũng.... việc Tổng Bí thư gióng hồi trống chống tham nhũng đã đáp ứng được lòng mong mỏi của người dân.

_____________

 Trị tận gốc tệ nhũng nhiễu

Ngày đăng 08/07/2024 19:52

Hiện tượng cán bộ, công chức nhũng nhiễu, vòi vĩnh trong thực thi công vụ, gây bức xúc trong dư luận tồn tại bấy lâu không chỉ làm mất niềm tin của nhân dân vào bộ máy hành chính nhà nước, ảnh hưởng đến uy tín lãnh đạo của Đảng mà còn làm mất cơ hội sản xuất, kinh doanh và làm giàu của người dân, doanh nghiệp.

Đây là lực cản vô hình, ngăn trở tiến trình phát triển đất nước phồn vinh và hạnh phúc, cần phải triệt xóa tận gốc.

1. Trước hết phải khẳng định rằng, cho đến nay, thực hiện chủ trương phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và cải cách hành chính bằng các giải pháp, biện pháp cụ thể, hiệu quả từ trung ương xuống địa phương, tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho doanh nghiệp, người dân của một bộ phận cán bộ, công chức có chức vụ, quyền hạn thoái hóa, biến chất đã có những chuyển biến rõ nét, góp phần xây dựng bộ máy hành chính nhà nước làm việc khách quan, công tâm, công bằng.

Những quy định về tổ chức vận hành trung tâm hành chính công cấp tỉnh, bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cấp huyện, cấp xã…, đặc biệt là việc áp dụng công nghệ thông tin trong cung cấp dịch vụ hành chính công liên thông đạt đến mức độ 4, đã giúp đáp ứng nhu cầu của người dân, doanh nghiệp một cách nhanh chóng, tiện lợi. Kết quả này được tổng hợp, báo cáo và Chính phủ theo tiến trình, đã công khai số liệu trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Thật mừng khi nhìn vào thực tế ấy. Càng mừng hơn khi hàng nghìn “giấy phép con”, văn bản chồng chéo ẩn chứa “quyền anh”, “quyền tôi” và lợi ích nhóm đã bị xóa bỏ, tạo ra sự thông thoáng trong thực thi pháp luật, củng cố niềm tin của nhân dân.

Ấy thế nhưng, khi tìm hiểu sâu thực tế thì ở góc khuất nào đó, tình trạng nhũng nhiễu, vòi vĩnh, hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp vẫn hiện hữu, dưới nhiều trạng thái, sự việc khác nhau. Vẫn còn những người dân, doanh nghiệp khi đến cơ quan hành chính để thực hiện thủ tục, hồ sơ theo quy định bị “hành”, gây khó dễ vì những lý do khác nhau.

Có thể kể đến việc chính quyền phường Trường Thi (thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An) mới đây đã đưa ra xử lý 1 cán bộ về hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân hay nhiều hành vi nhũng nhiễu, đòi chung chi trong giải quyết các vấn đề về quyền sử dụng đất, tranh chấp tài sản, xử lý đối tượng vi phạm pháp luật... khác, đã bị đưa ra ánh sáng thời gian vừa qua, cho thấy hiện tượng nhũng nhiễu, vòi vĩnh vẫn đang hiện hữu một cách đáng lo ngại trong đời sống.

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới những hiện tượng trên. Nguyên nhân trực tiếp là do cán bộ phụ trách còn mang nặng chủ nghĩa cá nhân, cậy quyền, cậy thế. Họ dùng quyền, vị trí công tác để kiếm chác từ chính công việc được phân công phụ trách. Nguyên nhân nữa là do thói quen nhờ vả, thích chạy cửa sau của một bộ phận trong xã hội, đã vô tình kích thích lòng tham, khiến một số người không giữ được sự liêm khiết, chính trực. Bên cạnh đó là sự quản lý lỏng lẻo cả về nghiệp vụ, đạo đức của cơ quan chủ quản, không xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Ngoài ra còn có nguyên nhân từ nhiều thủ tục hành chính chưa được cắt giảm. Ví dụ, để có chức năng thực hiện hoạt động đo đạc khảo sát xây dựng theo quy định của pháp luật thì chủ doanh nghiệp cùng lúc phải xin 2 giấy phép ở 2 cơ quan khác nhau. Một là phải có “chứng chỉ năng lực tổ chức khảo sát xây dựng” do Bộ Xây dựng hoặc sở xây dựng các tỉnh cấp. Hai là phải được Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cấp giấy phép, dẫn đến nhiều phiền hà, rắc rối cho đơn vị cần cấp phép.

2. Để trị tận gốc hiện tượng cán bộ cửa quyền, gây phiền hà, sách nhiễu thì giải pháp tốt nhất là các cơ quan chức năng và các địa phương cần thường xuyên rà soát hệ thống văn bản pháp luật, loại bỏ sự chồng chéo trong cấp phép, tạo sự thông thoáng cho người dân và doanh nghiệp.

Cơ quan chức năng cần thúc đẩy và mở rộng dân chủ trong giám sát cán bộ, công chức thực thi công vụ; kiên quyết xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật với những trường hợp, cá nhân có biểu hiện sách nhiễu, vòi vĩnh trong thực thi công vụ. Cấp ủy Đảng các cấp cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ, đảng viên phụ trách mảng công tác dễ phát sinh tiêu cực, nhằm ngăn ngừa hiện tượng thông đồng trong thực thi công vụ để trục lợi.

Các cơ quan, đơn vị, địa phương cần thực hiện nghiêm Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 18-9-2020 của Chính phủ về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức và Nghị định số 71/2023/NĐ-CP ngày 20-9-2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 112/2020/NĐ-CP về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, bảo đảm dân chủ, khách quan, kịp thời và công bằng khi phát hiện ra những trường hợp cán bộ, công chức, viên chức sách nhiễu, vòi vĩnh.

Sách nhiễu, vòi vĩnh đòi “bôi trơn”, đòi “chia lợi ích” là những hành vi trái với tinh thần phục vụ, lấy người dân và doanh nghiệp là chủ thể để phục vụ. Các cơ quan, đơn vị, địa phương cần tăng cường hơn nữa sự giám sát của nhân dân, lắng nghe góp ý của nhân dân để loại bỏ triệt để các hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu. Chỉ khi tiến hành thực thi công vụ công khai, minh bạch thì các hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu mới thực sự bị triệt tiêu, không còn đất sống.