Thứ Ba, 6 tháng 8, 2024

 Thực tiễn bác bỏ sự xuyên tạc về đường lối đối ngoại theo trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”

Nhằm hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, các thế lực thù địch, phản động ra sức xuyên tạc đường lối đối ngoại theo trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”. Nhưng thực tiễn thành tựu trong công tác đối ngoại của nước ta đã bác bỏ mọi sự xuyên tạc.

Trong những năm gần đây, ngoại giao “cây tre Việt Nam” là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến khi đề cập đến hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Đây là sự khái quát, hình tượng hóa đường lối đối ngoại mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang thực hiện, trên cơ sở quán triệt phương châm đối ngoại mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo là “dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tham quan triển lãm ảnh về ngoại giao Việt Nam tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 32. Nguồn: vietnamplus.vn

Thuật ngữ ngoại giao “cây tre Việt Nam” được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sử dụng lần đầu tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 29 (ngày 22/8/2016). Đến Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (ngày 14/12/2021), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp tục khẳng định: “Có thể khái quát, hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, kế thừa và phát huy truyền thống, bản sắc đối ngoại, ngoại giao và văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, chúng ta đã xây dựng nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”, “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam. Đó là mềm mại, khôn khéo, nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, can trường trước mọi thử thách, khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đoàn kết, nhân ái nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Biết nhu, biết cương; biết thời, biết thế; biết mình, biết người; biết tiến, biết thoái,…”1. Sự khẳng định đó đã làm rõ nguồn gốc và đặc trưng của đường lối đối ngoại thời đại Hồ Chí Minh mang đậm bản sắc trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”.

Đường lối đối ngoại theo trường phái ngoại giao đó được nhân dân ta tin tưởng, cộng đồng quốc tế đánh giá cao; bạn bè quốc tế ủng hộ, tôn trọng. Thế nhưng, để phủ nhận các thành quả của cách mạng Việt Nam, phủ nhận vai trò lãnh đạo, cùng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng ta, các thế lực thù địch, phản động đã cố tình xuyên tạc đường lối đối ngoại theo trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” bằng nhiều luận điệu mang tính kích động, phủ định, bôi nhọ. Họ xuyên tạc trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” là “ba phải”, “hai mặt”, “gió chiều nào che chiều ấy”, “không có lập trường nhất quán, ổn định”, là “bắt cá hai tay”… nên không thể tin cậy được(!). Họ cho rằng, trong thời đại toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, các quốc gia, dân tộc có mối quan hệ ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau chặt chẽ; trong khi đó, đường lối ngoại giao “cây tre” của Việt Nam vẫn theo đuổi chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ là “bảo thủ”, “trì trệ”, “tự tách mình ra khỏi dòng chảy của lịch sử”, không phù hợp(!). Họ phê phán chủ trương “bốn không”2 của Việt Nam trong hoạt động đối ngoại quốc phòng là “dại dột”, “tự trói tay mình”, “tự cô lập mình”. Từ đó, họ “khuyên” Việt Nam nên chọn theo (hay dựa vào) nước này để chống nước kia và ngược lại(!).

Có thể khẳng định ngay rằng, những luận điệu nói trên của các thế lực thù địch, phản động là hoàn toàn sai trái, cần kiên quyết bác bỏ. Trên phương diện lý luận, việc sử dụng cụm từ ngoại giao “cây tre Việt Nam” là sự khái quát rất cao về lý luận của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, trên cơ sở đúc kết thực tiễn lịch sử và bản sắc độc đáo của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam - một nền ngoại giao được xây dựng, phát triển trên cơ sở kế thừa, vận dụng sáng tạo tư tưởng, phong cách, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh, bản sắc văn hóa và ngoại giao của dân tộc đã trường tồn qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Hình tượng “cây tre Việt Nam” phản ánh sinh động, nhưng dễ hiểu về những nội dung cốt lõi và bản sắc độc đáo của nền ngoại giao nước ta. Theo đó, “Vững ở gốc” là sự kiên định về mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lấy lợi ích quốc gia - dân tộc làm nguyên tắc hàng đầu, “bất biến”; là đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, lấy thực lực làm gốc, lấy đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế để tạo thế, lập thời; lấy phương pháp luận chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng soi đường, chỉ lối. “Chắc ở thân” là những phương pháp tạo nên sức mạnh, thực hiện phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; trong đó, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố căn bản, sống còn, quyết định, đoàn kết quốc tế là nhân tố bổ trợ hết sức quan trọng; là giương cao ngọn cờ chính nghĩa, nhân văn, thủy chung, thượng tôn pháp luật và phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại. “Uyển chuyển ở cành” là phong cách, nghệ thuật ứng xử linh hoạt trên nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, đặc biệt trong các hoàn cảnh khó khăn, có sự mâu thuẫn giữa những xu thế khác nhau, đòi hỏi phải hài hòa cái chung và cái riêng, nhằm giữ vững bản sắc, giá trị đất nước và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam, phù hợp với những giá trị chung của nhân loại. Đó là cách ứng xử “biết mình, biết người”, “biết thời, biết thế”, “biết tiến, biết thoái”, “biết dừng, biết biến”, “biết nhu, biết cương” của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.

Trên phương diện thực tiễn, cách mạng nước ta hơn 90 năm qua, từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đã chứng minh rất rõ: các hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta theo trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” đã góp phần giành lại và củng cố vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước; phục vụ đắc lực, hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân; tăng cường thế và lực, vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế, góp phần vào xây dựng một thế giới hòa bình, hợp tác và phát triển. Từ một nước bị bao vây, cấm vận nhiều mặt, nhưng với chính sách ngoại giao đúng đắn, giàu nhân văn, Việt Nam đã tạo được lòng tin đối với các tổ chức, các nước trên thế giới. Đến nay, trên bình diện song phương, chúng ta đã mở rộng, làm sâu sắc quan hệ với 193 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có 03 nước quan hệ đặc biệt, 07 nước đối tác chiến lược toàn diện3, 11 nước đối tác chiến lược và 12 nước đối tác toàn diện. Đảng ta đã có quan hệ với 253 đảng ở 115 quốc gia trên thế giới, trong đó có 92 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 38 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính. Quốc hội nước ta cũng có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 quốc gia. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và các tổ chức hữu nghị nhân dân có quan hệ với 1.200 tổ chức nhân dân, phi chính phủ nước ngoài. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, các hoạt động đối ngoại của Việt Nam diễn ra sôi động, liên tục, đồng bộ, hiệu quả, củng cố vững chắc hơn cục diện đối ngoại, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, góp phần huy động nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao vị thế đất nước. Lãnh đạo chủ chốt của đất nước đã thực hiện 45 chuyến thăm tới các nước, đối tác quan trọng, bạn bè truyền thống. Nước ta cũng đón gần 50 đoàn lãnh đạo các nước, tổ chức quốc tế tới thăm; trong đó, rất đáng chú ý là chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình và chuyến thăm của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden trong năm 2023, đã tạo nên bước phát triển mới về chất trong cục diện đối ngoại và hội nhập quốc tế của đất nước. Cùng với đó, quan hệ với nhiều đối tác được nâng lên tầm cao mới, tin cậy chính trị cao hơn, hợp tác ngày càng mở rộng, thực chất và hiệu quả hơn. Trên bình diện đa phương, nước ta là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, như: Liên hợp quốc (UN), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Đại hội đồng Liên nghị viện Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (AIPA), Đại hội đồng Liên minh nghị viện thế giới (IPU), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), v.v.

Thông qua ngoại giao “cây tre Việt Nam”, quan hệ đối ngoại quốc phòng và an ninh của nước ta cũng không ngừng được mở rộng. Việt Nam đã có quan hệ quốc phòng chính thức với trên 100 quốc gia; trong đó có quan hệ với tất cả 05 nước Ủy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc và tất cả các nước lớn; thiết lập tùy viên quốc phòng tại 33 nước, kiêm nhiệm tại 41 nước và Liên hợp quốc; có 52 quốc gia đặt tùy viên quốc phòng, tùy viên quân sự tại Việt Nam. Ở cấp độ đa phương, nước ta cũng là thành viên tích cực tham gia các cơ chế hợp tác, như: Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN, Đối thoại Shangri-La, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM) và ADMM+, v.v. Từ năm 1991, nước ta đã là thành viên của Tổ chức Cảnh sát Hình sự quốc tế (Interpol) và năm 2014, bắt đầu tham gia vào sứ mệnh gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Tính đến nay, Việt Nam đã cử hơn 800 lượt sĩ quan, nhân viên của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân đi làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại các Phái bộ Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, khu vực Abyei và Cục Hoạt động hòa bình tại trụ sở Liên hợp quốc, thể hiện trách nhiệm với hòa bình thế giới.

Ngoại giao “cây tre Việt Nam” cũng đã góp phần quan trọng vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước. Nếu năm 1991, nước ta mới có quan hệ  kinh tế - thương mại với gần 30 nước và vùng lãnh thổ, thì đến nay đã có quan hệ kinh tế - thương mại với hơn 230 nước và vùng lãnh thổ, thu hút hơn 400 tỉ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Chỉ tính riêng năm 2023, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu của nước ta đã đạt trên 680 tỉ USD, gấp 120 lần so với những năm đầu đổi mới, trong đó xuất khẩu đạt trên 354 tỉ USD; thu hút FDI đạt 36,6 tỉ USD, tăng 32,8%; nhiều tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đã cam kết đầu tư dài hạn ở Việt Nam. Nước ta cũng đã tham gia ký kết và là thành viên của 17 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có 03 FTA thế hệ mới với tiêu chuẩn rất cao, như: Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), v.v.

Ngoại giao “cây tre Việt Nam” không chỉ nhận được sự đồng thuận từ dư luận trong nước, mà còn được bạn bè quốc tế ghi nhận, ủng hộ. Ông Hàn Phương Minh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Chính hiệp toàn quốc Trung Quốc khẳng định: “Đây chính là nền tảng ngoại giao để Việt Nam vẫn phát triển ổn định, lành mạnh dù đứng trước tình hình thế giới vô cùng phức tạp”. Ông Amiad Horowitz, Ủy viên Ban Quốc tế, Ủy viên Ban Hòa bình và Đoàn kết Đảng Cộng sản Mỹ cho rằng: “Ngoại giao mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam” là cách tiếp cận ngoại giao độc đáo, nhận được rất nhiều lời khen ngợi,… Bất kỳ ai quan tâm đến sự chung sống hòa bình đều cần phải nghiên cứu trường phái đối ngoại, ngoại giao mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam” để học được những bài học quan trọng”. Ngài Murayama Tomoichi, Cựu Thủ tướng Nhật Bản nhấn mạnh: “Trong bối cảnh tình hình thế giới ngày càng phức tạp và xu thế toàn cầu hóa, đường lối ngoại giao mang bản sắc “cây tre Việt Nam” vừa linh hoạt, vừa kiên trì do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khởi xướng đã lãnh đạo Việt Nam với những đặc tính vốn có của cây tre là “mềm mỏng” nhưng lại “mạnh mẽ”, “kiên quyết không lùi bước”. Tư tưởng đó vừa vì hòa bình của Việt Nam, cũng vừa là đóng góp cho chung sống hòa bình với các nước châu Á và với các nước trên thế giới”.

Những thực tiễn nói trên đã khẳng định giá trị của đường lối đối ngoại theo trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” là không thể phủ nhận. Đường lối đó góp phần nâng cao sức mạnh, tiềm lực, vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế; đồng thời, góp phần quan trọng vào xây dựng một thế giới hòa bình, hợp tác và phát triển. Đó là những minh chứng rất sinh động bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động về đường lối, chính sách đối ngoại theo trường phái “cây tre Việt Nam”.

NGUYỄN NGỌC HỒI
_____________
       

1 - Nguyễn Phú Trọng – Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”, Nxb CTQGST, H. 2023, tr. 150.

2 - Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

3 - Gồm các nước: Trung Quốc (5/2008), Liên bang Nga (7/2012), Ấn Độ (9/2016), Hàn Quốc (12/2022), Mỹ (9/2023), Nhật Bản (11/2023) và Australia (3/2024).


 GIÁ TRỊ CỦA QUAN ĐIỂM VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC TRONG XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM THỂ HIỆN TRONG CUỐN SÁCH CỦA ĐỒNG CHÍ TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

Phát triển kinh tế tri thức - một nội hàm trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - được thể hiện cô đọng trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Quan điểm về phát triển kinh tế tri thức trong cuốn sách này có ý nghĩa định hướng rất quan trọng cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Chủ nghĩa xã hội - con đường duy nhất đúng để đạt được tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam

Bằng tổng kết lịch sử phát triển của thế giới đương đại cũng như thực tiễn cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng chí Tổng Bí thư khẳng định một cách rất khoa học về con đường duy nhất đúng cho sự phát triển của đất nước - đó là con đường xã hội chủ nghĩa. Đồng chí nhấn mạnh: nhân dân Việt Nam đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn, đầy gian khổ, hy sinh để chống lại ách đô hộ và sự xâm lược của thực dân, đế quốc để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của đất nước, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc.

Theo đồng chí Tổng Bí thư, ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định: Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Năm 1930, trong Cương lĩnh chính trị của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa. Vào những năm cuối thế kỷ XX, mặc dù trên thế giới, chủ nghĩa xã hội hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa không còn, phong trào xã hội chủ nghĩa lâm vào giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, gặp nhiều khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định: Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 1-2011), trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), chúng ta một lần nữa khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

Từ sự khái quát con đường tất yếu đúng đắn, đồng chí Tổng Bí thư chỉ rõ: xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện, các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Như vậy, chủ nghĩa xã hội chính là con đường duy nhất đúng để nhân dân ta đi đến cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc. Đó là sự thực! Cũng chính trong tác phẩm của mình, đồng chí Tổng Bí thư đã khái quát về sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và con đường tư bản chủ nghĩa. Đồng chí chỉ ra, chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học và công nghệ. Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với  trước. Mặc dù vậy, chủ nghĩa tư bản không thể tự nó giải quyết được một cách triệt để nhiều mâu thuẫn, nhiều tình huống “phát triển xấu” do chính sự phát triển của bản thân chủ nghĩa tư bản sinh ra. Đồng chí Tổng Bí thư khái quát: Các phong trào phản kháng xã hội bùng nổ mạnh mẽ tại nhiều nước tư bản phát triển trong thời gian qua càng làm bộc lộ rõ sự thật về bản chất của thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức “dân chủ tự do” mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân - yếu tố bản chất nhất của dân chủ. Hệ thống quyền lực đó vẫn chủ yếu thuộc về thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới ¾ nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội.

Thực tiễn phát triển theo lối tư bản chủ nghĩa đó, hiển nhiên không thể đem lại tương lai chắc chắn cho nhân dân thế giới. Thấu hiểu một cách sâu sắc xu hướng thời đại, bản chất con đường phát triển của chủ nghĩa tư bản, đồng chí Tổng Bí thư khái quát: Sự rêu rao bình đẳng về quyền, nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất. Trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át. Vì vậy mà tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do”, “dân chủ”, dù có thể thay đổi chính phủ, nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản.

Từ đó, đồng chí Tổng Bí thư khẳng định: Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận và bóc lột, chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ xã hội, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé”, vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường. Và, chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có. Thực tế, đây chính là những giá trị cốt lõi của chủ nghĩa xã hội; và, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội chính là con đường duy nhất đúng để đạt được những giá trị đó trong hiện thực đời sống của nhân dân.

Phát triển kinh tế tri thức - một trong những nội dung của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Từ chỗ khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội một cách khoa học, đúng đắn, khách quan nêu trên, đồng chí Tổng Bí thư đưa ra giải pháp mang tính phương pháp luận để chỉ dẫn cho việc thực hiện con đường đó. Đồng chí chỉ rõ: Để thực hiện thực được mục tiêu đó, chúng ta phải: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn liền với phát triển kinh tế tri thức; phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.

Như vậy, phát triển kinh tế tri thức là một trong những nội hàm mang tính nhiệm vụ tất yếu phải thực hiện trong tiến trình phát triển xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đây cũng chính là nội hàm của sự hiện thực hóa cách thức vừa kết hợp giữa yêu cầu phát triển phù hợp với quy luật khách quan, vừa phù hợp với điều kiện Việt Nam trong tiến trình phát triển. Sở dĩ như vậy là vì, lịch sử phát triển lực lượng sản xuất thế giới đã đạt đến trình độ cho phép thúc đẩy sự hình thành và phát triển của kinh tế tri thức. Kinh tế tri thức, đến lượt nó, trở thành yêu cầu đối với sự phát triển của các quốc gia trên thế giới trong bối cảnh ngày nay. Sự phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam không thể nằm ngoài quỹ đạo phát triển chung về lực lượng sản xuất của loài người. Phát triển kinh tế tri thức trở thành nội hàm của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trở thành phương thức phát triển tích hợp từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến tới xây dựng nền tảng vật chất của chủ nghĩa xã hội.

Kinh tế tri thức, với bản chất là thành tựu của sự phát triển lực lượng sản xuất của nhân loại; đồng thời, kinh tế tri thức cũng là thành tố tạo động lực thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất mới của các quốc gia trên thế giới. Do đó, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong xây dựng nền tảng kinh tế - vật chất nhằm từng bước hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh ở Việt Nam. 

Với trình độ phát triển còn thuộc nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp của Việt Nam, việc thực hiện thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, đẩy nhanh quá trình xã hội hóa không ngừng lực lượng sản xuất, từ đó tạo tiền đề để hoàn thiện các quan hệ sản xuất theo hướng tiến bộ là yêu cầu cấp thiết. Để đáp ứng được yêu cầu đó, cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa tuân thủ các quy luật phát triển chung của thế giới, đồng thời phải gắn với điều kiện, trình độ đặc thù của Việt Nam. Phương thức để giải quyết tốt mối quan hệ đó, cần thích ứng kịp thời với những xu hướng phát triển mới nhân loại, của lực lượng sản xuất trên phạm vi toàn cầu. Trong khi đó, phát triển kinh tế tri thức là xu thế tất yếu và trở thành hiện thực trong bối cảnh hiện nay trên phạm vi thế giới. Do đó, việc phát triển kinh tế tri thức thực sự phải là nội hàm của công cuộc xây dựng cơ sở vật chất xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Tinh thần này thể hiện trong tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư thể hiện tư duy lý luận vừa sâu sắc, vừa sáng tạo trong vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới. Sự sáng tạo này không những thể hiện sự đúc kết một cách cô đọng những trải nghiệm lãnh đạo thực tiễn của người lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng ta, mà còn thể hiện sự kiên định một cách khoa học, sáng tạo nền tảng tư tưởng của Đảng trong việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất trong điều kiện mới của Việt Nam.

Giá trị định hướng trong công cuộc hiện thực hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Từ phân tích trên đây, có thể rút ra các giá trị định hướng quan trọng trong quan điểm về phát triển kinh tế tri thức đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Cụ thể:

Thứ nhất, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam tất yếu được đặt trong bối cảnh phát triển của nhân loại.

Như đã chỉ ra, chủ nghĩa tư bản vẫn còn dư địa phát triển, tuy vậy, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là điểm dừng cuối cùng của lịch sử xã hội của loài người. Những bất công, nhiều tình huống phát triển xấu trong lòng chủ nghĩa tư bản mà tự phương thức sản xuất này không thể giải quyết được xuất hiện ngày càng phổ biến hơn. Thực tế đó cho thấy, lịch sử nhân loại tất yếu sẽ tiếp tục vận động để tiến tới phương thức sản xuất mới văn minh, tiến bộ hơn. Nghĩa là, con đường xã hội chủ nghĩa là tất yếu đối với lịch sử nhân loại. Mặc dù vậy, trên con đường tất yếu đó, việc hiện thực hóa những giá trị tiến bộ, văn minh của con đường xã hội chủ nghĩa lại phụ thuộc rất lớn vào việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa tuân thủ quy luật phát triển chung của thế giới với điều kiện đặc thù của mỗi quốc gia. Trình độ lực lượng sản xuất nào kéo theo quan hệ sản xuất đó. Vì vậy, khi trình độ lực lượng sản xuất còn ở mức độ thấp, sự tất yếu khách quan phải thực hiện thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất để từ đó tạo tiền đề hoàn thiện quan hệ sản xuất là mệnh lệnh của công cuộc phát triển. Yêu cầu đó đòi hỏi đặt sự phát triển, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh phát triển chung của nhân loại. Kinh tế tri thức là kết quả và động lực cho trình độ phát triển mới của lực lượng sản xuất thế giới. Do đó, việc phát triển, hiện thực hóa những giá trị tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cần phải đặt trong xu thế tất yếu của thế giới. Đây là hàm ý sâu sắc trong quan điểm của đồng chí Tổng Bí thư khi đề cập việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Thứ hai, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đòi hỏi giải quyết tốt mối quan hệ giữa tuân thủ các quy luật chung với không xa rời những điều kiện đặc thù của Việt Nam.

Trình độ văn minh của một quốc gia luôn đòi hỏi sự kế thừa thành tựu của văn minh nhân loại. Muốn vậy, sự phát triển đó phải tuân thủ những quy luật phát triển chung mà lịch sử nhân loại đã tạo ra. Việc tách khỏi xu thế phát triển khách quan của thế giới sẽ làm cho công cuộc phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa gặp nhiều khó khăn, trắc trở hơn. Vì suy cho cùng, xã hội chủ nghĩa không thể tự nhiên có được trong thời gian ngắn, càng không thể đạt được khi phủ định những thành tựu văn minh nhân loại đã đạt được. Do đó, việc xây dựng chủ nghĩa xã hội là một quá trình kế thừa có chọn lọc những thành tựu văn minh mà loài người đã tạo ra, kể cả những thành tựu văn minh do nhân loại tạo ra trong lòng chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, quá trình đó không phải là tiến trình đơn tuyến, một chiều. Việc xây dựng chủ nghĩa xã hội còn cần phải chú trọng mặt hiện thực lịch sử cụ thể của đất nước, phải gắn với hoàn cảnh và trình độ phát triển cụ thể, những đặc thù, bản sắc của Việt Nam. Đây là nguyên tắc phương pháp luận để bảo đảm giải quyết tốt mối quan hệ giữa tuân thủ quy luật chung với điều kiện đặc thù trình độ phát triển của Việt Nam. Việc phát triển kinh tế tri thức trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa chính là sự thể hiện việc nắm bắt quy luật phát triển chung để rồi vận dụng, thích ứng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh Việt Nam.

Thứ ba, muốn xây dựng xã hội ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, việc thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất là cách thức tối ưu để sớm đạt mục tiêu.

Xã hội chủ nghĩa đích thực phải là xã hội giàu có, con người được sung sướng, thụ hưởng những thành tựu văn minh tốt đẹp cũng như có cơ hội để được phát triển toàn diện trong sự nhân văn và bình đẳng thực chất. Muốn đạt được trình độ như vậy, tất yếu phải phát triển lực lượng sản xuất. Muốn phát triển lực lượng sản xuất, tất yếu phải thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Muốn thực hiện hiện đại hóa thành công trong bối cảnh phát triển của nhân loại hiện nay, tất yếu phải tích hợp quá trình đó trong mối quan hệ với phát triển kinh tế tri thức. Hiện nay, những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư thực chất cũng là sự thể hiện trên bề mặt nền sản xuất xã hội của quá trình tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Đó cũng là biểu hiện sinh động của kinh tế tri thức. Do vậy, hiển nhiên, việc thực hiện phát triển lực lượng sản xuất xã hội chủ nghĩa phải gắn với phát triển kinh tế tri thức. Đây là cách phát triển tối ưu theo phương thức rút ngắn về trình độ phát triển nhằm vừa tạo ra tiềm lực vật chất nội tại của Việt Nam, vừa tạo ra tiền đề để trên cơ sở đó, có thể hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đặc trưng nhằm đưa đến sự ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

Tóm lại, phát triển kinh tế tri thức trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa là điều kiện và cũng là phương thức tối ưu để xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đây chính là tư duy lý luận sâu sắc và biện chứng trong tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư có tựa đề “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Quan điểm lý luận của đồng chí Tổng Bí thư có giá trị định hướng sâu sắc cho sự phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta./. 

Tạp chí Cộng sản

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò gương mẫu của cán bộ chính trị trong Quân đội

Vai trò gương mẫu của cán bộ chính trị luôn có tác động, ảnh hưởng tích cực đến cán bộ, chiến sĩ, cũng như vị thế, vai trò chủ trì về chính trị và chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của các đơn vị Quân đội. Vì vậy, học tập và làm theo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò gương mẫu của cán bộ chính trị luôn có ý nghĩa thiết thực trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị.

Trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chủ tịch luôn đề cao vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên; theo Người: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”1. Vì vậy, Người cặn dặn các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên phải: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”2. Trong quá trình chỉ đạo xây dựng Quân đội ta ngay từ những ngày đầu, cùng với việc bố trí đội ngũ cán bộ chính trị để giữ vững “linh hồn, mạch sống” của Đảng trong Quân đội, Hồ Chí Minh cũng yêu cầu họ phải thật sự gương mẫu về mọi mặt, nhất là tư cách, đạo đức, lối sống và trong công việc để chỉ đạo, động viên, hướng dẫn cán bộ, chiến sĩ thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ được giao.



Đối với cán bộ chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tư cách của chính trị viên có ảnh hưởng rất quan trọng đến bộ đội. Người chính trị viên tốt, thì bộ đội ấy tốt. Người chính trị viên không làm tròn nhiệm vụ, thì bộ đội ấy không tốt”3. Vô luận ở cấp bậc nào, “người chính trị viên phải là người anh, người chị, người bạn của đội viên. Chưa làm được như vậy là chưa hết nhiệm vụ”4. Bởi, cán bộ có thân đội viên như chân tay, thì đội viên mới thân cán bộ như ruột thịt. Có như thế thì chỉ thị, mệnh lệnh và kế hoạch cấp trên đưa xuống, đội viên sẽ tích cực và triệt để thi hành. Để phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cán bộ chính trị, Người chỉ rõ: “Chính trị viên phải làm người kiểu mẫu trong mọi việc”5Về mặt vật chất, chính trị viên phải luôn săn sóc đến đời sống sinh hoạt: ăn, mặc, ở, nghỉ, tập luyện, công tác, sức chiến đấu của bộ đội. Về mặt tinh thần, chính trị viên phải săn sóc để nâng cao kỷ luật, bài trừ hủ hóa, phát triển văn hóa và đường lối chính trị trong bộ đội. Mặt khác, để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, cán bộ chính trị “càng phải làm gương cho tất cả đảng viên, tất cả quần chúng noi theo”6.

 Giá trị hiện thực của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, hợp tác quốc tế trong sự nghiệp đổi mới đất nước

Từ năm 1986, trên cơ sở vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước với trọng tâm là thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế sâu rộng. Đảng ta chủ trương xây dựng chủ nghĩa xã hội phải biết tranh thủ các điều kiện quốc tế thuận lợi, tận dụng tối đa sức mạnh của thời đại. Trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam luôn thể hiện sự chủ động, tích cực tham gia vào các quá trình, các tổ chức quốc tế; phát huy vai trò tích cực, chủ động trong việc đưa ra các sáng kiến hội nhập quốc tế, là thành viên có trách nhiệm với các tổ chức tham gia, nhưng Việt Nam không nóng vội, chủ quan. Là quốc gia ngày càng có vị thế quan trọng trên trường quốc tế, có tiếng nói quan trọng trên các diễn đàn và các tổ chức quốc tế, nhưng Việt Nam không áp đặt quan điểm của mình trong các quan hệ quốc tế, luôn có tinh thần hợp tác, cùng phát triển.

Gần 40 năm đổi mới là một chặng đường để Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, theo nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn cầu, nhất là việc tham gia các tổ chức quốc tế lớn và ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với những đối tác rộng lớn, như: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu - Việt Nam (EVFTA), Hiệp định đối tác toàn diện của ASEAN với các đối tác (RCEP), v.v. Với Hiệp định EVFTA, Việt Nam là nước đang phát triển đầu tiên ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương có quan hệ thương mại tư do với Liên minh châu Âu (EU). Điều này khẳng định vai trò và vị thế địa - chính trị quan trọng của Việt Nam trong khu vực, khẳng định Việt Nam - từ quốc gia đi sau trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhưng đã có quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng, tạo sự gắn kết quốc tế mạnh mẽ cả ở cấp độ khu vực và trên toàn thế giới.

Từ một đất nước không có tên trên bản đồ thế giới, đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ; vươn lên trở thành một nền kinh tế năng động hàng đầu ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, một mắt xích quan trọng trong nhiều liên kết kinh tế, hiệp định thương mại tự do, chuỗi sản xuất khu vực và toàn cầu. Với chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động tích cực hội nhập quốc tế, là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, vì hòa bình, hợp tác và phát triển, Việt Nam trở thành địa điểm gặp gỡ, giao lưu văn hóa, kinh tế, đối thoại an ninh chính trị an toàn của hầu hết các nước và các tổ chức quốc tế lớn trên thế giới.

Là thành viên tích cực và có trách nhiệm trong các tổ chức uy tín trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam tham gia vào nhiều tổ chức, như: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014 - 2016 và 2023 - 2025, Ủy ban Di sản Thế giới của UNESCO nhiệm kỳ 2013 - 2017, Hội đồng Kinh tế - Xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016 - 2018. Đảng Cộng sản Việt Nam thiết lập quan hệ đối ngoại Đảng với 254 chính đảng ở 114 quốc gia12.

Những năm gần đây, Việt Nam đảm nhiệm thành công nhiều cương vị quan trọng tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế, khu vực, nhất là vai trò nước chủ nhà APEC 2017, Chủ tịch ASEAN 2020, AIPA 41, Ủy viên Không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khóa 77. Việt Nam cũng tổ chức thành công Hội nghị Diễn đàn Kinh tế Thế giới về ASEAN, Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Triều lần 2; Ủy viên Không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch AIPA. Đặc biệt, ngày 07/6/2020, tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York (Mỹ), Việt Nam đã được bầu vào Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2020 - 2021, với số phiếu 192/193. Đây chính là sự khẳng định vị thế, uy tín ngày càng lớn của Việt Nam trên thế giới.

Cùng với các thành tựu về công tác đối ngoại, thế giới đánh giá rất cao lực lượng gìn giữ hòa bình của Việt Nam. Đến nay, Việt Nam đã có 799 lượt cán bộ, nhân viên tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại 03 phái bộ và Trụ sở Liên hợp quốc, trong đó có 792 cán bộ quân đội và 7 cán bộ công an13. Hoạt động của các chiến sĩ “mũ nồi xanh” Quân đội nhân dân Việt Nam tại các Phái bộ và các đội tham gia tìm kiếm, cứu nạn ở Thổ Nhĩ Kỳ đã không chỉ tỏa sáng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, mà thông qua đó góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, nhân văn và có trách nhiệm với cộng đồng tới bạn bè quốc tế.

Có thể khẳng định, chưa bao giờ hình ảnh đất nước và con người Việt Nam độc lập, tự chủ, phát triển năng động, mến khách, thủy chung, chân thành, là đối tác tin cậy của bạn bè quốc tế lại nổi bật như hiện nay. Việt Nam trở thành tâm điểm trong những chủ đề về phát triển, tinh thần trách nhiệm, tích cực vì những nỗ lực toàn cầu của tất cả các nước trên thế giới. Việt Nam được đánh giá là “ngôi sao sáng của châu Á”. 

Hiện nay, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo. Tuy nhiên, cục diện đời sống chính trị thế giới đang có nhiều biến động phức tạp, mau lẹ, quan hệ quốc tế có những thay đổi mang tính bước ngoặt. Do vậy, việc xác lập những quan điểm chiến lược trong đoàn kết, hội nhập quốc tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong quá trình đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” vừa mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, vừa là cơ sở để phát huy cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc và là một trong những đảm bảo quan trọng nhằm xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

 Những nguyên tắc cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, hợp tác quốc tế

Ngay từ những thập niên đầu của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã nhận rõ: một quốc gia, dân tộc muốn có sức mạnh phải thoát ra khỏi tình trạng biệt lập, phải mở cửa, tăng cường hợp tác với bên ngoài; tình trạng bế quan tỏa cảng chỉ làm đất nước suy yếu và đưa đến những hậu quả chính trị nghiêm trọng. Năm 1924, trong thư gửi Pêtơrốp, Tổng Thư ký Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, Người viết: “Nguyên nhân đầu tiên đã gây ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông, đó là sự biệt lập... không có những quan hệ và tiếp xúc giữa các lục địa với nhau... do đó họ thiếu sự tin cậy lẫn nhau, sự phối hợp hành động và sự cổ vũ lẫn nhau”1.

Với tư duy nhạy bén, sắc sảo và tầm nhìn chiến lược, Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận: “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trên thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả”2. Tư tưởng của Người thể hiện hai nội dung quan trọng: Một là, gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới. Hai là, tinh thần đoàn kết, hợp tác không bị giới hạn bởi châu Á hay châu Âu, bởi da vàng hay da trắng như luận điệu tuyên truyền của thuyết Đại Đông Á thời đó.

Thấy được tầm quan trọng của đoàn kết, hợp tác quốc tế, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới một cách chặt chẽ, sâu sắc. Trước hết, theo Người, đó phải là tinh thần đoàn kết, hợp tác quốc tế đối với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước trong cuộc đấu tranh giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột. Cùng với đó, Người đặc biệt quan tâm tới việc thiết lập quan hệ đối ngoại với các nước tư bản chủ nghĩa để tranh thủ sự giúp đỡ của nhân dân tiến bộ đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Người khẳng định: “Sức mạnh, sự vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản là ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam và sự ủng hộ của nhân dân thế giới...”3.

Từ thực tiễn cách mạng, Người rút ra kết luận quan trọng: “Cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, điều đó chứng minh rằng trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, ở một nước thuộc địa nhỏ, với sự lãnh đạo của giai cấp vô sản và đảng của nó, dựa vào quần chúng nhân dân rộng rãi trước hết là nông dân và đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân yêu nước trong mặt trận thống nhất, với sự đồng tình và ủng hộ của phong trào cách mạng thế giới, trước hết là của phe xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, nhân dân nước đó nhất định thắng lợi”4. Như vậy, đoàn kết, hợp tác quốc tế đã thực sự trở thành một nhân tố quan trọng, không thể thiếu, góp phần tạo sức mạnh tổng hợp, đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tuy nhiên, để đoàn kết, hợp tác quốc tế đúng phương hướng, đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả, Người cũng nêu ra những nguyên tắc căn bản.

Thứ nhấtđoàn kết, hợp tác quốc tế phải vì lợi ích dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Hồ Chí Minh yêu cầu xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng, “phải tuân thủ theo phương châm “Tổ quốc trên hết” ở mọi nơi và mọi lúc”5. Theo Người, phải thực hiện “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Đây là một phương pháp cách mạng được Hồ Chí Minh quán triệt trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Người yêu cầu những người cách mạng cần nhận thức đúng và vận dụng nhuần nhuyễn trong thực tiễn. Cái bất biến là độc lập của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của nhân dân; là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Cái vạn biến là sự thay đổi của những điều kiện khách quan, nhân tố chủ quan vận động xoay xung quanh cái bất biến, tác động, ảnh hưởng đến cái bất biến. Chính cuộc đời hoạt động cách mạng của Người là một điển hình, mẫu mực về xử lý mối quan hệ giữa tính kiên định về nguyên tắc trong chiến lược và tính linh hoạt, mềm dẻo về sách lược, cách thức thực hiện; về quan hệ giữa mục tiêu lâu dài và mục tiêu trước mắt.

Theo đó, trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc6, được Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi “Kính gửi: Đại Anh Quốc, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Liên Xô và các nước thành viên khác của Liên hợp quốc”, Người đã nêu rõ những nguyên tắc trong chính sách đối ngoại của nhân dân Việt Nam là: Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực, dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình; sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc, v.v. Trên cơ sở tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng cách mạng trên thế giới, tạo cơ sở cho việc giành được độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, mở ra kỷ nguyên mới cho sự đoàn kết và hội nhập quốc tế sau này.

Thứ haitự lực, tự cường trong đoàn kết, hợp tác quốc tế. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, trong đấu tranh giải phóng dân tộc thì phải “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”7, đồng thời “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”8. Còn trong đoàn kết, hợp tác quốc tế “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”9. Người nhấn mạnh: “Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”10. Như vậy, tinh thần cơ bản của nguyên tắc này là, khi thiết lập các quan hệ hợp tác quốc tế thì phải tăng cường thực lực, sức mạnh quốc gia; phải từ sự giúp đỡ của quốc tế để tự mình phát triển toàn diện cả về sức mạnh vật chất, kinh tế đến sức mạnh văn hóa, con người, từ sức mạnh của quá khứ đến sức mạnh của hiện tại và tương lai.

Thứ bađảm bảo nguyên tắc bình đẳng, công bằng trong đoàn kết, hợp tác quốc tếNgười xác định: “Các đảng dù lớn dù nhỏ đều độc lập và bình đẳng, đồng thời đoàn kết nhất trí giúp đỡ lẫn nhau”11. Hồ Chí Minh cho rằng xây dựng một nền hòa bình chân chính trên thế giới, một trật tự thế giới mới, phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền cơ bản của tất cả các dân tộc. Công bằng và bình đẳng phải là nguyên tắc chủ đạo trên thế giới, để đảm bảo cho mỗi dân tộc tự quyết định lấy vận mệnh của mình dựa trên những giá trị văn hóa dân tộc và tôn trọng sự lựa chọn con đường phát triển của mỗi quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Các quốc gia được bình đẳng trong việc tham gia giải quyết các vấn đề quốc tế; và hòa bình thế giới phải được tất cả các dân tộc quyết định, không phụ thuộc vào một nhóm cầm quyền của một thiểu số các nước lớn.

 Một số nội dung, quan điểm và biện pháp xây dựng hậu phương kháng chiến vững mạnh theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: phải xây dựng hậu phương vững mạnh toàn diện trên tất cả các mặt, như: chính trị, tư tưởng, kinh tế, quốc phòng, văn hóa, giáo dục, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ vững chắc hậu phương cả trong thời bình và thời chiến. Trước hết, xây dựng hậu phương vững mạnh về chính trị - tư tưởng là vấn đề có tính cốt lõi và xuyên suốt toàn bộ quá trình cách mạng. Hồ Chí Minh xác định rằng, muốn xây dựng hậu phương vững mạnh, vấn đề đầu tiên, nhiệm vụ then chốt là phải xây dựng lực lượng chính trị. Theo Người, chỗ dựa vững chắc nhất của cách mạng, của hậu phương kháng chiến là lòng yêu nước, lòng trung thành vô hạn của nhân dân đã giác ngộ đối với sự nghiệp giải phóng đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: “Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi”2. Trong quá trình chỉ đạo xây dựng hậu phương, Hồ Chí Minh luôn quan tâm xây dựng Đảng, tăng cường sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Đảng. Người yêu cầu tất cả các đơn vị, địa phương đều phải ra sức chăm lo, củng cố tổ chức đảng vững mạnh; mỗi chi bộ thực sự trở thành hạt nhân lãnh đạo, là “pháo đài thép” ở từng cơ sở. Trong xây dựng Đảng ở hậu phương, cần hết sức coi trọng bồi dưỡng cấp ủy, bí thư và cán bộ nòng cốt cả về nhận thức tư tưởng, phương pháp lãnh đạo, cách xây dựng nghị quyết về công tác xây dựng hậu phương quân đội, nhất là công tác quân sự địa phương ở từng cơ sở.

Đi đôi với xây dựng Đảng, Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở cán bộ các cấp, nhất là ở các địa phương: “làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm3. Người yêu cầu chính quyền, đoàn thể, tổ chức chính trị các cấp phải thực sự làm tốt vai trò, chức năng của mình trong việc tổ chức quản lý và điều hành các hoạt động của xã hội, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện chính quyền của dân, do dân, vì dân. Đồng thời, Người luôn nhắc nhở các cấp chính quyền phải thường xuyên chấp hành và thực hiện nghiêm chỉnh các chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm động viên, khuyến khích phát triển sản xuất, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ở hậu phương, củng cố và bồi dưỡng sức dân trong chiến tranh.

Quan điểm xây dựng hậu phương vững mạnh về chính trị - tư tưởng của Hồ Chí Minh còn thể hiện ở phương châm chỉ đạo các cấp bộ đảng và chính quyền cần tích cực bồi dưỡng và phát động các phong trào thi đua yêu nước, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần xả thân vì độc lập, tự do của Tổ quốc, sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ cho các lực lượng vũ trang và nhân dân. Người nói: “Người người thi đua/ Ngành ngành thi đua/ Ta nhất định thắng/ Địch nhất định thua”. Quán triệt tư tưởng của Người, Đảng ta đã phát động trong toàn dân, toàn quân nhiều cuộc vận động chính trị, thi đua xây dựng hậu phương thông qua các phong trào4; tạo sự cổ vũ và động viên to lớn đối với toàn dân, toàn quân ở hậu phương và trên chiến trường cùng thi đua hoàn thành nhiệm vụ.

Xây dựng tiềm lực kinh tế là điều kiện thúc đẩy sự phát triển tiềm lực quốc phòng; kinh tế có phát triển, hậu phương mới có thể đáp ứng đầy đủ và kịp thời mọi nhu cầu ngày càng lớn của chiến tranh, mới đủ sức đánh lâu dài, càng đánh càng mạnh để đi đến thắng lợi cuối cùng. Mặt khác, kinh tế có phát triển, mới có điều kiện nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân ở hậu phương, duy trì và bồi dưỡng được sức dân trong điều kiện chiến tranh ác liệt kéo dài. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Biết đánh là cái tốt, nhưng chỉ biết đánh mà coi nhẹ chính trị, kinh tế, tuyên truyền giáo dục nhân dân tức là chỉ biết có một mặt, vì đánh không thể tách rời được với chính trị và kinh tế”5.

Trong điều kiện đất nước ta còn nghèo, trình độ sản xuất thấp, cơ sở hạ tầng kém phát triển, lại bị chiến tranh ác liệt kéo dài tàn phá, với tinh thần tự lực, tự cường là chính, Hồ Chí Minh đề ra chính sách tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, coi đó là một “quốc sách” căn bản để nâng cao đời sống nhân dân, khôi phục và phát triển kinh tế, phục vụ yêu cầu của kháng chiến. Với chủ trương “thực túc binh cường”, coi ruộng đất là của cải, “tấc đất tấc vàng”, Người luôn kêu gọi toàn dân, toàn quân: “Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa”và luôn xem đó là phương châm thiết thực để xây dựng hậu phương không ngừng lớn mạnh, để phục vụ kháng chiến, kiến quốc thắng lợi.

Hồ Chí Minh còn hết sức coi trọng phát triển về văn hóa, giáo dục, y tế. Ngay từ khi chính quyền được thành lập và trong quá trình tiến hành kháng chiến, Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến việc xây dựng nền văn hóa mới, chăm lo đời sống văn hóa - tinh thần, phát triển giáo dục, chăm lo sức khỏe cho nhân dân ở hậu phương. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nạn mù chữ trên toàn quốc đã được đẩy lùi, xóa bỏ; giáo dục phổ thông từng bước phát triển. Trình độ học vấn của bộ đội và nhân dân được nâng lên làm cho việc nhận thức nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ xây dựng hậu phương chiến tranh, nhận thức tình hình thế giới và trong nước đạt được kết quả rõ rệt. Nhờ đó, việc động viên tham gia kháng chiến, xây dựng và bảo vệ hậu phương, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, gian khổ thêm thuận lợi. Đồng thời, Người chỉ rõ: “Xúc tiến công tác văn hóa để đào tạo con người mới và cán bộ mới cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc”7.

Kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ hậu phương kháng chiến, chăm lo xây dựng nâng cao đời sống và bồi dưỡng sức dân ở hậu phương là hai mặt của một vấn đề, thống nhất chặt chẽ với nhau, luôn hỗ trợ và tương tác lẫn nhau. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: nhiệm vụ bảo vệ là cực kỳ quan trọng, song quyết định nhất trong các nhiệm vụ của hậu phương, bảo đảm cho hậu phương ổn định và vững mạnh là nhiệm vụ xây dựng. Người đã từng nhắc nhở quân và dân ta trong xây dựng và bảo vệ hậu phương phải tích cực chuẩn bị sẵn sàng; luôn đề cao cảnh giác, kiên quyết đập tan mọi âm mưu thủ đoạn chống phá nổi loạn từ bên trong cũng như tiến công tập kích từ bên ngoài vào của kẻ địch.

VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC “CÁCH MẠNG MÀU – CÁCH MẠNG TRẮNG” Ở VIỆT NAM

 

      Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cùng với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1954 và đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam năm 1975 do Đảng ta đã lãnh đạo Nhân dân ta thực hiện là những mốc son chói lọi nhất trong lịch sử dân tộc, mang tầm vóc quốc tế và có tính thời đại sâu sắc.

      Sự nghiệp Đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng trong hơn 35 năm qua tiếp tục giành được những thành tựu quan trọng được đông đảo các quốc gia, bè bạn quốc tế ghi nhận và tôn vinh. Nhưng với thủ đoạn thâm độc đi ngược lại xu thế phát triển của đất nước, ước nguyện hòa bình, mưu cầu hạnh phúc của dân tộc Việt Nam, các thế lực “Cách mạng Mầu - Cách mạng Trắng” thù địch, xét lại, cơ hội chính trị đã cố tình bôi đen, xuyên tạc, phủ nhân sự thật lịch sử, tuyên truyền sai lệch nhằm làm cho một bộ phận quần chúng thiếu hiểu biết về lịch sử dân tộc, nhất là giới trẻ hoài nghi, phai nhạt niềm tin đối với Đảng, chia rẽ Đảng với Nhân dân, làm suy yếu, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

      Thời gian qua, một số các đài VOA, RFA, BBC, RFI cũng như một số trang mạng xã hội Youtobe, Twitter, Facebok của các tổ chức “Việt Tân”, “Nhân dân hành động”, “Triều đại Việt”, “Tiếng dân”, “KTV, “Tivi tuần san”, TV24, “Góc nhìn W.C”, N10TV các nhóm cờ vàng, “No U”, “dân chủ” cuội trong và ngoài nước… thông qua các hình thức bình luận theo chuyên đề, kể chuyện lịch sử, hội luận nhằm xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo lịch sử, bôi nhọ lãnh tụ dân tộc và vai trò lãnh đạo của Đảng hòng làm giảm lòng tin của Nhân dân với Đảng và Nhà nước. Chúng thường sử dụng các thông tin các sự kiện có thật, nhưng được biên tập sửa chữa và thêm thắt các tình tiết ngụy tạo, bóp méo rồi được tung ra như một dạng thông tin chính thống. Những thủ đoạn kiểu này thường được thực hiện khá tinh vi, bài bản mà khi tiếp cận không chỉ những người có nhận thức hạn chế, phiến diện mà đôi khi cả những người có học vấn cao, nhận thức sâu rộng cũng có thể cũng bị mắc lừa.

     Ngày 8/4/2019 tại thành phố San Jose, Hoa Kỳ có cuộc hội luận của các hội đoàn chống cộng cực đoan bàn về phương thức đấu tranh cho Việt Nam nhằm giải thể Đảng Cộng sản và thay đổi thể chế nước CHXHCN Việt Nam, một luật sư người Mỹ gốc Việt nổi tiếng là kẻ chống cộng cực đoan đã tuyên bố: “Ở Việt Nam bây giờ không còn là chế độ cộng sản nữa, chỉ còn cái vỏ Cộng sản thôi, còn cái ruột thực chất là Chủ nghĩa Dân tộc, các nhà lãnh đạo Cộng sản Việt Nam đang thực hiện Chủ nghĩa Dân tộc” “Lãnh đạo Việt Nam bây giờ đổi mới nhanh lắm… tôi dự đoán chỉ vài năm nữa thôi họ sẽ đổi tên nước thành Cộng hoà Việt Nam (Việt Nam Cộng hoà)”. Những luận điểm này của Y cùng với các loại cách mạng màu trên thế giới mà Y tập hợp lại với tên gọi “Cách mạng Trắng cho Việt Nam”. Đó là:“Khuyến khích các nhà đấu tranh dân chủ trong nước, thay vì tẩy chay, hãy mạnh dạn nhập cuộc vào trong Quốc hội để từ đó, thay đổi cơ chế chính trị, như nước trong rót vào ao hồ nước dơ bẩn thì từ từ nước trong sẽ làm sạch ao hồ lại. Các nhà đấu tranh dân chủ cầm ngọn đuốc sáng trong lòng thì hãy mang ngọn đuốc rọi vào đêm tối của Quốc hội Cộng sản Việt Nam bây giờ. Đuốc lửa tới đâu thì ánh sáng đi tới đó, xua tan màn đêm. Tạo môi trường cho chính các đảng viên Cộng sản Việt Nam nhìn thấy vấn đề, để họ vững tâm “hạ cánh an toàn” hoặc can đảm đứng lên thay đổi cơ chế chính trị như Gorbachev và Boris Yeltsin ở Nga hoặc Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương ở Trung Quốc. Hiện nay có nhiều đảng viên Cộng sản Việt Nam bề ngoài là theo đảng nhưng thực chất ở trong thì họ cũng muốn thay đổi cơ chế chính trị và người ta gọi đó là thành phần “đỏ vỏ xanh lòng”. Nếu muốn cho Việt Nam có một Gorbachev thì phải tạo cơ hội và nuôi dưỡng môi trường cho một Gorbachev được nẩy sinh.” Những luận điểm này được bọn chúng tuyên truyền nhắc lại nhiều lần từ năm 2010 cho đến nay trên rất nhiều diễn đàn, trang mạng Youtobe, Twitter, Facebok, các đài VOA, RFA, BBC, RFI. Tại cuộc hội luận này Y đã giới thiệu, tuyên truyền và tặng cuốn “Cách Mạng Trắng” cho những người tham dự để tuyên truyền rộng rãi trong các hội, nhóm chống cộng cực đoan ở Mỹ và các nước cũng như các hội nhóm phản động, dân chủ cuội ở Việt Nam. Tại thời điểm này cuốn sách “Cách Mạng Trắng” vẫn đang được bán công khai trên mạng và nhiều cửa hang sách tại Hoa Kỳ.

      Với dã tâm thâm độc, thù hận, các thế lực thù địch, xét lại, cơ hội chính trị đã cố tình bôi đen, xuyên tạc, phủ nhân sự thật lịch sử với nhiều thủ đoạn xảo trá, nhét chữ vào mồm người khác, lập lờ “đánh lận con đen”, mượn lời người khác để bịa đặt, bôi nhọ Đảng cộng sản Việt Nam và các đồng chí lãnh đạo Đảng. Chúng ta đều biết, Tết Mậu thân 1968 và câu chuyện “thảm sát ở Huế 1968” là chủ đề mà bộ máy tuyên truyền của quân đội Mỹ và nguỵ quân, nguỵ quyền Sài Gòn từ lâu đã bịa đặt, xuyên tạc, bóp méo lịch sử. Sự thực, khi quân Giải phóng tổng tiến công và nhân dân TP Huế nổi dậy giành và giữ chính quyền gần 1 tháng, quân đội Mỹ và tay sai đã nã pháo vào thành phố phá huỷ nhiều công trình lịch sử và gây thương vong cho nhiều thường dân cũng như quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Nhưng chúng đổ lỗi về những cái chết đó là “thảm sát ở Huế 1968” do Việt cộng thực hiện theo chỉ đạo của Đảng. Ngày nay, các thế lực thù địch, phản động, chống cộng cực đoan, dân chủ cuội tiếp tục bịa đặt, xuyên tạc với thủ đoạn tinh vi hơn để bôi nhọ nhằm hạ bệ uy tín của Đảng và Nhà nước. Thâm hiểm hơn, chúng lập lờ “đánh lận con đen” khi so sánh sự mất mát hy sinh của quân dân ta trong Tết Mậu Thân ở Huế mà chúng nói do Cộng sản gây ra với thảm sát ở Mỹ Lai do Mỹ gây ra thì tội ác nào lớn hơn. Đó cũng là cách mà chúng xoá nhoà ý nghĩa của chiến tranh vệ quốc chính nghĩa chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta với chiến tranh xâm lược phi nghĩa của Đế quốc Mỹ ở Việt Nam tất cả là tội ác như nhau. Chúng gọi ngày 30.4.1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc là “Ngày quốc hận”, “Ngày mất nước” và tháng Tư lịch sử với chiến dịch Hồ Chí Minh tiêu diệt hoàn toàn chế độ nguỵ quân, nguỵ quyền tay sai do Đế quốc Mỹ dựng lên là “Tháng Tư đen”, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là “miền Bắc xâm lược miền Nam”. Trong khi đó chúng không bao giờ nhắc đến tội ác của đế quốc Mỹ với gần 60 vạn quân Mỹ trực tiếp xâm lược Việt Nam cùng với hơn 1 triệu quân nguỵ càn quét, bắn giết nhân dân miền Nam, ném hàng triệu tấn bom đạn, rải hàng triệu lít chất độc da cam dioxin trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Bao nhiêu năm chúng hô hào “Bắc tiến”, “giải phóng miền Bắc”, tung biệt kích và đem bom phá hoại miền Bắc trong đó có cả pháo đài bay B52, lần thứ nhất từ 5/8/1964 đến 1/11/1968 và lần thứ hai từ 16/4/1972 đến 31/12/1972 hòng đưa miền Bắc Việt Nam trở về “thời kỳ đồ đá”. Cả thế giới công nhận cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống đế quốc Mỹ xâm lược là cuộc chiến tranh sáng ngời chính nghĩa chứ đâu phải là cuộc chiến tranh “uỷ nhiệm”, là nội chiến Bắc Nam.

      Để tiếp tục luận điệu xuyên tạc và chuyển tải “Cách mạng màu trắng” với âm mưu bịa đặt xuyên tạc lịch sử, xét lại lịch sử, ngày 26.8.2019 trên kênh Youtube luật sư tự xưng “người yêu nước” đã tuyên bố: “…Từ năm 1954 Việt Nam có hai quốc gia, một quốc gia là Bắc Việt là Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và quốc gia phía Nam, Nam Việt là Việt Nam Cộng hoà. Hai quốc gia dầu cùng chung tiếng nói cùng chung lịch sử trong quá khứ, nhưng giai đoạn đó từ năm 1954 đến năm 1975, 21 năm trời là hai quốc gia khác nhau, hai thủ đô khác nhau, một thủ đô phía Nam là Sài Gòn, một thủ đô phía Bắc là Hà Nội giống y như nước Triều Tiên”. Từ đó đến nay trên các mạng xã hội các thế lực thù địch, chống cộng cực đoan, dân chủ cuội, mượn danh người yêu nước được dịp tung hô, ủng hộ. Nhất là trong những ngày tháng Tư lịch sử hằng năm, từ luận điểm “…Từ năm 1954 Việt Nam có hai quốc gia” chúng tiếp tục xuyên tạc rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là “Quốc gia miền Bắc xâm lược quốc gia miền Nam”, là “Nội chiến huynh đệ tương tàn” ngày 30/4 là “Ngày quốc hận”, “Ngày mất nước”, “Tháng Tư đen”. Trong các tháng 5,6,7,8 năm 2022 suốt trong những ngày nhân dân ta kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, nhiều lần, trên nhiều diễn đàn, trang mạng xã hội “Luật sư người Mỹ gốc Việt” tiếp tục nhiều lần tuyên bố: “Trong giai đoạn 1954 đến 1975 Việt Nam có hai quốc gia. Những ai nói Việt Nam chỉ có một quốc gia là ngu dốt, là kẻ tội đồ của dân tộc, là kẻ phản quốc, là tiếp tay cho nước ngoài cướp Hoàng Sa, Trường Sa...

Việc xuyên tạc sự thật, bịa đặt lịch sử, bóp méo lịch sử, xét lại lịch sử chính là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu trong những năm 90 của thế kỷ trước. Để bảo vệ nước Nga hậu Xô Viết, ngày 19.5.2009, Tổng thống Nga Medvedev đã ký sắc lệnh thành lập một “Ủy ban đặc biệt” nhằm chống lại các âm mưu xét lại, xuyên tạc, bóp méo lịch sử, phá hoại các lợi ích của nước Nga. Ủy ban này trực tiếp do Văn phòng Tổng thống phụ trách, bao gồm nhiều thành viên thuộc: Văn phòng Tổng thống, Cục An ninh liên bang, Cục Tình báo, Duma Quốc gia Nga, các cơ quan khoa học cũng như các bộ ngành Tư pháp,  Ngoại giao, Văn hóa, Giáo dục... Ở Việt Nam hôm nay, âm mưu của những kẻ truyền bá “Cách mạng Trắng” đã định rõ: “Nếu muốn cho Việt Nam có một Gorbachev thì phải tạo cơ hội và nuôi dưỡng môi trường cho một Gorbachev được nẩy sinh ở Việt Nam” đã và đang được các thế lực thù địch ráo riết thực hiện trong thời gian qua. Một số đối tượng muốn “xét lại chiến thắng”, lợi dụng chiêu bài “hoà giải, hòa hợp dân tộc” để đề nghị trong nước không kỷ niệm ngày 30/4 cho “các bác cờ vàng” vui lòng; lãnh đạo Đảng, Nhà nước phải có lời xin lỗi vì sau 30.4.1975 đã “tập trung cải tạo” những sỹ quan nguỵ Sài Gòn có nhiều nợ máu quá lâu. Đánh tráo khái niệm cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược thành “cuộc nội chiến Nam Bắc”, “miền Bắc xâm lược miền Nam” cho đến “quốc gia miền Bắc xâm lược quốc gia miền Nam” để bao biện cho những ngộ nhận, mơ hồ trong đánh giá về tầm vóc chiến thắng, về khát vọng thống nhất của toàn thể nhân dân ta. Một số đối tượng phản động ở trong, ngoài nước còn xuyên tạc cho rằng: “Cuộc chiến tranh Việt Nam mang tính chất ủy nhiệm” hay “cuộc chiến ý thức hệ”. Tư tưởng Cách mạng trắng trong những năm qua đã len lỏi, “mưa dầm thấm lâu” từng bước tiêm nhiễm trong một số trí thức, cán bộ đảng viên đã nghỉ hưu cũng như đương chức và giới trẻ, đã tiêm nhiễm trong tư duy và hành động, phát ngôn trên các trang mạng xã hội Youtobe, Twitter, Facebok. Gần đây, đúng ngày 30/4/2022 một cựu lãnh đạo nghỉ hưu đã công khai “tự diễn biến, tự chuyển hoá” rằng cuộc kháng chiến 30 năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của nhân dân ta là cuộc “chiến huynh đệ tương tàn”. Rằng: tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin và CNXH ngày nay hoàn toàn lỗi thời mà không một nước phát triển, văn minh, giàu có nào trên thế giới theo, vì vậy Đảng ta phải đổi mới chính trị, từ bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin; rằng: cần xây dựng tượng đài tưởng niệm và phong liệt sỹ cho 74 binh sỹ quân lực Việt Nam cộng hoà tử trận khi để mất Hoàng Sa vào ngày 19/1/1974… Nhiều luận điệu trong bài viết này rập theo đúng luận điệu “Cách mạng Trắng cho Việt Nam”, xuyên tạc, bịa đặt, xét lại lịch sử mà các thế lực thù địch trong những năm qua đã tìm mọi cách đưa vào Việt Nam nhằm dẫn đường và hỗ trợ cho “tự diễn biến, tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Sự dối trá, hèn hạ xuyên tạc lịch sử, khơi gợi hận thù, kích động mâu thuẫn… không chỉ là hành động vô liêm sỉ, vô ơn với hàng triệu đồng bào, chiến sỹ đã đổ xương máu hy sinh vì hòa bình, độc lập dân tộc, thống nhất đất nước mà còn là sự phá hoại tương lai của của đất nước, hạnh phúc của nhân dân.

      Sáng 26/4/2020 trên kênh Youtobe với chủ đề nói thêm về “Cách Mạng Trắng” luật sư tự xưng “người yêu nước” cũng là tác giả sách “Cách mạng Trắng cho Việt Nam” khẳng định:“Tôi hoan nghênh việc làm của Việt Nam, chính sách đốt lò của Việt Nam chính là thực hiện “Cách Mạng Trắng”. Ngày 31/10/2020 trong clip thú tội trên Youtobe, Y chính thức lần thứ hai công bố từ bỏ “Cách mạng Trắng cho Việt Nam” vì nó sai trái, phản động, không phù hợp như lời Y nói. Nhưng ngay câu sau Y lại lập lờ, xảo trá rằng: “…Việt Nam khi phát động phong trào không cho các quan chức hạ cánh an toàn, đấu tranh chống tham nhũng… đó chính là đang làm “Cách Mạng Trắng” rồi”. Nghe thoáng qua tưởng là Y ca ngợi Việt Nam chống tham nhũng. Nhưng thực ra, đây là hành vi đánh tráo khái niệm, tráo trở, lập lờ đổi trắng thay đen, lừa bịp quần chúng hết sức hèn hạ, nguy hiểm cần cảnh giác và lên án. Từ năm 2010 Y tập hợp, cóp nhặt các tư tưởng cách mạng màu ở các nước thành sách Cách mạng Trắng cho Việt Nam xuất bản ở Mỹ năm 2013, rồi tung hô, tuyên truyền, phát tán khắp trong ngoài nước, đến khi tư tưởng phản động nguy hiểm của Cách mạng Trắng mà Y là tác giả đã được phổ biến rộng khắp thì ngày 26/4/2020 và ngày 31/10/2020 tác giả của nó công khai tuyên bố từ bỏ Cách mạng Trắng vì nó sai trái, phản động, không còn phù hợp. Y không chịu trách nhiệm về những hậu quả của các tư tưởng sai trái trong Cách mạng Trắng gây ra tại Việt Nam..., rồi lại tiếp tục tuyên ngôn của Y rằng Cách mạng Trắng đang được thực hiện ở Việt Nam và lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam đang thực hiện Cách mạng Trắng. Sự lập lờ, đổi trắng thay đen, đánh tráo khái niệm, tráo trở, xuyên tạc bịa đặt lịch sử của Y cũng đã thực hiện khi Y xuyên tạc, bịa đặt về Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần mà chúng tôi đã có dịp vạch trần và lên án trong bài viết “Cảnh giác với luận điệu xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo và xét lại lịch sử của các thế lực thù địch” đăng Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử Công an, số chuyên đề của Tạp chí Công an nhân dân số 4/2021.

       Thời gian qua trên các trang báo chí chính thống có trách nhiệm, cũng như trên các trang mạng xã hội đã có nhiều học giả, nhà nghiên cứu cũng như người dân trong và ngoài nước thuộc mọi thành phần, giai cấp, tầng lớp, nghề nghiệp lứa tuổi từ các cụ già trên 80 tuổi đến các cháu thiếu nhi mới 13, 14 tuổi đã lên tiến trên các trang Facebok, Youtobe, Twitter, Zalo… và các phương tiện truyền thông khác để phản bác, chống lại các luận điệu phản động phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, xuyên tạc lịch sử, kích động hận thù, một cách tự phát và tự giác. Dù vậy, vẫn rất cần sự vào cuộc và định hướng dư luận một cách nhanh chóng, kịp thời của các cơ quan chức năng cũng như các cơ quan thông tấn báo chí từ Trung ương đến địa phương để phát huy tốt nhất hiệu quả đấu tranh của nhân dân chống lại các luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

       Vì vậy, chúng ta phải hết sức cảnh giác trước các luận điệu xuyên tạc sự thật, bịa đặt lịch sử, bóp méo lịch sử, xét lại lịch sử của các thế lực thù địch đang muốn thực hiện cách mạng màu, “Cách Mạng Trắng” ở Việt Nam làm mất ổn định xã hội, gây nghi ngờ vào nền tảng tư tưởng của Đảng và mất lòng tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Hơn bao giờ hết, mỗi công dân Việt Nam yêu nước hãy tuyệt đối tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang kiên định mục tiêu cao nhất là độc lập dân tộc, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, đem lại cuộc sống ấm no, dân chủ, công bằng, phồn vinh hạnh phúc cho Nhân dân./.

Nguyễn Tuấn Anh, nguyên Trưởng Ban Tuyên giáo Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam

st

THẤM NHUẦN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG

 

 

Sinh mệnh của Đảng, sự thành bại của cách mạng có quan hệ trực tiếp với hoạt động tư tưởng của Đảng.

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chăm lo đến công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bởi trong lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn, quan trọng nhất là lãnh đạo tư tưởng. Cán bộ, đảng viên muốn hoàn thành nhiệm vụ của mình phải hiểu tư tưởng của quần chúng nhân dân, phải tuyên truyền để quần chúng thông suốt về tư tưởng để cùng thống nhất về hành động. Để hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Người một mặt yêu cầu cán bộ lãnh đạo và cán bộ các ngành phải thật thông suốt trong tư tưởng, phải có quyết tâm khắc phục khó khăn, làm tròn nhiệm vụ; mặt khác, mọi cấp ủy và mọi cán bộ, đảng viên đều phải làm công tác tư tưởng cho chính mình và đánh thông tư tưởng, động viên sáng kiến, lực lượng của toàn dân để mọi người tự giác, hăng hái tham gia cách mạng, ủng hộ cách mạng, nhất là "phải làm cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn thắng, tư tưởng cá nhân hoàn toàn thất bại".

 CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG LÀ QUAN TRỌNG NHẤT

 Đặc biệt đánh giá cao vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác tư tưởng trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi công tác lãnh đạo tư tưởng là quan trọng nhất, là bộ phận trọng yếu của công tác xây dựng Đảng, là nhân tố cấu thành quan trọng hàng đầu trong sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội. Trong tư duy và hành động của Người, sinh mệnh của Đảng, sự thành bại của cách mạng có quan hệ trực tiếp với hoạt động tư tưởng của Đảng. Vì thế, thấm nhuần quan điểm của C.Mác: "Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất một khi nó xâm nhập vào quần chúng", Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng là việc quan trọng nhất của Đảng, phải kiên quyết chống cái thói xem nhẹ tư tưởng". Theo đó, cán bộ lãnh đạo và cán bộ các ngành, tư tưởng phải thông, phải thật thông. Phải có quyết tâm khắc phục khó khăn, làm tròn nhiệm vụ"; đồng thời, "phải đánh thông tư tưởng và động viên sáng kiến và lực lượng của toàn Đảng, toàn dân. Mọi người quyết tâm làm cho được và tin tưởng làm nhất định được".

 Gắn liền với quá trình dự báo và định hướng, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi công tác tư tưởng là một mặt trận thuộc lĩnh vực tinh thần. Trong tổ chức thực hiện, bao giờ công tác tư tưởng cũng phải đi trước một bước, phải không ngừng đổi mới để phù hợp với những điều kiện cụ thể của hoàn cảnh, đối tượng, phục vụ cho sự nghiệp chung của cách mạng. Theo Người, công tác tư tưởng có đối tượng tác động là tư tưởng và tình cảm của con người, nhằm trang bị nhận thức, hình thành niềm tin và chỉ đạo hành động cách mạng cho quần chúng. Khi tiến hành làm công tác tư tưởng, chủ yếu lấy giáo dục, thuyết phục làm chính, không dùng biện pháp hành chính, nên yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên của Đảng, nhất là người làm công tác tư tưởng phải là chiến sĩ xung kích trên mặt trận ấy, phải thấu hiểu sâu sắc rằng: "Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại". Vì vậy, vừa không thể xem nhẹ, vừa đòi hỏi chủ thể của công tác tư tưởng phải thấu hiểu mục đích, nội dung và đối tượng định tuyên truyền.

 Vì công tác tư tưởng có đặc thù chuyên môn là một nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, phải tiến hành mọi nơi, mọi lúc, với mọi đối tượng, nên để đạt được hiệu quả cao; để cho chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào thực tiễn cuộc sống; để đảm bảo cho con người được tuyên truyền có niềm tin, giữ vững niềm tin, hành động tích cực, sáng tạo đúng mục đích của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người cán bộ làm công tác tư tưởng phải là những người "vừa hồng vừa chuyên". Đó phải là những người trung thành, kiên định với những nguyên lý của học thuyết Mác - Lênin và đường lối, quan điểm của Đảng; có bản lĩnh chính trị vững vàng, "quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất"... Người làm công tác tư tưởng phải học tập không ngừng và học tập ở mọi nơi, mọi lúc để làm giàu vốn tri thức của mình. Mỗi người đều phải "học chính trị, học văn hóa, học kỹ thuật nghiệp vụ. Ngoài cách học ở trường, ở lớp, học trên sách báo, v.v.. có một cách học rất tốt ai cũng có thể tham gia hằng ngày. Đó là cách học tập ngay trong sản xuất, học tập những người, những tổ, những đơn vị tiên tiến", để có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ không lạc hậu, thoái bộ so với yêu cầu của thực tiễn. Cùng với đó là sự tâm huyết với công việc, tinh thần trách nhiệm cao và luôn gương mẫu về đạo đức cách mạng, thực hành "cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư", trung thực, thẳng thắn, lời nói phải đi đôi với việc làm; đồng thời, phải luôn rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao trình độ lý luận, gắn liền công tác lý luận với thực tiễn cách mạng, phải sâu sát thực tế và liên hệ mật thiết với quần chúng… Đó chính là yêu cầu về tài và đức - những nhân tố làm nên thành công của người làm công tác tư tưởng.

 Để công tác tư tưởng đạt được hiệu quả thiết thực, luôn hướng về cơ sở, phản ánh thực tiễn sinh động của cơ sở, thì cán bộ làm công tác tư tưởng - công tác tuyên giáo phải chú trọng tuyên truyền. Khi viết hay nói, bao giờ cũng phải tự hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Nói và viết thế nào cho dễ nghe, dễ hiểu?... để "mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng". Hơn nữa, vì đối tượng tuyên truyền ở các địa bàn, vùng miền khác nhau; giới tính, độ tuổi, trình độ, giai tầng khác nhau, nên khi tuyên truyền, người cán bộ làm công tác tư tưởng phải điều tra, phân tách, nghiên cứu, để nắm bắt và hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng của đối tượng, từ đó chọn cách nói phù hợp (khi sắc sảo, lập luận chặt chẽ, khi giản đơn, rõ ràng, thiết thực, có đầu, có đuôi, sao cho ai cũng hiểu được, nhớ được…).

Hơn bao giờ hết, để hoàn thành trọng trách là vũ khí sắc bén của Đảng; trang bị nhận thức, hình thành niềm tin và chỉ đạo hành động cách mạng cho quần chúng; góp phần đấu tranh, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; góp phần xây dựng đạo đức cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa cho quần chúng nhân dân, người làm công tác tư tưởng không thể lơ là, giản đơn nhiệm vụ của mình. Trong mọi thời điểm, phải khắc phục tình trạng ở "nhiều địa phương, anh em thông tin tuyên truyền lầm tưởng mình là công chức, làm việc theo cách bàn giấy mà quên nhiệm vụ của mình là tuyên truyền, cổ động, giải thích và huấn luyện cho nhân dân"…

 Thực tiễn cho thấy, ở mỗi giai đoạn cách mạng có những nhiệm vụ chính trị khác nhau, do đó công tác tư tưởng có những mục tiêu khác nhau, nhằm góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ từng thời kỳ. Song, để hoàn thành trọng trách của mình, đảm bảo cho công tác tư tưởng có sức sống, sức thuyết phục, thì người làm công tác tư tưởng phải luôn rèn đức, luyện tài để thuyết phục quần chúng từ hiểu chưa đúng đến hiểu đúng, từ chưa tin yêu đến tin tưởng, đảm bảo cho quần chúng hành động tích cực, sáng tạo, đúng mục đích.

 CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG PHẢI ĐI TRƯỚC MỘT BƯỚC

 Từ những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng, các nghị quyết của Đảng đều khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của công tác tư tưởng và yêu cầu phải coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng. Thực hiện Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 1/8/2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về "Công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới", trên cơ sở nhận thức sâu sắc: "Công tác tư tưởng của Đảng là công tác đối với con người, một nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải nắm vững những quy luật riêng của tư tưởng, có thái độ, phương pháp khoa học, kết hợp chặt chẽ giữa yêu cầu định hướng tư tưởng với sự tự nguyện, giữa lý trí với tình cảm, giữa lời nói và việc làm, giữa "xây" và "chống", lấy "xây" làm chính, lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực", từ Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đến các cấp uỷ, ban cán sự đảng, đảng đoàn, bí thư cấp uỷ, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị đều coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng, lý luận, phát huy vai trò xung kích "đi trước một bước" để hoàn thành trọng trách mà Đảng và nhân dân giao phó.

 Từ Trung ương đến địa phương, đội ngũ những người làm công tác tư tưởng đã nỗ lực, sáng tạo, không chỉ triển khai, tuyên truyền, quán triệt và đưa chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước… vào thực tiễn cuộc sống mà còn thiết thực góp phần nghiên cứu lý luận gắn với tổng kết thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng, bổ sung và phát triển đường lối của Đảng; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; coi thống nhất giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là quy luật, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng Việt Nam. Các binh chủng của công tác tư tưởng tập trung tuyên truyền, đẩy mạnh các hoạt động nhằm tăng cường sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội từ nhận thức đến hành động, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân khai thác các tiềm lực trong xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,v.v.. góp phần làm nên những thành tựu trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đi lên chủ nghĩa xã hội, nhất là trong hơn 34 năm đổi mới.

 Bám sát nhiệm vụ chính trị, bám sát cơ sở và thực tiễn cuộc sống; hướng vào giải quyết các vấn đề bức xúc trong cuộc sống; bám sát đối tượng cụ thể, công tác tư tưởng đã coi trọng việc tuyên truyền, giáo dục ý thức, nâng cao cảnh giác cách mạng, vạch trần các thủ đoạn phá hoại về tư tưởng, góp phần phòng, chống và đấu tranh làm thất bại chiến lược "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch; đồng  thời, phát hiện, tôn vinh và nhân rộng những nhân tố mới, những gương tập thể và cá nhân điển hình trong phát triển kinh tế, văn hoá, an sinh xã hội; trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; trong xây dựng Đảng và thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 Một trong những thành tích đáng ghi nhận của những người làm công tác tư tưởng là đã góp phần quan trọng trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, phát triển kinh tế là trung tâm và xây dựng văn hóa là sức mạnh nội sinh của sự phát triển, bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, mạnh và bền vững. Thực hiện các Nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng gắn với Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI về "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh",  công tác tư tưởng đã tập trung chỉ đạo tốt công tác triển khai, học tập, quán triệt các văn kiện Đảng, tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng về quan điểm, đường lối, Cương lĩnh, Điều lệ Đảng…, đấu tranh không khoan nhượng với các biểu hiện lệch lạc, phản động, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; đồng thời, góp phần bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên kiên định với lý tưởng cách mạng của Đảng, với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có bản lĩnh chính trị vững vàng, gương mẫu đi đầu trên mọi lĩnh vực, xứng đáng với vị trí tiền phong. Công tác tư tưởng đã chú trọng việc đào tạo về lý luận chính trị, về chuyên môn, nghiệp vụ và giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, đẩy mạnh đấu tranh chống quan liêu, tham ô, tham nhũng, lãng phí, chống sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên…

 Thực hiện nhiệm vụ của mình, công tác tư tưởng và những người làm công tác tư tưởng ở các cấp đã thấu triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, giáo dục con người trong thời đại mới - con người xã hội chủ nghĩa, về đào tạo thế hệ cách mạng cho đời sau, về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc… và chủ động phòng và đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa. Phát huy sứ mệnh của từng binh chủng, những người làm công tác tư tưởng đã đầu tư công sức, trí tuệ, thời gian và chủ động trong cuộc đấu tranh bác bỏ các quan điểm phản động, sai trái, lệch lạc; coi trọng việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức, nâng cao cảnh giác cách mạng, vạch trần các thủ đoạn phá hoại về tư tưởng của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng; ngăn chặn sự "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

 Việt Nam đang tiến hành đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng. Thắng lợi của xu thế hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển… mang đến cho đất nước ta những thuận lợi. Song, những bất ổn trên thế giới do chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố, tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên và cạnh tranh quyết liệt về lợi ích kinh tế… diễn ra ngày càng phức tạp cũng có những tác động tiêu cực không nhỏ. Càng trong gian nan thử thách, công tác tư tưởng càng phải chủ động, đi trước một bước; cán bộ làm công tác tư tưởng càng phải chủ động, tích cực tiếp thu cái mới, không ngừng nâng cao trình độ, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, có trình độ ngoại ngữ và tin học đáp ứng yêu cầu của công việc.

 Để trong mọi thời điểm, mọi hoàn cảnh - Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là một tập thể đoàn kết, tư tưởng thống nhất, hành động nhất trí, lãnh đạo nhân dân ta kiên định và vững bước thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta, nhân dân ta đã lựa chọn, công tác tư tưởng cần tập trung thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm sau:

 Một là, các cấp ủy, trực tiếp là người đứng đầu phải chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng; đồng thời thực hiện tốt phương châm cả hệ thống chính trị cùng làm công tác tư tưởng. Trong công tác tư tưởng, phải chủ động nắm bắt diễn biến tình hình trong nước và quốc tế đang đặt ra đối với đất nước và địa phương để kịp thời cung cấp thông tin chính thống, định hướng nhận thức trong nội bộ và nhân dân, tạo sự thống nhất về tư tưởng, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và sự đồng thuận trong nhân dân. Đồng thời, chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới cả về lý luận và thực tiễn cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt nói chung, những người trực tiếp làm công tác tư tưởng nói riêng nhằm nâng cao nhận thức lý luận, trau dồi bản lĩnh chính trị, năng lực thực tiễn, đạo đức, phong cách và trách nhiệm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Đảng trong tình hình mới.

 Hai là, từ nhận thức sâu sắc rằng công tác tư tưởng là nhiệm vụ của toàn Đảng và cả hệ thống chính trị; trong đó, ngành Tuyên giáo là cơ quan tham mưu trực tiếp cho Đảng trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, các binh chủng làm công tác tư tưởng cần chủ động, phối hợp chặt chẽ, đồng bộ với các ngành, các cấp trong hệ thống chính trị, không ngừng đổi mới công tác tư tưởng theo hướng "tích cực, chủ động, gắn lý luận với thực tiễn", tăng cường "nói đi đôi với làm", "xây đi đôi với chống", lấy giáo dục, thuyết phục và nêu gương làm trọng tâm trong tổ chức thực hiện. Xuất phát từ thực tiễn, trở về phục vụ thực tiễn, phản ánh chân thực và luôn song hành cùng mọi hoạt động của đời sống xã hội, đội ngũ những người làm công tác tư tưởng phải thường xuyên tổng kết thực tiễn, nhạy bén với những chuyển biến, thay đổi nhanh chóng và phức tạp của tình hình, để kịp thời tham mưu, đề xuất cấp ủy lãnh đạo, xử lý các tình huống nảy sinh, định hướng tư tưởng, dư luận xã hội, giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc của cơ sở, của nhân dân.

 Ba là, để nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục, tính hấp dẫn của công tác tư tưởng, bên cạnh việc tuyên truyền, giáo dục, cổ vũ, động viên các tầng lớp nhân dân bằng lý lẽ, tâm huyết, kinh nghiệm và bằng thực tiễn cuộc sống, những người làm công tác tư tưởng phải phát huy cao độ vai trò tiền phong, gương mẫu trong học tập nâng cao trình độ về mọi mặt, trong rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống; chú trọng nêu gương về nhân cách và tinh thần trách nhiệm trong thực thi công vụ, trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với thực  hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ", với các quy định về nêu gương, trong các phong trào thi đua yêu nước… Trong đó, cán bộ, đảng viên có chức vụ càng cao và người đứng đầu càng phải nêu cao tinh thần gương mẫu, thống nhất giữa nói và làm, nói trước, làm trước; chủ động đấu tranh chống lại các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và đạo đức./.

 Sưu tầm