Thứ Ba, 6 tháng 8, 2024

Ý nghĩa của hoạt động tuyên truyền về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng đối với việc củng cố, bồi dưỡng tư tưởng chính trị cho tổ chức đảng và đảng viên

 Là người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng Đảng về tư tưởng. Người khẳng định công tác tư tưởng như một nguyên tắc mang tính tiên quyết của hoạt động lãnh đạo: “... công tác lãnh đạo tư tưởng là quan trọng nhất... tư tưởng thống nhất thì hành động mới thống nhất,... tư tưởng thống nhất và hành động thống nhất thì nhiệm vụ tuy nặng nề, công việc tuy khó khăn phức tạp, ta cũng nhất định thắng lợi”(1).

Muốn thực hiện được mục tiêu làm cho hệ tư tưởng của Đảng trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong đời sống chính trị đất nước và mỗi tổ chức đảng, đảng viên đều giữ vững lập trường và tư tưởng chính trị, thì công tác tuyên truyền, giáo dục cần được xem là nhiệm vụ đầu tiên, phải đi tiên phong, đi trước đón đầu, cần hết sức chú trọng và đẩy mạnh thực hiện. Đây là nhiệm vụ chung của mọi tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X “Về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng” đã nêu rõ yêu cầu: Đẩy mạnh tuyên truyền công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng (KTGSKLĐ) cả về lý luận, thực tiễn và kinh nghiệm trên các phương tiện thông tin đại chúng, trước hết là trên các báo, tạp chí của Đảng, đài phát thanh, truyền hình ở Trung ương và địa phươngSau đó, Ban Bí thư ban hành Thông báo kết luận số 226-TB/TW, ngày 9-3-2009, “Về tăng cường tuyên truyền, phổ biến công tác kiểm tra, giám sát của Đảng”; Bộ Chính trị khóa X ban hành Thông báo kết luận số 317-TB/TW, ngày 23-3-2010, “Về tuyên truyền, phổ biến công tác kiểm tra, giám sát của Đảng”. Cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ và các phương tiện thông tin truyền thông, Thông báo kết luận số 156-TB/TW, ngày 1-10-2019, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X “về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng”” cũng đặt ra yêu cầu: Đẩy mạnh công tác truyền thông, phát hiện, biểu dương những nhân tố mới, cách làm hay, điển hình tốt, phát huy sự năng động, sáng tạo của tổ chức đảng, đảng viên. Công khai kết quả kiểm tra, giám sát và xử lý kỷ luật đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên vi phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Các chủ trương này của Đảng đã thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng, đáp ứng đòi hỏi của nhân dân và xã hội, yêu cầu của thực tiễn công tác xây dựng Đảng, thực sự tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện về tư tưởng, nhận thức và hành động của cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp, nhất là người đứng đầu cấp ủy về hoạt động tuyên truyền công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng  nhằm góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng tổ chức đảng và đảng viên có tư tưởng chính trị trong sáng, vững vàng, tuyệt đối trung thành với mục đích lý tưởng cách mạng của Đảng.

Những năm qua, hoạt động KTGSKLĐ nói chung đã được triển khai hiệu quả, đặc biệt là những vụ việc liên quan đến suy thoái về tư tưởng chính trị của tổ chức đảng và đảng viên. Do đó, công tác KTGSKLĐ cần được tuyên truyền công khai, rộng rãi đến mọi đối tượng trong xã hội để thấy được năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tính dân chủ, nghiêm minh, trong sạch của Đảng, cũng như nguyên tắc, kỷ cương, kỷ luật trong Đảng, có tác dụng cảnh báo, ngăn ngừa, hạn chế vi phạm của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng và tạo niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng.

LHQ-ST

Trách nhiệm của đội ngũ cán bộ cấp chiến lược trong phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu, giữ gìn hình ảnh tốt đẹp để củng cố niềm tin của nhân dân và uy tín, thanh danh của Đảng

 Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng đến việc phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong sự nghiệp cách mạng. Theo Người, tính tiên phong, gương mẫu của người cán bộ, đảng viên nói chung và của cán bộ lãnh đạo cấp cao nói riêng phải được quán triệt, thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi, trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, để làm gương cho nhân dân noi theo. Đó là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên trước nhân dân. Cán bộ giữ cương vị, trọng trách càng cao càng phải chăm lo giữ gìn hình ảnh tốt đẹp, thực hiện trách nhiệm nêu gương trong mọi công việc và cả trong đời sống thường nhật. Tuy nhiên, phẩm chất đó không thể tự nhiên mà có, mà phải do chính người cán bộ, đảng viên thường xuyên có ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện hằng ngày, thông qua quá trình phấn đấu không mệt mỏi và đầy gian nan, vì phải tự đấu tranh với chính bản thân mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Người đảng viên - dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp - ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng... Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo”(4). Mặt khác, Người yêu cầu cán bộ, đảng viên tiên phong, gương mẫu còn bởi vì, họ chính là những người nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vì thế, phải luôn tâm niệm “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, hăng hái dẫn dắt quần chúng trong phong trào cách mạng. Cán bộ, đảng viên có vai trò là người dẫn dắt quần chúng và vì thế, muốn quần chúng tin tưởng, làm theo thì bản thân phải là tấm gương sáng, phải “cố gắng làm kiểu mẫu cho quần chúng trong mọi việc”(5).

Quán triệt sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong Điều lệ Đảng, Đảng ta khẳng định: “Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước; có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có đạo đức và lối sống lành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng”(6). Xuất phát từ vị thế, vai trò của mình, đội ngũ cán bộ cấp chiến lược càng phải tự ý thức trước Đảng và dân tộc, nỗ lực phấn đấu, rèn luyện để xứng đáng với danh xưng “đảng viên” cao quý đó và có trách nhiệm nêu gương cho đảng viên trong toàn Đảng noi theo. Trước khi trở thành cán bộ cấp chiến lược, giữ những trọng trách, cương vị quan trọng trong Đảng, Nhà nước thì trước hết, họ luôn là đảng viên và phải thấm nhuần, quán triệt nội dung Điều lệ Đảng và hơn thế, càng phải có ý thức cao trong suy nghĩ và hành động, luôn phấn đấu vì lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng và vì hạnh phúc của nhân dân.

Uy tín, phẩm cách của mỗi đảng viên tạo nên uy tín, thanh danh của Đảng; do vậy, đội ngũ cán bộ cấp chiến lược phải luôn trau dồi khả năng “tự phản tư” về trách nhiệm chính trị trước Đảng và nhân dân, thường xuyên có ý thức nâng cao nhận thức, rèn luyện, tu dưỡng để củng cố, giữ gìn hình ảnh của người đảng viên. Vì vậy, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đặc biệt nhấn mạnh trách nhiệm nêu cao tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, “chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng”(7). Uy tín và hình ảnh tốt đẹp của người cán bộ, đảng viên phải xuất phát từ sự tận tụy, hết lòng, hết sức vì việc công, “dĩ công vi thượng”, không tơ hào, vun vén cho lợi ích bản thân và gia đình mình, thật sự “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, không quan liêu, xa cách và hống hách với dân, luôn khiêm nhường, giản dị trong cuộc sống, luôn tâm niệm “danh dự là điều thiêng liêng, cao quý” cần gìn giữ suốt cuộc đời.

Thực tế cho thấy, cán bộ cấp chiến lược được giao trọng trách lớn, có chức, có quyền nên luôn bị tấn công bởi những “viên đạn bọc đường”, dễ bị mua chuộc bởi những cám dỗ mà đảng viên thường sẽ hiếm khi bị rơi vào tình trạng này. Sự tấn công, mua chuộc còn đến với cả gia đình, người thân của người cán bộ. Thực trạng này càng đòi hỏi người cán bộ cấp chiến lược có bản lĩnh chính trị vững vàng, nếu không rất dễ bị sa ngã, thậm chí vướng vào vòng lao lý, mà những vụ “đại án” vừa qua luôn là những hồi chuông cảnh tỉnh, có tính răn đe rất cao đối với đội ngũ cán bộ này. Những sai phạm không chỉ làm mất uy tín của bản thân người cán bộ cấp chiến lược, tổ chức đảng, mà rộng hơn, còn có thể gây ra hệ lụy khôn lường đối với Đảng và chế độ. Vì vậy, khi nhìn lại lịch sử, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đánh giá: “Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và một số nước Đông Âu sụp đổ là do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân rất quan trọng là lựa chọn, bố trí sai một số cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược, nhất là cấp cao nhất. Cần phải khẳng định và thấm nhuần sâu sắc vị trí, ý nghĩa của công việc cực kỳ quan trọng này không chỉ đơn thuần đối với việc tổ chức một Đại hội Đảng, mà đây là công việc có ý nghĩa chiến lược gắn liền với vận mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ và sự phát triển của đất nước”(8).

Trong điều kiện hiện nay, cán bộ cấp chiến lược phải có trách nhiệm nêu cao tính tiên phong, gương mẫu trên các mặt, lĩnh vực chủ yếu sau: 1- Tiên phong, nêu gương về tinh thần yêu nước, tôn trọng nhân dân, tuyệt đối trung thành với Đảng và Tổ quốc, luôn đặt lợi ích của quốc gia - dân tộc, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết; 2- Tiên phong, gương mẫu về giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; 3- Tiên phong về bản lĩnh, phẩm chất chính trị; dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung; 4- Gương mẫu về tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng; 5- Tiên phong, gương mẫu về trình độ, năng lực, phong cách, tác phong công tác, trong quan hệ mật thiết với nhân dân; 6- Tiên phong trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; 7- Đi đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; 8- Tiên phong trong phát hiện, lựa chọn, thu hút, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài cho Đảng và Nhà nước; 9- Đặc biệt là, phải tiên phong, gương mẫu trong giữ gìn danh dự, hình ảnh tốt đẹp, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, giữ gìn uy tín, thanh danh của Đảng.

Như vậy, trách nhiệm đặt “lên vai” đội ngũ cán bộ cấp chiến lược là rất nặng nề; song, vinh quang và đóng góp cũng sẽ rất lớn, bởi lẽ, chỉ khi có được đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ đức, đủ tài, Đảng ta mới phát triển vững mạnh và mới có đủ uy tín, năng lực lãnh đạo, cầm quyền, đủ sức đưa dân tộc ta phát triển lên tầm cao mới, đáp ứng được kỳ vọng, niềm tin lớn lao của nhân dân đối với Đảng. Thông qua đó, Đảng còn nâng cao được năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng; đồng thời, góp phần gìn giữ mối quan hệ hữu cơ, mật thiết, không thể tách rời giữa “ý Đảng với lòng Dân” - cội nguồn của sức mạnh Việt Nam trong suốt hơn 94 năm qua./.

LHQ-ST

Vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của đội ngũ cán bộ cấp chiến lược

 Hiện nay, đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược, theo cách hiểu phổ biến, bao gồm lãnh đạo các cơ quan của Đảng và Nhà nước; lãnh đạo chủ chốt các ban, bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, là các chức danh thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Đội ngũ này có vị trí, vai trò then chốt, đặc biệt quan trọng trong lãnh đạo, điều hành các công việc chủ chốt, đề ra chủ trương, chính sách lãnh đạo có ảnh hưởng sâu rộng, quyết định đến sự phát triển của đất nước, dân tộc. Do vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược luôn có tầm quan trọng đặc biệt trong công tác cán bộ, quyết định đến vận mệnh của Đảng và sự phát triển của đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, cán bộ là gốc của mọi công việc. Trong đội ngũ cán bộ, cán bộ cấp chiến lược là gốc của cái gốc đó, là lực lượng nòng cốt, là nhân tố quan trọng nhất trong bộ máy tổ chức của Đảng, Nhà nước và của các tổ chức chính trị - xã hội. Cán bộ cấp chiến lược là người có đủ phẩm chất và năng lực để tham gia xây dựng và lãnh đạo tổ chức thực hiện đường lối, chính sách, nhiệm vụ ở tầm chiến lược. Do đó, cán bộ cấp chiến lược có vị thế, vai trò quan trọng đối với công tác lãnh đạo, chỉ đạo; duy trì, khẳng định uy tín, thanh danh của Đảng và qua đó, thể hiện một cách sinh động, cụ thể năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội; đồng thời, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Không phải ngẫu nhiên mà Đảng ta lại dành sự quan tâm đặc biệt đến đội ngũ cán bộ cấp chiến lược. Sự quan tâm, chú trọng đặc biệt của Đảng đến đội ngũ cán bộ cấp chiến lược chính là vì đội ngũ cán bộ này, một mặt, là những người tham gia trực tiếp vào việc hoạch định đường lối, chủ trương, quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước ta; trực tiếp tổ chức ở tầm vĩ mô việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Mặt khác, sự tiên phong, gương mẫu của các cán bộ này trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao và trong rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống là tấm gương sáng, tạo ra ảnh hưởng chính trị lớn, có sức lan tỏa, truyền cảm hứng, động viên tinh thần sâu rộng trong toàn Đảng, trong bộ máy nhà nước và toàn xã hội; qua đó, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ. Ở chiều ngược lại, nếu chỉ một vài người trong đội ngũ này vi phạm, dù vi phạm ở mức độ nào đi chăng nữa, thì cũng sẽ gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, thanh danh của Đảng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và gây tác động tiêu cực, tạo ra sự hồ nghi nhất định đối với năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Vai trò của đội ngũ cán bộ cấp chiến lược còn thể hiện ở chỗ: Cán bộ cấp chiến lược là người có năng lực phát hiện, lựa chọn, thu hút, trọng dụng nhân tài; lựa chọn, giới thiệu với cấp có thẩm quyền để bầu cử, bổ nhiệm cấp phó của mình. Cán bộ cấp chiến lược xác lập uy tín bằng hiệu quả công tác thực tiễn, bằng việc thực hiện nghiêm các quy định về thực hành dân chủ ở cơ sở, tiếp dân, đối thoại với nhân dân; thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”, nắm bắt và giải quyết thỏa đáng, kịp thời tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân. 

Đặc biệt, đội ngũ cán bộ cấp chiến lược có vai trò rất quan trọng trong việc tăng cường năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Nếu cán bộ cấp chiến lược có năng lực nổi bật trong việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng ở tầm vĩ mô, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới, thì sẽ góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Đồng thời, nếu đội ngũ này có năng lực dự báo tốt, có tầm nhìn xa, tư duy chiến lược và khả năng ứng phó nhạy bén trước các thách thức, diễn biến rất nhanh, khó lường của tình hình trong nước và thế giới, trên cơ sở bám sát và xuất phát từ thực tiễn; có năng lực thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện hiệu quả nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng; kiên quyết khắc phục yếu kém, trì trệ, không né tránh trách nhiệm trong công tác lãnh đạo, điều hành và tổ chức thực hiện; chú trọng công tác kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện... thì sẽ góp phần củng cố, tăng cường năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Không chỉ thế, đội ngũ cán bộ cấp chiến lược còn có vai trò và trách nhiệm quan trọng trong tham gia phát triển, nâng tầm lý luận, tiếp tục đổi mới tư duy lý luận; đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn gắn với nghiên cứu lý luận, cung cấp luận cứ khoa học, lý luận nền tảng cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các chiến lược phát triển quốc gia trong tầm nhìn dài hạn.

Nhấn mạnh tới vai trò đặc biệt quan trọng của đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, “...[đội ngũ cán bộ cấp chiến lược] là tinh hoa của Đảng, đòi hỏi phải thật sự vững vàng, có đủ bản lĩnh, phẩm chất, trí tuệ và có uy tín cao để giải quyết những công việc ở tầm chiến lược, xử lý kịp thời, đúng đắn, có hiệu quả những tình huống phức tạp có quan hệ đến sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước, sự sống còn của chế độ. Thực tế cho thấy, trong bất cứ hoàn cảnh nào, nhất là vào những thời điểm quyết định hoặc có tính bước ngoặt lịch sử, vận nước đặt tất cả vào đội ngũ cán bộ cấp chiến lược”(1).

Để củng cố niềm tin của nhân dân, giữ vững uy tín, thanh danh của Đảng, phấn đấu và xây dựng Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, yêu cầu đặt ra là rất cao đối với đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đòi hỏi họ có năng lực ở trình độ cao và đặc biệt, như tư duy chiến lược, nắm bắt cục diện chiến lược, tầm nhìn dài hạn và dự báo khoa học, nhạy bén trong nhận diện và nắm bắt thời cơ, có khả năng kiến tạo các giá trị mới và quy tụ, đoàn kết, truyền cảm hứng và tuyên truyền cho mọi người trong Đảng và ngoài xã hội hiểu rõ và thực hiện được các giá trị đó. Đồng thời, họ còn phải thực hiện trách nhiệm nêu gương, thường xuyên có ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, “tự soi”, “tự sửa”, có khả năng vượt qua cám dỗ, cạm bẫy, mặt trái, tiêu cực xuất hiện trong điều kiện Đảng ta là một đảng duy nhất cầm quyền, đất nước ta đang đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay. Thực tế cũng chứng tỏ, khi người cán bộ cấp chiến lược nêu cao tính tiên phong, gương mẫu, có được uy tín trong Đảng và trong nhân dân, được đồng chí, đồng bào quý trọng, yêu mến, thì đó là niềm hạnh phúc, tự hào rất to lớn của bản thân và của tổ chức đảng. Uy tín đó đến từ sự hết lòng, hết sức vì công việc, luôn luôn đặt lợi ích của tập thể, lợi ích chung lên trên hết, trước hết; không vụ lợi, chỉ thu vén lợi ích cho cá nhân, gia đình, không lợi dụng chức vụ, quyền hạn để mưu lợi riêng; gương mẫu trong mọi việc; luôn luôn đề cao trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và nhân dân; thật sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, dám vượt qua khó khăn, thách thức, nỗ lực hành động vì lợi ích chung; không quan liêu, xa dân, không tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hoặc để người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để trục lợi, có hành vi vi phạm pháp luật.

LHQ-ST

Một số giải pháp chủ yếu cần tập trung thực hiện để phát huy mạnh mẽ vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ cấp chiến lược, củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân, giữ gìn uy tín, thanh danh của Đảng trong thời gian tới

 Thứ nhất, phát huy vai trò của hệ thống chính trị và nhân dân, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm tốt công tác nhân sự cấp chiến lược cho Đại hội XIV, để củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng. 

Thực tế cho thấy, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là một trong những nguyên nhân dẫn đến khuyết điểm, sai lầm, vi phạm pháp luật, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo cấp cao, đã làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng. Do đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, các tổ chức, lực lượng và cả hệ thống chính trị tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tăng cường phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với nhiều biện pháp quyết liệt đồng bộ, theo tinh thần “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp tập trung thực hiện hiệu quả Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII), “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””.

Đặc biệt, cần chú trọng làm tốt công tác nhân sự cấp chiến lược cho Đại hội XIV của Đảng; ở đây, cần quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Kiên quyết không bỏ sót những người thật sự có đức, có tài, đủ tiêu chuẩn; đồng thời, không để lọt vào Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV những người có một trong các khuyết điểm sau: 1- Bản lĩnh chính trị không vững vàng; không kiên định đường lối, quan điểm của Đảng; có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, tham nhũng, quan liêu, cục bộ, vận động cho cá nhân, phe cánh, lợi ích nhóm; thiếu chính kiến, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; 2- Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, mị dân, chuyên quyền, độc đoán; không công bằng, công minh trong đánh giá, sử dụng cán bộ, trù dập người thẳng thắn đấu tranh, phê bình; 3- Để nội bộ mất đoàn kết nghiêm trọng hoặc để xảy ra tham nhũng, thất thoát, vụ việc tiêu cực lớn ở địa phương, cơ quan, đơn vị; 4- Không chịu nghiên cứu học hỏi; bảo thủ, trì trệ, làm việc kém hiệu quả, nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm; ý thức kỷ luật kém, không chấp hành sự điều động, phân công của tổ chức, uy tín giảm sút; 5- Kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giàu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc; bản thân hoặc vợ, chồng, con có lối sống thiếu gương mẫu, lợi dụng chức quyền để thu lợi bất chính; 6- Vi phạm quy định về lịch sử chính trị hoặc chính trị hiện nay”(5).

Để thực hiện hiệu quả yêu cầu này thì phải thật sự phát huy dân chủ trong việc phát hiện, giới thiệu nhân sự đi đôi với xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể, cá nhân liên quan và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, nêu cao vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu. Kiên quyết chống tư tưởng cục bộ, địa phương, thân quen, “cánh hẩu”, “lợi ích nhóm”; tránh cách làm giản đơn, tùy tiện, vô nguyên tắc. Ở đây, cần quán triệt yêu cầu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Phải bằng mọi biện pháp dứt khoát không đưa vào cơ quan lãnh đạo những người không xứng đáng, không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người đã phạm sai lầm hoặc sa sút về phẩm chất, đạo đức, vướng vào tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, hống hách, gia trưởng, nịnh trên, nạt dưới, bao che cho tội phạm, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng. Để những người đó lọt được vào cương vị lãnh đạo là tai họa cho Đảng, là tạo điều kiện cho họ càng hại nước, hại dân nhiều hơn”(6).

Thứ hai, đưa công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đi vào chiều sâu - Một trong những biện pháp quan trọng để củng cố niềm tin của nhân dân, giữ gìn uy tín, thanh danh của Đảng, làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Chú trọng tăng cường các biện pháp quản lý, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, đề cao tinh thần đấu tranh với hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, tự phê bình và phê bình; chấp hành nghiêm quy định của công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược. Kịp thời thể chế hóa và triển khai thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng về quản lý kinh tế - xã hội, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, từng bước hoàn thiện cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để bảo đảm cho đội ngũ cán bộ cấp chiến lược “không thể”, “không dám”, “không muốn”, “không cần” tham nhũng. Huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, của nhân dân, báo chí và toàn xã hội, tạo ra sức mạnh tổng hợp trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đối với cán bộ cấp chiến lược.

Tăng cường hơn nữa hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở các cơ quan, ban, ngành ở Trung ương, tập trung vào lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nơi có nhiều tố cáo, khiếu nại, dư luận xã hội quan tâm, bức xúc. Phát huy mạnh mẽ vai trò của Ban Chỉ đạo Trung ương và cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; chú trọng quán triệt quy định của Đảng, Nhà nước và nội dung cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh(7) của Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, đến cán bộ, đảng viên, đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ cấp chiến lược; rà soát, khắc phục sơ hở, bất cập dễ bị lợi dụng để thực hiện hành vi tham nhũng, tiêu cực. Đồng thời, phải có ý thức chống tham nhũng ngay trong các cơ quan có chức năng chống tham nhũng, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh: “Phải quan tâm chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thật sự có bản lĩnh, thật sự liêm chính, trong sạch; không chịu bất cứ sức ép không trong sáng của tổ chức, cá nhân nào; bất cứ sự cám dỗ, mua chuộc nào của bất kỳ ai”(8).

Thứ ba, thực hành đạo đức cách mạng, giữ vững tính tiên phong, gương mẫu của mỗi tổ chức đảng và đảng viên; kiên quyết đấu tranh với các quan điểm, tư tưởng sai trái, đi ngược lại các giá trị đạo đức cách mạng, như chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa hưởng lạc, chủ nghĩa vị kỷ... trong đội ngũ cán bộ cấp chiến lược.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi “chủ nghĩa cá nhân” là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội, vì nó đẻ ra hàng trăm thứ “bệnh” nguy hiểm, như đặc quyền, đặc lợi, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo, hẹp hòi, cục bộ... Người luôn yêu cầu cán bộ cách mạng có đức và tài, trong đó “đạo đức là gốc”. Do vậy, hơn ai hết, cán bộ cấp chiến lược càng phải luôn coi trọng rèn luyện đạo đức cách mạng, đạo đức nghề nghiệp và bản lĩnh chính trị để mỗi người biết liêm sỉ, trọng danh dự, hình thành phương thức làm chủ bản thân; cảnh giác và kiểm soát ham muốn vật chất và tham vọng quyền lực, không một phút lơi là trước mọi cám dỗ; phòng ngừa nguy cơ buông thả, không đủ ý chí vượt qua trước “ma lực” của tiền tài, quyền lực, danh vọng.

Cán bộ cấp chiến lược phải thường xuyên rèn luyện, nêu gương sáng trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; chấp hành nghiêm Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về những điều đảng viên không được làm” và phải là người có ý thức cao trong thực hành đạo đức cách mạng, đặc biệt là quán triệt sâu sắc nội dung trong Quy định số 144-QĐ/TW, do Bộ Chính trị mới ban hành ngày 9-5-2024, về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới, bao gồm 5 nhóm chuẩn mực chính yếu: 1- Yêu nước, tôn trọng Nhân dân, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc; 2- Bản lĩnh, đổi mới, sáng tạo, hội nhập; 3- Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; 4- Đoàn kết, kỷ cương, tình thương, trách nhiệm; 5- Gương mẫu, khiêm tốn, tu dưỡng rèn luyện, học tập suốt đời. Theo đó, với tư cách, vị thế là “tinh hoa của Đảng” thì hơn ai hết, cán bộ cấp chiến lược lại càng phải có sự tự nhận thức rất cao về trách nhiệm của mình trước Đảng và nhân dân, đi đầu nêu gương trong hành động, thực thi các chuẩn mực này. Trong mọi hành động, cán bộ cấp chiến lược phải luôn quán triệt và là tấm gương mẫu mực về thực thi những chuẩn mực đạo đức cốt lõi, đó là: 1- Luôn luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích chung của Đảng, Nhà nước và của nhân dân lên trên hết, trước hết; kiên quyết, kiên trì đấu tranh với mọi hành vi gây phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích của Đảng, Nhà nước và của nhân dân; 2- Có bản lĩnh chính trị vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách. Đi đầu thực hiện dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thách thức, hành động vì lợi ích chung, vì nước, vì dân; 3- Nêu cao lòng tự trọng, danh dự, không cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, giữ gìn phẩm giá của người cán bộ, đảng viên, không để tác động lôi kéo, cám dỗ tiêu cực. Không để gia đình, người thân và người khác lợi dụng chức vụ, vị trí công tác để trục lợi; bảo vệ uy tín, danh dự của bản thân và tổ chức đảng; 4- Là trung tâm đoàn kết, sống có nghĩa tình, chân thành, thương yêu, đối xử, giúp đỡ đồng chí, đồng nghiệp và mọi người theo lẽ phải, phù hợp với đạo lý dân tộc, cùng nhau tiến bộ; 5- Khiêm tốn, cầu thị, giản dị; đi đầu thực hiện tinh thần không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao phẩm chất, đạo đức, trình độ, năng lực công tác.

Chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa hưởng lạc, chủ nghĩa vị kỷ là kẻ thù phá hoại Đảng từ bên trong, đi ngược lại các quan niệm đúng đắn và chân chính về hạnh phúc của những người cộng sản. Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với cán bộ cấp chiến lược trước hết là nhận diện rõ mức độ nguy hiểm và tác động đa chiều, sâu rộng của các tư tưởng này trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay; xây dựng cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh một cách hiệu quả thông qua các phương thức, công cụ đa dạng; kiên quyết đấu tranh trên cả địa hạt tư tưởng - lý luận và trong thực tiễn đời sống hằng ngày, đặc biệt là vạch trần bản chất, làm rõ nguồn gốc lý luận, cơ sở kinh tế - xã hội, tâm lý - văn hóa của các quan điểm, tư tưởng này để đấu tranh hiệu quả.

Thứ tư, tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, kiên quyết giữ nghiêm kỷ luật đảng, xử lý cán bộ cấp chiến lược khi có sai phạm, theo phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, giữ vững niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ.

Rõ ràng là, nếu chỉ dựa vào sự tự tu dưỡng, trau dồi đạo đức cách mạng của từng đảng viên thôi thì mới chỉ là đúng, nhưng chưa đủ, mà Đảng cần tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm minh kỷ luật đảng, loại trừ thẳng tay những “con sâu làm rầu nồi canh”, giữ vững kỷ cương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thì mới có đủ sức thuyết phục, củng cố được niềm tin của nhân dân đối với Đảng và mới có được sự ủng hộ rộng rãi, nhiệt thành của các tầng lớp nhân dân, mới giữ được uy tín, thanh danh của mình. Đảng viên mắc “bệnh” quan liêu, mệnh lệnh, tham nhũng, thoái hóa, biến chất, tiêu cực, hống hách, xa rời nhân dân thì sẽ chỉ làm Đảng bị suy yếu và có thể gây ra tổn thất không lường được đối với vận mệnh, sự phát triển của dân tộc và đất nước. Vì vậy, Đảng cần tăng cường kiểm soát quyền lực, tiếp tục kiên quyết, kiên trì đấu tranh loại bỏ tất cả đảng viên biến chất ấy ra khỏi đội ngũ để làm trong sạch Đảng; thực hiện đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Công khai và mạnh dạn gạt bỏ cho thật sạch những ung nhọt ấy thì thân thể càng mạnh khỏe thêm”(9)Cán bộ cấp chiến lược, dù có giữ trọng trách, cương vị cao đến đâu, nhưng một khi đã vi phạm kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước, làm tổn thương tới niềm tin yêu của nhân dân đối với Đảng thì phải bị xử lý thật nghiêm khắc và nghiêm minh, không thể có “vùng cấm” và cũng không thể có bất kỳ một “ngoại lệ” nào.

Thời gian tới, cần tập trung hoàn thiện cơ chế, tạo bước đột phá trong công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng, tăng cường tính nghiêm minh về kỷ luật của Đảng, tính thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, Nhà nước. Cần quán triệt và thực hiện nghiêm quy định của Đảng, nhất là Quy định số 114-QĐ/TW, ngày 11-7-2023, của Bộ Chính trị, “Về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ”. Quy định số 114-QĐ/TW đề cập đến ba nhóm hành vi tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ, đó là nhóm hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn; nhóm hành vi chạy chức, chạy quyền và nhóm các hành vi tiêu cực khác; đồng thời, nhấn mạnh đến việc cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo không bố trí người có quan hệ gia đình đồng thời đảm nhiệm các chức danh người đứng đầu cấp ủy hoặc người đứng đầu cơ quan hành chính và người đứng đầu các cơ quan ở 13 ngành cụ thể(10).

Thứ năm, xây dựng, hoàn thiện văn hóa từ chức trong Đảng, để cán bộ cấp chiến lược khi tự nhận thấy mình không còn đủ uy tín, năng lực thì gương mẫu thực hiện văn hóa từ chức để giữ gìn danh dự của bản thân và bảo vệ uy tín, thanh danh của Đảng.

Văn hóa từ chức là một phương diện của văn hóa chính trị, văn hóa ứng xử dựa trên lương tâm và trách nhiệm. Văn hóa từ chức cho thấy sự hiểu biết về bổn phận và trách nhiệm của người nắm giữ chức vụ; là một trong những biểu hiện sinh động, cụ thể và thiết thực nhất thể hiện một nhà lãnh đạo liêm chính, trọng danh dự và dám chịu trách nhiệm. Khi cán bộ cảm thấy mình không đủ uy tín, năng lực để đảm nhận nhiệm vụ, mà xin từ chức thì chính là phản ánh một nền chính trị vì dân dựa trên phẩm giá, lòng tự trọng và bản lĩnh của một nhà lãnh đạo thực sự tâm huyết và đầy bản lĩnh.

Đặc biệt, vấn đề này được đề cập trong Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Nghị quyết số 26-NQ/TW nhấn mạnh vấn đề xây dựng quy định để việc nhận trách nhiệm, từ chức, từ nhiệm trở thành nếp văn hóa ứng xử của cán bộ; hoàn thiện các quy định về cách chức, bãi nhiệm, miễn nhiệm để việc “có lên, có xuống”, “có vào, có ra” trở thành bình thường trong công tác cán bộ(11). Điểm mới trong nhiệm kỳ Đại hội XIII là, thực hiện chủ trương của Trung ương, cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng đã kiên quyết làm rõ trách nhiệm chính trị của người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý, kể cả cán bộ cấp cao, khi để xảy ra tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng trong lĩnh vực được giao quản lý, phụ trách; trên cơ sở đó, khuyến khích cán bộ từ chức, xin thôi chức vụ, kịp thời miễn nhiệm, thay thế cán bộ bị kỷ luật, năng lực hạn chế, uy tín giảm sút, trong đó có cán bộ cấp chiến lược. Khi cán bộ cấp chiến lược tự thấy mình không đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, nhân dân đã tin tưởng giao phó và thực hiện văn hóa từ chức thì cũng chính là để gìn giữ danh dự bản thân và đồng thời, góp phần bảo vệ uy tín, thanh danh của Đảng trước nhân dân.

***

Là đội ngũ cán bộ “rường cột” của quốc gia nên việc xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, có liên quan trực tiếp tới vận mệnh của đất nước, sự sống còn của Đảng và chế độ. Chính vì vậy, cả lý luận và thực tiễn đều đang đặt ra nhiệm vụ cấp thiết, yêu cầu rất cao đối với công tác xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ cấp chiến lược. Công tác này đòi hỏi được tiến hành một cách thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả, hướng tới mục tiêu mà Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”(12) trong bối cảnh phát triển mới. Hơn lúc nào hết, mỗi cán bộ cấp chiến lược phải thường xuyên nâng cao ý thức, trách nhiệm chính trị của mình trước Đảng và nhân dân, trước Tổ quốc và dân tộc; trong mọi suy nghĩ và hành động đều phải “tự phản tư” về nghĩa vụ, bổn phận trong thực hiện nhiệm vụ được giao, luôn giữ vững lập trường, bản lĩnh chính trị, đặt lợi ích của tối cao của quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết. Được như vậy thì sẽ góp phần to lớn củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ, giữ gìn uy tín, thanh danh của Đảng và danh dự của bản thân. Khi đó, đội ngũ cán bộ cấp chiến lược sẽ có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, đất nước phát triển nhanh, bền vững, dân tộc ta trường tồn, nhân dân ta có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, hiện thực hóa mục tiêu đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa, để vững bước “sánh vai cùng các cường quốc năm châu”.

LHQ-ST

Thực trạng phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu, giữ vững bản lĩnh chính trị của cán bộ cấp chiến lược để củng cố niềm tin của nhân dân, giữ gìn uy tín, thanh danh của Đảng trong thời gian qua

 Nhận thức rõ vai trò đặc biệt quan trọng của đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, quy định để tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong từng thời kỳ(1). Theo đánh giá của Văn kiện Hội nghị Trung ương 7 khóa XII “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” thì những kết quả đạt được và ưu điểm là: Nhìn chung, đội ngũ cán bộ có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý thức tổ chức kỷ luật, luôn tu dưỡng, rèn luyện, trình độ, năng lực được nâng lên, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao. Đa số cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở các cấp có năng lực, phẩm chất, uy tín. Cán bộ cấp chiến lược có bản lĩnh chính trị, kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có tư duy đổi mới, có khả năng hoạch định đường lối, chính sách và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện(2).

Các đồng chí là cán bộ quy hoạch Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV khảo sát thực tế tại Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam)_Ảnh: petrovietnam.petrotimes.vn

Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta nhấn mạnh: “Việc thực hiện trách nhiệm nêu gương và chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên có chuyển biến tích cực, nhất là vai trò tiền phong, gương mẫu của các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã đề cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống; gương mẫu đi đầu, tận tụy với công việc, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Việc xử lý kỷ luật nghiêm đảng viên vi phạm, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cả cán bộ đương chức và nghỉ hưu đã giúp mỗi cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa, tự điều chỉnh hành vi, tích cực rèn luyện đạo đức, lối sống, tác phong công tác”(3).

Tuy nhiên, một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược, thiếu gương mẫu, uy tín thấp, có biểu hiện sa sút về đạo đức, lối sống, thiếu gương mẫu, thiếu tinh thần trách nhiệm, nói không đi đôi với làm, xa rời nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, có biểu hiện đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm; đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích tập thể; đặc quyền, đặc lợi, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, tham nhũng, tiêu cực; có quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp, sa vào “lợi ích nhóm”.

Tham nhũng là vấn nạn nhức nhối hiện nay, xuất hiện với nhiều hình thức mới, như tham nhũng chính sách, tham nhũng đất đai, tham nhũng trong công tác cán bộ.., thường gắn với người có chức, có quyền, trong đó có cả một số cán bộ cấp chiến lược. Tham nhũng làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, gây bức xúc trong dư luận, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, gây ra những nguy cơ tiềm ẩn, xung đột, làm mất ổn định kinh tế - chính trị - xã hội của đất nước, phương hại tới sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và làm xấu đi hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế. Do vậy, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng tham nhũng nói chung và trong đội ngũ cán bộ cấp chiến lược nói riêng đang là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay, đồng thời cũng là một nhiệm vụ rất khó khăn, đầy cam go, phức tạp.

Một số cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ cấp chiến lược, suy thoái về tư tưởng chính trị, vướng vào tham nhũng, tiêu cực có hành vi vi phạm pháp luật, lợi dụng chính sách để trục lợi. Một số cán bộ vi phạm đến mức phải kỷ luật, xử lý hình sự, trong đó có cả Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. “Không ít cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu tính Đảng, lợi dụng sơ hở trong cơ chế, chính sách, luật pháp, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát lớn vốn, tài sản của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, bị xử lý kỷ luật đảng và xử lý theo pháp luật. Chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ khóa XIII đến nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã phải thi hành kỷ luật gần 100 cán bộ cao cấp thuộc diện Trung ương quản lý; một số cán bộ đã bị xử lý hình sự”(4).

Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy phiếu bầu, chạy bằng cấp, chạy khen thưởng, chạy danh hiệu, chạy tội..., trong đó có cả cán bộ cấp cao, tuy đã được ngăn chặn, nhưng vẫn chưa hoàn toàn bị đẩy lùi. Một số cán bộ còn tư tưởng “hữu danh”, thậm chí sẵn sàng đánh mất cả danh dự, liêm sỉ nhằm đạt được danh vị, chức tước bằng mọi giá trong khi năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức hạn chế, gây nên nhiều hệ lụy tiêu cực. 

Mặt trái của kinh tế thị trường, sự cấu kết của lãnh đạo doanh nghiệp với một số cán bộ cấp chiến lược nhằm “hướng lái” chính sách để trục lợi qua một số vụ việc, “đại án” nổi cộm thời gian qua cho thấy thực trạng đáng suy ngẫm trong công tác cán bộ nói chung. Đây là một thực tế không thể xem thường, gây dư luận tiêu cực và tác động không nhỏ tới tâm lý, tư tưởng của đảng viên và nhân dân, cần có cơ chế, biện pháp xử lý kịp thời, hiệu quả.

Những sai phạm nghiêm trọng của một số cán bộ cấp chiến lược chính là “mảnh đất màu mỡ”, tạo điều kiện cho các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị được đà thổi phồng, khoét sâu để hạ thấp uy tín, thanh danh của Đảng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ. Các phần tử xấu, cơ hội, thù địch luôn tìm mọi cách xuyên tạc, tung tin, tác động, gây chia rẽ nội bộ ta hòng phá hoại công tác nhân sự nói chung, công tác quy hoạch cán bộ Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV sắp tới nói riêng.

LHQ-ST

Những chỉ dẫn sâu sắc, quý báu đối với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

 Nhận thức rõ những giá trị của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư đã khẳng định phải nghiêm túc, tự giác thực hiện một cách có hiệu quả Chỉ thị số 05-CT/TW, của Bộ Chính trị, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, trong đó chú trọng quán triệt, làm tốt ba vấn đề: Học tập Bác, làm theo Bác và nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Về học tập Bác, Tổng Bí thư nêu rõ, học tập Bác là học tư tưởng, thế giới quan và nhân sinh quan cách mạng, đạo đức cách mạng và phong cách của người chiến sĩ cộng sản chân chính. Thúc đẩy việc học tập Bác trở thành lối sống, nếp nghĩ, cách làm của từng cán bộ, đảng viên và người dân. Làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự thấm sâu vào đời sống xã hội, thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, cội nguồn sức mạnh to lớn, để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phát huy nội lực, vượt qua khó khăn, thách thức, hoàn thành mọi nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thực sự thấm nhuần tư tưởng của Bác, thống nhất giữa tư tưởng và hành động, giữa lời nói và việc làm(16).

Về làm theo Bác, Tổng Bí thư xác định, đó là thúc đẩy, tạo chuyển biến mạnh mẽ từ “học tập” sang “làm theo”, hiện thực hóa bằng những chương trình hành động cụ thể, việc làm cụ thể, thiết thực trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với đề cao chức trách, đạo đức công vụ của mỗi cán bộ, đảng viên; giải quyết hiệu quả các khâu đột phá và các vấn đề trọng tâm, bức xúc trong thực tiễn, trên nền tảng, kim chỉ nam là tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong mọi hành động(17).

Về nêu gương, Tổng Bí thư chỉ ra rằng, nêu gương là thực hiện đồng thời, gắn kết việc học tập với làm theo Bác và nêu gương. Phát huy hiệu quả mối quan hệ giữa ba nhiệm vụ này, trong đó đề cao vai trò, trách nhiệm tiền phong, gương mẫu với nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị, mà trước hết là các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nghiêm túc thực hiện trách nhiệm nêu gương; người có chức vụ càng cao, cương vị càng lớn càng phải gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác(18), theo tinh thần đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.

Tổng Bí thư cũng nhắc nhở, trong quá trình thực hiện ba nhiệm vụ nêu trên, cần kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, chiến lược; “chống” là quan trọng, cấp bách. Đề cao tinh thần “nói đi đôi với làm”, “rèn luyện suốt đời”, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa”. Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; kiên trì, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không bị tác động bởi bất cứ tổ chức, cá nhân không trong sáng nào. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát. Nâng cao tính cảnh tỉnh, răn đe đối với những tư tưởng, biểu hiện tiêu cực; đồng thời khuyến khích, cổ vũ cán bộ, đảng viên suy nghĩ, hành động vì lợi ích chung, vì hạnh phúc của nhân dân, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh(19).

Tác phẩm Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một công trình lớn của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, bên cạnh sự đóng góp vào việc hoàn thiện hệ thống lý luận và cơ sở thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, tác phẩm còn đóng góp lớn vào việc hiểu sâu sắc tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh. Những chỉ dẫn của Tổng Bí thư trong tác phẩm có ý nghĩa sâu sắc, có sức động viên, lan tỏa và truyền cảm hứng mạnh mẽ trong việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đối với cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân hiện nay và thời gian tới, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng và phát triển nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ, giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc./.

LHQ-ST

Sự khẳng định về nội dung, giá trị của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

 Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Người đã chấm dứt sự khủng hoảng, bế tắc trong phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và lãnh đạo dân tộc Việt Nam giành lại độc lập dân tộc, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên của độc lập, tự do, hạnh phúc. Kết tinh và thể hiện tình cảm, sự tri ân sâu sắc của đất nước, dân tộc đối với những cống hiến vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuốn sách của Tổng Bí thư đã dành những trang viết giàu cảm xúc về cuộc đời, sự nghiệp của Người, qua đó góp phần thể hiện, khẳng định và làm rõ những nội dung, giá trị của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Trong bài “Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh soi sáng con đường đi tới tương lai của dân tộc Việt Nam”, Tổng Bí thư đã nêu rõ: “Năm mươi năm qua, tư tưởng Hồ Chí Minh và Di chúc của Người luôn đồng hành cùng dân tộc, soi rọi, dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta luôn kiên định và trung thành với sự nghiệp, lý tưởng cách mạng của Người, kế tục xuất sắc sự nghiệp cách mạng vĩ đại mà Người đã trọn đời cống hiến và hy sinh; mang lá cờ bách chiến bách thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh tới đích cuối cùng”(6) và “Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi với non sông đất nước, với nhân dân ta. Di chúc của Người tỏa sáng giá trị dân tộc và thời đại, thấm đậm văn hóa và nhân văn Hồ Chí Minh, mãi mãi là ngọn cờ quy tụ sức mạnh toàn dân tộc, đã, đang và sẽ tiếp thêm sức mạnh, nguồn năng lượng to lớn cho Đảng ta, dân tộc ta, nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam muôn vàn yêu quý của chúng ta”(7).

Bài “Kế tục trung thành sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” (Diễn văn tại Lễ kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh), cũng thể hiện sâu sắc quan điểm của Tổng Bí thư: “Cuộc đời 79 mùa xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cao đẹp nhất của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Người là kết tinh rạng ngời của đạo đức, trí tuệ, khí phách, lương tri của dân tộc và thời đại”(8) và “Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng ta, dân tộc ta, nhân dân ta và bạn bè quốc tế. Tên tuổi và sự nghiệp của Người còn mãi với non sông đất nước ta, sống mãi trong lòng dân tộc ta và trong trái tim nhân loại. Người để lại cho Đảng ta, nhân dân ta, các thế hệ hôm nay và mai sau một di sản tư tưởng vô cùng quý báu, một tấm gương đạo đức và phong cách, lối sống hết sức sáng ngời!”(9).

Bài viết cũng nêu lên quan điểm về tư tưởng Hồ Chí Minh: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; là kết quả của cả một quá trình vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý báu của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc trên thế giới, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”(10). Trong bài viết, Tổng Bí thư cũng chỉ rõ tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn bó chặt chẽ, mật thiết với nhau: “Đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động, giữa lời nói và việc làm đã trở thành lẽ sống tự nhiên. Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đều tìm thấy trong những lời dạy của Người và từ tấm gương đạo đức cao đẹp của Người, từ phong cách Hồ Chí Minh những chuẩn mực cần học tập, tu dưỡng, rèn luyện để mỗi ngày càng trở nên hoàn thiện hơn, vươn tới những giá trị văn hóa chân - thiện - mỹ trong cuộc sống”(11).

Đặc biệt, trong bài viết “Ra sức học tập, nỗ lực phấn đấu và rèn luyện, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” (Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, của Bộ Chính trị, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”), Tổng Bí thư đã khái quát: “Tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của Đảng ta và nhân dân ta, soi sáng sự nghiệp cách mạng, dẫn dắt mỗi bước đi lên và thắng lợi của cách mạng Việt Nam”(12). Đi đến những luận giải cụ thể, Tổng Bí thư khẳng định: (1) “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm, nhận thức, tư tưởng chỉ đạo rất cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cách mạng và con đường đi lên của cách mạng Việt Nam trong thời đại ngày nay. Đó là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại”(13). Trong đó, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là nội dung cốt lõi, xuyên suốt; (2) “Đạo đức Hồ Chí Minh: Là đạo đức cách mạng, là những phẩm chất cao quý của một người cách mạng. Đó là: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”(14); và (3) “Phong cách Hồ Chí Minh: Là lối sống, tác phong khiêm tốn, giản dị, cầu thị, gần dân, trọng dân, tin dân, học dân, làm việc gì cũng vì lợi ích của nhân dân; là đầy tớ của dân chứ không phải “làm quan nhân dân”, không được lên mặt “làm quan cách mạng”.

LHQ-ST

Sự quán triệt và thể hiện tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

 Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là di sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc Việt Nam, trong đó tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận hợp thành nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Sự quán triệt và thể hiện tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được phân tích sâu sắc trong cuốn sách.

Trong bài viết mở đầu, có tính chất trọng tâm của cuốn sách, khi luận giải về vấn đề “Thực tế có phải hiện nay chủ nghĩa tư bản, kể cả những nước tư bản chủ nghĩa già đời vẫn đang phát triển tốt đẹp không?”, Tổng Bí thư đã chỉ ra những hạn chế không thể khắc phục được của chủ nghĩa tư bản với những khủng hoảng, bất công, “những tình huống phát triển xấu”, “những nghịch lý phản phát triển” về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Từ những sự phân tích sâu sắc và khoa học đó, Tổng Bí thư chỉ rõ: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé”, vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường. Và, chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”(1).

Đây chính là sự quán triệt, thể hiện quan điểm của Hồ Chí Minh khi Người phân tích chỉ ra rằng các cuộc cách mạng tư sản (tiêu biểu như cách mạng tư sản Mỹ và cách mạng tư sản Pháp) về thực chất là những cuộc cách mạng “không đến nơi” và cách mạng Việt Nam chỉ có thể giành được thắng lợi triệt để, chỉ thực sự là một cuộc cách mạng “đến nơi” khi đi theo con đường cách mạng vô sản, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là sự khẳng định giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội, là mục tiêu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn và được thể hiện, minh chứng bằng thực tiễn lịch sử đấu tranh cách mạng oanh liệt, vẻ vang của Đảng và dân tộc.

Bằng sự luận giải khoa học, Tổng Bí thư đã khẳng định: “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc(2).

Cũng trên cơ sở quán triệt, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, trên cơ sở khẳng định: “Đảng ta kiên trì lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng”(3), Tổng Bí thư đã nêu lên chủ trương, đường lối của Đảng về những mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, để đưa công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đến thành công.

Đặc biệt, trên cơ sở các quan điểm chỉ đạo cơ bản, trong đó, điểm trước hết, “tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt”, “vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động” là: “phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(4), Tổng Bí thư đã thay mặt Trung ương Đảng xác định các mục tiêu cụ thể không chỉ trong nhiệm kỳ khóa XIII, mà là tầm nhìn dài hạn đến năm 2030 và 2045. Thực hiện thành công những mục tiêu này sẽ đưa đất nước ta “lập nên những kỳ tích phát triển mới”, “vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và ước vọng của toàn dân tộc”(5).

Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cũng được Tổng Bí thư quán triệt, thể hiện trong các bài khác của cuốn sách, từ nội dung phát biểu trong buổi làm việc với Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đến các ngành nội chính, kiểm tra và giám sát, văn hóa, đối ngoại, Hội đồng Lý luận Trung ương, Công đoàn, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam... Đặc biệt có những bài thể hiện tập trung nhiều về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, như: “Kế tục trung thành sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” (Diễn văn tại Lễ kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 - 19-5-2020)); “Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh soi sáng con đường đi tới tương lai của dân tộc Việt Nam” (Diễn văn tại Lễ kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và kỷ niệm 50 năm Ngày mất của Người); “Ra sức học tập, nỗ lực phấn đấu và rèn luyện, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” (Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”)...

LHQ-ST

Lời Bác dạy ngày 07 tháng 8

 

“Quản lý bộ đội tốt, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần tốt trong mọi hoàn cảnh”.
Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói tại Đại hội Thi đua “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của các lực lượng vũ trang nhân dân” tổ chức ngày 07 tháng 8 năm 1965 tại Thủ đô Hà Nội. Đây là Đại hội đầu tiên của các đơn vị anh hùng, chống Mỹ, cứu nước. Tại Đại hội này có 367 đơn vị quân đội, công an vũ trang và dân quân tự vệ toàn miền Bắc được tặng danh hiệu đơn vị Quyết thắng.
Là người sáng lập và rèn luyện Quân đội ta trưởng thành, lớn mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến sự nghiệp xây dựng, phát triển quân đội một cách toàn diện, chính qui, hiện đại; Người đã dành cả tấm lòng thương yêu vô bờ như tình cảm cha con, bác cháu, đồng chí cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam với sự quan tâm ân cần đặc biệt về mọi mặt.
Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy “Quản lý bộ đội tốt, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần tốt trong mọi hoàn cảnh”, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp trong toàn quân luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, làm tốt công tác giáo dục, quản lý, rèn luyện và chăm lo bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội. Các đơn vị đã làm tốt công tác quản lý bộ đội từ khâu tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ và trong suốt quá trình tại ngũ của người quân nhân với quy trình chặt chẽ, thống nhất; các đơn vị đóng quân và làm nhiệm vụ ở vùng biên giới, hải đảo, nhà giàn DK1… cấp ủy, chỉ huy đơn vị đã có nhiều chủ trương, giải pháp, mô hình, cách làm sáng tạo để bảo đảm tốt nhất đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội bảo đảm cho mọi cán bộ, chiến sĩ yên tâm công tác, gắn bó với đơn vị, nhiều phong trào, mô hình đã được triển khai đạt hiệu quả thiết thực trên thực tế, tiêu biểu: “Đơn vị là nhà, đồng đội là người thân”, “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, bà con các dân tộc là anh em ruột thịt”, “Đảo là nhà, tàu là nhà, biển cả là quê hương”…; cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn tin tưởng và chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội; có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, có ý chí, nghị lực phấn đấu đúng đắn, thường xuyên, liên tục, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.gày 07 tháng 8
“Quản lý bộ đội tốt, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần tốt trong mọi hoàn cảnh”.
Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói tại Đại hội Thi đua “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của các lực lượng vũ trang nhân dân” tổ chức ngày 07 tháng 8 năm 1965 tại Thủ đô Hà Nội. Đây là Đại hội đầu tiên của các đơn vị anh hùng, chống Mỹ, cứu nước. Tại Đại hội này có 367 đơn vị quân đội, công an vũ trang và dân quân tự vệ toàn miền Bắc được tặng danh hiệu đơn vị Quyết thắng.
Là người sáng lập và rèn luyện Quân đội ta trưởng thành, lớn mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến sự nghiệp xây dựng, phát triển quân đội một cách toàn diện, chính qui, hiện đại; Người đã dành cả tấm lòng thương yêu vô bờ như tình cảm cha con, bác cháu, đồng chí cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam với sự quan tâm ân cần đặc biệt về mọi mặt.
Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy “Quản lý bộ đội tốt, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần tốt trong mọi hoàn cảnh”, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp trong toàn quân luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, làm tốt công tác giáo dục, quản lý, rèn luyện và chăm lo bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội. Các đơn vị đã làm tốt công tác quản lý bộ đội từ khâu tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ và trong suốt quá trình tại ngũ của người quân nhân với quy trình chặt chẽ, thống nhất; các đơn vị đóng quân và làm nhiệm vụ ở vùng biên giới, hải đảo, nhà giàn DK1… cấp ủy, chỉ huy đơn vị đã có nhiều chủ trương, giải pháp, mô hình, cách làm sáng tạo để bảo đảm tốt nhất đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội bảo đảm cho mọi cán bộ, chiến sĩ yên tâm công tác, gắn bó với đơn vị, nhiều phong trào, mô hình đã được triển khai đạt hiệu quả thiết thực trên thực tế, tiêu biểu: “Đơn vị là nhà, đồng đội là người thân”, “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, bà con các dân tộc là anh em ruột thịt”, “Đảo là nhà, tàu là nhà, biển cả là quê hương”…; cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn tin tưởng và chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội; có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, có ý chí, nghị lực phấn đấu đúng đắn, thường xuyên, liên tục, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.