Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2024

Tư duy lý luận của Đảng về xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ năm 1991 đến nay

 TCCS - Trong quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, việc xác định mô hình chủ nghĩa xã hội (CNXH) phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam là vấn đề chưa có tiền lệ. Giai đoạn 1954 - 1986, mô hình CNXH của Việt Nam chịu ảnh hưởng khá sâu mô hình CNXH của Liên Xô. Đến Đại hội VII (năm 1991), Đảng bước đầu xác định những đặc trưng của mô hình CNXH ở Việt Nam. Đây là lần đầu tiên nhận thức của Đảng về các đặc trưng của mô hình CNXH được thể hiện một cách hệ thống. Tại Đại hội XI (năm 2011), đặc trưng của mô hình CNXH ở Việt Nam ngày càng sáng rõ. Sự định hình và dần hoàn thiện các đặc trưng mô hình CNXH của Việt Nam là một minh chứng sinh động về sự phát triển tư duy lý luận của Đảng. 

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) lần đầu đề ra những đặc trưng của mô hình chủ nghĩa xã hội phù hợp với thực tiễn của Việt Nam

Trước đổi mới, nhận thức của Đảng về mô hình CNXH ở Việt Nam còn rập khuôn, máy móc, giáo điều theo mô hình của Liên Xô, chưa xuất phát đầy đủ từ hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của thực tiễn đất nước ta. Những khuyết tật, hạn chế của mô hình CNXH này là một trong những nguyên nhân làm cho đất nước rơi vào tình trạng khó khăn, lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội giai đoạn 1975 - 1986. Chính vì thế, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra đường lối đổi mới, từng bước đổi mới tư duy lý luận về mô hình CNXH, đánh dấu bước chuyển to lớn, có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định mô hình CNXH ở Việt Nam.

Sau 5 năm đưa đường lối đổi mới vào thực tiễn, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6-1991) đã tổng kết: “Qua thực tiễn, chúng ta có thêm những nhận thức mới và kinh nghiệm quan trọng về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với đặc điểm nước ta”(1). Trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và trong nước, Đại hội VII thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Việc thông qua Cương lĩnh năm 1991 trong bối cảnh Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu tan rã càng thể hiện bản lĩnh chính trị, trí tuệ của Đảng trước những thách thức hiểm nghèo. Đảng khẳng định: “Sau Đại hội VII, sự tan rã của Liên Xô đã tác động sâu sắc đến nước ta. Đông đảo cán bộ và nhân dân lo lắng, một số người dao động, hoài nghi về tiền đồ của CNXH. Quan hệ kinh tế giữa nước ta với các thị trường truyền thống bị đảo lộn. Trong khi đó, Mỹ vẫn tiếp tục cấm vận. Một số thế lực thù địch đẩy mạnh những hoạt động gây mất ổn định chính trị và bạo loạn lật đổ. Nước ta một lần nữa lại đứng trước những thử thách hiểm nghèo. Đảng và nhân dân ta kiên trì đường lối đổi mới, ra sức thực hiện Nghị quyết của Đại hội VII, vượt qua khó khăn, trở ngại, giành nhiều thắng lợi to lớn”(2). Từ tư duy rập khuôn, máy móc, giáo điều, đến Đại hội VII, tư duy của Đảng có những bước chuyển biến rõ rệt, thể hiện rõ tư duy độc lập, tự chủ. Việc thừa nhận nền kinh tế xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường và hội nhập với kinh tế thế giới có thể được xem là một đột phá quan trọng về tư duy của Đảng khi xây dựng mô hình CNXH.

Nhiều nội dung lý luận, thực tiễn được Cương lĩnh đặt ra, trong đó có nội dung quan trọng là xác định những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa. Lần đầu tiên, cụm từ “Những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa”(3) được đưa vào Văn kiện của Đảng. Đây là một bước phát triển lý luận mang tính đột phá của Đảng, trình bày căn bản quan điểm của Đảng ta về chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân phấn đấu xây dựng.

Đảng xác định mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam gồm 6 đặc trưng cơ bản(4), là những đặc trưng bản chất hay mục tiêu cơ bản của CNXH ở Việt Nam mà nhân dân ta xây dựng và hướng tới dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tất cả những đặc trưng trên đều gắn bó mật thiết với nhau, vừa làm tiền đề, vừa làm cơ sở của nhau. Việc thực hiện thắng lợi nội dung này sẽ tác động tích cực tới việc thực hiện có kết quả các nội dung khác. Quá trình xây dựng đồng thời các nội dung đó sẽ đưa đất nước ta từng bước tiến tới mục tiêu chủ nghĩa xã hội.

Cùng với việc Cương lĩnh năm 1991 xác định những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa, nhận thức của Đảng về CNXH đã tiệm cận tới những nét bản chất của CNXH trong điều kiện Việt Nam. Mô hình CNXH ở Việt Nam lần đầu tiên được nhận diện và khắc phục bước đầu tư duy máy móc, giáo điều, rập khuôn theo mô hình Liên Xô trước đây. Mặc dù chưa hoàn toàn đầy đủ, song các đặc trưng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quan hệ đối nội và đối ngoại đã tạo cơ sở để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hiện thực hóa thành chế độ xã hội có cơ sở hạ tầng phù hợp với kiến trúc thượng tầng, đưa đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội. Đây là lần đầu tiên, trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội, Đảng đã khái quát được một hệ thống tư tưởng, quan điểm chỉ đạo vừa nhằm mục đích thúc đẩy công cuộc đổi mới tiến lên, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó, đáng chú ý là giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Trên cơ sở nhận thức đúng đắn, đầy đủ hơn về mô hình CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, đến Đại hội IX của Đảng (tháng 4-2001) tiếp tục có nhận thức mới về mô hình CNXH của Việt Nam, với việc lần đầu tiên chính thức đưa ra khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đại hội khẳng định: Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược nhất quán, là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam. Mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam là phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp trên cả ba mặt: sở hữu, quản lý và phân phối. Lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay, nhằm sử dụng kinh tế thị trường để thực hiện mục tiêu từng bước quá độ lên CNXH. Đây là kết quả sau nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết thực tiễn và là bước phát triển mới về tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) với việc định hình ngày càng sáng rõ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Tư duy, nhận thức mới về mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam của Đảng tiếp tục được phát triển, thể hiện rõ nét trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội XI (năm 2011). Với Cương lĩnh năm 2011, Đảng có bước phát triển nhận thức về các đặc trưng để phù hợp với thuộc tính, bản chất CNXH Việt Nam. Cương lĩnh năm 2011 xác định 8 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”(5).

So với Cương lĩnh năm 1991, Cương lĩnh năm 2011 tiếp thu, kế thừa có chọn lọc các nội dung phản ánh trong 6 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa, đồng thời  điều chỉnh, bổ sung, phát triển để có được 8 đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Nhận thức mới của Đảng được thể hiện ở một số vấn đề sau:

Thứ nhất, Cương lĩnh 2011 bổ sung thêm 2 đặc trưng: (i) Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; (ii) Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Đặc trưng bao trùm, tổng quát thể hiện mục tiêu chung của công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam hiện nay là: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đặc trưng này là kết quả của sự kết hợp quan điểm Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa cần đạt tới. Cụm từ “dân chủ” được Cương lĩnh đặt lên trước các cụm từ “công bằng”, “văn minh” nhằm làm rõ hơn: Dân chủ xã hội chủ nghĩa thể hiện bản chất ưu việt, tiến bộ hơn so với dân chủ tư sản, song phải được xây dựng, phát triển thường xuyên và lâu dài, phải coi dân chủ là tiền đề, điều kiện của công bằng, văn minh, khắc phục tư tưởng chỉ coi dân chủ XHCN là động lực, là cái có sẵn sau khi thiết lập chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, ở đặc trưng “do nhân dân làm chủ”, đổi mới trong tư duy của Đảng là nền dân chủ xã hội vừa mang bản chất giai cấp công nhân, vừa mang tính nhân dân rộng rãi. Đặc trưng này vừa thể hiện bản chất chính trị ưu việt của CNXH theo quan điểm Mác - Lê-nin, đồng thời tiếp thu quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ: người dân là chủ, dân làm chủ.

Thứ ba, đặc trưng về kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa. Nếu như Cương lĩnh năm 1991 xác định: có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, thì Cương lĩnh 2011 chỉ rõ: có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp. Điểm mới này vừa thể hiện những thành quả của cả 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, vừa làm rõ hơn thái độ nhất quán của Đảng trong thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, khắc phục nhận thức coi nhẹ đối với các thành phần kinh tế thuộc chế độ sở hữu tư nhân.

Thứ tư, đặc trưng về xã hội, con người. Điểm mới của Cương lĩnh năm 2011 thể hiện điểm trọng tâm về con người và quan hệ xã hội giữa người với người, giữa con người với xã hội, “có điều kiện phát triển toàn diện” thay cho “có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân”. Phát triển toàn diện các lĩnh vực đức, trí, thể, mĩ của cá nhân con người, ngăn ngừa khắc phục tư duy máy móc: phát triển cá nhân là tuyệt đối hóa cá nhân trong quan hệ với tập thể, cộng đồng, xã hội.

Thứ năm, đặc trưng về dân tộc, quan hệ giữa các tộc người trong quốc gia đa dân tộc Việt Nam. Cương lĩnh năm 2011 làm rõ hơn cộng đồng các dân tộc Việt Nam bao gồm cả tộc người, cư dân trong nước và cư dân Việt Nam ở nước ngoài; đồng thời bổ sung thêm nội dung “tôn trọng” để hoàn thiện nội dung bao trùm nhất của chính sách dân tộc là thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển.

Thứ sáu, về quan hệ đối ngoại. Cương lĩnh năm 2011 làm rõ hơn quan hệ hữu nghị, hợp tác không chỉ với nhân dân các nước nói chung, mà là quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước trên thế giới, bao gồm cả các nước, các thể chế chính trị khác nhau trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay.

Những đặc trưng trên là nội dung của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam, một thành tựu phát triển sáng tạo lý luận riêng có của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ nghiên cứu tổng kết thực tiễn thường xuyên từ năm 1991, sau 20 năm thực thi Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội XI đã quyết định giữ nguyên tên của Cương lĩnh năm 1991 (chỉ ghi thêm bổ sung, phát triển năm 2011). Điều này thể hiện tính nhất quán của Đảng khi xác định vai trò to lớn của Cương lĩnh là nền tảng chính trị tư tưởng cho toàn bộ hoạt động của Đảng, Nhà nước, của toàn xã hội trong quá trình xây dựng CNXH trong suốt thời kỳ quá độ. Theo đó, các đặc trưng thể hiện mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thường xuyên được bổ sung, đổi mới để có những nhận thức mới, nhận thức đúng về các thuộc tính bản chất của CNXH Việt Nam.

Những đặc trưng của mô hình CNXH ở Việt Nam trong Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 tiếp tục được cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé”, vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường. Và, chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”(6).

Để hiện thực hóa được mô hình này là cả một sự nghiệp lâu dài, gian khổ, phải đầu tư sức người, sức của to lớn, phải sáng tạo không mệt mỏi, đặc biệt là phải suy nghĩ, tìm tòi lộ trình và bước đi hợp lý, cách làm đúng đắn để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra phù hợp với thực tiễn đất nước. Việc hiện thực hóa các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa góp phần củng cố niềm tin, tạo ra động lực mới, khí thế mới để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững vàng vượt qua khó khăn, thách thức, tận dụng thời cơ, thuận lợi, đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới.

Trải qua 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991 đến Cương lĩnh năm 2011 và đến nay, có thể thấy, tư duy lý luận của Đảng về mô hình CNXH ngày càng sáng rõ hơn. Đảng xác định được mô hình CNXH phù hợp với đặc điểm, thực tiễn của Việt Nam. Những đặc trưng phản ánh các thuộc tính của CNXH ở Việt Nam ngày càng được nhận thức đúng, rõ ràng, thiết thực hơn trên các phương diện liên quan…, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hiện thực hóa, thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng nước Việt Nam: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trong thời gian tới, cùng với quá trình phát triển của thực tiễn và nhận thức, cùng với việc đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tăng cường tổng kết thực tiễn trong quá trình lãnh đạo xây dựng mô hình CNXH ở Việt Nam, Ðảng ta sẽ tiếp tục bổ sung, phát triển hơn nữa lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta, góp phần xây dựng được mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa hoàn thiện với những đặc trưng thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, mang sắc thái riêng của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Sự vận động và biến đổi của thế giới hiện nay, của thực tiễn xây dựng CNXH sẽ tiếp tục cung cấp thêm những cứ liệu mới để bổ sung cho nhận thức lý luận của Đảng ta về mô hình CNXH và con đường để thực hiện mô hình đó ở Việt Nam./.

 

 

Mỗi người dân là một “pháo đài” chống các luận điệu sai lệch của kẻ xấu

 


Với những luận điệu phi thực tế, thời gian qua, xuất hiện tình trạng một số kẻ xấu đã đến tận các bản làng vùng cao, vùng sâu, vùng xa để tuyên truyền, lôi kéo người dân thiếu hiểu biết tin theo vào các đạo lạ, tà đạo trái pháp luật.

Quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

 

Bối cảnh quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với sự phát triển mạnh mẽ của các công nghệ tiên tiến, như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data) và điện toán đám mây (Cloud)… đã và đang làm thay đổi sâu sắc phương thức quản trị quốc gia và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đối với Việt Nam, sự thay đổi này mang lại cả cơ hội và thách thức, khi quốc gia không chỉ phải nâng cao hiệu quả quản trị, mà còn phải nắm bắt thời cơ để đẩy nhanh tốc độ phát triển, tránh nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Trong bối cảnh này, khát vọng phát triển trở thành động lực thúc đẩy toàn xã hội, nhằm đưa Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập cao, xã hội thịnh vượng và sánh vai với các cường quốc năm châu. Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định dấu mốc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Thời điểm bắt đầu kỷ nguyên mới là Đại hội XIV của Đảng; từ đây, mọi người dân Việt Nam, hàng trăm triệu người như một, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng tâm hiệp lực, chung sức, đồng lòng, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, đưa đất nước phát triển toàn diện, mạnh mẽ, bứt phá và cất cánh. Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN), sánh vai với các cường quốc năm châu. Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước XHCN phát triển, có thu nhập cao; khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại(1). Để hiện thực hóa khát vọng này, hệ thống quản trị quốc gia phải phát huy tối đa vai trò kiến tạo và thúc đẩy toàn diện các lĩnh vực; đồng thời, duy trì sự ổn định và đồng thuận trong xã hội.

Thách thức và cơ hội từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư: Việt Nam cần nhanh chóng nắm bắt và ứng dụng các tiến bộ này trong quản trị quốc gia nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển. Việc phát triển nền kinh tế số, xã hội số, chính phủ số là trọng tâm để bảo đảm hiệu quả và sự cạnh tranh trong dài hạn. Đây không chỉ đơn thuần là áp dụng công nghệ, mà còn là cách mạng về tư duy, đòi hỏi năng lực thích ứng cao từ hệ thống pháp lý, hạ tầng kỹ thuật đến nguồn nhân lực. Nếu chậm chân trong cuộc đua này, Việt Nam có nguy cơ tụt hậu và bị ảnh hưởng bởi sự phụ thuộc vào các quốc gia đi trước trong lĩnh vực công nghệ số.

Nhu cầu về một phương thức quản trị quốc gia linh hoạt và thích ứng: Theo báo cáo phát triển con người của Liên hợp quốc, các quốc gia hiện nay đang đối mặt với môi trường biến động và phức tạp, đòi hỏi một phương thức quản trị linh hoạt, có khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi. Người dân kỳ vọng vào một hệ thống minh bạch, hiệu quả, có khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững trong bối cảnh quốc gia chịu tác động bởi biến đổi khí hậu, an ninh phi truyền thống và những biến động kinh tế - xã hội phức tạp.

Chuyển đổi tư duy quản trị: Từ quản lý đến kiến tạo phát triển: Việt Nam đang chuyển hướng từ quản lý theo kiểu truyền thống sang một nền quản trị dựa trên sự tham gia của nhiều thành phần trong xã hội. Điều này đòi hỏi Nhà nước phải tạo điều kiện cho các chủ thể khác tham gia sáng tạo và phát triển; đồng thời, khuyến khích hợp tác, sáng tạo và minh bạch trong hệ thống quản trị. Chính phủ hiện đại không chỉ là chủ thể cung ứng dịch vụ công, mà còn là người bảo đảm an sinh xã hội và điều kiện phát triển bền vững.

Bối cảnh nội tại và những thách thức đặc thù của Việt Nam: Việt Nam hiện là một trong 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và đứng trong nhóm 20 quốc gia hàng đầu về thu hút đầu tư nước ngoài, nhờ vị thế địa lý và tiềm lực phát triển cao. Tuy nhiên, các thách thức vẫn còn, như tình trạng già hóa dân số và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Chính quyền cần phát huy hiệu quả thời gian còn lại để thực hiện kỳ vọng đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia phát triển.

 

Đặc trưng của quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả

Sự vận động và phát triển của xã hội kéo theo những đòi hỏi và yêu cầu đổi mới, cải cách phương thức vận hành, quản trị nhà nước, quản trị quốc gia thích ứng với từng giai đoạn lịch sử.

Xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả trở thành tất yếu khách quan đối với mỗi quốc gia trong quá trình phát triển. Tại Việt Nam, đây cũng là một nội dung quan trọng, có tính cấp thiết đặt ra trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đại hội XIII của Đảng đề ra mục tiêu tới năm 2045, Việt Nam là nước phát triển có thu nhập cao, quốc gia hùng cường, nhân dân hạnh phúc. Để đạt mục tiêu này, Đại hội XIII của Đảng cũng xác định rõ: “Đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, cạnh tranh hiệu quả”(2) là một trong những nội dung của khâu đột phá đầu tiên trong ba đột phá chiến lược (hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ) đưa đất nước phát triển.

Nội hàm khái niệm quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả không phải là nói tới mô hình hay kiểu nhà nước mới, mà nói tới phương thức quản trị nhà nước, quản trị quốc gia theo các nguyên tắc, chuẩn mực mang tính phổ quát để thích ứng với bối cảnh mới. Quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả ở Việt Nam được hiểu chính là quá trình Nhà nước với vai trò là trung tâm dựa trên những nguyên tắc, chuẩn mực phổ quát của quản trị tốt, sử dụng các công cụ, phương tiện, phương thức phù hợp huy động mọi nguồn lực của quốc gia và sự tham gia của các chủ thể trong xã hội để ban hành, tổ chức thực hiện các quyết sách, mục tiêu chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm đưa quốc gia phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả(3).

Đặc trưng của quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả mà chúng ta hướng tới là:

- Sự tham gia rộng rãi của người dân và các chủ thể trong xã hội:

Sự vận động và phát triển của xã hội trong bối cảnh mới đang làm thay đổi, dịch chuyển các cấu trúc và phương thức vận động của sự phát triển. Mô hình quản trị hiện đại cần gắn kết đa chiều giữa Nhà nước, xã hội, thị trường. Từ vị trí trung tâm, Nhà nước đảm nhận vai trò kiến tạo “khung khổ pháp lý - luật chơi” và “xác lập các thiết chế - sân chơi”, bảo đảm cho mọi thành phần đều có không gian đóng góp vào sự phát triển của quốc gia, không chỉ với tư cách là đối tượng quản lý, mà còn là các chủ thể đồng hành có trách nhiệm, bổn phận vì lợi ích chung.

Trong nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả, vai trò của người dân và các chủ thể ngoài nhà nước không chỉ giới hạn ở việc tuân thủ các chính sách, pháp luật, mà còn bao gồm quyền tham gia trực tiếp vào giám sát, phản biện, đóng góp cho sự phát triển xã hội.

Để thúc đẩy sự tham gia của người dân, cần thiết lập các cơ chế pháp lý cụ thể, bảo đảm quyền và trách nhiệm của người dân trong việc giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tham gia phản biện, đóng góp ý kiến vào các quyết sách. Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm công khai thông tin liên quan đến những vấn đề mà người dân quan tâm, bảo đảm tính minh bạch; từ đó, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thông tin chính xác và đầy đủ. Đồng thời, việc phản hồi và giải trình từ phía chính quyền về các ý kiến, kiến nghị của người dân cần được thực hiện kịp thời và nghiêm túc. Điều này giúp hình thành một kênh đối thoại hai chiều giữa Nhà nước và người dân, tăng cường niềm tin vào bộ máy công quyền, cũng như củng cố sự đồng thuận trong xã hội. Sự tham gia chủ động của người dân sẽ góp phần bảo vệ lợi ích công, ngăn ngừa tham nhũng, lạm quyền, và tạo sự cân bằng, hài hòa giữa Nhà nước và xã hội trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia.

- Pháp quyền và trách nhiệm của Nhà nước:

Nhà nước cần có hệ thống pháp luật đầy đủ, dân chủ và mang tính pháp quyền cao. Pháp luật phải dựa trên yêu cầu thực tiễn và là công cụ hỗ trợ phát triển, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mọi công dân và tổ chức; đồng thời, bảo đảm kiểm soát quyền lực và duy trì trật tự xã hội.

Thứ nhất, Nhà nước phải có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh. Nhưng, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền cần được tiếp cận theo hướng: Nhà nước pháp quyền là nhà nước “tiết kiệm pháp luật”, không được lạm dụng pháp luật. Luật ban hành phải xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn, nhằm tạo khuôn khổ thể chế để kiến tạo, hỗ trợ cho sự phát triển, không phải lạm dụng pháp luật để cản trở, kìm hãm sự phát triển xã hội.

Thứ hai, phải xem pháp luật là tối thượng. Mọi chủ thể trong xã hội phải luôn có tinh thần thượng tôn pháp luật, phán quyết bằng pháp luật và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của mọi công dân, tổ chức.

Thứ ba, pháp luật thực sự dân chủ. 

Thứ tư, có cơ chế giám sát và kiểm soát quyền lực của Nhà nước. Thiết kế pháp luật nhất là về bộ máy nhà nước, không chỉ là trao quyền cho cơ quan nhà nước hoạt động, mà còn là phương thức để kiểm soát quyền lực của các cơ quan nhà nước. Bảo đảm mọi hoạt động của cơ quan nhà nước phải được kiểm soát, hợp pháp, hợp lý và hướng tới sự bảo vệ giá trị công, lợi ích công. Không có tư lợi, vụ lợi, “lợi ích nhóm”, tham nhũng trong hoạt động xây dựng và thực thi pháp luật.

Thứ năm, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính chuyên nghiệp và một hệ thống tư pháp độc lập, nhằm tránh sự tùy tiện trong việc áp dụng pháp luật và bảo đảm công lý được thực thi.

Thứ sáu, tôn trọng, bảo đảm và hiện thực hóa pháp luật. Chú trọng hướng tới tính khả thi, tính hợp lý, tính hiệu quả và các điều kiện để pháp luật được thực hiện.

Thứ bảy, pháp luật bảo đảm duy trì trật tự và ổn định đất nước, người dân sống một cuộc sống hạnh phúc. Pháp luật sinh ra là để bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Pháp luật để trừng trị hành vi cố tình vi phạm, không phải nhằm mục đích cai trị, cai quản con người. Hình thành hệ thống pháp luật để tạo khung khổ pháp lý với mục đích tạo điều kiện để công dân được bảo vệ, được sáng tạo, và phát huy tốt nhất năng lực của mình.

Điều kiện của nguyên tắc pháp quyền trong quản trị quốc gia là trách nhiệm của Nhà nước trong việc xác lập và bảo đảm nền chính trị dân chủ; nhận thức của công dân về dân chủ, pháp luật và đạo đức được nâng cao; cải cách hệ thống lập pháp, hệ thống tư pháp và hoàn thiện hệ thống giám sát, phản biện xã hội.

- Công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình:

Trong bối cảnh mới với công nghệ số và sự tham gia rộng rãi của người dân và toàn xã hội, mọi thứ không còn là bí mật, mọi hoạt động của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức cần vận hành theo nguyên tắc “tối đa hóa công khai” và “tối thiểu hóa bí mật”. Mọi hoạt động của cơ quan nhà nước cần vận hành theo nguyên tắc công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, đặc biệt trong việc ra quyết sách và cung cấp thông tin liên quan đến lợi ích của người dân. Trách nhiệm giải trình giúp gia tăng niềm tin và sự tham gia của xã hội; đồng thời, tạo môi trường lành mạnh, ngăn ngừa tình trạng thông tin sai lệch, tin giả.

Trách nhiệm giải trình bao gồm 2 nội dung là: Năng lực giải trình và chịu trách nhiệm trước hậu quả xảy ra của cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức khi thực thi công vụ.

Yêu cầu của công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản trị quốc gia bao gồm các nội dung: 1- Nghĩa vụ cung cấp thông tin của cơ quan nhà nước và công chức về hành động và các quyết sách của mình khi có yêu cầu của các chủ thể: Cơ quan lập pháp, tư pháp, hành pháp, của người dân và xã hội. 2- Cơ chế để bảo đảm người dân và các chủ thể trong xã hội có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước và công chức phải có trách nhiệm giải trình về hành động và các quyết sách của mình. 3- Nghĩa vụ cung cấp thông tin một cách khách quan, công bằng, minh bạch và đúng sự thật về hoạt động của cơ quan nhà nước, của công chức. 4- Nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật và bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của các chủ thể trong xã hội. 5- Trách nhiệm của Nhà nước và công chức về hậu quả của những hành vi và quyết sách của mình.

Khi Nhà nước và công chức thực hiện được trách nhiệm giải trình sẽ xây dựng nên một cơ chế thông tin đối thoại, tham vấn thông suốt giữa một bên là Nhà nước và một bên là công dân và xã hội. Đó cũng là cách thức gia tăng niềm tin của người dân vào nhà nước liêm chính, nhà nước phục vụ.

Do đó, cần xem công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình không chỉ là nghĩa vụ, là sự bị động của chính quyền và cán bộ, công chức, mà còn là quyền và sự chủ động cung cấp thông tin, giải thích và chịu trách nhiệm của chính quyền và cán bộ, công chức trước nhân dân, xã hội về những việc mà chính quyền đã, đang và sẽ làm.

- Quản trị nhằm đáp ứng kỳ vọng của người dân và xã hội ở mức cao:

Kỳ vọng của bất cứ người dân nào vào chính quyền tập trung ở hệ thống chính sách an sinh xã hội và các bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Kỳ vọng của người dân và xã hội đề cập đến mức độ mà mọi người có thể tham gia vào đời sống xã hội và kinh tế của cộng đồng, đem lại hạnh phúc cho người dân. Người dân luôn được đặt ở vị trí trung tâm trong các quyết sách của chính quyền. Chỉ số hạnh phúc, sự thụ hưởng và hài lòng của người dân cần trở thành chỉ số quan trọng để hoạch định và đánh giá chính sách.

Trong kỷ nguyên phát triển từ GDP sang kỷ nguyên hạnh phúc, tiếp cận hạnh phúc trong phân tích chính sách là một kênh thông tin mới bổ sung cho cách tiếp cận truyền thống, giúp các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn trong việc đưa ra những quyết sách điều hành đất nước. Bảo đảm sự đồng bộ trong xây dựng và thực hiện chính sách xã hội với các chính sách kinh tế, chính sách văn hóa, lao động và việc làm. Và vì vậy, trong quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả cần có tư duy tiếp cận hạnh phúc, đưa các yếu tố, chỉ số đo lường về sự thụ hưởng, sự hài lòng của người dân trong cả 3 giai đoạn: Hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách, pháp luật của Nhà nước; từ đó, đáp ứng sự kỳ vọng của người dân, và củng cố niềm tin của người dân đối với Nhà nước.

Trong quản trị quốc gia hiện đại, những thay đổi mới về nhu cầu của con người trong bối cảnh mới đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với việc đổi mới và xây dựng chính sách xã hội. Vì vậy, Đại hội XIII của Đảng cũng đã xác định: “Xây dựng các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội phù hợp, giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát phân tầng xã hội và xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Gắn chính sách phát triển kinh tế với chính sách xã hội, quan tâm lĩnh vực công tác xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân”(4). “Phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, tiến tới bao phủ toàn dân với các chính sách phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro cho người dân, bảo đảm trợ giúp cho các nhóm đối tượng yếu thế. Cải cách hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng dựa trên nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ - bền vững”(5).

- Quản trị tạo sự đồng thuận và công bằng xã hội:

Quản trị quốc gia hiện đại hướng tới sự đồng thuận cao, dựa trên giá trị công lý và công bằng xã hội. Đồng thuận này không phải là sự phục tùng, mà là kết quả của quá trình điều hòa lợi ích giữa các chủ thể trong xã hội, tạo nền tảng cho xã hội ổn định, phát triển hài hòa.

Cơ sở của đồng thuận chính là sự tương đồng dựa trên những giá trị, chuẩn mực chung. Trong quản trị quốc gia, cần có cách thức để tìm được sự đồng thuận giữa xã hội và chính phủ thông qua các hoạt động nhằm điều hòa lợi ích của người dân, của các tổ chức và của Nhà nước; có như vậy, mới thiết lập được một xã hội có tính đồng thuận cao và bảo đảm được lợi ích của cả cộng đồng.

Quản trị quốc gia hiện đại hướng tới mục tiêu tạo sự đồng thuận, dựa trên công lý, bình đẳng về quyền, nghĩa vụ, cơ hội, không phải các giá trị thực dụng (thiểu số phục tùng đa số). Để đạt được sự đồng thuận, thể chế phải bảo đảm cho sự công bằng được thực hiện trên thực tế. Nhà nước cần nhận thức được rằng, mọi người đều có khả năng và cơ hội trở thành người vượt trội. Thể chế công bằng tạo cơ hội phát triển toàn diện phù hợp với năng lực và điều kiện của mỗi cá nhân. Không ai bị bỏ lại phía sau. Không ai bị tụt hậu trong sự phát triển chung của xã hội.

- Trách nhiệm quốc gia trong tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu:

Trong bối cảnh thế giới hiện nay, không một quốc gia nào có thể đứng ngoài cuộc trước những vấn đề toàn cầu, như môi trường, dịch bệnh, an ninh phi truyền thống... Quá trình toàn cầu hóa cũng làm cho các quốc gia phụ thuộc lẫn nhau, đan xen các lợi ích trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Sự cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia thúc đẩy việc tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu để nâng cao vị thế, vai trò, tầm ảnh hưởng của quốc gia trên trường quốc tế. Trách nhiệm quốc gia trong tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu trở thành đặc điểm quan trọng của quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả.

Thách thức đặt ra cho mỗi quốc gia sẽ là làm thế nào để luôn “đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trước hết, trên hết” nhưng vẫn tuân thủ những chuẩn mực, giá trị chung của nhân loại. Không bị kéo theo sự cạnh tranh của các nước lớn để vẫn giữ được sự tôn trọng, độc lập, chủ quyền, tự chủ, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Các bên cùng thắng, cùng có lợi trong môi trường đa chủ thể và cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia.

- Quản trị hướng tới mục tiêu phát triển bền vững:

Quản trị hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở 3 trụ cột: Bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường, vừa đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại, vừa không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai. Quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả hướng tới mục tiêu phát triển bền vững yêu cầu chính phủ mỗi quốc gia cần xây dựng: 1- Hệ thống quản lý phát triển bền vững; 2- Hệ thống pháp luật để phát triển bền vững; 3- Phát triển bền vững hệ thống khoa học và công nghệ; 4- Hệ thống giáo dục bền vững; 5- Sự tham gia của cộng đồng vào phát triển bền vững.

- Tính hiện đại, hiệu quả xuyên suốt trong quản trị quốc gia:

Quản trị quốc gia suy cho cùng là hướng đến giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra trong điều kiện nhu cầu thì vô hạn nhưng nguồn lực thì luôn hữu hạn và môi trường biến đổi không ngừng. Trong bối cảnh mà các hành vi và các mối quan hệ xã hội vận động và phát triển theo hướng cái sau mới hơn, tiến bộ hơn, hiện đại hơn cái trước đặt ra thách thức cho nhà quản trị phải có công cụ và phương pháp quản trị hiện đại, phù hợp với sự vận động và phát triển của xã hội. Khoa học - công nghệ được xem là chìa khóa, giữ vai trò then chốt cho sự phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia.

Để đạt được mục tiêu trên, quản trị quốc gia trước hết cần sự thống nhất nhận thức đổi mới tư duy về xây dựng quốc gia số thực chất là cuộc cách mạng về thể chế để nâng cao năng suất và chất lượng, hiệu quả quản trị điều hành kinh tế - xã hội trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia. Muốn vậy, cần tập trung vào hoàn thiện thể chế pháp lý cho việc vận hành chính phủ số, quốc gia số; nâng cao năng lực của bộ máy và đội ngũ công quyền; xây dựng nền tảng hạ tầng số quốc gia; hoàn thiện cơ sở dữ liệu quản trị quốc gia và đẩy mạnh phát triển ứng dụng công nghệ số vào cung cấp dịch vụ cho chính quyền, người dân, doanh nghiệp.

Hiệu quả là các kết quả, lợi ích đạt được khi đặt trong mối tương quan so sánh giữa chi phí và mục tiêu định trước. Quản trị quốc gia hiệu quả thực chất là việc giải quyết, đáp ứng tốt nhất các nhu cầu của xã hội với chi phí thấp nhất, nhưng mục tiêu đạt được cao nhất. Đo lường hiệu quả quản trị quốc gia xét trên tổng thể các phương diện. Về kinh tế, là sự phân bổ hợp lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực kinh tế thông qua các chỉ số phản ánh: Sự tăng trưởng, phát triển kinh tế, thu nhập bình quân đầu người... Về xã hội, là việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực kinh tế - xã hội để bảo đảm an sinh xã hội, tăng thu nhập cho người dân, tăng tỷ lệ việc làm, gia tăng các phúc lợi xã hội, chất lượng cuộc sống, sự hài lòng, hạnh phúc của người dân… Về chính trị, là năng lực, trình độ huy động mọi nguồn lực quốc gia để thực hiện các quyết sách chính trị, củng cố niềm tin, gia tăng sự đồng tình, ủng hộ của người dân và xã hội vào sự lãnh đạo của bộ máy công quyền.

Giải pháp xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Một là, nâng cao nhận thức của mọi chủ thể trong xã hội về khát vọng phát triển quốc gia.

Cần nâng cao nhận thức và hành động của triệu người như một, mọi chủ thể trong xã hội cùng chung niềm tự hào, tự tôn dân tộc cùng chung khát vọng, mục tiêu chiến lược phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc như chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm: “Đó là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu. Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu… đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao(6). Thống nhất được khát vọng, tầm nhìn phát triển của dân tộc sẽ thay đổi nhận thức và hành động của các chủ thể, là cơ sở để đoàn kết mọi lực lượng trong xã hội, vượt lên sự khác biệt, khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp, vượt qua khó khăn, thử thách, tận dụng thời cơ, vận hội, chung tay xây dựng quốc gia hùng cường, xã hội phồn vinh, nhân dân hạnh phúc.

Hai là, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng trong tình hình mới.

Bước vào thời kỳ mới với những tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ của tình hình trong nước, quốc tế diễn biến nhanh và khó lường, Đảng ta phải giải quyết một loạt các vấn đề để vừa phát huy vai trò, thẩm quyền và trách nhiệm, năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, vừa phát huy vai trò, thẩm quyền, trách nhiệm, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước theo luật định. Cùng với đó, việc phân định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cơ quan, tổ chức đảng và cơ quan nhà nước cũng như thẩm quyền, trách nhiệm giữa tập thể lãnh đạo, người đứng đầu các cơ quan, tổ chức đảng với người đứng đầu cơ quan nhà nước cũng phải rõ ràng, rành mạch. Tổ chức bộ máy của các cơ quan đảng cũng phải được thiết kế, tổ chức một cách tinh gọn nhất, tránh chồng chéo, hoặc song trùng quyền lực giữa cơ quan của Đảng và của Nhà nước.

Xây dựng cơ cấu hợp lý cả về số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong Đảng có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ, phẩm chất, năng lực nổi trội, có quyết tâm đổi mới sáng tạo, có tâm huyết, khát vọng cống hiến. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ chủ chốt, cán bộ cấp chiến lược phải có bản lĩnh, có tâm huyết, có tư duy, tầm nhìn và khát vọng cống hiến, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, đổi mới sáng tạo, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung, tinh thông nghề nghiệp, có tác phong làm việc khoa học, chuyên nghiệp.

Kiên định đường lối lãnh đạo của Đảng; đồng thời, nâng cao năng lực quản trị khoa học, bảo đảm dân chủ và quản trị theo pháp luật. Tính khoa học thể hiện ở việc mọi quyết sách của Đảng phù hợp với quy luật khách quan, thực tiễn đang diễn ra cũng như dự báo, lấy lợi ích của nhân dân làm trung tâm. Tính dân chủ thể hiện ở việc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng là hạt nhân để thực hiện dân chủ trong xã hội và đoàn kết toàn dân.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bảo đảm tính chính trị, cách mạng, hiện đại, thích ứng linh hoạt với thời cuộc. Đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, giám sát hệ thống quản trị quốc gia và năng lực quản trị của Nhà nước. Phải liên tục nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng thích ứng với tình hình và bối cảnh mới trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Ba là, xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật kiến tạo phát triển.

Để xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả, Việt Nam cần tập trung vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế theo hướng dân chủ, pháp quyền, kiến tạo sự phát triển theo đúng quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Cần có sự đột phá về tư duy để giải quyết bài toán thể chế là “điểm nghẽn” của “điểm nghẽn”(7). Muốn vậy, trước hết cần đổi mới tư duy trong xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật theo hướng:

- Trong kỷ nguyên mới, thể chế, chính sách, pháp luật là động lực, là nguồn lực kiến tạo cho sự phát triển.

Chính sách, pháp luật được ban hành là để giải quyết các vấn đề gắn liền với yêu cầu, đòi hỏi phát sinh từ thực tiễn. Thể chế, chính sách là nguồn lực kiến tạo sự phát triển. Do đó, phải áp dụng cách tiếp cận thực tế và thực tiễn trong xây dựng và thực hiện chính sách pháp luật; bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước, giải đáp các vướng mắc của cuộc sống và tìm ra con đường phát triển từ thực tiễn. Chủ động trong nghiên cứu, xây dựng chính sách, pháp luật cho những vấn đề mới, xu hướng mới để tạo hành lang pháp lý cho sự vận hành nền kinh tế số, xã hội số, chính phủ số, quốc gia số. 

Xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật cần dịch chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển. Dịch chuyển từ tư duy “chọn cho” sang tư duy “chọn bỏ” trong hoạch định, thực thi chính sách, pháp luật; để chấm dứt tư duy “xin - cho”, cung cấp kiểu ban ơn, dễ phát sinh những nhũng nhiễu, tiêu cực trong hoạt động của cơ quan công quyền sang tư duy “yêu cầu - đáp ứng” hướng tới sự cung cấp dịch vụ, đáp ứng sự hài lòng và thúc đẩy quan hệ hợp tác, chia sẻ giữa các chủ thể. Khi xây dựng chính sách, pháp luật quán triệt quan điểm thay đổi cách tiếp cận từ đặt nặng vào quy định xác lập “nghĩa vụ” sang chú trọng thiết lập quy định “bảo vệ và bảo đảm quyền” của các bên liên quan.

 Dịch chuyển từ tư duy thực hiện pháp luật không chỉ là “trách nhiệm công vụ”, mà còn hướng tới phải thấm nhuần tư duy “trách nhiệm phục vụ” người dân, xã hội trong xây dựng và thực hiện pháp luật. Bảo đảm các quy định đối với Nhà nước, cán bộ, công chức “được phép làm những gì pháp luật quy định, cho phép”; đối với công dân “được phép làm những gì pháp luật không cấm”, chấm dứt tư duy “không quản được là cấm” để kiến tạo sự phát triển.

- Thể chế, chính sách, pháp luật hướng tới sự hạnh phúc của nhân dân.

Hạnh phúc là giá trị văn hóa cao nhất, là mục tiêu, khát vọng mong đợi mà mỗi quốc gia muốn đem lại cho mọi người dân trong quá trình tổ chức và thực thi chính sách. Chỉ số hạnh phúc của người dân, của quốc gia là “dự báo” cho sự phát triển toàn diện, bền vững của mỗi quốc gia. Từ việc chỉ chú trọng vào các chỉ số phát triển kinh tế, giờ đây khi tiếp cận hạnh phúc trong phân tích chính sách, pháp luật, Nhà nước sẽ đặt các chỉ tiêu kinh tế trong mối tương quan với các tiêu chí về an toàn, an lành, sự thân thiện, nhân văn, những trải nghiệm và cảm xúc tích cực bên trong của từng cá nhân trong xã hội. Cách tiếp cận hạnh phúc phải được thể hiện cả ở giai đoạn xây dựng, hoàn thiện; tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách, pháp luật. Vì vậy, những nhà quản lý, lãnh đạo quốc gia sẽ có cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn trong việc đưa ra những quyết sách điều hành đất nước.

- Thể chế, chính sách, pháp luật thiết lập và vận hành bộ máy trong hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh, hiệu lực, hiệu quả.

Tái cấu trúc tổng thể bộ máy trong toàn hệ thống chính trị theo đúng tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”(8) nhằm mục tiêu cao nhất là tối đa hóa giá trị tạo ra và nâng cao chất lượng phục vụ người dân. Thiết kế và vận hành bộ máy trong hệ thống chính trị dựa trên nguyên tắc khoa học tổ chức, phù hợp thực tiễn và bảo đảm hiệu năng tối ưu của toàn hệ thống. Đặc biệt, việc thiết kế phải bảo đảm mỗi tổ chức công trong hệ thống được đặt đúng vị trí, đúng vai trò và đúng chức năng, để bộ máy công quyền thật sự là một cỗ máy tạo ra giá trị, kiến tạo sự phát triển bền vững của quốc gia.

Trước hết, tập trung vào sắp xếp lại bộ máy, giảm thiểu đầu mối trung gian, phân định rõ thẩm quyền, loại bỏ sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, cắt khúc theo phương châm: Rõ việc, rõ người, rõ nhiệm vụ, rõ trách nhiệm. Đồng thời, để tăng tính minh bạch và hiệu lực, cần áp dụng nguyên tắc trách nhiệm giải trình và cơ chế đánh giá dựa trên kết quả công việc. Xây dựng và áp dụng các bộ chỉ số đo lường và đánh giá chính xác hiệu quả hoạt động của tổ chức công.

Ngoài ra, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và phân định thẩm quyền giữa các cấp chính quyền, với phương châm “địa phương quyết - địa phương làm - địa phương chịu trách nhiệm”, nhằm gia tăng tính chủ động của địa phương và tối ưu hóa quá trình ra quyết định. Song song với đó, cần thực hiện nghiêm việc kiểm soát quyền lực, siết chặt kỷ cương và kỷ luật, kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực và “lợi ích nhóm” trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật.

Việc triển khai đồng bộ các giải pháp “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” không chỉ là nhiệm vụ cấp bách, mà còn là nền tảng để xây dựng một hệ thống quản trị quốc gia hiện đại, vững mạnh, đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập của Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Những giải pháp này sẽ giúp phát huy tối đa sức mạnh của hệ thống chính trị, nâng cao năng lực quản trị của Nhà nước và bảo đảm hiệu quả hoạt động của các cơ quan công quyền, tạo đà phát triển bền vững để đưa đất nước tiến gần hơn đến mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.

Bốn là, nâng cao năng lực và đạo đức công vụ của cán bộ, công chức.

Nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức, không chỉ có năng lực chuyên môn cao, mà còn phải tuân thủ các chuẩn mực đạo đức, thể hiện trách nhiệm giải trình trước người dân và xã hội. Nền công vụ được vận hành bởi đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động và thực tài. Thực hiện đánh giá cán bộ, công chức dựa trên kết quả công việc thông qua các chỉ số đo lường và thực chất. Kiên quyết đưa ra khỏi nền công vụ những người không làm được việc. Đội ngũ cán bộ, công chức trong nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả phải thực sự là tầng lớp tinh hoa, ưu tú của xã hội để quản trị xã hội. Có chính sách tiền lương, tạo động lực làm việc, để cán bộ, công chức, viên chức yên tâm công tác, phát huy giá trị xã hội của nghề công chức, luôn toàn tâm, toàn ý cho lý tưởng, khát vọng “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”.

Năm là, tăng cường ứng dụng công nghệ số trong quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả.

Trước hết, cần phát triển và ứng dụng các nền tảng số dùng chung, bảo đảm kết nối liên thông giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị, từ Trung ương đến địa phương. Đồng thời, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quy trình làm việc, quản lý dữ liệu, cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình ở mức độ cao, phục vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, không phụ thuộc vào địa giới hành chính. Việc khai thác trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các công nghệ tiên tiến sẽ giúp nâng cao năng lực phân tích, dự báo, hỗ trợ ra quyết định nhanh chóng, kịp thời. Cùng với đó, cần bảo đảm an ninh mạng, an toàn dữ liệu quốc gia và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực số, thành thạo về kỹ năng số. Đây là bước đi chiến lược để nền quản trị quốc gia thích ứng nhanh với bối cảnh chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu quản lý hiện đại và phát triển bền vững.

Sáu là, huy động sự tham gia của các chủ thể vào quản trị quốc gia.

Huy động được mọi nguồn lực, mọi chủ thể trong xã hội tham gia vào quản trị quốc gia là chìa khóa để tối đa hóa sức mạnh tổng hợp của xã hội, thúc đẩy quản trị hiệu quả, bền vững. Để thực hiện điều này, cần xây dựng cơ chế pháp lý rõ ràng, tạo điều kiện cho mọi tầng lớp nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, tổ chức xã hội và các đoàn thể tham gia đóng góp ý kiến vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách. Cùng với đó, đẩy mạnh công khai, minh bạch thông tin, khuyến khích vai trò giám sát của xã hội; từ đó, gia tăng sự đồng thuận và trách nhiệm chung. Mỗi chủ thể trong xã hội, theo vai trò, chức năng của mình, cùng nỗ lực tối đa đóng góp giá trị cho sự phát triển quốc gia theo phương thức: Xã hội cung cấp nguồn lực, thị trường phân bổ nguồn lực, Nhà nước kiến tạo thể chế và điều tiết nguồn lực hợp lý. Mọi chủ thể đồng lòng, chung sức sẽ tạo nền tảng vững chắc cho khát vọng phát triển quốc gia, phù hợp với thực tiễn và yêu cầu đổi mới ở Việt Nam./.

 

Quan hệ Việt Nam-Lào là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam

 


Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh trước sau như một, quan hệ Việt Nam-Lào luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam.

Thúc đẩy hợp tác giữa Quốc hội Việt Nam với Quốc hội Singapore và Nghị viện Nhật Bản

 


Nhận lời mời của Chủ tịch Quốc hội Cộng hòa Singapore Seah Kian Peng và phu nhân, Chủ tịch Thượng viện Nhật Bản Sekiguchi Masakazu và phu nhân, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và phu nhân sẽ thăm chính thức Cộng hòa Singapore và Nhật Bản từ ngày 1 - 7/12/2024.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đến Singapore, bắt đầu chuyến thăm chính thức Quốc đảo Sư tử

 


Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn sẽ có các cuộc hội đàm, hội kiến với các lãnh đạo cấp cao nhất của Singapore; tiếp các tập đoàn hàng đầu của Singapore đang đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam.

Xây dựng hệ thống chính trị Tinh- Gọn- Mạnh- Hiệu năng- Hiệu lực- Hiệu quả

 


Ngày 5/11, Tổng Bí thư Tô Lâm có bài viết về xây dựng hệ thống chính trị với tiêu đề: “Tinh - Gọn - Mạnh - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả”. Báo CAND trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết quan trọng này của đồng chí Tổng Bí thư.

Cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy không thể chậm trễ hơn được nữa!

 


Sáng 1/12, Tổng Bí thư Tô Lâm đã dự và có bài phát biểu chỉ đạo quan trọng tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc quán triệt, triển khai tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII; tình hình kinh tế - xã hội năm 2024, giải pháp tăng tốc phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 và tháo gỡ những điểm nghẽn, nút thắt về thể chế. Báo CAND trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư:

Dự án đường sắt tốc độ cao mở ra nhiều cơ hội và thách thức

 


Dự án Đường sắt tốc độ cao (ĐSTĐC) vừa được Quốc hội bấm nút thông qua với số phiếu tuyệt đại đa số, có quy mô siêu lớn và đương nhiên cùng với đó là rất nhiều thách thức. Có thể nói, đây là dự án đầu tư công lớn nhất trong lịch sử đất nước với sơ bộ tổng mức đầu tư của dự án khoảng 1.713.548 tỷ đồng (khoảng 67,34 tỷ USD).

Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân - minh chứng sinh động phản bác các luận điệu chia rẽ, xuyên tạc

 


Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc diễn ra hàng năm vào dịp kỷ niệm Ngày truyền thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (18/11), được Mặt trận Tổ quốc các cấp phối hợp với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương tổ chức tại các khu dân cư nhằm tôn vinh các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, đồng thời tăng cường tinh thần đoàn kết, gắn bó trong nhân dân.

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn chiến tranh tâm lý thời kỳ mới

Trong thời bình hiện nay, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục sử dụng chiến tranh tâm lý với phương thức và thủ đoạn được “nâng cấp”, trong đó tích cực lợi dụng công nghệ thông tin, truyền thông hiện đại nhằm xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, nhận diện, đấu tranh với thủ đoạn chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch là việc làm rất cần thiết.

Sự nguy hại từ âm mưu, thủ đoạn chiến tranh tâm lý

Chiến tranh tâm lý là các hoạt động phá hoại tâm lý của đối phương; các thủ đoạn của đấu tranh tư tưởng tác động vào tâm lý con người, xã hội của đối phương, nhằm tạo ra những xung đột tư tưởng, lý tưởng, niềm tin, lợi ích và quyền lợi chính trị, kinh tế, xã hội, giá trị văn hóa... Từ đó gây ra mất đoàn kết, khủng hoảng và xung đột nội bộ, suy giảm tinh thần chiến đấu, dẫn đến phe cánh, bè phái, nội chiến rồi tự suy sụp, tan rã.

Trong thời bình, các thế lực thù địch thường coi chiến tranh tâm lý là “vũ khí chiến lược” hòng làm thay đổi sắc thái hòa bình, khiến cho hòa bình chính trị mất đi tính chất yên ổn, từ đó thừa cơ thực hiện tham vọng đen tối. Lợi dụng sự phát triển của khoa học-công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, chiến tranh tâm lý trong thời bình mang những màu sắc tinh vi, khó nhận diện cho đến khi nó xuất hiện trên cả không gian thực và không gian ảo. Do đó, nguy cơ tác động từ chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch đến tư tưởng, tâm lý con người là rất khó kiểm soát.

Công cụ, lực lượng trực tiếp và chủ yếu tiến hành chiến tranh tâm lý là các cơ quan tình báo, các trung tâm truyền thông đại chúng, tổ chức phi chính phủ của một số quốc gia. Ngoài ra, cũng có một số người Việt Nam lưu vong cũng tham gia hành động này. Hoạt động tuyên truyền chiến tranh tâm lý đối với các tầng lớp nhân dân thông qua việc chuyển và tán phát tài liệu chống đối trong nước; tác động, lôi kéo phát triển lực lượng nội địa, xâm nhập vào hệ thống chính trị của ta. Theo thống kê của cơ quan chức năng, mỗi năm ta đã phát hiện hàng nghìn tài liệu có nội dung chiến tranh tâm lý, tài liệu tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước được tán phát vào Việt Nam.

Các đối tượng còn lập ra và sử dụng các đài phát thanh và truyền hình, các báo, tạp chí điện tử có trụ sở ở nước ngoài để tuyên truyền chiến tranh tâm lý. Họ thường xuyện lợi dụng các phương tiện truyền thông này để đưa nhiều nội dung thông tin xuyên tạc về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước hòng gây bất lợi đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam. Thi thoảng họ phát động những chiến dịch nhằm thổi phồng những khó khăn phức tạp trong xã hội; xuyên tạc tình hình đất nước, lợi dụng tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên để kích động tâm lý bất bình, bất mãn trong xã hội hòng lôi kéo quần chúng nhân dân vào các hoạt động chống đối Đảng, Nhà nước ta.

Tạo sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh 

Phòng, chống chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch là vấn đề khó khăn, phức tạp. Trên thực tế hiện nay, còn không ít người đang mơ hồ về chiến tranh tâm lý. Một bộ phận người dân do nhận thức hạn chế nên không nhận diện được các thủ đoạn chiến tranh tâm lý; thậm chí một số cán bộ, đảng viên, trong đó có cả những người đã được rèn luyện, thử thách qua các thời kỳ cách mạng, song do chủ quan, mất cảnh giác trong nhận thức nên đã “sập bẫy” chiến tranh tâm lý và vô hình trung trở thành người cổ xúy cho các thế lực chống phá Đảng, Nhà nước.

Do vậy, để các tầng lớp nhân dân có nhận thức tốt hơn về chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch, các cấp, các ngành, các địa phương, cơ sở phải chủ động tuyên truyền, trang bị cho cán bộ, đảng viên, nhân dân những hiểu biết cơ bản về phương thức, thủ đoạn, kỹ thuật tiến hành chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch. Đây là cơ sở, yêu cầu hàng đầu nhằm góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch.

Cần phải đa dạng hóa hoạt động đấu tranh theo hướng thiết lập và sử dụng các trang thông tin chính thống, website, mạng xã hội, diễn đàn để đăng tải những bài viết tuyên truyền về quan điểm chính thống, định hướng dư luận, đồng thời đấu tranh phản bác các thông tin chiến tranh tâm lý nguy hại của các thế lực thù địch. Xây dựng và mở rộng đội ngũ cộng tác viên đưa tin, viết bài, bình luận; nâng cao chất lượng các bài viết đấu tranh phản bác với luận cứ khoa học, có tính thuyết phục cao. Kết hợp chặt chẽ các biện pháp đấu tranh trực tiếp và gián tiếp; giữa xây và chống, trong đó lấy xây là chính; chủ động phối hợp với các cơ quan báo chí, truyền thông của Đảng, Nhà nước để đấu tranh, ngăn chặn kịp thời, hiệu quả.

Chủ động cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng trong mặt trận đấu tranh tâm lý. Với phương châm chỉ đạo công tác tư tưởng phải đi trước, đón đầu, không để “khoảng trống” thông tin để các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc chống phá Đảng và Nhà nước, các cơ quan chức năng cần quan tâm nghiên cứu biên soạn các tài liệu chuyên khảo, tham khảo để phục vụ công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, kỹ năng đấu tranh cho các lực lượng. Việc chậm trễ cung cấp thông tin và sự thiếu chủ động trong việc định hướng dư luận chính là tự tạo ra "khoảng trống" thông tin, là mầm mống nảy sinh những biểu hiện bất lợi về tâm lý, tư tưởng trong xã hội; ở mức độ đơn giản là nảy sinh những đồn đoán tùy tiện, ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị các cấp.

Thực hiện tốt một số nội dung chủ yếu nêu trên chắc chắn sẽ tạo ra hiệu quả trong phòng, chống, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch, phản động hiện nay.

Sưu tầm

Vạch trần thủ đoạn nguy hiểm của "Năng lượng gốc Trống Đồng Việt Nam"

Mặc dù đã được các phương tiện thông tin truyền thông tuyên truyền về âm mưu, phương thức cũng như vạch trần bản chất, tác hại của “Năng lượng gốc trống đồng Việt Nam”. Tuy nhiên, với luận điệu tuyên truyền mị dân, phản khoa học như: “Năng lượng gốc có thể chữa bách bệnh, kể cả bệnh nan y mà không cần dùng thuốc” hay “Chữa khỏi bệnh từ xa, chỉ cần thông qua phương tiện truyền hình ảnh”... thời gian qua tổ chức “Năng lượng gốc Trống Đồng Việt Nam” (NLG) đã lôi kéo không ít người tin theo dẫn đến những hệ lụy vô cùng nguy hiểm, thậm chí vì tin theo phương pháp điều trị phản khoa học này mà có trường hợp đã phải trả giá bằng chính mạng sống của bản thân mình.

“NLG Trống Đồng Việt Nam”, hay còn gọi là “NLG”, “NLG Trống Đồng Việt Nam toàn cầu” do Lê Văn Phúc (Sinh năm 1956, là Việt kiều hiện sống tại Mỹ) thành lập năm 1996 tại Mỹ và được truyền vào Việt Nam từ năm 2019 tại tỉnh Đồng Nai.

Theo “lý thuyết khoa học” của Lê Văn Phúc, NLG ngoài không gian được tích lũy từ tình yêu thương của các vị thầy trong lịch sử, là băng tần tổng hợp có những tần số khác nhau. Lê Văn Phúc là người "được chọn" để kết nối với nguồn NLG ngoài vũ trụ, được trao mã khóa NLG Trống Đồng đem đến cho Việt Nam và năm châu, đã kiến tạo nên bộ môn NLG giúp người học nhận, đưa nguồn NLG ngoài không gian vào cơ thể, nâng cấp tần suất hoạt động của não bộ, kích thích hoạt động của tế bào gốc, giúp cho thể chất và tinh thần được cải thiện.

Lê Văn Phúc tuyên truyền rằng người nào muốn nhận được NLG phải tham gia 5 cấp học và các khóa học chuyên biệt do chính ông ta truyền dạy (trực tiếp hoặc trực tuyến) để "kích hoạt não bộ". Theo đó, thời gian đầu, các cấp 1, 2, 3 học trực tuyến và không thu tiền. Cấp độ 4, 5 học trực tiếp ở Mỹ, Thái Lan và Malaysia, học viên phải đóng 500-2.600 USD/người (chưa tính chi phí ăn ở, đi lại). Ngoài ra, số "cốt cán" là người Việt Nam thuộc “NLG Trống Đồng Việt Nam” còn tuyên truyền, tổ chức các tour du lịch kết hợp tiếp nhận NLG trong nước; mua nhà làm trụ sở cho "NLG Trống Đồng Việt Nam" của Lê Văn Phúc tại Mỹ; chúc phúc, mừng tuổi Lê Văn Phúc... với số tiền thu được vô cùng lớn.

Để mê hoặc lòng người, thời gian đầu, NLG chỉ tập trung tuyên truyền, quảng bá về tác dụng vượt trội của NLG đối với sức khỏe con người nên đã lan tỏa rộng, gây sự chú ý, tò mò tìm hiểu, tham gia của người dân trên mạng xã hội. Đặc biệt, bằng nhiều chiêu thức, Lê Văn Phúc đã lập bình phong để hoạt động. Từ năm 2016 đến 2021, Lê Văn Phúc thường xuyên nhập cảnh vào Việt Nam, trực tiếp tuyên truyền, giới thiệu, tổ chức các lớp học NLG; thành lập các công ty để làm bình phong hoạt động.

Từ tháng 4/2021 đến nay, do bị các cơ quan chức năng đấu tranh, phản bác nên Lê Văn Phúc trở về Mỹ nhưng vẫn trực tiếp và thông qua số tay chân, "cốt cán" đẩy mạnh tuyên truyền NLG vào Việt Nam, trong đó, các đối tượng triệt để sử dụng nền tảng mạng xã hội để phát triển tổ chức, lôi kéo người tham gia. Đến nay, trang fanpage "NLG Trống Đồng Việt Nam" có hàng trăm nghìn tài khoản thành viên và theo dõi.

Hiện nay, NLG lôi kéo được hàng trăm nghìn người tham gia; trong đó hàng nghìn lượt người xuất cảnh sang Mỹ, Đức, Thái Lan, Malaysia dưới dạng tour du lịch nhằm né tránh sự kiểm soát của các cơ quan chức năng để được Lê Văn Phúc trực tiếp truyền NLG. Số công dân sau khi tập huấn ở nước ngoài về nước tiếp tục làm thành viên "cốt cán" trong Ban phụng sự, Ban điều hành của NLG, hỗ trợ, lôi kéo người khác tham gia.

Sở dĩ NLG lôi kéo được đông đảo người tin theo vì các đối tượng mà tổ chức này chọn để lừa đảo chủ yếu là những bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo và người nhà của họ nhằm mê hoặc họ, đánh vào tâm lý “tia hy vọng cuối cùng”.

Ngoài việc vẽ lên viễn cảnh tốt đẹp về sức khỏe và cuộc sống, NLG còn khéo léo thao túng tâm lý người tham gia bằng cách đe dọa ngầm. Các bài nói chuyện của Lê Văn Phúc thường ẩn chứa thông điệp rằng những ai từ chối năng lượng của tổ chức sẽ gặp nhiều tai ương, đau khổ hoặc bị nguyền rủa.

NLG còn chia sẻ, đề cập đến các thông tin mang tính mê tín dị đoan: Có thế giới tâm linh vô hình song hành cùng cuộc sống của mỗi người; thế lực tâm linh có nghiệp lực, nghiệp quả, bệnh tật, nghèo đói, chiến tranh... Thậm chí, còn xuyên tạc trắng trợn về thành quả đấu tranh bảo vệ Tổ quốc của các thế hệ người Việt Nam, cho rằng các cuộc chiến tranh ở Việt Nam là do lỗi lầm của tổ tiên, ông bà ta trước đây và truyền bá cho người học những tư tưởng phản động như: Xúc phạm Quốc kỳ, cho rằng phải “thay đổi ngôi sao trên Quốc kỳ Việt Nam để đất nước được hưng thịnh"; ngang nhiên xoay ngược ngôi sao năm cánh và in trên logo của NLG...

Ngoài việc thao túng tinh thần, tổ chức NLG còn áp dụng nhiều thủ đoạn lừa đảo về tài chính. Người tham gia thường phải đóng tiền cho các buổi “chữa lành năng lượng” hoặc các khóa học dài hạn với số tiền không nhỏ. Tổ chức này còn bày ra nhiều chiêu trò thu phí khác, từ việc bán các vật phẩm chứa năng lượng đến tổ chức các chuyến “hành hương” để “tịnh hóa tinh thần”.

Với thủ đoạn tinh vi và thâm độc, tổ chức NLG không chỉ gây ra những tổn thất cá nhân mà còn phá hủy các mối quan hệ gia đình và cộng đồng: Nhiều gia đình tan vỡ khi một thành viên rơi vào vòng xoáy của NLG, trở nên mù quáng và từ chối lắng nghe ý kiến của người thân, cô lập và xa lánh với chính gia đình của họ; NLG đã tạo ra một làn sóng tiêu cực, làm xáo trộn niềm tin và giá trị văn hóa truyền thống. Những người tham gia, sau khi bị cuốn vào tổ chức, trở nên hoang mang, bất mãn và mất niềm tin vào xã hội. Mục đích sâu xa NLG từng bước cài cắm tư tưởng chống đối chính trị một cách có chủ đích và hiểm độc, dần biến người tham gia thành công cụ phục vụ cho mưu đồ riêng, tạo ra một mạng lưới lôi kéo tinh vi với hệ lụy sâu rộng, không chỉ ảnh hưởng đến các cá nhân mà còn gây xáo trộn cho cả cộng đồng và xã hội.

Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng các tổ chức có thiện chí hỗ trợ, giúp đỡ cộng đồng xã hội nâng cao sức khỏe cả về thể chất và tinh thần; tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Tuy nhiên, việc lợi dụng thiện chí của Đảng, Nhà nước Việt Nam để hoạt động bất hợp pháp, lừa đảo, trục lợi từ nhân dân; truyền bá tư tưởng phản động, mê tín, dị đoan, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trận tự, an toàn xã hội như hoạt động của “Năng lượng gốc Trống Đồng Việt Nam” vô cùng nguy hiểm, cần đấu tranh ngăn chặn sự lây lan, bám rễ trong cộng đồng.

(Ngày 11/11/2024, Phòng An ninh nội địa Công an tỉnh Hải Dương đã phát hiện, làm rõ thủ đoạn lừa đảo của tổ chức "Năng lượng gốc trống đồng Việt Nam" (gọi tắt là NLG hoặc NLG Energy University). Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hải Dương đã chuyển hồ sơ đến Viện KSND tỉnh Hải Dương truy tố 3 bị can là những đối tượng cốt cán của NLG về tội "đưa trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông").

Người dân cần nâng cao cảnh giác đối với hoạt động của NLG và các tổ chức có dấu hiệu tà đạo khác. Khi phát hiện các hành vi lợi dụng tự do tín ngưỡng để có những hành vi lừa đảo, vi phạm pháp luật cần kịp thời tố giác cho cơ quan chức năng để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn.

Sưu tầm

Phản bác luận điệu xuyên tạc công cuộc cải cách, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị

 


Trong những năm qua, chủ trương tinh giản biên chế và sắp xếp lại tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước triển khai đồng bộ, mạnh mẽ, đạt nhiều kết quả tích cực.

Đảng phải vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin

Trong bài “Cách mạng Tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc”, gửi cho Báo Pravda (Liên Xô), được Báo Nhân Dân đăng số 4952, ngày 1-11-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “… Chỉ có sự lãnh đạo của một đảng biết vận dụng một cách sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước mình thì mới có thể đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi và cách mạng XHCN đến thành công”.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh xem Chủ nghĩa Mác-Lênin là kim chỉ nam cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc và luôn nhấn mạnh sự cần thiết phải vận dụng sáng tạo “cẩm nang thần kỳ” đó vào thực tiễn cách mạng. Sự khẳng định trên của Người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định và đánh giá cao bài học kinh nghiệm về lý luận và thực tiễn trong lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng. Đó là một trong những bài học có tính nguyên tắc và phổ biến, bảo đảm cho sự nghiệp giải phóng triệt để của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức. Thực tiễn chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể ở nước ta đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tiếp tục giành những thắng lợi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn vẹn nguyên giá trị, nhất là trong công tác xây dựng Đảng. Theo đó, Đảng ta lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; Đảng nắm vững bản chất cách mạng và khoa học, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra. Đối với Quân đội ta, đó cũng là nguyên tắc, nền tảng tư tưởng để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu cao; xây dựng Đảng bộ Quân đội TSVM. Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam luôn nêu cao tinh thần tự giác, tích cực nghiên cứu, học tập lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy đảng; đồng thời biết vận dụng sáng tạo vào hoạt động thực tiễn của đơn vị nhằm thực hiện hiệu quả chức trách, nhiệm vụ được giao.

Sưu tầm

“… Khen, chê phải đúng mức”

Sáng 6-11-1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp của Bộ Chính trị để cho ý kiến về nội dung Đại hội Văn nghệ. Khi bàn về chủ trương tổ chức cho anh em văn nghệ sĩ đi một đợt thực tế dài hạn ở nông thôn, Người đã tán thành chủ trương và có những lời căn dặn quý báu đối với các văn nghệ sĩ đi thực hiện nhiệm vụ này: “… Khen, chê phải đúng mức. Khen nhưng khen quá lời, “suy tôn” người được khen thì chính người được khen xấu hổ. Đập nhưng đập bậy thì người ta không phục...”.

Đây là sự nhắc nhở sâu sắc, có giá trị định hướng về nhận thức, tư tưởng rằng mỗi văn nghệ sĩ cần nêu cao ý thức trách nhiệm, bám sát thực tiễn, khen, chê phải đúng mức. Nói cách khác, Người yêu cầu các văn nghệ sĩ phải phản ánh trung thực và khách quan cuộc sống lao động, chiến đấu và sinh hoạt hằng ngày của nhân dân ở vùng nông thôn.

Thực hiện lời căn dặn của Bác, các thế hệ văn nghệ sĩ nước nhà đã thường xuyên bám sát đời sống nông thôn, lăn lộn trên các chiến trường đầy khói lửa; hòa mình vào cuộc sống lao động sản xuất, chiến đấu và sinh hoạt hằng ngày của Nhân dân, từ đó cho ra đời nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị, tích cực cổ vũ cái đúng, cái tốt, cái đẹp, đồng thời phê phán những thói hư tật xấu, lên án cái ác, cái thấp hèn… góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ngày nay, trước bối cảnh phức tạp, khó lường của tình hình, lời căn dặn của Bác vẫn giữ nguyên giá trị, là bài học sâu sắc định hướng nhận thức, tư tưởng, phương châm hành động của các văn nghệ sĩ; bồi dưỡng cái tâm và cái tài, cổ vũ, động viên các văn nghệ sĩ bám sát cơ sở, đi sâu khám phá cuộc sống lao động sản xuất và sinh hoạt hằng ngày của Nhân dân, qua đó sáng tạo nên nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật hay và tốt để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đối với Quân đội ta, thấm nhuần lời dạy của Bác, đội ngũ văn nghệ sĩ Quân đội đã thường xuyên bám sát các đơn vị cơ sở, nhất là đơn vị đóng quân ở vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo; lăn lộn cùng với bộ đội trên các thao trường, bãi tập, nơi bộ đội làm công tác dân vận, tham gia phòng, chống thiên tai, bão lũ, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn... để phản ánh trung thực cuộc sống học tập, công tác và sinh hoạt của bộ đội. Thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm định hướng nhận thức, tư tưởng và hành động của cán bộ, chiến sĩ; tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; tuyên truyền, cổ vũ, động viên kịp thời những tấm gương người tốt, việc tốt, đồng thời phê phán những cái xấu, cái tiêu cực, góp phần xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần phong phú, lành mạnh, để mỗi đơn vị quân đội thực sự là cái nôi nuôi dưỡng những giá trị văn hóa, nhân cách quân nhân, bồi đắp phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.

Sưu tầm

“Bộ đội phải kính trọng dân, giúp đỡ dân. Dân phải thương yêu bộ đội, ủng hộ bộ đội. Quân và dân phải luôn luôn đoàn kết nhất trí”.

Bộ đội phải kính trọng dân, giúp đỡ dân. Dân phải thương yêu bộ đội, ủng hộ bộ đội. Quân và dân phải luôn luôn đoàn kết nhất trí”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong thư “Gửi toàn thể cán bộ và chiến sĩ Đường số 4 cùng dân quân du kích và đồng bào trong miền Đường số 4”, đăng trên Báo Cứu quốc, số 1411, ra ngày 02 tháng 12 năm 1949.

Là người trực tiếp tổ chức thành lập, giáo dục và rèn luyện quân đội ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo xây dựng quân đội trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Trong đó, giữ gìn mối quan hệ đoàn kết quân dân luôn được Người quan tâm đặc biệt, thường xuyên nhắc nhở, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Lời căn dặn của Bác ngắn gọn nhưng sâu sắc, là sự nhắc nhở ân cần về trách nhiệm, nghĩa vụ và tình cảm của quân đội đối với nhân dân. Thấm nhuần lời căn dặn của Hồ Chủ tịch, hơn 60 năm qua, những thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã kế tiếp chăm lo xây dựng, giữ gìn mối quan hệ tốt đẹp, đoàn kết quân dân; gắn bó máu thịt với nhân dân, hết lòng thương yêu dân, quý trọng dân, giúp đỡ dân, bảo vệ dân; ngược lại, nhân dân cũng hết lòng yêu thương, đùm bọc, chăm sóc, giúp đỡ quân đội. Trong thời chiến cũng như trong thời bình, trong khó khăn cũng như hoạn nạn, mối quan hệ quân dân “cá - nước”, đoàn kết gắn bó keo sơn đó đã phát huy được sức mạnh hiệu quả của nó, làm cho tình đoàn kết giữa nhân dân và quân đội ngày càng thêm bền vững.

Hiện nay, trước sự tác động của tình hình thế giới, khu vực, trong nước, trước những tác động của điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, nhất là những tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, của quá trình hội nhập quốc tế, cũng như sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” với những thủ đoạn, biện pháp hết sức thâm độc nhằm chia rẽ quân đội với nhân dân, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và phẩm chất cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân, tiến tới làm suy yếu, vô hiệu hóa sức mạnh chiến đấu của quân đội. Lời căn dặn của Bác vẫn giữ nguyên giá trị, góp phần quan trọng định hướng nhận thức, tư tưởng và hành động của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong củng cố, tăng cường mối quan hệ đoàn kết với nhân dân.

Thực hiện tốt lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội phải luôn có ý thức sâu sắc về nghĩa vụ, trách nhiệm và tình cảm đối với nhân dân; tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua rèn luyện phẩm chất cao đẹp “Bộ đội cụ Hồ” trong thời kỳ mới. Ra sức thực hiện lời dạy của Bác về “Dân vận khéo”, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước. Quan hệ chặt chẽ với cấp uỷ, chính quyền, nhân dân địa phương nơi đóng quân, tăng cường các hoạt động giao lưu, kết nghĩa giữa đơn vị quân đội với địa phương; tích cực giúp đỡ nhân dân phát triển kinh tế - xã hội, góp phần vào công cuộc xoá đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa mới; đặc biệt, luôn chủ động, dũng cảm, kịp thời giúp dân phòng, chống thiên tai, bão lũ, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn...

Sưu tầm