Thứ Hai, 2 tháng 12, 2024

Phương pháp sử dụng bạo lực cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong đấu tranh giành và giữ chính quyền

 


Thấm nhuần sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã xác định rõ bạo lực cách mạng là bạo lực của quần chúng nhân dân, có tổ chức, dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm thực hiện mục tiêu giành và giữ chính quyền. Người khẳng định: “Trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp, của dân tộc, cần sử dụng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”[1]. Việc chúng ta sử dụng bạo lực cách mạng là một đòi hỏi tất yếu để chống lại bạo lực phản cách mạng, hoàn toàn không phải là đam mê hay là sùng bái bạo lực. Thực tế cho thấy, xuất phát từ phía kẻ thù, do đó mà buộc chúng ta phải “phê phán” chúng bằng vũ khí, để giải phóng và tự khẳng định mình. 

Về hình thức của bạo lực cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tuỳ tình hình cụ thể mà quyết định những hình thức đấu tranh cách mạng thích hợp, sử dụng đúng và khéo kết hợp các hình thức đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị để giành thắng lợi cho cách mạng”[2]. Như vậy, việc sử dụng bạo lực cách mạng không đơn thuần chỉ là sử dụng lực lượng quân sự và đấu tranh quân sự mà phải biết kết hợp nó với lực lượng chính trị và đấu tranh chính trị của quần chúng, tạo nên sức mạnh tổng hợp mới có thể giành thắng lợi cho cách mạng. Tuy nhiên, tuỳ theo tình hình cụ thể và so sánh lực lượng trong từng giai đoạn, từng địa bàn mà sử dụng lực lượng, hình thức nào là chủ yếu. 

Quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về bạo lực cách mạng, xuất phát từ thực tế so sánh lực lượng, cục diện trên chiến trường sau khi Mỹ rút khỏi miền Nam, tháng 7 năm 1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị lần thứ 21 đề ra phương châm kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự với ngoại giao và tiếp tục khẳng định: Con đường cách mạng của miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Đến tháng 3 năm 1974, Quân uỷ Trung ương họp để quán triệt và bàn việc thực hiện cụ thể về mặt quân sự Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 của Trung ương Đảng. Nghị quyết của Quân uỷ Trung ương được Bộ Chính trị thông qua đã xác định: Cách mạng Việt Nam có thể trải qua nhiều bước quá độ và chỉ có thể giành được thắng lợi bằng con đường bạo lực cách mạng.

Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đúng đắn của Đảng về bạo lực cách mạng, chúng ta đã huy động được đến mức cao nhất sức mạnh của quần chúng nhân dân và các lực lượng vũ trang để áp đảo kẻ thù. Cùng với việc xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, chúng ta coi trọng việc xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng. Thực tiễn trong cuộc Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cho thấy, lực lượng chính trị của quần chúng được tổ chức, xây dựng đã thật sự trở thành một đội quân chính trị, lực lượng tiến công có sức mạnh vô địch để chiến thắng kẻ thù. Cuộc Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong đó có cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã thể hiện bước phát triển cao nhất sự kết hợp giữa tiến công quân sự của các binh đoàn chủ lực và sự nổi dậy của quần chúng nhân dân địa phương tạo thành sức mạnh tổng hợp đập tan sự phản kháng của kẻ thù, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; làm ngời sáng lên giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về sử dụng bạo lực cách mạng.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 391.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 391.

Chủ nghĩa xã hội là một xã hội công bằng và hợp lý, do quần chúng nhân dân xây dựng nên.


Các dân tộc trong nư­­ớc đều bình đẳng, miền núi đ­ược giúp đỡ tiến kịp miền xuôi; luôn đoàn kết hữu nghị với các dân tộc trên thế giới. Thực hiện công bằng xã hội nhằm mang lại một xã hội tốt đẹp cho tất cả mọi người là mục tiêu hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý: Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm nom”[1]. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của nhân dân ta. Đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế đã trở thành chiến lược cách mạng của Đảng ta, gắn liền với những thắng lợi vẻ vang của dân tộc, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”[2].

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tin tưởng mãnh liệt vào sức mạnh của quần chúng nhân dân và tôn trọng, kính trọng nhân dân lao động. Người trích lại câu nói của V.I.Lênin: “Lênin nói: Chủ nghĩa xã hội là do quần chúng nhân dân tự mình xây dựng nên”[3], từ đó Người khẳng định: “Đó là công trình tập thể của quần chúng lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng ta[4]. Theo Người, chủ nghĩa xã hội không phải là cái gì cao xa mà cụ thể là ý thức lao động tập thể, ý thức kỷ luật, tinh thần thi đua yêu nước, tăng gia sản xuất cho hợp tác xã, tăng thu nhập cho xã viên, tinh thần đoàn kết tương trợ, tinh thần dám nghĩ, dám nói, dám làm, không sợ khó, ý thức cần kiệm. Và chính nhân dân là chủ thể, là động lực của sự nghiệp vĩ đại đó.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 404.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 628.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 568.

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 609. 

Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2024

Chủ nghĩa xã hội có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực l­­ượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về t­­ư liệu sản xuất chủ yếu; phát triển cao về văn hóa, đạo đức.

 


Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nền kinh tế mà chúng ta xây dựng là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công - nông nghiệp hiện đại, khoa học - kỹ thuật tiên tiến, cách bóc lột theo chủ nghĩa tư bản được bỏ dần, đời sống vật chất của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao. Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta cần phát triển toàn diện các ngành mà những ngành chủ yếu là công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, trong đó công nghiệp và nông nghiệp là như hai chân của nền kinh tế nước nhà[1].

Trong chủ nghĩa xã hội, ng­­ười với người là bạn, là đồng chí, anh em; con ng­­ười đư­ợc giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, có cuộc sống vật chất, tinh thần phong phú, đ­­ược tạo điều kiện để phát triển hết mọi khả năng sẵn có của mình. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa là mục tiêu cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Văn hóa thể hiện trong mọi sinh hoạt tinh thần của xã hội, đó là xóa nạn mù chữ, xây dựng, phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, xây dựng, phát triển văn hóa nghệ thuật, thực hiện nếp sống mới, thực hành vệ sinh phòng bệnh, giải trí lành mạnh, bài trừ mê tín dị đoan, khắc phục phong tục tập quán lạc hậu… Phương châm Phải xây dựng một nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng. Phải nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân[2]. Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa là vì con người, giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bóc lột, có cuộc sống vật chất, tinh thần ngày càng cao, có điều kiện toàn diện. Người chỉ rõ: “Chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc[3].



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 191.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 265.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 92.

Chủ nghĩa xã hội là một chế độ do nhân dân lao động làm chủ.

 


Nhà n­ước phải phát huy quyền làm chủ của nhân dân để huy động tính tích cực, sáng tạo của nhân dân vào sự nghiệp xây dựng đất n­­ước. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, đó là mục tiêu chính trị của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chủ nghĩa xã hội là chế độ chính trị dân chủ, do nhân dân lao động là chủ và làm chủ; Nhà nước là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhà nước có hai chức năng: Dân chủ với nhân dân phát huy quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của nhân dân; chuyên chính với kẻ thù của nhân dân, với thiểu số phản động chống lại lợi ích của nhân dân, chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa.

Giá trị dân chủ là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội được Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn đạt bằng một thứ ngôn ngữ bình dị: dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân[1], bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân[2]. Người chỉ rõ con đường và biện pháp phát huy quyền làm chủ của nhân dân qua thực hiện các hình thức dân chủ trực tiếp, nâng cao năng lực hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội của quần chúng; củng cố các hình thức dân chủ đại diện, tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, xử lý và phân định rõ chức năng của chúng.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 457.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 232.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội

 


Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội luôn thể hiện tính thống nhất biện chứng giữa các nhân tố: Kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và đạo đức. Theo Người, “xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”[1].

Theo cách tiếp cận riêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều quan niệm khác nhau về chủ nghĩa xã hội. Tiếp cận theo mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, Người đặt câu hỏi:Chủ nghĩa xã hội là gì”[2] và trả lời: “Chủ nghĩa xã hội nhằm làm cho đời sống nhân dân ngày càng sung sướng, ăn no, mặc ấm, được học hành, ốm đau có thuốc”[3]. Tiếp cận theo các mặt của xã hội: Về phân phối sản phẩm: “Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ con[4]. Về lĩnh vực chính trị: “Nhà nước xã hội chủ nghĩa và dân chủ nhân dân chỉ lo làm lợi cho nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, ngày càng tiến bộ về vật chất và tinh thần, làm cho trong xã hội không có người bóc lột người”[5].

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm tổng quát: “Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”[6]. Tư tưởng của Người về chủ nghĩa xã hội ngày càng được thể hiện rõ cả về lý luận và thực tiễn, một xã hội phát triển hài hòa trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, vì con người.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 438.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 399.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 437.

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 390.

[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 453.

[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 415.

Bổ sung, sửa đổi, xây dựng và thực hiện nghiêm hệ thống chính sách, pháp luật, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong xây dựng giai cấp công nhân.

 


Đại hội XIII, Đảng ta chỉ rõ: “Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nhà ở và phúc lợi xã hội cho công nhân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân[1]. Rà soát, bổ sung, sủa đổi, xây dựng các chính sách, pháp luật về lao động, việc làm và đời sống vật chất, tinh thần; tập trung trước hết vào những chính sách liên quan trực tiếp đến những vấn đề bức xúc đang đặt ra về việc làm và đời sống của công nhân. Bổ sung, sửa đổi, xây dựng các chính sách để phát huy các nguồn lực và trách nhiệm của cả Nhà nước, người sử dụng lao động, các tổ chức chính trị - xã hội, của toàn xã hội và của công nhân trong việc chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân tương xứng với năng suất lao động và những đóng góp của công nhân. Nhà nước có chính sách đầu tư cho các tỉnh, thành phố để xây dựng nhà ở và các công trình phúc lợi công cộng cho công nhân. Đại hội XIII, Đảng ta yêu cầu: “Đổi mới tổ chức và hoạt động của công đoàn phù hợp với cơ cấu lao động, nhu cầu, nguyện vọng của công nhân và yêu cầu hội nhập quốc tế”[2]. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng trong xây dựng giai cấp công nhân. Khẩn trương xây dựng và lãnh đạo thực hiện có hiệu quả chiến lược về giai cấp công nhân gắn với chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, bao gồm các chủ trương, chính sách lớn về đào tạo, trí thức hóa công nhân; về vấn đề xuất khẩu lao động, kể cả ở các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư kinh doanh ở nước ngoài; vấn đề tạo nguồn để phát triển đảng và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị, trong quản lý sản xuất kinh doanh xuất thân từ công nhân; vấn đề nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của công nhân...



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.

BỒI ĐẮP PHẨM CHẤT CAO QUÝ BỘ ĐỘI CỤ HỒ!

         Hàng trăm tấm gương là những đại diện tiêu biểu cho cán bộ, chiến sĩ, cựu chiến binh luôn hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân được phản ánh thông qua Cuộc thi viết "Những tấm gương bình dị mà cao quý" lần thứ 15 (năm 2023-2024) với chủ đề "Dấu ấn bộ đội thời bình". 15 năm qua, hàng nghìn tấm gương bình dị mà cao quý trên nhiều lĩnh vực đã được tôn vinh qua Cuộc thi viết "Những tấm gương bình dị mà cao quý", qua đó góp phần bồi đắp phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ, lan tỏa giá trị nhân văn của con người Việt Nam!

Những dấu ấn của bộ đội thời bình
Cuộc thi viết "Những tấm gương bình dị mà cao quý" lần thứ 15 (năm 2023-2024) với chủ đề "Dấu ấn bộ đội thời bình" do Báo Quân đội nhân dân (QĐND) chủ trì, phối hợp với Vụ Báo chí-Xuất bản, Ban Tuyên giáo Trung ương; Nhà xuất bản QĐND; Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á tổ chức. Đây là một dấu mốc đặc biệt trong hành trình 15 năm do Báo QĐND và các đơn vị phối hợp tổ chức. Bởi nhân vật, đối tượng được phản ánh trong cuộc thi lần này đã và đang là Bộ đội Cụ Hồ.

Như đồng chí Thiếu tướng Đoàn Xuân Bộ, Tổng biên tập Báo QĐND, Trưởng ban tổ chức cuộc thi nhấn mạnh: "Cuộc thi nhằm phát hiện, tôn vinh tấm gương tiêu biểu, là bộ đội, cựu chiến binh, đã và đang công tác có những cống hiến, đóng góp xuất sắc, để lại những dấu ấn trong sự nghiệp xây dựng Quân đội, công cuộc dựng xây đất nước và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới".

Đây là một trong những hoạt động chính trị quan trọng của Báo QĐND nhằm hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam (22-12-1944 / 22-12-2024), 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22-12-1989 / 22-12-2024) và 80 năm Ngày truyền thống Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam (22-12-1944 / 22-12-2024).

Sau hơn một năm phát động, cuộc thi đã thu hút sự tham gia đông đảo của các nhà báo, nhà văn chuyên nghiệp và cộng tác viên ở các cơ quan, đơn vị trong và ngoài Quân đội trên khắp mọi miền đất nước. Số lượng tác phẩm dự thi gấp nhiều lần các năm trước. Rất nhiều bài viết được đầu tư công phu, có nhiều vệt bài từ 2 đến 3 kỳ, thể hiện tinh thần lao động dấn thân, sự tìm tòi phát hiện tấm gương tiêu biểu xuất sắc trên mọi mặt công tác của Quân đội ta. Trong đó có tới hàng chục tác phẩm viết về các anh hùng, tướng lĩnh, những người từng kinh qua trận mạc nay tiếp tục cống hiến tài năng, trí tuệ, tâm sức để lại dấu ấn sâu sắc trong sự nghiệp xây dựng, kiến thiết đất nước.

Nhà báo Hồ Quang Lợi, nguyên Phó chủ tịch Thường trực Hội Nhà báo Việt Nam, thành viên Hội đồng chung khảo cuộc thi, chia sẻ: "Khi đọc các tác phẩm ở vòng chung khảo lần này, tôi thực sự xúc động và tự hào về những cán bộ, chiến sĩ của Quân đội ta. Những truyền thống của QĐND trong thời kỳ chiến tranh tiếp tục được thể hiện trong thời bình. Có nhiều bài viết tôi đã đọc đi đọc lại khá nhiều lần và nhận thấy tác phẩm năm nay chất lượng tốt. Tinh thần của cuộc thi "dấu ấn bộ đội thời bình" đã được thể hiện rất rõ trong các tác phẩm dự thi".

Tác giả Trần Hoàng Tiến trong vệt bài "Dấu chân Đại tướng Ba Trà" đã khắc họa chân dung Đại tướng Phạm Văn Trà, một người trưởng thành từ chiến sĩ đến Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Hơn nửa thế kỷ trong quân ngũ, dấu chân Đại tướng Ba Trà đã in đậm trên những nẻo đường quê hương, từ chiến trường tới nước bạn... Về với đời thường, bước chân không mỏi của ông lại có mặt nơi đảo xa, các địa phương ở Tây Nam Bộ và nhiều tỉnh, thành phố để xây dựng những ngôi chùa “hộ quốc, an dân". Ông muốn thông qua đây góp phần truyền bá tư tưởng yêu nước, văn hóa tốt đẹp, truyền thống hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc cho thế hệ hôm nay, mai sau và tri ân công đức tiền nhân.

“Trước ba quân uy danh dũng tướng/ Giữa lòng dân rạng rỡ anh hùng”. Đó là câu đối do Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu viết tặng Trung tướng Nguyễn Quốc Thước để bày tỏ sự kính trọng, ngưỡng mộ một trong những vị tướng tài đức vẹn toàn, bình dị mà cao quý của Quân đội ta để lại dấu ấn đậm nét cả trong thời chiến đến thời bình hiện nay.

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước vốn là nhân vật rất quen thuộc với cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân, nay trở thành nhân vật trong tác phẩm dự thi "Dũng tướng uy danh trận mạc, tài đức vẹn toàn" của tác giả Nguyễn Mạnh Đẩu. Theo tác giả bài viết, ở Trung tướng Nguyễn Quốc Thước luôn tỏa sáng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ vì dân, vì nước và sáng đẹp nghĩa tình đồng đội. Cốt cách con người ông, trí dũng đã hòa quyện với nhân văn...

Bên cạnh các tướng lĩnh, cựu chiến binh tuổi cao vẫn xông pha trên mặt trận mới, nhiều nhân vật trong các tác phẩm dự thi là những cán bộ, chiến sĩ, doanh nhân, vận động viên, nghệ sĩ miệt mài lao động sáng tạo; y sĩ, bác sĩ tận tâm vì người bệnh, góp phần phát triển y học Việt Nam; nhà khoa học, kỹ sư trẻ tài năng tìm tòi, khám phá làm chủ khoa học-công nghệ, khẳng định bản lĩnh quân nhân, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng... Một trong những nhân vật tiêu biểu đó là Thượng úy Nguyễn Tuấn Anh (Trung tâm Dịch vụ an toàn thông tin, Công ty An ninh mạng Viettel, Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội). Là một "hacker mũ trắng", anh chính là người tìm ra hơn 500 lỗ hổng bảo mật trên nền tảng tìm kiếm lỗ hổng bảo mật lớn nhất toàn cầu BugCrowd. 4 năm liên tiếp (2020-2023), Tuấn Anh đều lọt vào bảng xếp hạng các chuyên gia bảo mật hàng đầu thế giới trên nền tảng này cùng nhiều thành tích xuất sắc khác. 

Trong hành trình vẻ vang của 80 năm QĐND, 80 năm Ngày truyền thống Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam, có những người chiến sĩ lặng lẽ góp trí tuệ, công sức, miệt mài để viết ra những trang văn về người lính, trong chiến tranh và hòa bình, trong đạn bom khốc liệt và thời cơ chế thị trường phức tạp. Những người viết ra những trang văn ấy không chỉ giỏi chữ nghĩa, dày vốn sống mà cái chính yếu là phải có trái tim luôn cùng nhịp đập với người chiến sĩ, với nhân dân, với Tổ quốc trong toàn bộ cuộc đời mình.

Nhà văn Chu Lai là một trong số đó. Theo tác giả Phùng Văn Khai trong tác phẩm "Nhà văn Chu Lai tha thiết với đề tài người lính trong văn chương", anh coi nhà văn Chu Lai là một tượng đài văn chương trước tiên và trước hết chính là sự lao động nghệ thuật đến tận cùng của ông. Nhà văn-chiến sĩ này luôn như ngọn đèn hải đăng dẫn đường và đồng hành với thế hệ trẻ trong đời sống và nghiệp bút hôm nay...

Và còn biết bao tấm gương người chiến sĩ làm nhiệm vụ khó khăn, vất vả nơi biên cương, hải đảo của Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế, gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Dù trong hoàn cảnh nào, họ cũng luôn nỗ lực, cố gắng, phát huy phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ, để lại dấu ấn, hình ảnh đẹp trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế, tô thắm thêm truyền thống vẻ vang 80 năm QĐND Việt Nam.

Đúng như lời tâm sự của Đại úy, Thạc sĩ, bác sĩ Lã Văn Tuấn, Bệnh xá trưởng Bệnh xá đảo Trường Sa (huyện Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa), khi đứng giữa biển trời bao la với những cánh chim hải âu tung bay trên ngọn sóng, rằng: “Ra đây rồi chúng tôi thấy trong đầu mình không còn tồn tại suy nghĩ toan tính thiệt hơn, sướng khổ, mà tất cả là vì tình yêu Tổ quốc, vì sức khỏe của bộ đội và nhân dân”.

Tiếp tục tôn vinh giá trị chân - thiện - mỹ
Cuộc thi viết "Những tấm gương bình dị mà cao quý" do Báo QĐND chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị đồng hành tổ chức lần đầu tiên vào năm 2008, nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc. Từ đó đến nay, cuộc thi được duy trì đều đặn suốt 15 năm qua.

Là người rất tâm huyết và gắn bó với cuộc thi ngay từ khi lên ý tưởng lần đầu đến nay, Trung tướng Lê Phúc Nguyên, nguyên Tổng biên tập Báo QĐND cho biết, Cuộc thi viết "Những tấm gương bình dị mà cao quý" được tổ chức nhằm mục đích phát hiện, tuyên truyền, biểu dương, tôn vinh những con người bình dị thường ngày vẫn âm thầm làm việc có ích cho xã hội. Những hành động, việc làm, suy nghĩ của họ có thể bình dị, nhưng ẩn trong sự bình dị đó là những giá trị cao quý về lòng yêu nước, tình thương yêu con người, sự hy sinh quên mình vì cộng đồng, tinh thần trách nhiệm và bổn phận người cán bộ, đảng viên và nghĩa vụ công dân. Sẽ càng cao quý nếu suy nghĩ, việc làm của những con người bình dị đó được chia sẻ với nhiều người, để mọi người cùng cảm nhận, cùng học tập, làm theo, để cái tốt, cái đẹp lan tỏa không ngừng...

Trải qua hành trình ấy, Cuộc thi viết "Những tấm gương bình dị mà cao quý" không ngừng được cải tiến, đổi mới, sáng tạo để thu hút sự quan tâm của bạn đọc. Không chỉ nêu việc thiện, tấm lòng nhân ái mà cuộc thi còn tôn vinh cả trí tuệ, tinh thần vượt qua khó khăn, làm kinh tế giỏi vì sự phát triển phồn thịnh của đất nước. Điều đó ngày càng thể hiện được nét đặc sắc của cuộc thi và cũng cho thấy sự kiên trì, bền bỉ của Báo QĐND trong nhiệm vụ tuyên truyền về người tốt, việc tốt, lấy cái tốt đẩy lùi cái xấu, cái tiêu cực, thiết thực cổ vũ việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Qua 15 lần tổ chức, đã có hàng chục nghìn tác phẩm dự thi, trong đó hàng nghìn tác phẩm đã được đăng tải trên các ấn phẩm của Báo QĐND với hàng trăm tác giả đã được Ban tổ chức trao giải và nhiều nhân vật trong các tác phẩm đoạt giải được tôn vinh. Thông qua đó, hàng nghìn tấm gương bình dị trên mọi lĩnh vực của cuộc sống có những suy nghĩ, việc làm thực sự mang lại ý nghĩa cao quý cho cộng đồng như những bông hoa lặng lẽ tỏa hương thơm cho đời xứng đáng được vinh danh.      

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền". "Lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới".

Tuyên truyền những tấm gương bình dị mà cao quý trong Quân đội và nhân dân chính là sứ mệnh cao cả của Báo QĐND nói riêng và báo chí nói chung. Do vậy, Cuộc thi viết "Những tấm gương bình dị mà cao quý" vẫn tiếp tục duy trì trong thời gian tới để cổ vũ, khích lệ, tôn vinh con người, nếp sống văn hóa, lan tỏa giá trị chân-thiện-mỹ, vì một xã hội ngày càng tốt đẹp hơn./.


Theo QĐND
Yêu nước ST.

Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.


Phương hướng này quán triệt quan điểm, nguyên tắc: Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, giữa phát huy nội lực với tranh thủ ngoại lực. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ, việc quán triệt quan điểm, nguyên tắc này càng có ý nghĩa quan trọng, góp phần tạo sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng và Nhà nước ta phải luôn giữ thế chủ động trong quan hệ đối ngoại, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa lên hàng đầu; đồng thời phải chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; tăng cường quan hệ hữu nghị với các nước, các tổ chức quốc tế, trên cơ sở luật pháp quốc tế và bình đẳng cùng có lợi.

Phương hướng này quán triệt quan điểm “lấy dân làm gốc” và thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa. Về xây dựng nền dân chủ: Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của tiến trình cách mạng; nhân dân là người suy đến cùng quyết định đến thành bại của cách mạng. Xây dựng nền dân chủ tiến bộ, tạo điều kiện cho con người phát triển, đồng thời huy động được sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Không ngừng mở rộng, phát huy dân chủ, thực hành dân chủ rộng rãi trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; đưa các giá trị, chuẩn mực, nguyên tắc của dân chủ vào thực tiễn cuộc sống, bảo đảm cho quần chúng nhân dân được tham gia quản lý nhà nước, bàn bạc các chủ trương, quyết sách liên quan đến vận mệnh dân tộc. Xác định những chủ trương, giải pháp phù hợp thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc và tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất, quy tụ toàn dân tộc tạo động lực và nguồn lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội

 


Phương hướng này quán triệt quan điểm, nguyên tắc: Xây phải đi đôi với chống. Xây dựng đất nước là nhiệm vụ quan trọng, xuyên suốt, song chúng ta không lơ là mất cảnh giác trước âm mưu của các thế lực thù địch, các thế lực ngoại bang đang tìm mọi thủ đoạn phá hoại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta. Những hoạt động gây mất trật tự, an ninh, an toàn trong nước, không chỉ cản trở sự phát triển của xã hội mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Thực hiện phương hướng này, cho phép đất nước ta luôn tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; nâng cao cảnh giác, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, đẩy lùi các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

 


Phát triển kinh tế gắn với xây dựng, phát triển văn hóa và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, chăm lo, phát triển con người toàn diện là bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa. Qua đó, sẽ động viên, khơi dậy được tính tích cực, sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng, bảo vệ chế độ xã hội mới. Thực hiện phương hướng này, phải xây dựng nền văn hoá mới, tiên tiến cả về nội dung và hình thức, trong đó phải giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại. Đồng thời quan tâm, chăm lo đến sự phát triển toàn diện cả phẩm chất, năng lực của con người, trên cơ sở đặt con người đúng vị trí trung tâm của sự phát triển; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển đất nước với thực hiện chính sách xã hội đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc và sự bình đẳng cho nhân dân.

Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

 


Trong thời kỳ quá độ, do trình độ của lực lượng sản xuất ở mức thấp, còn nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nên kinh tế thị trường còn tồn tại là tất yếu. Phát triển nền kinh tế thị trường để thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế. Phát triển nền kinh tế thị trường phải gắn với định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm hạn chế những tiêu cực do mặt trái của nền kinh tế thị trường gây nên. Phương hướng này, đảm bảo cho nền kinh tế vận hành theo các quy luật khách quan của thị trường, tham gia mạnh mẽ vào thị trường quốc tế, song phải có sự quản lý của Nhà nước và dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhà nước sử dụng các công cụ tài chính, chính sách, nguồn lực để điều tiết nền kinh tế, ngăn chặn, đẩy lùi những ảnh hưởng, những tác động tiêu cực từ mặt trái của kinh tế thị trường; đồng thời phát huy tối đa những lợi thế, những mặt mạnh của kinh tế thị trường, phát triển mạnh sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống nhân dân, giữ vững những giá trị tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội.

Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường

 


Vấn đề cơ bản, suy đến cùng để chủ nghĩa xã hội thành công và tạo ra nhiều của cải, đa dạng sản phẩm cho xã hội đó là phải phát triển nhanh lực lượng sản xuất. Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước tạo bước nhảy cho nước ta phát triển lực lượng sản xuất hiện đại. Trong điều kiện khoa học kỹ thuật, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển như vũ bão, vai trò quan trọng của tài nguyên, môi trường, đòi hỏi phải đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường. Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải gắn với tăng yếu tố tri thức, phát huy vai trò đội ngũ trí thức trên mọi lĩnh vực xã hội. Phải có chiến lược, giải pháp khoa học để bảo vệ tài nguyên, môi trường và khai thác hợp lý tài nguyên, các yếu tố của môi trường cho sự phát triển kinh tế.

Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa không còn, phong trào xã hội chủ nghĩa lâm vào giai đoạn khủng hoảng, thoái trào; những tác động tiêu cực của tình hình thế giới khó khăn cho đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 


Vào những năm cuối thế kỷ XX, mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào. Chủ nghĩa tư bản có sự điều chỉnh thích nghi. Điều đó làm cho vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam càng trở lên khó khăn. Việt Nam mất đi chỗ dựa vững chắc từ thành trì chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, đây là cơ hội cho các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa xã hội. Trong nội bộ Đảng và nhân dân tamột số người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa xã hội, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta. Điều đó, đặt ra những khó khăn, thách thức trong cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận nhằm bảo vệ mục tiêu con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đem lại những thời cơ, vận hội, đồng thời cũng làm xuất hiện cả những thách thức, nguy cơ đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nổi lên đó là khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu tác động tiêu cực đến mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Hậu quả của nó tác động đến tất cả các mặt của đời sống: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và quốc phòng, an ninh.

Xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ do mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên, can thiệp lật đổ, khủng bố tiếp diễn biến phức tạp; các điểm nóng vẫn tồn tại và mở rộng ở nhiều khu vực trên thế giới. Bên cạnh đó, cộng đồng quốc tế phải đối phó ngày càng quyết liệt hơn với các thách thức an ninh phi truyền thống, đang tiếp tục diễn biến phức tạp, đe dọa nghiêm trọng đến sự phát triển bền vững của nhiều quốc gia. Đó là những vấn đề mang tính toàn cầu không một quốc gia nào có thể tự giải quyết mà cần sự chung tay của cộng đồng quốc tế.

Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị luôn tìm mọi thủ đoạn phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

 


Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam với chiến lược toàn cầu phản cách mạng “diễn biến hòa bình”, là một trong bốn nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam. Sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động cấu kết với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị bằng mọi thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Mục đích chính trị của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị là nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận khả năng thắng lợi của con đường quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Đây là những tác động tiêu cực đến tâm lý, tình cảm, niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

MỌI NGƯỜI LUÔN CẢNH GIÁC ÂM MƯU THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM!

     Các thế lực thù địch luôn ráo riết đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, kích động xu hướng chia rẽ, ly khai, gây mất ổn định xã hội, để lấy cớ can thiệp. Để thực hiện âm mưu, chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” được chúng triệt để lợi dụng. Các hoạt động mà lực lượng chống đối ở trong nước được thực hiện một cách ráo riết nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm mất ổn định chính trị - xã hội ở nước tá.

Các phương thức hoạt động chủ yếu được các thế lực thù địch, những phần tử phản động lưu vong, phần tử xấu sử dụng là:
Thứ nhất, tích cực ủng hộ những phần tử bất mãn, cực đoan, quá khích trong một số cộng đồng tôn giáo, tổ chức lôi kéo, kích động quần chúng tín đồ biểu tình, gây rối dẫn tới bạo loạn để lấy cớ can thiệp từ “bên ngoài”.

Thứ hai, kết hợp chặt chẽ vấn đề “tôn giáo” với vấn đề “dân tộc” để kích động tâm lý mặc cảm, tư tưởng ly khai, tư tưởng chống đối trong cộng đồng đồng bào có đạo và đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ ba, tiến hành những hoạt động chiến tranh tâm lý, phá hoại tư tưởng, tuyên truyền kích động mâu thuẫn, xung đột, nhất là đối lập về hệ tư tưởng giữa “hữu thần” với “vô thần”, giữa thế giới quan tôn giáo với thế giới quan cộng sản.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, các thế lực thù địch, phản động lưu vong sẽ vẫn tiếp tục lợi dụng tôn giáo với nhiều hình thức, thủ đoạn mới để lôi kéo, tập hợp lực lượng, tiếp tục hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng tiếp tục chỉ đạo từ bên ngoài, móc nối với những phần tử chống đối ở trong nước xây dựng cơ sở, tìm cách để các hoạt động chống phá. Do vậy vẫn tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất ổn định, khó lường trước, nên cần hết sức quan tâm, không thể xem thường. Do vậy, cần phải nêu cao tinh thần cảnh giác và chủ động ngăn chặn, đối phó với các hoạt động chống phá của chúng./.
--------------
P/s: Cảnh báo: VOA, RFA, RFI, Việt Tân, Chân trời mới Media, THÔNG LUẬN MỞ, Dân Tiếng, Đàn chim Việt (Cali) là những trang truyền thông hải ngoại chống phá Nhà nước Việt Nam. Người dân cần hết sức cảnh giác luận điệu xuyên tạc, chống phá của chúng.
Khuyết danh ST.

Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội với xuất phát điểm thấp là nước lạc hậu, trải qua hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, đất nước gặp muôn vàn khó khăn.

 


Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, trình độ sản xuất thấp, tàn dư của xã hội cũ còn tồn tại nặng nề. “Càng đi vào chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta càng nhận thức được rằng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội[1]. Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thắng lợi, nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát rất thấp. Lực lượng sản xuất ở trình độ thấp; nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại đan xen. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa còn nhiều bất cập, hạn chế; cơ cấu giai cấp - xã hội đa dạng, phức tạp, tồn tại đa xen nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội; cuộc đấu tranh giai cấp vẫn diễn ra gay gắt, phức tạp. Văn hoá, tinh thần, tâm lý, tập quán, lối sống cũ còn tồn tại; sự xâm nhập mạnh mẽ của văn hoá, lối sống tư sản.

Hai cuộc chiến tranh do thực dân Pháp và đế quốc Mỹ gây ra đối với dân tộc ta để lại hậu quả hết sức nặng nề, nhất là sự tổn thất về sinh mạng con người không gì có thể bù đắp được; sự tàn phá các cơ sở kinh tế, cơ sở hạ tầng; các công trình, các di sản văn hoá; sự tàn phá môi trường sinh thái… Điều đó, làm mất đi nguồn lực vô cùng to lớn để xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ; không những thế, nhiều di chứng, nhiều hậu quả của chiến tranh còn ảnh hưởng đến tận ngày nay không dễ gì khắc phục. Đây là những tác động tiêu cực, những khó khăn rất lớn đối với nước ta để vượt qua thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.



[1] Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2022, tr. 25.

Cơ sở thực tiễn sự ra đời hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa

 


Lịch sử nhân loại đã trải qua 4 hình thái kinh tế - xã hội: Cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tư bản chủ nghĩa. Từ giữa thế kỷ XIX, lực lượng sản xuất có bước phát triển mạnh mẽ. Đó là sự ra đời của nền công nghiệp hiện đại. Đại công nghiệp là nền sản xuất với kỹ thuật hiện đại dựa trên sự phát triển của khoa học với những phát minh mới nhất thường xuyên cách mạng hóa. Đến nay, lực lượng sản xuất đã đạt tới trình độ sản xuất hiện đại, “kinh tế tri thức” ra đời, khoa học ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và có vai trò ngày càng quan trọng trong sản xuất và đời sống con người. Trí tuệ nhân tạo (AI) xuất hiện và đóng vai trò ngày càng lớn, làm biến đổi phương thức hoạt động, thay thế con người ở nhiều lĩnh vực.

Trước sự phát triển như vũ bão của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng trở thành lực cản cho sự phát triển xã hội. Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất xã hội hóa ngày càng cao với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đòi hỏi phải xóa bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, xác lập quan hệ sản mới tiến bộ hơn - đó là quan hệ sản xuất cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.

Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa đã hình thành, phát triển từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và tồn tại đến ngày nay. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, các nước xã hội chủ nghĩa đã thu được những thành tựu to lớn không thể phủ nhận được trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, khoa học - công nghệ và quân sự. Điều đó không chỉ khẳng định sự ra đời và phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa là một tất yếu lịch sử, mà còn cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của nhân dân lao động vì mục tiêu hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Tuy nhiên, do sai lầm nghiêm trọng về đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức trong cải tổ, cải cách và sự chống phá quyết liệt của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đã sụp đổ, điều đó làm cho con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản của nhân loại trở nên quanh co, phức tạp. Song tuyệt nhiên điều đó không có nghĩa là “sự kết thúc của lịch sử” thế giới. Thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba đã và đang đạt được những thành tựu quan trọng, tạo nên những chuyển biến tích cực và khẳng định sự tồn tại, phát triển, triển vọng của chủ nghĩa xã hội.

Chủ nghĩa tư bản đang cố gắng “tự điều chỉnh” và sử dụng triệt để những thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ, nên đã đạt được những thành tựu nhất định. Những thành tựu đó nói lên rằng chủ nghĩa tư bản hiện tại vẫn còn những tiềm năng phát triển, nhưng đó không phải là chế độ tương lai của nhân loại, bởi chủ nghĩa tư bản không thể khắc phục nổi những mâu thuẫn vốn có và những mâu thuẫn mới đang phát sinh, nó vẫn là chế độ bóc lột, phản dân chủ, vô nhân đạo làm tha hoá con người. Điều đó đã chứng tỏ sự ra đời và phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa là tất yếu lịch sử, hợp quy luật vận động phát triển của xã hội loài người.