Thứ Hai, 19 tháng 5, 2025

ĐẤU TRANH CHỐNG LẠI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG, VĂN HÓA TRONG QUÂN ĐỘI


Hiện nay, nhiệm vụ xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH, hội nhập quốc tế đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao. Để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ, Quân đội phải không ngừng nâng cao chất lượng chính trị, làm cơ sở để xây dựng vững mạnh về mọi mặt. Muốn làm được điều đó, cần phải đẩy mạnh đấu tranh trên lĩnh vực TT,VH là vấn đề cơ bản, cấp bách nhất.

NHẬN DIỆN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG, VĂN HÓA TRONG QUÂN ĐỘI


Công tác tư tưởng, văn hóa là một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng; là lĩnh vực trọng yếu để xây dựng, bồi đắp nền tảng chính trị của chế độ, tuyên truyền, giáo dục, động viên và tổ chức nhân dân thực hiện các nhiệm vụ cách mạng, khẳng định và nâng cao vai trò tiên phong của Đảng về chính trị, lý tưởng, trí tuệ, văn hóa và đạo đức; thể hiện vai trò đi trước, mở đường trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HOÁ, SỨC MẠNH CON NGƯỜI VIỆT NAM - GIÁ TRỊ NHÂN VĂN CAO CẢ CỦA CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA


Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh đến việc xây dựng và phát huy giá trị văn hoá, sức mạnh con người việt nam”, đây là quan điểm đúng đắn, nhất quán của Đảng, thể hiện bản chất ưu biệt và tính nhân văn cao cả của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng. Vấn đề này được Đảng xác định cụ thể trên một số nội dung sau:

Cung cấp kịp thời “liều thuốc miễn dịch” trong thời đại số


Cũng như cơ thể con người, nếu con người ta khỏe mạnh, cường tráng, có thể đủ sức đề kháng, thì chúng ta sẽ tự miễn dịch được các dịch cúm, đẩy lùi được các bệnh tật nguy hiểm. Vì vậy, cách tốt nhất là tạo sức đề kháng cho công chúng, cộng đồng mạng trước âm mưu, thủ đoạn là để mỗi công dân tiếp nhận đầy đủ thông tin, tri thức. Từ đó, mỗi người dân chủ động, tự giác, phản ứng, đấu tranh, phản bác kịp thời với các quan điểm sai trái phát tán trên in-tơ-nét.

Âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trong thời đại số


Thời đại công nghệ số 4.0 hiện nay đang làm thay đổi tư duy, nhận thức, tư tưởng, tình cảm của con người với thế giới chung quanh. Con người tiếp cận với tri thức nhanh chóng hơn, mở ra khả năng tương tác; phương thức tác động của chính quyền với người dân đa dạng hơn, nhất là thông qua mạng xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, các hoạt động phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn công nghệ số được các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị triệt để lợi dụng, thực hiện tinh vi và xảo quyệt, nguy hiểm hơn.

VẠCH TRẦN NỘI DUNG CHỐNG PHÁ CỦA KẺ ĐỊCH


 

Nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, âm mưu phá vỡ và lật đổ nền tảng tư tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch tiến hành nhiều hoạt động chống phá. Chúng tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm bác bỏ, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng. Chúng phủ nhận, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa bằng các luận điệu xuyên tạc như: “Đảng tự cho mình đứng trên tất cả”; “Đảng cầm quyền phi chính danh, không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”... Chúng tập trung xuyên tạc tình hình đất nước, rêu rao cái gọi là “khủng hoảng toàn diện”, “tình thế hiểm nghèo”, khoét sâu các vấn đề xã hội, tôn giáo, dân tộc, nhân quyền, đất đai,... nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Gần đây nhất chúng đã khoét sâu vào cuộc chiến quyết liệt phòng, chống tham nhũng, lãnh phí của Đảng ta; nguy hại hơn chúng đã dùng kết quả đấu tranh này để kích động, chia rẽ nội bộ đảng, kích động, gây hoang mang trong quần chúng nhân nhân, khiến một số bộ phần quần chúng dần mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và sự trung thành của LLVT với Tổ quốc.

Chủ Nhật, 18 tháng 5, 2025

Bài 10: "Từ Nghị Quyết Đến Hành Động: Biến Cam Kết Chính Trị Thành Kết Quả Cụ Thể, Thiết Thực"


Bài phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm đã không chỉ dừng lại ở việc quán triệt các nghị quyết quan trọng mà còn đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của khâu tổ chức thực hiện, chuyển hóa các chủ trương, đường lối của Đảng thành những hành động cụ thể và mang lại kết quả thiết thực cho người dân và đất nước. Tổng Bí thư đã khẳng định rằng, dù các nghị quyết có nội dung sâu sắc và tầm nhìn chiến lược đến đâu, nếu không được triển khai một cách quyết liệt, đồng bộ và hiệu quả, thì những mục tiêu tốt đẹp đề ra cũng khó có thể trở thành hiện thực.

Tổng Bí thư đã kêu gọi toàn bộ hệ thống chính trị, từ trung ương đến địa phương, phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, đổi mới tư duy và bứt phá trong hành động. Việc cụ thể hóa các nội dung của nghị quyết thành các chương trình, kế hoạch hành động thiết thực, với mục tiêu, nhiệm vụ, lộ trình và phân công trách nhiệm rõ ràng, là một bước quan trọng để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả của việc thực hiện. Đồng thời, việc thiết lập các cơ chế kiểm tra, giám sát thường xuyên và đánh giá hiệu quả thực tế là cần thiết để đảm bảo rằng các cam kết chính trị được chuyển hóa thành những kết quả cụ thể, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân và doanh nghiệp.

Tổng Bí thư đã chỉ ra rằng, trong quá trình triển khai các nghị quyết, cần phải lấy hiệu quả thực tế làm thước đo năng lực và kết quả công tác của mỗi cấp, mỗi ngành và mỗi cá nhân. Việc đánh giá không chỉ dựa trên số lượng văn bản ban hành hay số lượng cuộc họp đã tổ chức, mà quan trọng hơn là những thay đổi tích cực và những tác động thực tế mà các chính sách mang lại cho đời sống kinh tế - xã hội.

Tổng Bí thư cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lắng nghe ý kiến và phản hồi từ người dân và doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các nghị quyết. Việc tăng cường đối thoại chính sách giữa Chính phủ, doanh nghiệp, người dân và giới trí thức sẽ giúp phát hiện những vướng mắc, bất cập trong quá trình triển khai và có những điều chỉnh kịp thời, phù hợp với thực tiễn.

Bài phát biểu cũng đề cập đến tinh thần "Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân" như lời dạy

Bài 9: "Doanh Nhân Việt Nam - Chiến Sĩ Trên Mặt Trận Kinh Tế: Khơi Dậy Tinh Thần Khởi Nghiệp, Vươn Tầm Thế Giới"


Bài phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm đã dành một sự quan tâm đặc biệt đến vai trò và vị thế của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong bối cảnh phát triển mới của đất nước. Tổng Bí thư đã khẳng định một cách mạnh mẽ rằng, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, doanh nhân Việt Nam chính là những "chiến sĩ" trên mặt trận kinh tế, đóng vai trò then chốt trong việc tạo ra của cải vật chất, giải quyết việc làm và nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia.

Tổng Bí thư nhấn mạnh rằng, trong tiến trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc khơi dậy và phát huy mọi nguồn lực trong xã hội trở thành một đòi hỏi cấp thiết để phát triển nhanh chóng. Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã thể hiện một bước tiến lớn trong tư duy lý luận và chỉ đạo thực tiễn của Đảng, xác định kinh tế tư nhân là "một động lực quan trọng nhất" của nền kinh tế quốc gia. Trong bối cảnh đó, vai trò của đội ngũ doanh nhân càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

Tổng Bí thư đã chỉ rõ rằng, doanh nhân Việt Nam không chỉ có trách nhiệm làm giàu cho bản thân và gia đình mà còn mang trong mình một sứ mệnh cao cả hơn, đó là góp phần dựng xây đất nước hùng cường và thịnh vượng. Họ là lực lượng nòng cốt trong việc hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đóng góp vào quá trình đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ và nâng cao năng suất lao động.

Bài phát biểu đã kêu gọi khơi dậy mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân có quyền mưu cầu cuộc sống phát triển, hạnh phúc và đóng góp vào sự phát triển của xã hội. Tổng Bí thư khẳng định rằng, Đảng và Nhà nước có trách nhiệm tạo ra một môi trường kinh doanh công bằng, minh bạch và ổn định, nơi mọi người dân đều có quyền và điều kiện để thể hiện khát vọng cống hiến và đổi mới sáng tạo.

Tổng Bí thư cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng một đội ngũ doanh nhân hiện đại, không chỉ giỏi kinh doanh mà còn có bản lĩnh chính trị vững vàng, trí tuệ, đạo đức nghề nghiệp, tinh thần dân tộc và khát vọng vươn tầm thế giới. Họ cần phải là những người có tầm nhìn chiến lược, có khả năng quản trị tiên tiến, có trách nhiệm xã hội cao và luôn đặt lợi ích quốc gia lên trên hết.

Bài báo kết luận rằng, trong kỷ nguyên mới, đội ngũ doanh nhân Việt Nam cần tiếp tục phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên mạnh mẽ. Họ cần không ngừng học hỏi, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh để không chỉ thành công trên thị trường trong nước mà còn vươn ra thị trường quốc tế, góp phần khẳng định vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Sự phát triển mạnh mẽ của đội ngũ doanh nhân Việt Nam chính là một trong những yếu tố then chốt để hiện thực hóa khát vọng về một Việt Nam hùng cường và thịnh vượng vào giữa thế kỷ XXI.

Bài 8: "Phát Huy Sức Mạnh Toàn Dân: Xây Dựng Khối Đại Đoàn Kết, Hiện Thực Hóa Khát Vọng Phát Triển Hùng Cường"


Trong bài phát biểu đầy tâm huyết của mình, Tổng Bí thư Tô Lâm đã đặc biệt nhấn mạnh vai trò và sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Tổng Bí thư khẳng định rằng, truyền thống anh hùng, trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng vươn lên không ngừng của toàn dân tộc Việt Nam là một nguồn lực vô giá, là nền tảng vững chắc để vượt qua mọi khó khăn và hiện thực hóa khát vọng về một Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh và hùng cường.

Tổng Bí thư đã nhắc lại lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Biết đồng sức, biết đồng lòng/ việc gì khó, làm cũng xong", để khẳng định sức mạnh vô địch của sự đoàn kết. Trong bối cảnh kỷ nguyên mới với nhiều cơ hội và thách thức đan xen, việc củng cố và phát huy hơn nữa sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Sự đồng lòng, chung sức của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân là yếu tố quyết định để biến khát vọng thành hành động, biến tiềm năng thành sức mạnh thực tế.

Tổng Bí thư kêu gọi mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Việt Nam phải xác định rõ vai trò và trách nhiệm của mình trong sự nghiệp chung của đất nước. Sự chủ động, sáng tạo và tinh thần đoàn kết thi đua yêu nước cần được phát huy cao độ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Mỗi người dân cần trở thành một chiến sĩ tiên phong trên mặt trận phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân.

Tổng Bí thư cũng nhấn mạnh vai trò gương mẫu, tiên phong của đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp, từ trung ương đến địa phương. Cán bộ phải là những người đi đầu trong đổi mới tư duy và hành động, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích quốc gia, thậm chí dám hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung. Các chương trình hành động cần được triển khai một cách quyết liệt, bài bản, với hiệu quả thực tế là thước đo năng lực và kết quả công tác.

Đặc biệt, Tổng Bí thư đã khẳng định người dân và doanh nghiệp phải được xác định là trung tâm và chủ thể sáng tạo trong quá trình phát triển. Cần phải bồi đắp mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp quốc gia, khơi dậy nguồn lực đổi mới sáng tạo trong toàn xã hội, phát triển kinh tế số, kinh tế tri thức, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, để đưa Việt Nam tiến nhanh và tiến mạnh trên con đường hiện đại hóa và hội nhập.

Tổng Bí thư cũng nhắc đến sự đoàn kết và thống nhất trong Ban Chấp hành Trung ương, thể hiện quyết tâm và sự đồng lòng cao độ trong việc lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII đã đề ra. Những nỗ lực không ngừng nghỉ của Bộ Chính trị và Ban Bí thư trong việc giải quyết các vấn đề cốt lõi, tháo gỡ các "điểm nghẽn" và tạo không gian phát triển mới cho đất nước đã nhận được sự theo dõi, đồng tình và ủng hộ rộng rãi của nhân dân cả nước.

Bài báo kết luận rằng, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là một tài sản vô giá của Việt Nam. Trong kỷ nguyên mới, việc tiếp tục củng cố và phát huy sức mạnh này, dựa trên tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên mạnh mẽ, sẽ là động lực to lớn để hiện thực hóa khát vọng về một đất nước phồn vinh, hùng cường và hạnh phúc

Bài 7: "Đổi Mới Tư Duy, Hành Động Quyết Liệt: Kiến Tạo Môi Trường Phát Triển Năng Động, Sáng Tạo"

Một trong những thông điệp mạnh mẽ và xuyên suốt trong bài phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm là yêu cầu về sự đổi mới tư duy và hành động một cách quyết liệt trong toàn bộ hệ thống chính trị. Tổng Bí thư đã chỉ rõ rằng, trong bối cảnh thế giới đang thay đổi nhanh chóng và đầy thách thức, việc duy trì tư duy cũ và lối làm việc trì trệ sẽ là một rào cản lớn đối với sự phát triển của đất nước. Để có thể nắm bắt cơ hội và vượt qua thách thức, Việt Nam cần một cuộc cách mạng thực sự trong tư duy và hành động.

Tổng Bí thư nhấn mạnh rằng, sự đổi mới tư duy cần phải bắt đầu từ cấp lãnh đạo cao nhất đến từng cán bộ, đảng viên và người dân. Cần phải xóa bỏ những lối mòn tư duy, những quan điểm bảo thủ và ngại thay đổi. Thay vào đó, cần khuyến khích tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám đột phá và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích quốc gia. Sự chủ động, sáng tạo và tinh thần dám đương đầu với những thách thức mới là những yếu tố then chốt để tạo ra một môi trường phát triển năng động và hiệu quả.

Đi đôi với đổi mới tư duy là yêu cầu về hành động quyết liệt. Tổng Bí thư đã chỉ ra rằng, những chủ trương và nghị quyết tốt đẹp sẽ không thể mang lại kết quả nếu không được triển khai một cách mạnh mẽ và đồng bộ. Cần phải chuyển hóa các quyết sách thành những hành động cụ thể, có kế hoạch rõ ràng và được thực hiện một cách nghiêm túc. Sự chậm trễ và thiếu quyết đoán trong hành động sẽ làm mất đi những cơ hội quý giá và khiến Việt Nam tụt lại phía sau.

Tổng Bí thư đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết của việc chuyển đổi tư duy từ "quản lý" sang "phục vụ". Các cơ quan nhà nước cần xem người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là đối tượng phục vụ, thay vì chỉ tập trung vào việc kiểm soát và quản lý. Việc tạo ra một môi trường thuận lợi, minh bạch và công bằng cho người dân và doanh nghiệp hoạt động và phát triển sẽ là động lực mạnh mẽ cho sự tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội.

Bên cạnh đó, Tổng Bí thư cũng kêu gọi xây dựng một môi trường khuyến khích đổi mới sáng tạo. Điều này đòi hỏi việc tạo ra một hệ sinh thái hỗ trợ cho các hoạt động nghiên cứu, phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến khích khởi nghiệp và tạo điều kiện cho các ý tưởng mới được hình thành và triển khai. Sự sáng tạo không chỉ là động lực cho tăng trưởng kinh tế mà còn là chìa khóa để giải quyết những thách thức phức tạp mà đất nước đang phải đối mặt.

Tổng Bí thư cũng đề cập đến tầm quan trọng của việc dám hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung. Trong quá trình đổi mới và phát triển, có thể sẽ có những sự điều chỉnh và thay đổi gây ra những tác động nhất định đến lợi ích của một số cá nhân hoặc nhóm người. Tuy nhiên, vì mục tiêu chung của sự phát triển đất nước, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải đặt lợi ích quốc gia lên trên hết và sẵn sàng chấp nhận những sự hy sinh cần thiết.

Bài báo kết luận rằng, sự đổi mới tư duy và hành động quyết liệt là một yêu cầu cấp bách và mang tính sống còn đối với sự phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Chỉ khi toàn bộ hệ thống chính trị và mỗi người dân thay đổi cách nghĩ và cách làm, dám đối diện với những thách thức và tận dụng những cơ hội, Việt Nam mới có thể kiến tạo một môi trường phát triển năng động, sáng tạo và đạt được những thành tựu to lớn trong tương lai.

Bài 6: "Năm 2025 - Bản Lề Đột Phá: Triển Khai Quyết Liệt 8 Nhiệm Vụ Trọng Tâm, Hiện Thực Hóa Khát Vọng Phát Triển"


Bài phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm đã đặc biệt nhấn mạnh vai trò then chốt của năm 2025, xem đây là một năm bản lề, mở ra một kỷ nguyên phát triển mới cho Việt Nam. Trong bối cảnh mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 chỉ còn hai thập niên phía trước, Tổng Bí thư đã cảnh báo về nguy cơ tụt lại nếu không nắm bắt kịp nhịp độ cải cách và tạo ra những đột phá ngay từ bây giờ. Trên tinh thần đó, Tổng Bí thư đã chỉ ra 8 nhiệm vụ trọng tâm cần được toàn hệ thống chính trị khẩn trương thực hiện trong năm 2025, với mục tiêu lấy hiệu quả thực tế làm tiêu chí đánh giá.

Nhiệm vụ đầu tiên và có tính nền tảng là việc nhanh chóng hoàn thiện và ban hành các chương trình, kế hoạch hành động quốc gia để thực hiện đồng bộ cả bốn nghị quyết quan trọng (57, 59, 66, 68). Tổng Bí thư yêu cầu đảm bảo sự gắn kết chặt chẽ giữa các nghị quyết, xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, lộ trình và phân công cụ thể trách nhiệm. Đồng thời, việc thiết lập một bộ chỉ số theo dõi và đánh giá định kỳ là cần thiết để đảm bảo tiến độ và hiệu quả thực hiện.

Nhiệm vụ thứ hai là khẩn trương rà soát toàn diện hệ thống pháp luật, triển khai sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ các quy định bất cập theo tinh thần Nghị quyết 66-NQ/TW. Ưu tiên hàng đầu là sửa đổi các quy định liên quan đến quyền sở hữu tài sản, tự do kinh doanh, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế. Đặc biệt, Tổng Bí thư đã đề xuất nghiên cứu ban hành Luật Phát triển kinh tế tư nhân, thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến việc tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho khu vực kinh tế này.

Nhiệm vụ thứ ba tập trung vào lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tổng Bí thư yêu cầu khởi động ngay các chương trình trọng điểm, phê duyệt và triển khai các chương trình quốc gia, hình thành thêm các trung tâm đổi mới sáng tạo mới và xây dựng khung pháp lý cho mô hình sandbox, tạo môi trường thử nghiệm và ứng dụng các công nghệ mới.

Trong lĩnh vực hội nhập quốc tế, nhiệm vụ thứ tư là tập trung đàm phán và thực thi hiệu quả các FTA thế hệ mới, đặc biệt là CPTPP, EVFTA, RCEP, UKVFTA và đặc biệt là đàm phán hiệu quả FTA với Hoa Kỳ. Đồng thời, cần chủ động chuẩn bị tham gia các hiệp định mới như DEPA và IPEF, tận dụng các cam kết hội nhập để chuyển hóa thành tăng trưởng thực tế.

Nhiệm vụ thứ năm là thực hiện đột phá trong cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, với mục tiêu cắt giảm ít nhất 30% thủ tục hành chính, số hóa dịch vụ công, hỗ trợ vốn, công nghệ và chuyển đổi số cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời xây dựng đề án phát triển các tập đoàn tư nhân lớn.

Để đảm bảo sự lãnh đạo và chỉ đạo hiệu quả, nhiệm vụ thứ sáu là kiện toàn bộ máy lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp thực hiện các nghị quyết, thành lập các Ban chỉ đạo chuyên trách ở cấp trung ương và cấp tỉnh, đảm bảo cơ chế chỉ đạo thống nhất, kiểm tra và giám sát thường xuyên.

Nhiệm vụ thứ bảy là ưu tiên đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực để triển khai các nghị quyết, tập trung vào các lĩnh vực pháp luật hiện đại, khoa học công nghệ, hội nhập quốc tế và quản trị doanh nghiệp, đồng thời bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trẻ có tư duy đổi mới, năng lực số và khả năng thích ứng toàn cầu.

Cuối cùng, nhiệm vụ thứ tám là đẩy mạnh truyền thông và tạo đồng thuận xã hội, xây dựng các chương trình truyền thông quốc gia về từng nghị quyết, tăng cường đối thoại chính sách giữa Chính phủ, doanh nghiệp, người dân và giới trí thức, huy động trí tuệ xã hội cho quá trình triển khai.

Bài báo kết luận rằng, năm 2025 không chỉ là một dấu mốc thời gian mà còn là một cơ hội vàng để Việt Nam tạo ra những bước đột phá thực sự. Việc triển khai nhanh chóng, bài bản và thực chất 8 nhiệm vụ trọng tâm này sẽ quyết định liệu Việt Nam có thể bắt kịp nhịp độ phát triển của thế giới và hiện thực hóa khát vọng trở thành một quốc gia hùng cường và thịnh vượng hay không.

Bài 5: "Hội Nhập Quốc Tế Chủ Động, Sâu Rộng: Nâng Cao Vị Thế, Bảo Vệ Lợi Ích Quốc Gia Trong Bối Cảnh Toàn Cầu Biến Động"


Trong bối cảnh quốc tế đang trải qua những biến động nhanh chóng và phức tạp, với sự gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chủ nghĩa bảo hộ có xu hướng gia tăng, cùng với những thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu, dịch bệnh và an ninh phi truyền thống, Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới đã thể hiện một tầm nhìn chiến lược sâu sắc và kịp thời của Đảng ta.

Bài phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt đã làm rõ hơn nữa tầm quan trọng và ý nghĩa của Nghị quyết này. Tổng Bí thư nhấn mạnh rằng, sự ra đời của Nghị quyết 59 là một quyết sách đột phá, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trong tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước, xác định hội nhập là một động lực chiến lược để Việt Nam vững bước vào kỷ nguyên mới. Nghị quyết thể hiện một tầm nhìn sâu sắc: hội nhập quốc tế không chỉ đơn thuần là mở cửa và giao lưu, mà là một sự nghiệp tổng hợp, đòi hỏi sự chủ động, tích cực và bản lĩnh rất cao.

Quan điểm xuyên suốt của Nghị quyết, được Tổng Bí thư tái khẳng định, là hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân tộc, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm và là chủ thể sáng tạo. Điều này đòi hỏi sự nhận thức sâu sắc rằng hội nhập không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan đối ngoại hay hoạt động đối ngoại nhà nước, mà là một quá trình tổng hợp, yêu cầu sự tham gia chủ động, tích cực và sáng tạo của toàn bộ hệ thống chính trị, của từng người dân, từng doanh nghiệp, từng ngành nghề và từng lĩnh vực.

Tổng Bí thư Tô Lâm đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc nội lực đóng vai trò quyết định, trong đó bao gồm sức mạnh của nền kinh tế, văn hóa, thể chế và nguồn nhân lực. Ngoại lực chỉ là nguồn bổ sung và hỗ trợ cho quá trình phát triển, đảm bảo hội nhập toàn diện và sâu rộng nhưng vẫn giữ vững độc lập tự chủ, nâng cao năng lực tự cường và khả năng thích ứng trước mọi biến động toàn cầu.

Nghị quyết 59 đã đề ra những định hướng chiến lược toàn diện và sâu sắc trên nhiều lĩnh vực. Về kinh tế, cần đẩy mạnh hội nhập gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hiện đại, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, nâng cao năng lực cạnh tranh dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Về chính trị, quốc phòng và an ninh, hội nhập phải đi đôi với việc củng cố quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện, tăng cường tin cậy chính trị, giữ vững độc lập, chủ quyền và môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước. Trong các lĩnh vực khoa học công nghệ, giáo dục, y tế và môi trường, cần tận dụng hội nhập để nâng cao trình độ quốc gia, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Một nội dung đặc biệt quan trọng và mang tính nền tảng trong Nghị quyết là việc xây dựng đội ngũ cán bộ hội nhập quốc tế vững mạnh. Tổng Bí thư nhấn mạnh sự cần thiết của việc tập trung đào tạo và bồi dưỡng cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, chuyên môn sâu rộng, khả năng thích ứng linh hoạt với môi trường toàn cầu và kỹ năng phối hợp liên ngành, đáp ứng yêu cầu hội nhập ngày càng sâu rộng và phức tạp.

Bài báo kết luận rằng, hội nhập quốc tế trong tình hình mới đòi hỏi Việt Nam phải chủ động hơn, quyết liệt hơn và sáng tạo hơn, trên nền tảng kiên định độc lập tự chủ, đồng thời linh hoạt và nhạy bén trong chiến lược và sách lược đối ngoại, tận dụng tối đa cơ hội và vượt qua thách thức để đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Nghị quyết 59 thực sự là kim chỉ nam hành động cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong công cuộc hội nhập quốc tế ở kỷ nguyên mới.

Bài 4: "Pháp Luật Kiến Tạo Phát Triển: Cải Cách Thể Chế, Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa"


Trong bối cảnh đất nước đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với những yêu cầu ngày càng cao về hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trở thành một yếu tố sống còn, quyết định sự thành công của quá trình vươn mình của dân tộc. Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị đã ra đời trong bối cảnh đó, xác định rõ ràng: đổi mới căn bản công tác xây dựng và thi hành pháp luật là nội dung cốt lõi, nền tảng cho tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Bài phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt đã làm sâu sắc thêm tầm quan trọng của Nghị quyết này. Tổng Bí thư nhấn mạnh rằng, pháp luật không chỉ đơn thuần là công cụ để điều chỉnh hành vi xã hội mà còn phải được xem là cơ sở để tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước, là nền tảng vững chắc để bảo vệ quyền con người, quyền công dân, và là đòn bẩy mạnh mẽ để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Nghị quyết, được Tổng Bí thư tái khẳng định, là công tác xây dựng và thi hành pháp luật phải trở thành nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của toàn Đảng và toàn hệ thống chính trị, gắn liền mật thiết với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Đồng thời, hệ thống pháp luật phải đảm bảo tính đồng bộ, khả thi, minh bạch và ổn định, lấy thực tiễn phát triển làm thước đo, đồng thời phải có tính dự báo cao, chủ động dẫn dắt sự phát triển chứ không chỉ chạy theo để điều chỉnh.

Trên cơ sở đó, Nghị quyết 66 đã đặt ra ba nhiệm vụ trọng tâm. Thứ nhất là hoàn thiện thể chế trong các lĩnh vực then chốt như tổ chức bộ máy nhà nước tinh gọn và hiệu quả; phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo vệ quyền con người; xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh và cạnh tranh. Thứ hai là đổi mới quy trình xây dựng pháp luật theo hướng chủ động, kiến tạo, đảm bảo pháp luật thống nhất, đồng bộ, cụ thể, dễ hiểu và dễ thực thi. Thứ ba là nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, tăng cường kỷ luật và kỷ cương trong tổ chức thực thi, gắn quyền lực với trách nhiệm giải trình.

Tổng Bí thư Tô Lâm đã đặc biệt nhấn mạnh tinh thần cải cách trong công tác xây dựng pháp luật. Đó là sự chuyển đổi căn bản từ tư duy "quản lý" sang "phục vụ", từ bị động sang chủ động, kiến tạo sự phát triển. Việc xây dựng pháp luật phải đi trước một bước, đảm bảo tính dự báo cao và phù hợp với thực tiễn cũng như yêu cầu của sự phát triển nhanh chóng. Đồng thời, việc thi hành pháp luật phải nghiêm minh, công bằng và thực chất, đi đôi với quá trình chuyển đổi số để đảm bảo công khai, minh bạch và thuận tiện hóa tối đa cho người dân và doanh nghiệp. Việc phân cấp, phân quyền rõ ràng, gắn với trách nhiệm giải trình, xóa bỏ cơ chế "xin - cho" và triệt tiêu các lợi ích cục bộ cũng là những yêu cầu quan trọng.

Bài báo kết luận rằng, Nghị quyết 66 chính là lời hiệu triệu cho một cuộc cải cách thể chế sâu sắc, nhằm xây dựng một hệ thống pháp luật hiện đại, thực chất, vì nhân dân phục vụ, đồng thời tạo ra động lực bền vững cho công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh trong thế kỷ XXI.

Bài 3: "Khoa Học, Công Nghệ và Đổi Mới Sáng Tạo: Đột Phá Chiến Lược, Bứt Phá Năng Lực Cạnh Tranh Quốc Gia"


Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, kéo theo những chuyển đổi sâu rộng trong mô hình phát triển toàn cầu, bài phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt đã đặc biệt nhấn mạnh vai trò then chốt của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST). Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định rõ ràng: phát triển KHCN&ĐMST và chuyển đổi số là một đột phá chiến lược, là động lực chủ yếu để thúc đẩy hiện đại hóa đất nước, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, và phát triển kinh tế - xã hội một cách nhanh chóng và bền vững.

Tổng Bí thư đã khẳng định một cách mạnh mẽ rằng, trong kỷ nguyên mới, KHCN&ĐMST không chỉ đơn thuần là công cụ hỗ trợ mà phải được xác định là nền tảng phát triển và lực đẩy chủ yếu cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI), internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data) và các công nghệ tiên tiến khác đang tạo ra những cơ hội chưa từng có, đồng thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với mọi quốc gia. Việt Nam không thể đứng ngoài xu thế này nếu không muốn tụt hậu trong cuộc đua phát triển toàn cầu.

Bài phát biểu đã chỉ ra những yêu cầu cụ thể để quán triệt tinh thần Nghị quyết 57. Trước hết, cần nâng cao nhận thức của toàn xã hội, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp và các cơ quan hoạch định, thực thi chính sách, về vai trò đặc biệt quan trọng của KHCN&ĐMST và chuyển đổi số đối với sự nghiệp phát triển đất nước. Tư duy lạc hậu, lối làm việc hình thức và thụ động cần phải được loại bỏ để khơi dậy tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới và dám chịu trách nhiệm trong toàn hệ thống.

Tổng Bí thư Tô Lâm đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết của việc đột phá tư duy phát triển, xóa bỏ mọi rào cản nhận thức lạc hậu, khơi dậy tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm. Việc củng cố quyết tâm chính trị và tạo sự thống nhất cao trong toàn hệ thống về chủ trương lấy KHCN&ĐMST làm động lực chủ yếu của phát triển là một yếu tố then chốt. Đồng thời, việc hoàn thiện thể chế, chủ động tháo gỡ các rào cản pháp lý và hành chính, tạo lập một môi trường thuận lợi cho sáng tạo, nghiên cứu và ứng dụng KHCN, biến thể chế thành lợi thế cạnh tranh quốc gia là vô cùng quan trọng.

Để thực hiện được những mục tiêu này, Tổng Bí thư đã yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp phải chỉ đạo quyết liệt, cụ thể hóa các nội dung của Nghị quyết thành các chương trình, kế hoạch hành động thiết thực. Việc xác định trách nhiệm rõ ràng, kiểm tra và giám sát chặt chẽ việc thực hiện, bảo đảm sự chuyển biến thực chất trong toàn hệ thống là không thể thiếu.

Bài báo kết luận rằng, con đường phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới của Việt Nam không thể tách rời KHCN&ĐMST. Việc nâng cao quyết tâm, hành động mạnh mẽ và sáng tạo bứt phá trong lĩnh vực này sẽ thực sự trở thành nền tảng và động lực then chốt để đưa đất nước vươn tới những tầm cao mới, sánh vai với các cường quốc trên thế giới.

Bài 2: "Kinh Tế Tư Nhân - Động Lực Quan Trọng Nhất: Tháo Gỡ Rào Cản, Kiến Tạo Môi Trường Phát Triển Bền Vững"

 

Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong nhận thức và chỉ đạo của Đảng ta về vai trò của khu vực kinh tế này. Bài phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt đã làm sâu sắc hơn nữa tầm quan trọng của kinh tế tư nhân, không chỉ là một bộ phận cấu thành mà còn là "một động lực quan trọng nhất" của nền kinh tế quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.

Sự thay đổi trong quan điểm này xuất phát từ yêu cầu khách quan của sự phát triển và bối cảnh quốc tế đầy cạnh tranh. Sau gần 40 năm Đổi mới, kinh tế tư nhân đã có những đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và nâng cao đời sống nhân dân. Tuy nhiên, khu vực này vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, từ rào cản về thể chế, tiếp cận nguồn lực đến năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế.

Nghị quyết 68 đã chỉ ra những định hướng và giải pháp cụ thể để tháo gỡ những "điểm nghẽn" này và tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ, bền vững. Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, bảo vệ quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, tạo dựng một sân chơi bình đẳng, minh bạch và ổn định cho mọi thành phần kinh tế. Việc khơi thông các nguồn lực, bao gồm đất đai, tín dụng, thị trường và công nghệ, là yếu tố then chốt để kinh tế tư nhân có thể mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả hoạt động và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Đặc biệt, Nghị quyết và bài phát biểu của Tổng Bí thư đã đề cao vai trò của đổi mới sáng tạo trong khu vực kinh tế tư nhân. Việc phát triển mạnh mẽ hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D), tham gia vào mạng lưới sáng tạo và chuỗi giá trị toàn cầu được xem là chìa khóa để nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo ra giá trị gia tăng cao cho nền kinh tế.

Một điểm nhấn quan trọng khác là yêu cầu xây dựng đội ngũ doanh nhân hiện đại, không chỉ giỏi kinh doanh mà còn có bản lĩnh chính trị, trí tuệ, đạo đức nghề nghiệp, tinh thần dân tộc và khát vọng cống hiến cho đất nước. Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định doanh nhân Việt Nam là "chiến sĩ trên mặt trận kinh tế" trong thời kỳ mới, có trách nhiệm không chỉ làm giàu cho bản thân mà còn góp phần xây dựng đất nước hùng cường và thịnh vượng.

Bài báo kết luận rằng, việc thực hiện thành công Nghị quyết 68 đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, từ việc ban hành các chính sách cụ thể, tháo gỡ rào cản pháp lý đến tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tư nhân phát triển. Đây là một sự lựa chọn chiến lược đúng đắn, cấp thiết và mang tầm nhìn dài hạn, nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường vào giữa thế kỷ XXI.

Bài 1: "Bộ Tứ Trụ Cột" Kinh Tế Việt Nam: Đột Phá Thể Chế, Khơi Dậy Động Lực Phát Triển Trong Kỷ Nguyên Mới"


Trong bối cảnh thế giới đang chứng kiến những biến động địa chính trị, địa kinh tế sâu sắc và phức tạp, bài phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW đã vẽ nên một bức tranh chiến lược toàn diện, định hướng con đường phát triển đột phá cho Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Điểm nổi bật trong bài phát biểu là sự nhấn mạnh vào vai trò then chốt của "bộ tứ trụ cột" - Nghị quyết 57 về thúc đẩy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, Nghị quyết 59 về chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, Nghị quyết 66 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, và Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân.

Sự liên kết chặt chẽ và tác động qua lại giữa bốn nghị quyết này được Tổng Bí thư phân tích một cách sâu sắc. Nghị quyết 66 đóng vai trò kiến tạo nền tảng thể chế vững chắc, một hệ thống pháp luật minh bạch, hiệu quả và phù hợp với yêu cầu phát triển. Nếu không có một hành lang pháp lý thông thoáng, bảo vệ quyền tài sản và tự do kinh doanh, thì các động lực phát triển khác khó có thể được khơi dậy và phát huy tối đa. Nghị quyết 57, với trọng tâm là khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, được xem là "động lực chủ yếu" thúc đẩy hiện đại hóa đất nước. Trong kỷ nguyên của Cách mạng công nghiệp 4.0, khoa học công nghệ không chỉ là công cụ hỗ trợ mà còn là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và khả năng bứt phá của nền kinh tế.

Tiếp theo, Nghị quyết 59 mở ra không gian phát triển rộng lớn thông qua chủ động hội nhập quốc tế. Việc tham gia sâu rộng vào các tiến trình hợp tác khu vực và toàn cầu, tận dụng cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, không chỉ giúp mở rộng thị trường mà còn tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn, công nghệ và tri thức tiên tiến. Cuối cùng, Nghị quyết 68 xác định kinh tế tư nhân là "một động lực quan trọng nhất" của nền kinh tế quốc gia. Sự thay đổi trong nhận thức chiến lược này cho thấy quyết tâm của Đảng trong việc khơi dậy mọi nguồn lực trong xã hội, tạo ra một "thế kiềng ba chân" vững chắc cho nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập thành công, bên cạnh kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể.

Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh rằng, để đạt được hiệu quả cao nhất, việc quán triệt và tổ chức thực hiện đồng thời cả bốn nghị quyết là vô cùng quan trọng. Chúng không chỉ mang tính định hướng chung mà còn thể hiện sự phụ thuộc lẫn nhau trong thực tiễn. Một thể chế không minh bạch sẽ kìm hãm sự phát triển của kinh tế tư nhân, thiếu môi trường sáng tạo sẽ hạn chế sự bứt phá của khoa học công nghệ, và hội nhập quốc tế thiếu chủ động sẽ làm suy yếu các động lực phát triển trong nước.


KHÔNG THỂ CÓ CHUYỆN NHỮNG THANH NIÊN, DU HỌC SINH BỊ DỤ DỖ BIỂU TÌNH TRƯỚC CỔNG ĐẠI SỨ QUÁN VIỆT NAM TẠI ANH!

     Nhóm thanh niên, du học sinh người Nghệ An cầm cờ vàng biểu tình trước ĐSQ Việt Nam tại Anh nói bản thân bị dụ dỗ tham gia để được ở lại Anh lâu dài chứ không có ý đồ xấu, phụ huynh mong CĐM tha thứ!

Quá là ngụy biện, nếu nói biểu tình chỉ để ở lại Anh lâu dài thì rõ là nói dối, trừ khi bị Chính quyền Anh trục xuất thì mới không thể ở lại Anh, chứ việc không làm vừa ý bọn chúng không thể khiến các bạn phải về nước, hà cớ gì bọn phản động lại đuổi các bạn về nước được? 
Hay ý "lâu dài" ở đây là muốn làm thuận tình những kẻ phản động bên đó để được ở lại lâu dài?, nếu muốn thuận tình những kẻ đó để ở lại thì đang chứng minh rằng về sau này các bạn sẽ câu kết, làm việc với bọn chúng.
Còn nói bị dụ dỗ thì không có cơ sở, các bạn đều đã trưởng thành, đủ năng lực, đủ khả năng nhận thức, không thể nói bị dụ dỗ dễ dàng vậy được, làm sao có thể dụ dỗ công dân lên án chính quyền của quốc gia chôn rau cắt rốn mình? các bạn đâu phải trẻ con?

Và bên dưới là hình ảnh một trong những sinh viên biểu tình tại Đại sứ quán Anh, dòng nội dung ghi rõ "Tôi sẽ đấu tranh đến cùng để lên án chính quyền..." Thể hiện sự quyết tâm và việc thực hiện hành động xuất phát từ ý chí, từ mong muốn của chính bản thân chứ không phải bị dụ dỗ thông thường.

Nghệ An vùng đất cách mạng, quê hương của Bác mà có những thành phần vậy, đáng xấu hổ thay.
Sẽ không có chuyện được tha thứ, việc phụ huynh cần làm là răn dạy lại con em của mình thì hơn là mong cầu CĐM bỏ qua mà tha thứ./.
Khuyết danh ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỪ 19-5, PHÁP LỆNH QUẢN LÝ, BẢO VỆ KHU DI TÍCH LĂNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH CHÍNH THỨC CÓ HIỆU LỰC!

     Pháp lệnh số 06/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Quản lý, bảo vệ Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức có hiệu lực từ ngày 19-5 tới đây.

Pháp lệnh này gồm 6 chương, 32 điều, quy định về giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh; quản lý, bảo vệ các công trình, khu vực và tổ chức các hoạt động trong Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ, chính sách, trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân trong quản lý, bảo vệ Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
Theo Điều 2 Pháp lệnh số 06/2025/UBTVQH15, Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh gồm:
1. Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là các công trình, khu vực có giá trị chính trị, lịch sử - văn hóa, quốc phòng, an ninh đặc biệt của quốc gia, bao gồm:

a) Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Đình;

b) Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại đường Bắc Sơn, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội (sau đây gọi là Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ);

c) Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông thuộc huyện Ba Vì, TP Hà Nội (sau đây gọi là Khu Di tích K9);

d) Công trình hỗ trợ, phục vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

2. Phạm vi, ranh giới các công trình, khu vực tại khoản 1 Điều này thực hiện theo quy định của Chính phủ và pháp luật có liên quan.

Từ 19-5, Pháp lệnh Quản lý, bảo vệ Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức có hiệu lực
Nhiệm vụ quản lý, bảo vệ Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được quy định tại Điều 3 Pháp lệnh Quản lý, bảo vệ Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, gồm:

1. Giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

2. Quản lý, bảo vệ các công trình, khu vực trong Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

3. Quản lý, tổ chức, bảo vệ các hoạt động trong Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Công tác quản lý, bảo vệ Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tuân theo các nguyên tắc sau:

1. Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

2. Đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam; sự quản lý thống nhất của Nhà nước, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ; sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

3. Quản lý, bảo vệ Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhiệm vụ chính trị đặc biệt, là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị, trong đó Bộ tư lệnh Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là lực lượng nòng cốt.

4. Bảo đảm tính khoa học, tính lịch sử, thể hiện được phong cách trong sáng, giản dị, gần gũi nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

5. Kết hợp quản lý, bảo vệ với phát huy ý nghĩa chính trị, lịch sử - văn hóa của Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; tuyên truyền về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Chính sách quản lý, bảo vệ Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
Nhà nước có chính sách đặc biệt nhằm phát huy ý nghĩa chính trị, lịch sử - văn hóa, quốc phòng, an ninh của Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, bao gồm:

1. Ưu tiên bảo đảm, phát triển nguồn nhân lực, kinh phí, cơ sở hạ tầng, hệ thống trang thiết bị y tế, kỹ thuật để bảo đảm giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và an ninh, an toàn trong quản lý, bảo vệ Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh;

2. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại trong quản lý, bảo vệ Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh;

3. Xây dựng và ban hành chế độ, chính sách phù hợp có tính đặc thù, ưu tiên cho lực lượng quản lý, bảo vệ Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cơ quan nhà nước trong quản lý, bảo vệ Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh có trách nhiệm:

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về quản lý, bảo vệ Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

2. Bộ Quốc phòng là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về quản lý, bảo vệ Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và thực hiện các trách nhiệm khác quy định tại Pháp lệnh này.

3. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ Công an phối hợp với Bộ Quốc phòng thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

4. Bộ, ngành, địa phương, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm phối hợp với Bộ Quốc phòng thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Các hành vi bị nghiêm cấm
Theo Điều 8 Pháp lệnh số 06/2025/UBTVQH15, các hành vi sau đây bị nghiêm cấm:

1. Gây nguy hiểm, đe dọa xâm hại đến an ninh, an toàn, hoạt động trong Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

2. Chống lại hoặc cản trở hoạt động thực thi nhiệm vụ của lực lượng quản lý, bảo vệ Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

3. Gây mất an ninh, trật tự; tụ tập đông người trái pháp luật tại khu vực, mục tiêu bảo vệ trong Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

4. Lợi dụng, lạm dụng việc thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh để vi phạm pháp luật, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

5. Làm hư hỏng, phá hủy công trình, khu vực trong Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; làm hư hỏng, phá hủy, chiếm đoạt trang thiết bị, phương tiện phục vụ nhiệm vụ quản lý, bảo vệ Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

6. Làm lộ thông tin bí mật liên quan đến quản lý, bảo vệ Khu Di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Ảnh: Đội Tiêu binh danh dự duyệt đội ngũ qua trước cửa Lăng Bác trong nghi lễ chào cờ hàng ngày. 
Yêu nước ST.

Thứ Bảy, 17 tháng 5, 2025

NHÌN THẲNG, NÓI THẬT!

TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM: "LUẬT ĐẤU THẦU CÓ BỐN TỘI RẤT NẶNG"!
     Tại tổ thảo luận Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội chiều 17/5, trong khuôn khổ Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có bài phát biểu mạnh mẽ và đầy tâm huyết. Nhìn thẳng vào thực tiễn, Tổng Bí thư chỉ rõ những "căn bệnh trầm kha" của Luật Đấu thầu hiện hành. Tổng Bí thư chỉ rõ: "Luật Đấu thầu hiện tại đang mang trong mình “bốn tội rất nặng” - những “tội” không chỉ là lỗi kỹ thuật lập pháp mà là những hệ lụy thực tiễn ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của đất nước. Đó là: làm chậm tiến độ phát triển nội lực; kéo theo sản phẩm, công trình kém chất lượng; lãng phí nguồn lực và làm hỏng, làm mất cán bộ".

Một nghịch lý được Tổng Bí thư chỉ rõ: “Công ty xây dựng giỏi thì không được mời thầu, bị gạt ra ngoài. Còn người không có năng lực, không có công nghệ thì lại trúng thầu vì chào giá thấp. Sau đó lại bán thầu lòng vòng. Công trình xuống cấp, chất lượng thấp”.

Tổng Bí thư chất vấn: “Mục tiêu của đấu thầu là ngăn tiêu cực. Nhưng giờ thông thầu, bán thầu, ép giá, dựng thầu tràn lan. Không ai chịu trách nhiệm. Hội đồng chấm thầu giải tán là xong, cơ quan chủ quản thì nói không được giao. Thế thì trách nhiệm nằm ở đâu?”./.
Yêu nước ST.

Một số yêu cầu đặt ra với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong kỷ nguyên mới

    Một là, cần tập trung xây dựng đội ngũ đầy đủ về số lượng và bảo đảm chất lượng, trách nhiệm và nhiệt huyết với sự nghiệp cách mạng để vận hành hệ thống chính trị tinh gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả. Đội ngũ cán bộ, nhất là cấp chiến lược, cần có phương pháp luận, tầm nhìn chiến lược, năng lực tư duy đổi mới và hành động quyết liệt, quản trị sự chuyển đổi xã hội phù hợp với xu thế phát triển khách quan, biết phát huy tiềm năng, tận dụng cơ hội để đưa dân tộc Việt Nam đi lên, sánh vai với các nước tiên tiến trên thế giới. 

    Hai là, đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, cần được trang bị hệ thống kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng nghề nghiệp thành thạo, trải nghiệm thực tiễn công tác. Bên cạnh việc đào tạo, bồi dưỡng mang tính hệ thống và cơ bản, cần xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên biệt hóa cho từng loại đối tượng cán bộ theo yêu cầu chuyên môn, phạm vi hoạt động ngành nghề, lĩnh vực và cấp độ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị.

    Ba là, đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược cần nắm vững kiến thức và kỹ năng vận dụng tiến bộ khoa học - công nghệ hiện đại, có khả năng thích ứng và làm việc hiệu quả theo phương thức sản xuất số nhằm phục vụ hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý và hội nhập với môi trường quốc tế. Ngày nay, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư giúp giải phóng sức lao động, tăng năng suất, thúc đẩy sức sáng tạo của con người, tạo ra sự thay đổi tư duy trong mọi lĩnh vực, thay đổi tiếp cận chính sách quản trị, chiến lược phát triển của từng nước. Trước những thay đổi đó, yêu cầu về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đòi hỏi cần cập nhật, bổ sung kiến thức về khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, cũng như năng lực thích ứng với bối cảnh mới để làm việc, lãnh đạo, quản lý phát triển xã hội trong quá trình chuyển đổi số.

    Bốn là, đổi mới tư duy, cách thức tổ chức thực hiện; đồng thời triển khai những biện pháp cụ thể để xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đủ năng lực, phẩm chất, uy tín ngang tầm nhiệm vụ, góp phần đưa đất nước vươn mình, sánh vai với các cường quốc trên thế giới