Quyền
tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người được ghi nhận
trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948: “Mọi người đều có quyền
tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến” (Điều 19) và Công ước quốc tế về các quyền
dân sự và chính trị năm 1966: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận” (Điều 19).
Tự
do ngôn luận là quyền cơ bản, song nó không tách rời với trách nhiệm và nghĩa vụ
của công dân, được quy định trong luật pháp quốc tế và pháp luật quốc gia.
Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 khẳng định: “Khi hưởng thụ các
quyền và tự do của mình, mọi người chỉ phải tuân thủ những hạn chế do luật định,
nhằm mục đích bảo đảm sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và
tự do của người khác, cũng như nhằm đáp ứng những nhu cầu chính đáng về đạo đức,
trật tự công cộng và lợi ích chung của một xã hội dân chủ” (khoản 2 Điều 29) và
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 tiếp tục khẳng định:
“Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận có thể phải chịu một số hạn chế nhất định
và những hạn chế này cần được quy định bởi pháp luật, nhằm: a) Tôn trọng các
quyền hoặc uy tín của người khác; b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công
cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội” (khoản 3 Điều 19).
Như vậy, tự do quyền ngôn luận không phải là
quyền tự do tuyệt đối, mà nó còn bị giới hạn bởi các yếu tố như luật pháp,
phong tục tập quán, đạo đức xã hội. Nếu để tự do tuyệt đối nghĩa là tự do vô
chính phủ, tự do kiểu hoang dã, ai cũng nói năng, phát ngôn bừa bãi, xuyên tạc
sự thật, bịa đặt, chia sẻ thông tin không kiểm chứng, bất chấp đúng sai sẽ dẫn
đến tình trạng mất kiểm soát, gây rối loạn xã hội, nhiễu loạn thông tin, có thể
tạo ra khủng hoảng thông tin xã hội, dẫn đến bất ổn định an ninh trật tự xã hội.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét