Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2020

Hồ Chí Minh - Người thầy của báo chí cách mạng Việt Nam


.Sự nghiệp báo chí Hồ Chí Minh là di sản to lớn, tạo nền tảng quan trọng cho sự phát triển nền báo chí cách mạng, góp phần làm phong phú nền văn hóa dân tộc. Người làm báo là để làm cách mạng, nhưng bằng sự say mê, nhiệt thành của một trái tim cộng sản cộng với tài năng thiên bẩm và bề dày văn hóa, Hồ Chí Minh đã trở thành một nhà báo tầm vóc quốc tế, người thầy mẫu mực của nền báo chí cách mạng Việt Nam.
Người khai sáng
Hồ Chí Minh là người khai sáng, đặt nền móng và trực tiếp tham gia giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ báo chí. Nói như GS Đỗ Quang Hưng, Bác là “người khơi nguồn một dòng báo, một sự nghiệp”. Đó là dòng báo chí cách mạng và sự nghiệp báo chí cách mạng. Tất nhiên, sự nghiệp báo chí Hồ Chí Minh được bắt đầu sớm hơn, với những bài viết cho tờ Luy-ma-ni-tê của Đảng Cộng sản Pháp và đặc biệt tờ Le Paria (Người cùng khổ) do Bác trực tiếp làm chủ bút và chủ nhiệm. Song về danh nghĩa, đây là cơ quan ngôn luận của “Hội Liên hiệp thuộc địa” nên không thể coi là tờ báo đầu tiên của nền báo chí cách mạng Việt Nam. Sự ra đời của tờ Thanh Niên ngày 21.6.1925 không chỉ là một mốc son lịch sử, mà đã thể hiện năng lực tổ chức, năng lực làm báo bậc thầy của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Tờ báo phát hành tổng cộng 208 số, mỗi số 400 - 500 bản, công nghệ in ấn thô sơ, trình bày còn đơn giản nhưng đã xứng đáng với vai trò là vũ khí tuyên truyền sắc bén của những người cộng sản Việt Nam. Đây là mốc đánh dấu sự chuyển biến từ phong trào yêu nước sang phong trào cộng sản của các tổ chức cách mạng trong nước, dưới sự chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Người đã khéo léo dùng tờ Thanh Niên để tuyên truyền, giác ngộ lý tưởng cộng sản trong tầng lớp thanh niên yêu nước. Ảnh hưởng của tờ Thanh Niên do Bác Hồ sáng lập đã khiến những tên thực dân chóp bu phải lo ngại. L.Mac-ty, Chánh mật thám Pháp ở Đông Dương, đã nhận xét trong cuốn “Góp phần vào lịch sử các phong trào chính trị ở Đông Dương” xuất bản năm 1933 tại Hà Nội: “Ông Nguyễn Ái Quốc đã không ngần ngại dành suốt 60 số đầu của tờ báo để chuẩn bị tinh thần cho người đọc, chỉ nói về lòng yêu nước, để đến số 61 ra ngày 12.9.1926 ông mới để lộ ý định của ông khi viết rằng, chỉ có một Đảng Cộng sản mới bảo đảm hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam”.

Bác Hồ thăm và chúc Tết cán bộ phóng viên Báo Nhân Dân năm 1957.
Ảnh hưởng của những tờ báo do Bác Hồ sáng lập không chỉ có ý nghĩa trực tiếp trong việc chỉ đạo cuộc đấu tranh cách mạng của dân tộc, mà còn khơi nguồn mạnh mẽ cho nền báo chí cách mạng nở rộ. Trong sự kìm kẹp khủng bố của kẻ thù, một loạt tờ báo của các tổ chức Đảng đã ra đời: Tranh đấu, Cờ vô sản, Đỏ, Sóng Cách mệnh, Lao động... Nhiều tờ báo trong số đó đã vượt lưới thép của kẻ thù đến tận Trường Phương Đông ở Mát-xcơ-va, nơi các lãnh tụ trẻ tuổi của Đảng như: Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập... đang miệt mài học tập lý luận cộng sản và rèn luyện năng lực của những nhà cách mạng chuyên nghiệp, tạo niềm tin sâu sắc về ngọn lửa cách mạng trong nước.
Người thầy của báo chí cách mạng
Nền báo chí cách mạng Việt Nam ngay từ buổi đầu non trẻ đã tạo được dấu ấn và ảnh hưởng sâu sắc trong phong trào quần chúng. Trong bối cảnh một đất nước hơn 90% dân số mù chữ, các tờ báo cách mạng đã tập hợp được đội ngũ những người có trình độ văn hóa nhất định và cả những quần chúng lao khổ. Văn phong giản dị, nội dung thiết thực, dễ hiểu, dễ nhớ, báo chí cách mạng trở thành người bạn tin cậy, dẫn dắt phong trào. Có được điều đó, phải kể đến nỗ lực không mệt mỏi của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong việc xác lập “một phong cách làm báo cách mạng rất Việt Nam”. Người ý thức sâu sắc vai trò của báo chí trong việc tuyên truyền, cổ động và tổ chức hoạt động cách mạng như lời dạy của Lê-nin. Cho nên quá trình rèn luyện tri thức và thực tiễn của một nhà cách mạng vĩ đại cũng là quá trình Bác tự trau dồi nghề nghiệp để trở thành một nhà báo dày dạn kinh nghiệm. Bài học này được Người áp dụng với những học trò của mình. Không phải ngẫu nhiên, những nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam sau Hồ Chí Minh cũng đồng thời là những nhà báo lớn như: Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Hồ Tùng Mậu…
Những năm sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ báo chí. Kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, trong điều kiện ngặt nghèo, Đảng và Bác Hồ vẫn chủ trương mở lớp viết báo Huỳnh Thúc Kháng giữa Chiến khu Việt Bắc. Dù bận trăm công nghìn việc, Bác đã hai lần gửi thư cho lớp học. Bức thứ nhất Bác viết vào tháng 5.1949, khi lớp học vừa bắt đầu, nội dung như một bài giảng cô đúc về nghiệp vụ báo chí và người làm báo. Bắt đầu từ nhiệm vụ, mục đích, tôn chỉ, đối tượng phục vụ của báo chí cách mạng, đến yêu cầu về nội dung và hình thức của tờ báo.
Từ những vấn đề khái quát, Bác nêu bật yêu cầu có tính nguyên tắc trong hoạt động, rèn luyện của người làm báo. Đó là “gần gụi quần chúng”, viết về quần chúng và viết cho quần chúng đọc, quần chúng hiểu; “phải biết ít nhất một ngoại ngữ” để “học hỏi kinh nghiệm bên ngoài”, luôn biết lắng nghe, rèn luyện, cầu tiến bộ. Người quan tâm tỉ mỉ đến từng chi tiết tưởng như rất nhỏ, với thái độ đầy yêu thương và trách nhiệm: “Nghe nói có ba cô học viết báo, đó là điều đáng mừng cho báo chí ta. Lớp học này là lớp học viết đầu tiên, tôi mong các chú, các cô thi đua nhau học và hành cho xứng đáng là người tiên phong trên mặt trận báo chí”.
Khi cuộc kháng chiến chống Pháp đã thắng lợi, Hồ Chí Minh luôn quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ báo chí, đáp ứng yêu cầu tình hình mới. Đại hội lần thứ II (1959) và lần thứ III (1963), Hội Nhà báo Việt Nam đều vinh dự được đón Bác đến thăm và có bài phát biểu quan trọng. Không phải là những diễn văn động viên, cổ vũ thông thường của người đứng đầu Đảng, Nhà nước với một tổ chức hội chính trị-nghề nghiệp, bài phát biểu của Bác tại hai kỳ đại hội thực sự là những định hướng quan trọng về chuyên môn nghiệp vụ báo chí của một người làm báo bậc thầy.
Một điều đặc biệt là tầm vóc bậc thầy về nghề báo của Hồ Chí Minh không tồn tại trong những giá trị đóng khung sẵn có, mà luôn rộng mở, trau dồi, vươn tới những nhận thức mới. Quá trình rèn nghề của Bác đã là một bài học sâu sắc cho những người làm báo cách mạng Việt Nam. Hơn thế, điều chúng ta cần quan tâm là một tinh thần học hỏi không ngừng, thái độ khiêm tốn, cầu thị của một tầm vóc văn hóa lớn. Quan điểm làm báo của Bác là quan điểm “mở”, phù hợp với sự phát triển đi lên của đời sống xã hội, mặc dù cốt lõi của nó vẫn là dựa trên những nguyên lý bền vững.
Hiện thực cuộc sống luôn biến chuyển. Tầm vóc văn hóa Hồ Chí Minh biểu hiện ở chỗ luôn bắt nhịp được với sự vận động ấy, chỉ ra bản chất của nó. Người coi trọng nguyên tắc nghề nghiệp, nhưng một trong những nguyên tắc quan trọng nhất lại là không được đóng khung trong những tín điều cứng nhắc, không coi kinh nghiệm của mình là giá trị bất biến mà phải học hỏi không ngừng.
Sự nghiệp báo chí Hồ Chí Minh là di sản to lớn, tạo nền tảng quan trọng cho sự phát triển nền báo chí cách mạng, góp phần làm phong phú nền văn hóa dân tộc. Người làm báo là để làm cách mạng, nhưng bằng sự say mê, nhiệt thành của một trái tim cộng sản cộng với tài năng thiên bẩm và bề dày văn hóa, Hồ Chí Minh đã trở thành một nhà báo tầm vóc quốc tế, người thầy mẫu mực của nền báo chí cách mạng Việt Nam. Quan điểm của Hồ Chí Minh về báo chí và phong cách làm báo năng động, chuyên nghiệp, sâu sát đời sống của Người là hành trang quý giá cho các thế hệ nhà báo hôm nay học tập, để ngày càng vững vàng, sắc bén hơn trên mặt trận công tác tư tưởng-văn hóa của Đảng, đáp ứng lòng mong đợi của nhân dân./.


Lời Bác dạy ngày này năm xưa: 20/6


“Cầu đường là mạch máu của một nước”
Là lời Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài: “Công tác cầu đường”, đăng trên Báo Nhân dân, số 119, từ ngày 21 - 25 tháng 6 năm 1953. Đây là thời kỳ mà cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta do Đảng lãnh đạo bước vào giai đoạn quyết định, quan trọng, rất cần phải huy động nguồn nhân vật lực lớn cho chiến dịch.
Lời Bác Hồ dạy, có ý nghĩa thiết thực, khẳng định vai trò hết sức quan trọng của hệ thống cầu đường, của giao thông vận tải; được Bác ví như mạch máu của một đất nước, của một quốc gia dân tộc. Trên thực tế, nếu cầu đường mà tốt thì nó tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế, vận chuyển hàng hóa, bảo đảm cho thắng lợi của kháng chiến và kiến quốc. Đồng thời, lời dạy của Bác còn thể hiện sự quan tâm, động viên, khích lệ, đánh giá cao vai trò, trách nhiệm của những người làm cầu đường. Thực hiện lời dạy của Bác, ngành giao thông vận tải đã không quản khó khăn, gian khổ, ngày đêm hăng say lao động làm cầu, mở đường đảm bảo cho hệ thống giao thông thông suốt, phục vụ đắc lực công cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Ngày nay, đất nước đang đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới; tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, lời dạy của Bác có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, là tư tưởng chỉ đạo trong phát triển ngành giao thông đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Đảng, Nhà nước./.

Hoạt động Báo chí trong sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh


Sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với hoạt động báo chí. Năm 1911, Bác ra đi tìm đường cứu nước. Trong quá trình lao động, học hỏi và giác ngộ cách mạng, Bác bắt đầu quan tâm đến một phương tiện thông tin phổ biến, nhiều tác dụng là báo chí. Cuối năm 1917, khi trở lại Pháp, tuy vốn ngôn ngữ chưa đủ để viết báo nhưng với tinh thần quyết tâm cao, Bác tự học tiếng và học làm báo. Những ngày đầu, Bác được Longuet - cháu ngoại của Karl Marx, làm việc ở báo Sinh hoạt công nhân - nhiệt tình chỉ dẫn nghiệp vụ báo chí đơn giản. Những bài viết của Bác bằng tiếng Pháp dần dài hơn, chuẩn hơn và được đăng. Từ những mẩu tin, bài, tư liệu tản mạn có chủ đề nhỏ, Bác viết thành các bài có chủ đề lớn, tập trung. Những bài viết của Bác đăng trên báo cánh tả là các báo ngân quỹ ít ỏi nên hầu như không có nhuận bút, nhưng lại mang ý nghĩa tinh thần rất lớn. Vì vậy, ban ngày Bác đi làm, tối tham gia mít tinh, biểu tình, vận động cách mạng, đêm lại vẫn ngồi cặm cụi viết báo.
Ngày 28/6/1919, Hội nghị các nước thắng trận trong Chiến tranh Thế giới lần thứ Nhất khai mạc tại Versailles. Thay mặt những Việt kiều, Bác viết và gửi đến hội nghị bản yêu sách 8 điểm đòi quyền lợi cho nhân dân Việt Nam. Đây cũng là bài viết nổi tiếng đầu tiên của Bác được cơ quan ngôn luận Đảng Xã hội Pháp đăng dưới nhan đề Quyền các dân tộc. Trong bài này, mạnh bạo đưa ra 8 yêu sách thiết thực, Bác đấu tranh đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền độc lập tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam, trong đó có cả quyền tự do tư tưởng và tự do báo chí... Năm 1921, Bác (với tên Nguyễn Ái Quốc) cùng một số chính khách thành lập Hội Liên hiệp Thuộc địa và năm 1922 lập ra Le Paria (Người cùng  khổ) là cơ quan ngôn luận của Hội. Le Paria thể hiện tinh thần đoàn kết và giải phóng con người, số đầu xuất bản ngày 01/4/1922. Nguyễn Ái Quốc trở thành nòng cốt của tờ báo: vừa là biên tập viên chính, vừa là phóng viên, nhiếp ảnh viên kiêm việc tổ chức, quản lý, phát hành và Bác đã viết tới 38 bài cho báo này.
Tháng 11/1924, Bác được Quốc tế Cộng sản phân công về Quảng Châu (Trung Quốc), tổ chức huấn luyện cán bộ cách mạng, thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội, với báo Thanh niên là cơ quan ngôn luận. Báo Thanh niên số 1 ra ngày 21/6/1925, đến tháng 4/1927 ra đều đặn được 88 số (kỳ) bằng tiếng Việt tại số  nhà 13A, đường Văn Minh, Quảng Châu, Trung Quốc, in trên giấy sáp. Bác trực tiếp chỉ đạo, biên tập, trình bày và viết nhiều bài chính luận sắc bén. Báo chuyển về nước bằng đường thủy, tới các tổ chức cảm tình của Hội, các cơ sở Việt kiều ở Pháp, Thái Lan, Nga. Tháng 12/1926, Bác lập ra báo Công nông cho giai cấp công nhân và nông dân nước ta. Tháng 01/1927, báo Lính kách mệnh (tiền thân của báo Quân đội nhân dân ngày nay) dành cho đội ngũ chiến sĩ cách mạng cũng được Bác sáng lập. Các báo này đều xuất bản chủ yếu bằng tiếng Việt, nhưng còn có cả một số tin, bài bằng tiếng Hán, Pháp, Anh..., hình thức mới mẻ mà gần gũi, nội dung phong phú nhưng luôn bám sát các chủ trương, mục tiêu cách mạng.
Từ ngày 03 đến ngày 07/2/1930, tại Hồng Kông, Bác trực tiếp tổ chức, chỉ đạo Hội nghị thống nhất các đảng phái, phong trào cộng sản ở Việt Nam để thành lập một đảng mới với tên Đảng Cộng sản Việt Nam, quyết định đình bản những tờ báo riêng rẽ của các tổ chức đảng trước đây, còn lại cho xuất bản báo Tranh đấu và tạp chí Đỏnhững số đầu phát hành vào tháng 8/1930. Trong thời kỳ này, với nhiều bút danh khác nhau, Bác còn cộng tác với các báo tiến bộ trong nước, đồng thời viết hàng loạt bài cho những tờ báo cách mạng nổi tiếng thế giớiL' Humanité (Nhân đạo) của Đảng Cộng sản Pháp, La Vie d'Ouvriers (Đời sống thợ thuyền) của Liên đoàn Lao động Pháp, Điện tín Quốc tế của Quốc tế Cộng sản III, Pravda (Sự thật) của Đảng Cộng sản Liên Xô... Tháng 01/1941 Bác về Nước, chỉ đạo Hội nghị Trung ương 8 thành lập Mặt trận Việt Minh, cho ra tờ báo Việt Nam độc lập từ năm 1941 và báo Cứu quốc từ năm 1942. Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II tháng 02/1951, Bác chỉ đạo thành lập báo Nhân dân - cơ quan ngôn luận của Đảng. Ngoài sáng lập, tổ chức hoạt động, Bác còn còn là cộng tác viên nhiệt tình của nhiều tờ báo lớn. Chỉ riêng với báo Nhân dântừ số 1 ngày 11/3/1951 đến số 5526 ngày 01/6/1969, Bác đã gửi tới và được đăng 1.206 bài viết với 23 bút danh khác nhau.
Bác đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp phát triển báo chí cách mạng Việt Nam và việc đào tạo đội ngũ cán bộ làm báo. Bằng chính kiến thức và kinh nghiệm của mình, Bác tận tâm chỉ dẫn nghiệp vụ cho các nhà báo như một đồng nghiệp, một người bạn, người anh, người thầy. Ngày 17/8/1952, trong buổi nói chuyện tại trường Chính Đảng Trung ương ở rừng Việt Bắc, Bác nêu rõ 4 vấn đề cơ bản trước những cán bộ báo chí: “Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết cái gì? Viết như thế nào?” và đưa ra cách giải quyết cặn kẽ, phù hợp các vấn đề đó. Bác căn dặn: “Phải viết gọn, rõ ràng, vắn tắt. Nhưng vắn tắt không phải là cụt đầu, cụt đuôi mà phải có đầu, có đuôi... Viết phải thiết thực, “nói có sách, mách có chứng'”, tức là nói cái việc ấy ở đâu, thế nào, ngày nào, nó sinh ra thế nào, phát triển thế nào, kết quả thế nào?”. Tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam tháng 9/1962, Bác cũng thẳng thắn phê bình những khuyết điểm của báo chí nước nhà bấy giờ: “Bài báo thường quá dài, “dây cà ra dây muống”, không phù hợp với trình độ và thời gian của quần chúng…”, “Thường nói một chiều và đôi khi thổi phồng thành tích, mà ít hoặc không nói đúng mức đến khó khăn và khuyết điểm của ta…”, “Đưa tin tức hấp tấp, nhiều khi thiếu thận trọng…”, “Thiếu cân đối: tin nên dài thì viết ngắn, nên ngắn thì viết dài, tin để sau thì để trước, nên trước lại để sau…”, “Lộ bí mật - có khi quá lố bịch…”, “Khuyết điểm nặng nhất là dùng chữ nước ngoài quá nhiều và lắm khi dùng không đúng…”. Nhưng Bác luôn khẳng định giá trị to lớn của báo chí: “Báo chí là công cụ tuyên truyền, cổ động, tổ chức, lãnh đạo...”, “Báo chí là vũ khí sắc bén, nhanh nhạy, đại chúng, phục vụ kịp thời...”. Về vai trò quan trọng của báo chí cách mạng, Bác nói: “Tờ báo Đảng như những lớp huấn luyện giản đơn, thiết thực và rộng khắp. Nó dạy bảo chúng ta những điều cần biết làm về tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo và công tác. Hàng ngày nó giúp nâng cao trình độ chính trị và năng suất công tác của chúng ta. Nếu ai cắm đầu làm việc mà không xem, không nghiên cứu báo Đảng thì khác nào nhắm mắt đi đêm, nhất định sẽ lúng túng, vấp váp, hỏng việc. Vì vậy, cán bộ trong Đảng và ngoài Đảng, toàn thể Đảng viên và cốt cán cần phải xem báo Đảng”. Bác đánh giá và khuyên dạy: “Báo chí của ta đã có một địa vị quan trọng trong dư luận thế giới... Cho nên làm báo phải hết sức cẩn thận về hình thức, về nội dung, về cách viết”.

Suốt hơn nửa thế kỷ gắn bó với báo chí, Bác để lại một sự nghiệp đồ sộ. Trên 2.000 bài viết với hàng trăm bút danh khác nhau của Bác đã được đăng ở nhiều báo trong, ngoài nước bằng tiếng Việt, Pháp, Hán, Nga, Anh... với chủ đề đa dạng, sinh động; văn phong vừa độc đáo vừa gần gũi, dễ hiểu, luôn chiếm được sự mến mộ của bạn đọc. Bác là người khai sinh, thực hiện, định hướng, bảo trợ, phát triển nền báo chí cách mạng Việt Trên 2.000 bài viết với hàng trăm bút danh khác nhau của Bác đã được đăng ở nhiều báo trong, ngoài nước bằng tiếng Việt, Pháp, Hán, Nga, Anh... với chủ đề đa dạng, sinh động; văn phong vừa độc đáo vừa gần gũi, dễ hiểu, luôn chiếm được sự mến mộ của bạn đọcSuốt hơn nửa thế kỷ gắn bó với báo chí, Bác để lại một sự nghiệp đồ sộ. Nam. Bác còn đưa ra các tư tưởng, phương pháp báo chí mới mẻ, tiến bộ mà phù hợp với phong trào báo chí cách mạng, báo chí hiện đại trên thế giới. Bác không những là một lãnh tụ chính trị kiệt xuất, một danh nhân văn hóa đáng khâm phục, mà còn thực sự là một nhà báo vĩ đại./.


QUÂN ĐỘI VỚI PHÒNG CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”



Quân đội ta là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén của Đảng và Nhà nước, nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, một lực lượng tiên phong trong phòng chống “DBHB” của CNĐQ và các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng.  Đòi hỏi các cấp lãnh đạo, chỉ huy và mọi quân nhân trong quân đội phải nhận thức về bản chất âm mưu, thủ đoạn “DBHB” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng một cách toàn diện, sâu sắc và luôn luôn gắn chặt với thực tiễn nhiệm vụ của cách mạng, của quân đội cũng như của từng đơn vị. Những năm gần đây những âm mưu, thủ đoạn “DBHB” của CNĐQ và các thế lực thù địch đã liên tục tác động đến đời sống mọi mặt xây dựng, huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu của quân đội ta. Mục tiêu cơ bản của nó nhằm “phi chính trị hoá” quân đội, “vô hiệu hoá” vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội; nhằm làm cho quân đội xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng, mất phương hướng chính trị; chia rẽ đoàn kết nội bộ và đoàn kết quân dân; gieo rắc lối sống xa đoạ; gây tâm lý mơ hồ, hoang mang, suy giảm lòng tin vào mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.
Những âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá của CNĐQ và các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta diễn ra liên tục. Đảng bộ quân đội đã lãnh đạo toàn quân kiên định mục tiêu chiến đấu …, tập trung triển khai tốt nhiệm vụ và kế hoạch phòng chống “DBHB”, bạo loạn lật đổ, duy trì tốt chế độ thường trực sẵn sàng chiến đấu. Kịp thời đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại nhiều âm mưu và hoạt động chống đối, phá hoại bằng các biện pháp vũ trang và phi vũ trang. Tuy vậy, sự tác động của  “DBHB” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng đối với Quân đội không có nghĩa đã được ngăn chặn triệt để. Những hạn chế của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội có nhiều nguyên nhân, trong đó  “nhận thức về âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ chưa thật sâu sắc. Trình độ lý luận, tính nhạy bén về chính trị, đạo đức lối sống của không ít cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ chủ trì, trung, cao cấp chưa tương xứng với vị trí, yêu cầu nhiệm vụ của quân đội trong cuộc đấu tranh mới, nhất là trên mặt trận chính trị, tư tưởng.
Để đấu tranh phòng chống “DBHB” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng có hiệu quả đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, trên nhiều lĩnh vực. Trong đó cần tập trung thực hiện tốt những vấn đề cơ bản sau.
 Đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng
Giáo dục chính trị, tư tưởng có vai trò to lớn và trực tiếp tạo ra cơ sở vững chắc cho việc nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội. Mục tiêu của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong nhiệm vụ phòng chống “DBHB” là xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng, có tinh thần cảnh giác cách mạng và ý chí quyết chiến quyết thắng, luôn luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân.
Tiếp tục thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong Đảng bộ Quân đội.
Đẩy mạnh các hoạt động giáo dục chính trị, tư tưởng nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động phòng ngừa không để những quan điểm, tư tưởng sai trái diễn ra trong quân đội. Kiên quyết đấu tranh khắc phục mọi biểu hiện suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống vi phạm bản chất cách mạng của quân đội trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Thường xuyên coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ, làm tốt công tác kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh mọi biểu hiện mơ hồ mất cảnh giác, làm lộ bí mật quân sự và bí mật quốc gia; kiên quyết xử lý kỷ luật và đưa ra khỏi Đảng những người không đủ tư cách đảng viên.
Củng cố hệ thống tổ chức đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ của các cấp bộ đảng trong toàn quân. Trước hết nâng cao chất lượng đội ngũ cấp uỷ viên,  đặc biệt lựa chọn, bố trí cán bộ chủ trì ở các cấp; giữ vững nguyên tác tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, các nhân phụ trách trong tổ chức sinh hoạt và hoạt động lãnh đạo của các tổ chức đảng.
Gắn xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, thể hiện sự thống nhất giữa mục tiêu, kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện của cấp uỷ, chỉ huy. Kiên quyết khắc phục những mặt yếu kém. Trong đánh giá tổ chức đảng trong sạch vững mạnh và đơn vị vững mạnh toàn diện, lấy kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ phòng chống “DBHB” một cách toàn diện, trong đó trọng tâm là lĩnh vực chính trị, tư tưởng.
Tiến hành tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí sử dụng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong đào tạo cán bộ phải toàn diện cả năng lực và phẩm chất chính trị đạo đức. Nêu cao tinh thần tự  học tập, rèn luyện  của cán bộ, đảng viên; quan tâm tạo điều kiện để chiến sĩ là con em các dân tộc ít người được đi học để trở thành sĩ quan trong quân đội. Thực hiện tốt chính sách đối với cán bộ quân đội và thu hút nhiều nhân tài phục vụ sự nghiệp quốc phòng an ninh. Bởi vì, đội ngũ cán bộ trung kiên, có năng lực giỏi là nhân tố góp phần quyết định khả năng thực hiện tháng lợi mọi nhiệm vụ của quân đội, đội ngũ cán bộ vững mạnh thực sự là lực lượng nòng cốt để quân đội đánh bại mọi âm mưu trong chiến lược “DBHB” của CNĐQ và các thế lực thù địch.
 Đẩy mạnh các hình thức hoạt động công tác tư tưởng trong quân đội
Hình thức tiến hành công tác tư tưởng trong quân đội rất phong phú, đa dạng, mỗi hình thức có tính độc lập tương đối của nó và có những yêu cầu biện pháp cụ thể khác nhau. Tuy vậy, nhưng giữa các hình thức có quan chặt chẽ với nhau cùng tạo ra sức mạnh tổng hợp để ngăn chặn, đẩy lùi và tiêu diệt những mầm mống tiêu cực trong quân đội. Thực hiện đồng bộ, phát huy hiệu quả của các hình thức hoạt động công tác tư tưởng sẽ góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; xây dựng hệ thống các tổ chức trong quân đội vững mạnh, giữ vững và phát huy phẩm chất cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới; đấu tranh có hiệu quả trong nhiệm vụ phòng chống âm mưu “DBHB” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng của các thế lực thù địch.
Vì vậy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp, cán bộ, đảng viên trong quân đội phải nhận thức đầy đủ vị trí vai trò, chức năng, nhiệm vụ, phương thức tiến hành công tác tư tưởng. Từ đó có quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các hình thức hoạt động công tác tư tưởng theo chức năng nhiệm vụ được giao. Trước hết, phải quán triệt thực hiện tốt các nghị quyết của Đảng về lãnh đạo công tác tư tưởng, lý luận và xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; các chỉ thị, hướng dẫn của Tổng cục Chính trị về xây dựng môi trường văn hoá trong quân đội.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục truyền bá lý luận chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, chiến sĩ. Qua đó xây dựng, củng cố niềm tin vững chắc vào mục tiêu lý tưởng của Đảng; bồi dưỡng phẩm chất chính trị đạo đức của người quân nhân cách mạng.
Tổ chức tốt phong trào thi đua quyết thắng ở các đơn vị. Công tác thi đua phải được tiến hành thường xuyên liên tục mang lại hiệu quả thiết thực, kịp thời phát hiện và biểu dương, khích lệ gương điển hình người tốt, việc tốt”  để nhân rộng điển hình tiên tiến làm cho cái tốt, cái tiến bộ, nhân tố mới nảy nở và lấn át cái xấu, cái ác; thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị, góp phần giữ vững ổn định chính trị của đất nước.
Phát huy vai trò và sức mạnh của hoạt động văn hoá, văn nghệ, đa dạng hoá nội dung và hình thức thông tin báo chí, góp phần nâng cao sự hiểu biết toàn diện, xây dựng tư tưởng, tình cảm cách mạng và thoả mãn nhu cầu văn hoá tinh thần của mọi quân nhân. Đồng thời giúp họ đấu tranh loại bỏ những ảnh hưởng của văn hoá xấu độc của kẻ thù. Để các hoạt động này đi đúng hướng, đạt mục đích đề ra, đòi hỏi lãnh đạo, chỉ huy và cơ quan chuyên trách phải tăng cường công tác quản lý, kiểm tra chặt chẽ công tác xuất bản, in ấn, sáng tác, biểu diễn; kịp thời loại bỏ các khuynh hướng “phi chính trị hoá”, “thương mại hoá” nhằm gieo  rắc tư tưởng, tư sản để từng bước chuyển hoá quân đội về chính trị.

CÁCH MẠNG MÀU



Cách mạng màu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng hàng loạt quốc gia rơi vào khủng hoảng chính trị. Những biểu hiện của nó cũng đang manh nha ở Việt Nam.Từ những năm cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, khái niệm cách mạng màu xuất hiện và bắt đầu được nhắc tới nhiều. Nhiều quốc gia ở Đông Âu thuộc Liên Xô (cũ) hay ở các quốc gia ở Trung Đông và Bắc Phi rơi vào tình trạng bất ổn chính trị và hệ quả của nó vẫn kéo dài đến tận bây giờ.
Cách mạng màu là những cuộc lật đổ chế độ hiện tại bằng phương thức bất bạo động. Có sự kết hợp giữa những kẻ chủ mưu bên trong với các thế lực thù địch bên ngoài. Những kẻ chủ mưu giương cao ngọn cờ dân chủ, lôi kéo người dân tham gia vào các cuộc biểu tình, tuần hành khiến cho các hoạt động của đời sống xã hội bị tê liệt. Chính phủ mất dần kiểm soát xã hội. Khi những cuộc tuần hành hay biểu tình tác động xấu đến đời sống xã hội và sự điều hành của chính phủ ở một mức độ nào đó sẽ xuất hiện các thế lực bên ngoài thông qua các tổ chức phi chính phủ thậm chí là chính phủ của một quốc gia khác lên tiếng ủng hộ người biểu tình. Từ đây xung đột giữa người dân và chính phủ càng được đẩy lên và gây ra hậu quả rất nặng nề".
Trên thực tế, mọi kịch bản của cách mạng màu đều gần như nhau. Những kẻ lợi dụng tự do, dân chủ khoét sâu vào những mâu thuẫn xã hội. Nó có thể là mâu thuẫn về lợi ích, mâu thuẫn về sắc tộc. Nó có thể là do hoàn cảnh kinh tế khó khăn dẫn đến khủng hoảng. Người dân mất dần niềm tin vào chính quyền. Tất cả những điều đó có thể chỉ là manh nha, chưa đến mức tạo ra xung đột nhưng nếu nó bị kích động sẽ dẫn đến những hậu quả vô cùng tai hại.
Từ thực tế từ các cuộc cách mạng màu ở một số quốc gia Đông Âu và Trung Đông, Bắc Phi trong thời gian qua, câu hỏi đặt ra là: Việt Nam chúng ta có phải đối diện với nguy cơ xảy ra cách mạng màu hay không? Theo các chuyên gia phân tích, cách mạng màu là một trong những thủ đoạn vô cùng nguy hiểm nằm trong âm mưu “Diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch đã và đang thực hiện. 
Vì vậy, Việt Nam là một trong những mục tiêu mà chúng sẽ tấn công. Các vụ việc trong nhiều năm qua cho thấy rằng các thế lực thù địch luôn không ngừng sử dụng chiến lược diễn biến hòa bình nhằm xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Những biểu hiện của cái gọi là cách mạng màu vì thế cũng đã manh nha xuất hiện ở Việt Nam. Đó chính là các cuộc tụ tập đông người dưới nhiều lý do, trong đó có cả những cuộc tụ tập đập phá gây bất ổn xã hội.
Ai đứng đằng sau những cuộc tụ tập đông người này? Liệu tất cả những người xuống đường để bảo vệ môi trường, để bảo vệ cây, để phản đối luật đặc khu đều là những người muốn đem chính kiến của mình góp ý vào các chính sách của chính quyền? Liệu tất cả các hành động đập phá có phải là do bộc phát? Hay tất cả những hành động phạm pháp đó đều có bàn tay sắp đặt, kích động, giật giây thậm chí còn tung tiền để lôi kéo tụ tập? Bài học ở nhiều quốc gia trên thế giới đã cho thấy, nếu những mâu thuẫn xã hội ngày càng bị khoét sâu mà không có giải pháp nào giải quyết thì việc thổi bùng lên một ngọn lửa phản kháng là điều dễ xảy ra.


Âm mưu thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong tình hình mới



Trong chiến lược “DBHB” chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch coi Việt Nam là trọng điểm. Năm 1995, khi bình thường hoá quan hệ ngoại giao, Tổng thống Clin-tơn đã tuyên bố: “Đưa Việt Nam vào quỹ đạo mà Liên Xô đã đi”. Điều đó cho thấy “DBHB” chỉ là sự thay hình đổi dạng nhằm che đậy bản chất phản động, hiếu chiến xâm lược của CNĐQ gây mơ hồ, ảo tưởng trong những người cộng sản và nhân dân, từ đó gây dao động về mục tiêu, lý tưởng cách mạng để chúng tiến công chống phá CNXH. Để thực hiện chiến lược “DBHB”, kẻ thù rất xảo quyệt, chúng áp dụng phương thức thẩm thấu hoà bình, làm cho CNXH tự mục ruỗng từ bên trong, tự sụp đổ theo kiểu “không cần chiến tranh vẫn có chiến thắng”, đồng thời chúng sử dụng nhiều thủ đoạn tiến công chống phá trên nhiều lĩnh vực như : chính trị, tư tưởng, văn hoá, khoa học kỹ thuật, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại … Trong đó, lĩnh vực chính trị, tư tưởng được chúng coi là mũi đột phá.
Vì vậy,  phòng chống chiến lược “DBHB” là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng nước ta, đó là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đối với quân đội, để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó thì một trong những vấn đề cơ bản là “phải làm thất bại chiến lược “DBHB”, vô hiệu hoá mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch tạo cớ để can thiệp vũ trang”, xây dựng  quân đội vững mạnh mọi mặt, trong đó lấy chất lượng chính trị làm cơ sở
Trong thời gian qua, toàn quân đã tích cực tham gia phong chống chiến lược “DBHB”, nhưng kết quả đạt được vẫn còn có những hạn chế nhất định, nhất là trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Một trong những nguyên nhân chính là lãnh đạo, chỉ huy các cấp và mỗi cán bộ, chiến sĩ nhận thức chưa đầy đủ về bản chất, nội dung của chiến lược “DBHB” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng là gì; tại sao trong chiến lược “DBHB” kẻ thù xác định Việt nam là trọng điểm để chống phá của chúng …  Từ  những vấn đề đó đã dẫn đến quá trình tổ chức triển khai thực hiện các giải pháp phòng chống “DBHB” còn thiếu đồng bộ, hiệu quả còn hạn chế về nhiều mặt, trên nhiều lĩnh vực. Để khắc phục những hạn chế đó trước hết, phải nhận thức đầy đủ tính chất nguy hiểm của “DBHB” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng.
Thực tiễn cho thấy, trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng các thế lực thù địch sử dụng làm đòn đột phá khẩu bằng bốn mũi tiến công trên mặt trận chính trị, tư tưởng đó là kích động “dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc”. Tính chất nguy hiểm của âm mưu “DBHB” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng CNĐQ và các thế lực thù địch nhằm phá vỡ niềm tin của quần chúng nhân dân đối với đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc … làm cho xã hội hỗn loạn về đời sống chính trị, tinh thần, tạo điều kiện tập hợp lực lượng phản động trong nước; kích động quần chúng đòi thay đổi chế độ XHCN bằng chiến thuật “viên đạn bọc đường”, với những luận điệu, lừa bịp để làm cho đối phương mất cảnh giác, mất phương hướng chính trị, không phân biệt được đúng sai để truyền bá tư tưởng tư sản, gây chia rẽ nội bộ ta, tạo điều kiện cho bạo loạn về chính trị và lật đổ chế độ. Bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt kẻ thù làm mê muội con người bằng các loại văn hoá phẩm độc hại, thúc đẩy lối sống, thực dụng, bàng quang với chính trị, xa rời mục tiêu lý tưởng để có điều kiện tập hợp lực lượng phản động gây áp lực chính trị tiến tới lật đổ chính quyền; thực hiện chính sách lôi kéo, thông qua các nước đồng minh, các tổ chức phi chính phủ, qua con đường giao lưu, hợp tác văn hoá, giáo dục, khoa học, nghệ thuật… để thu thập tin tức tình báo, mua chuộc cán bộ, cài cắm gián điệp, móc nối các phần tử cơ hội chính trị để chống phá ta. Ngoài ra chúng còn dùng hình thức tung tin đồn nhảm, lợi dụng vấn đề chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta hiện nay để tạo dư luận  “bảo vệ tự do dân chủ, nhân quyền”, gây ra tâm trạng mơ hồ, mất cảnh giác trong nhân dân, nhằm cô lập lực lượng trung kiên, lôi kéo kích động những phần tử bất mãn để gây bạo loạn lật đổ chính quyền.
Tính chất nguy hiểm của âm mưu “DBHB” trên mặt trận mặt trận chính trị, tư tưởng là chủ nghĩa đế quốc nhằm phá vỡ niềm tin, đánh từ trong nội bộ đối phương, làm cho “cộng sản tự diệt cộng sản”, với những thủ đoạn khác nhau để tạo cớ can thiệp vào nội bộ ta. Để thực hiện âm mưu “DBHB” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, các thế lực thù địch thường sử dụng các lực lượng chủ yếu như: hình thành các trung tâm phá hoại tư tưởng để tuyên truyền các luận điệu thù địch, chúng dựng nên nhiều tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài; gia tăng các hoạt động chống phá từ bên ngoài và cấu kết với bọn bất mãn, cơ hội trong nước, dùng các thủ đoạn tuyên truyền lôi kéo, móc nối với một số học sinh, sinh viên, người lao động ở nước ngoài để khi về nước làm nhân chứng chống lại chế độ ta; chúng tìm nhiều cách nhằm chia rẽ nội bộ ta, cài cắm nội gián, tạo dựng “ngọn cờ” để chống đối từ trong nước, gây mất ổn định chính trị xã hội ở Việt Nam, thông qua viện trợ, mở rộng giao lưu hợp tác để xây dựng lực lượng phản động, ngoài ra chúng còn sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng ở hải ngoại để xuyên tạc, kích động đồng bào ta ở nước ngoài.
Các thế lực thù địch đã sử dụng nhiều thủ đoạn rất tinh vi, xảo quyệt như: tiến công phủ định nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt nam, phủ nhận hoàn toàn chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc quá khứ hào hùng của dân tộc, đánh vào những vấn đề có tính nguyên tắc sống còn của Đảng; chúng thực hiện thủ đoạn thâm nhập để lôi kéo, mua chuộc, khống chế hoặc móc nối với bọn cơ hội, bất mãn… nhằm từng bước chuyển hoá đội ngũ lãnh đạo “chệch hướng”; lợi dụng các diễn đàn tự do để tuyên truyền “dân chủ” kiểu tư sản, khuyến khích lối sống thực dụng, đòi “tự do” xuất bản báo chí để tạo chỗ đứng cho bọn phản động; lợi dụng hoạt động tôn giáo để truyền đạo trái pháp luật, lôi kéo người xấu trong tôn giáo chống chính quyền.
Qua một số vấn đề trên đây để chúng ta nhận thức rõ hơn tính chất nguy hiểm của âm mưu, thủ đoạn rất tinh vi, xảo quyệt mà các thế lực thù địch đã và đang sử dụng để chống phá cách mạng Việt Nam.



THẬT TỰ HÀO VỀ THẾ HỆ ĐI TRƯỚC


 Chuyện về người hùng bị giặc cưa chân 6 lần!

Nguyễn Văn Thương sinh năm 1938, tại xã Lộc Hưng, Trảng Bàng, Tây Ninh. Ông là thiếu tá tình báo, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Khi bị địch bắt, mua chuộc bằng đô la, gái đẹp, biệt thự, xe hơi… không thành, quân đội Mỹ đã dùng những màn tra tấn cực kỳ dã man đối với ông Thương. Chỉ trong 3 tháng, 10 ngón chân của ông lần lượt bị bẻ gãy, hai chân bị cưa 6 lần, cụt đến qua đầu gối...

Năm 1969, sau khi bị bại lộ thân phận do tên Chiến Cá chỉ điểm, lúc này, ông đang chuyển rất nhiều tài liệu mật từ căn cứ về Sài Gòn. Trên đường về, quân Mỹ phát hiện ra ông và cho trực thăng vây bắt. Đến cánh đồng ấp Mỹ Phước (Bình Dương), một số máy bay Mỹ hạ độ cao, cho quân đổ bộ quyết bắt bằng được người tình báo giao liên.

“Lúc này, tôi đã giấu xong tài liệu vào luống cày rồi nấp vào một chỗ kín đáo. Khẩu súng chỉ còn 21 viên đạn. Chờ địch tới gần 15 thước, tôi bắn 20 viên đạn tiêu diệt nhiều lính Mỹ. Viên cuối cùng tôi định tự sát, nhưng nghĩ lại lời thề Đảng viên không được tự sát, tôi quyết dụ chúng đến gần để tiêu diệt cướp súng.

Để đánh lừa lính Mỹ, tôi vờ đầu hàng, tiến về phía máy bay. Khi chúng hạ độ cao, hạ thang dây, tôi cướp súng của một tên địch và bắn liên tiếp vào ổ chia lửa của máy bay. Một chiếc bốc cháy, nhiều máy bay khác lao tới đổ quân bao vây. Lúc này tôi đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, tôi bị thương và bị chúng dùng báng súng đập gãy cánh tay, ngất lịm” - ông Thương kể.

Bị bắt về Sài Gòn, ông Thương được lính Mỹ dẫn về ngôi biệt thự rất sang trọng có tên Hoa Hồng, ở đây có sẵn một “bóng hồng” xinh đẹp, dịu dàng, mang dáng dấp một thiếu nữ con nhà lành, có học thức chờ đón và chăm sóc ông. Tại phòng khách, một người lính Mỹ đeo quân hàm Đại tá chỉ cho ông xấp tiền 100.000 USD, chiếc xe hơi, ngôi biệt thự và nói “tất cả những thứ này là của ông, điều kiện duy nhất là thừa nhận ông chính là Nguyễn Văn Thương”.

Không chỉ vậy, nếu ông Thương chịu hợp tác thì chúng sẵn sàng trao cho một bộ quân phục hai bông mai cấp Trung tá trên vai áo.

Sau 100 ngày ở trong ngôi biệt thự, dù dùng tiền, nhà cửa và gái đẹp không thể mua chuộc được ông Thương, quân Mỹ bắt đầu áp dụng “giai đoạn 2” với những màn tra tấn tàn độc, khủng khiếp.

Trong quá trình bị bắt giam, chúng dùng đủ mọi đòn tra tấn dã man để nhằm khai thác thông tin từ ông. “6 lần cưa chân của giặc Mỹ khiến tôi không thể nào quên được. Để bắt đầu cho việc hành hình tôi, chúng trói chặt tôi lên chiếc bàn rồi bẻ gãy hai ngón chân út khiến tôi đau đến tận tim” – Ông Thương nhớ lại.

Khi các vết thương ở bàn chân chưa lành, ông Thương tiếp tục bị quân Mỹ cưa chân. Mỗi lần, bọn chúng cưa một đoạn, chúng cưa bằng gang tay, khi thì chỉ vài cm, khi thì một đoạn.

“Trong nhiều ngày, chúng đã cưa chân tôi 6 lần và đây là quãng thời gian đau đớn khủng khiếp nhất. Mỗi lần chuẩn bị cưa, chúng lại áp dụng nhiều thủ đoạn tra tấn tâm lý kéo dài sự căng thẳng, kéo dài sự đau đớn. Hết đánh lại cưa, cưa xong lại chữa trị cho lành, gần lành chúng lại cưa. Có đợt, cưa xong chúng lại đưa tôi ra làm vật thí nghiệm cho bác sĩ Mỹ thực tập. Cứ như thế, chúng cưa nhiều lần, cưa nhiều đoạn và cho đến lần thứ 6 thì tôi đã vĩnh viễn mất đi đôi chân”

Lòng can đảm và sự anh dũng của Thiếu tá Nguyễn Văn Thương khiến cho những tên đầu sỏ, “đồ tể” của đế quốc Mỹ lúc đó cũng phải thốt lên: “Tao thua rồi, mày là sinh vật thép”.

Đến năm 1973, sau hiệp định Paris, ông được thả tự do về đoàn tụ với gia đình với thân hình không còn lành lặn.

Dù đôi chân cụt gần hết cùng hàng trăm vết thương do địch tra tấn khiến ông đau nhức nhưng đôi mắt ông vẫn sáng ngời tình yêu Tổ quốc. Ông thường xuyên tham dự các buổi giao lưu, truyền ngọn lửa cách mạng cho thế hệ mầm non của đất nước. Ông mãi là tấm gương sáng về lòng yêu đất nước và ý chí bất khuất trong mọi nghịch cảnh.

Do vết thương tái phát, tuổi cao bệnh nặng, mặc dù đã được tập thể Giáo sư, Bác sỹ cùng gia đình hết sức chạy chữa nhưng vì sức khỏe suy kiệt do bị bọn tình báo Mỹ cưa đi cưa lại đôi chân giao liên đến 6 lần, cụ vừa trút hơi thở cuối cùng vào sáng ngày 13/8/2018 tại nhà riêng số 337/6 đường Bình Lợi, phường 13, Q. Bình Thạnh, TP HCM. Hưởng thọ 80 tuổi! Thật thương tiếc người anh hùng.

 Theo Đồng Đội


ĐƯỜNG NHUỆ THAO TÚNG ĐẤU GIÁ ĐẤT, BỘ TƯ PHÁP THANH TRA CÁC CUỘC ĐẤU GIÁ Ở THÁI BÌNH


 Ngày 19-6, tại cuộc họp báo thường kỳ quý II/2020 của Bộ Tư pháp, bà Đặng Kim Hoa, Phó Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp, đã cung cấp một số thông tin đến hoạt động đấu giá đất có sự tham gia của vợ chồng Đường "Nhuệ" tại tỉnh Thái Bình.
      Theo bà Đặng Kim Hoa, ngay sau khi nhận được phản ánh về việc có dấu hiệu thao túng, thông đồng trong hoạt động đấu giá sử dụng đất của vợ chồng Nguyễn Xuân Đường và Nguyễn Thị Dương tại tỉnh Thái Bình, Bộ Tư pháp đã có công văn đề nghị Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình kiểm tra, rà soát, báo cáo bộ các vụ việc đấu giá tài sản có sự tham gia của vợ chồng này. Đồng thời, xử lý theo thẩm quyền và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm theo quy định. Trên cơ sở báo cáo của Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình, Bộ Tư pháp đã thành lập đoàn thanh tra đột xuất để thanh tra toàn bộ các vụ tổ chức đấu giá có sự tham gia của vợ chồng Đường "Nhuệ". "Thực hiện thủ tục thu hồi chứng chỉ hành nghề đấu giá tài sản của 2 đấu giá viên thuộc Trung tâm đấu giá tài sản tỉnh Thái Bình"- bà Đặng Kim Hoa cho hay. Bên cạnh đó, để tiếp tục nâng cao hiệu lực hiệu quả của hoạt động đấu giá tài sản, bà Đặng Kim Hoa cho biết, Bộ Tư pháp đã có báo cáo Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường biện pháp quản lý đấu giá tài sản trong thời gian tới, với sự tham gia của nhiều bộ, ngành có liên quan. Bởi theo lý giải của bà Hoa, một hoạt động bán đấu giá khi có vi phạm, không phải trách nhiệm hoàn toàn thuộc về Bộ Tư pháp, mà còn trải qua rất nhiều khâu. "Đối với Bộ Tư pháp, chủ yếu liên quan quy trình, quy định, trình tư, thủ tục bán đấu giấy và việc lựa chọn các tổ chức bán đấu giá như thế nào"- Phó Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp cho hay. Vợ chồng Đường "Nhuệ" bị Công an tỉnh Thái Bình khởi tố, bắt giam từ tháng 4-2020 để điều tra, làm rõ các hành vi vi phạm pháp luật. Đường "Nhuệ" được biết đến với Công ty Bất động sản Đường Dương ở tỉnh Thái Bình. Bắt đầu hoạt động trong lĩnh vực bất động sản từ nam 2015, vợ chồng Đường "Nhuệ" đã thao túng hoạt động đấu giá quyền sử dụng đất tại địa phương này. Hầu hết các đợt tổ chức đấu giá đất đều có sự tham gia của vợ chồng Đường "Nhuệ". Điểm bất thường khiến dư luận nghi ngờ là Nguyễn Xuân Đường trúng giá hàng loạt lô đất với giá "bèo". Đáng chú ý, người dân địa phương còn phản ánh việc vợ chồng Đường "Nhuệ" sử dụng xã hội đen để thị uy, đe dọa mỗi khi tham gia phiên đấu giá.

Thứ Năm, 18 tháng 6, 2020

KHÔNG CÓ CHUYỆN PHÁP CÔNG NHẬN TRUNG QUỐC Ở BIỂN ĐÔNG


Để bảo vệ yêu sách “tứ sa” hay “đường lưỡi bò” trên Biển Đông, trong các tuyên bố ngoại giao gần đây và tuyên truyền của mình, Trung Quốc thường viện dẫn các sự kiện lịch sử, cho rằng: “việc Pháp ký Hiệp ước Pháp - Thanh năm 1887 đồng nghĩa với việc Pháp đã từ bỏ yêu sách tại Trường Sa, Hoàng Sa và Trung Quốc là bên kế thừa chứ không phải Việt Nam”. Vấn đề này được hiểu như thế nào?

CHIẾN THẮNG ĐẠI DỊCH COVID-19; MINH CHỨNG CHO BẢN CHẤT TỐT ĐẸP CỦA CHẾ ĐỘ TA


Đến thời điểm này, có thể coi cuộc chiến đầy cam go chống “giặc Covid-19” của Việt Nam đã giành thắng lợi. Cả đất nước đang bước vào trạng thái bình thường mới nhằm khôi phục lại nền kinh tế vừa trải qua một “cơn bão bệnh dịch”. Thời điểm này cũng là lúc chúng ta cần nhìn thẳng vào thực tế để hiểu những gì chúng ta đã trải qua sau hơn 3 tháng cả nước gồng lưng chống “giặc Covid-19”. Nhìn thẳng để tin dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, cả nước đã đồng sức, đồng lòng vượt qua cái chết bằng trí và lực của chính mình. Hơn 3 tháng chống “giặc dịch”, Chính phủ hầu như từ 2 đến 3 ngày lại có một cuộc họp chỉ đạo; các thành viên Chính phủ tỏa khắp các tỉnh, thành phố chỉ đạo, kiểm tra, truyền đạt ý chí quyết tâm từ Trung ương xuống các địa phương để ổn định tình hình, kịp thời phát hiện và ngăn chặn dịch lây lan trong cộng đồng.
Ngày 30-3-2020, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng ra lời kêu gọi đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài đoàn kết một lòng, thống nhất ý chí và hành động, thực hiện quyết liệt, hiệu quả những chủ trương của Đảng và Nhà nước, kiên quyết chiến thắng đại dịch Covid-19. Lời kêu gọi của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước như lời hịch hội tụ sức mạnh truyền thống dân tộc trước hiểm họa của “giặc dịch”. Lời kêu gọi có đoạn: “… Với tinh thần coi sức khỏe và tính mạng của con người là trên hết, tôi kêu gọi toàn thể đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài hãy đoàn kết một lòng, thống nhất ý chí và hành động, thực hiện quyết liệt, hiệu quả những chủ trương của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Mỗi người dân là một chiến sĩ trên mặt trận phòng, chống dịch”.
Trên thực tế, ngay từ những ngày đầu, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; Ban chỉ đạo quốc gia về phòng, chống dịch Covid-19, các ngành, các cấp, các địa phương, cả hệ thống chính trị đã đoàn kết “chung lưng đấu cật”, không quản ngại gian khổ, hy sinh, triển khai quyết liệt nhiều biện pháp đồng bộ để chống dịch. Thành công của những ngày đầu tiên thể hiện sức mạnh đoàn kết dân tộc và quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân ta.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, cả hệ thống chính trị từ Trung ương tới địa phương, các tổ chức chính trị, xã hội… đã sát cánh cùng nhau chống “giặc dịch”. Trên tuyến đầu, các y sĩ, bác sĩ dốc sức, dốc lòng cứu người bệnh; quân đội, công an trở thành lực lượng nòng cốt giúp đồng bào trong nước, ngoài nước trở về, nhường cơm sẻ áo, nhường nhà, nhường doanh trại cho người cách ly… Trong đại dịch, không chỉ xuất hiện nhiều nhà từ thiện cùng góp công, góp sức, góp tiền của cho cuộc chiến chống dịch mà từ trong nhân dân cũng xuất hiện nhiều tấm gương, tấm lòng hướng về các y sĩ, bác sĩ nơi tuyến đầu chống dịch thật sự xúc động. Người có tiền giúp tiền, người có gạo giúp gạo, có người chỉ mớ rau, củ, quả cũng đem đến giúp đỡ người ở tuyến đầu… Những tấm lòng thơm thảo của đồng bào, đồng chí như tiếp thêm năng lượng cho các y sĩ, bác sĩ đang không quản ngại hy sinh.
Sự nỗ lực không biết mệt mỏi của ngành y tế, quân đội, công an và các ban, bộ, ngành Trung ương, sự vào cuộc kịp thời của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, cộng đồng doanh nghiệp… làm tăng thêm niềm tin trong nhân dân về thành công của cuộc chiến chống dịch. Chính từ niềm tin ấy, mọi quyết sách của Đảng, Nhà nước, Chính phủ được nhân dân đồng lòng, đồng sức ủng hộ.
Với tinh thần coi sức khỏe và tính mạng của con người là trên hết, trong hiểm nguy của đại dịch, quyết tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ là không để ai bị bỏ lại phía sau, không ai bị bỏ ngoài xã hội. Gói hỗ trợ 62.000 tỷ đồng của Chính phủ đã thể hiện điều đó. Các đối tượng chính sách, người nghèo, người không nơi nương tựa, người bán vé số; đối tượng kinh tế vỉa hè, người yếu thế đều có quyền thụ hưởng. Giữa cơn đại dịch Covid-19, ở Việt Nam, tất cả mọi người đều được bình đẳng chữa trị, trong nước cũng như nước ngoài về. Tính đến 6.30 ngày 17 tháng  6 năm 2020, trên thế giới đã có khoảng 8.229.998 người nhiễm Covid-19 và 444.513 người tử vong nhưng Việt Nam không có ai tử vong. Nhiều người nước ngoài bị nhiễm Covid-19 đến Việt Nam được chữa trị khỏi, khi trở về nước đã không cầm lòng được, chỉ biết thốt ra lời: “Cảm ơn Việt Nam!”…
Một đất nước trong cơn hoạn nạn đã đoàn kết, đồng sức, đồng lòng xung quanh Đảng, Nhà nước, Chính phủ để chống dịch. Một đất nước trong cơn hoạn nạn không một ai bị bỏ lại phía sau, kể cả người nước ngoài và người Việt ở nước ngoài về. Một đất nước mà quyền cao nhất của con người là được sống, được bảo vệ mạng sống... đó không phải là giá trị cao nhất của nhân quyền ư?

ĐIỀU GÌ ĐẰNG SAU CÁI GỌI LÀ “TỰ ỨNG CỬ”?


Trước thềm Đại hội XIII của Đảng, các thế lực thù địch tiếp tục đưa ra các luận điệu cho rằng: Đại hội là nơi đấu đá giữa “nhóm cải cách” và “nhóm bảo thủ” trong Đảng, là dịp để con em, vây cánh tiến thân. Chúng xuyên tạc việc quy hoạch cán bộ của Đảng là vì lợi ích nhóm, không dân chủ, thiếu minh bạch; cho rằng bầu cử trong Đảng là kiểu “cận huyết thống trong chính trị”, “bầu cử cho vui, mọi sự đã được sắp xếp”.
Như chúng ta đã biết, công tác nhân sự luôn là vấn đề được Đảng ta đặc biệt quan tâm để chọn ra được những cán bộ đủ đức, đủ tài, đủ trình độ, năng lực đảm đương trọng trách, nhiệm vụ quản lý, điều hành đất nước, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Chỉ thị số 35-CT/TW, Bộ Chính trị đã chỉ rõ yêu cầu: cấp ủy nhiệm kỳ 2020-2025 phải đặc biệt coi trọng chất lượng, có số lượng và cơ cấu hợp lý; tiêu biểu về trí tuệ, phẩm chất, uy tín, thật sự trong sạch vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo trong tình hình mới, thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Công tác chuẩn bị nhân sự và bầu cử phải thực hiện đúng Điều lệ, quy chế, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ, liên thông, dân chủ, công tâm, khách quan, minh bạch; gắn kết chặt chẽ với công tác quy hoạch cán bộ và sắp xếp, bố trí nhân sự lãnh đạo cơ quan Nhà nước các cấp, nhiệm kỳ 2021-2026. Quy định số 89-QĐ/TW, ngày 04/8/2017 của Bộ Chính trị khóa XII xác định rõ tiêu chuẩn cấp ủy viên các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025: “Tuyệt đối trung thành với lợi ích của Đảng, quốc gia, dân tộc và Nhân dân; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng về độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội và đường lối đổi mới của Đảng. Có lập trường, quan điểm, bản lĩnh chính trị vững vàng, không dao động trong bất cứ tình huống nào, kiên quyết đấu tranh bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. Có tinh thần yêu nước nồng nàn, đặt lợi ích của Đảng, quốc gia, dân tộc, nhân dân, tập thể lên trên lợi ích cá nhân; sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp của Đảng, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân. Yên tâm công tác, chấp hành nghiêm sự phân công của tổ chức và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao”.
Như vậy, những quyền của đảng viên như đề cử, ứng cử, tự ứng cử hay việc tranh cử, bầu cử… luôn luôn phải tuân thủ những quy định chặt chẽ, không thể có chuyện ai đó không đáp ứng được các tiêu chí cho từng chức danh lãnh đạo và nhất là không có sự tín nhiệm của tập thể lại có thể “tự ứng cử” như luận điệu của một số kẻ cơ hội, thù địch đang rêu rao.
Rõ ràng, những luận điệu của các thế lực thù địch về công tác chuẩn bị nhân sự và tiến hành bầu cử Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng lần thứ XIII là hoàn toàn trái ngược với quan điểm, chủ trương của Đảng ta. Hệ thống các văn bản chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đưa ra đã và đang nhấn mạnh vấn đề công tác cán bộ với những giải pháp công khai, minh bạch, nhằm phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn với những tiêu cực trong công tác cán bộ, bảo đảm cho Đại hội Đảng các cấp thành công, đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra.
Cho nên, việc hô hào “tự ứng cử” và đề cao “tranh cử để thực sự dân chủ” thực chất cũng chỉ là “bình mới, rượu cũ” trong chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch. Mục tiêu của chúng một mặt là gây nhiễu loạn thông tin trước thềm Đại hội Đảng lần thứ XIII, một mặt là nhằm vào chống phá nguyên tắc tập trung dân chủ thông qua bầu cử trong Đảng. Song, nguy hại hơn cả là chúng làm xói mòn lòng tin của Nhân dân đối với đội ngũ cán bộ của Đảng, từ đó từng bước chuyển hóa, tiến tới phủ nhận vai trò lãnh đạo xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Vì vậy, cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân cần nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội Đảng để xuyên tạc, chống phá gây mất đoàn kết nội bộ, cản trở việc tiến hành Đại hội lần thứ XIII Đảng; chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh, không để tác động, chi phối bởi những thông tin giả, thông tin xấu độc trên không gian mạng.

NHẬN DIỆN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII CỦA ĐẢNG


Trước thềm Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, đây là thời điểm các thế lực thù địch sẽ tập trung công kích, chống phá bằng nhiều thủ đoạn nham hiểm tinh vi, xảo quyệt và quyết liệt.

Hoạt động tuyên truyền chống phá Đại hội XIII của Đảng được tiến hành ồ ạt theo kiểu “chiến dịch”, với việc huy động cùng lúc nhiều lực lượng, phương tiện, tuyên truyền tập trung về một chủ đề thống nhất trong một khoảng thời gian nhất định. Lợi dụng sự phát triển của công nghệ thông tin, đặc biệt là các ứng dụng, dịch vụ tiện ích trên không gian mạng, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội, chính trị không ngừng gia tăng các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc.
Để gia tăng hiệu quả, quy mô, mức độ tác động, ảnh hưởng chúng tuyên truyền về một chủ đề thống nhất trong một khoảng thời gian nhất định. Tiêu biểu là: “Chiến dịch tuyên truyền xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp 2013”; “Chiến dịch tẩy chay Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam”, “Chiến dịch bàn luận nhân sự Đại hội XIII”, “Chiến dịch xuống đường vì dân chủ”, “Chiến dịch bất tuân dân sự”, “Chiến dịch khai dân trí”…
Trên các trang mạng của các tổ chức phản động lưu vong và số đối tượng chống đối trong nước đồng loạt tán phát các bài viết có nội dung xuyên tạc cương lĩnh, đường lối của Đảng.  Hoạt động của chúng tập trung chống phá cụ thể đó là: Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; Lợi dụng công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng để chống phá cách mạng Việt Nam; Đưa ra những thông tin xuyên tạc, bịa đặt liên quan đến công tác nhân sự Đại hội Đảng; Lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo để tung tin thất thiệt làm giảm sút ý chí, niềm tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta.
Để tăng tính thuyết phục cho những luận điệu sai trái này, chúng xây dựng những trang web, trang fanpage (mua lượng truy cập tự động cao) để tung những văn bản giả có dấu mật để thêu dệt, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước bằng những câu chuyện ly kỳ, rồi chúng còn tổ chức ra cuộc tọa đàm dẫn lời một số nhân vật tự nhận là “Giáo sư”, “Tiến sĩ”, “Luật sư”, “học giả”, “nhà nghiên cứu chính trị – xã hội”… khoác dưới vỏ bọc “yêu nước”, “đóng góp trung thực, thẳng thắn vì nhân dân, vì đất nước” nhưng thực chất là số đối tượng chống cộng cực đoan ở Hải Ngoại và những đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị ở trong nước bình luận, đánh giá về công tác nhân sự của Đảng và Nhà nước trong kỳ Đại hội sắp tới. Số khác triệt để lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ để tạo ra những bằng chứng giả chứng minh cho các luận điệu xuyên tạc của mình. Nhưng thực chất, đó chỉ là những hình ảnh “cắt, dán” thông qua công nghệ photoshop.

Từ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Việc nhận diện và đấu tranh với những thủ đoạn của chúng trước thềm Đại hội XIII của Đảng là việc làm hết sức quan trọng hiện nay.

Trước vận mệnh quốc gia - dân tộc, sự tồn vong của chế độ và đặc biệt là bảo vệ an toàn, thành công của Đại hội XIII của Đảng, chúng ta phải tuyệt đối đề cao cảnh giác, chủ động nhận rõ bản chất, đấu tranh không khoan nhượng với các phần tử cơ hội, quyết tâm giữ vững an ninh chính trị, an toàn cho Đại hội và bảo vệ danh dự cho Đảng ta.


NHẬN DIỆN CÁC "CHIẾN DỊCH " TUYÊN TRUYỀN CHỐNG PHÁ ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

Càng gần đến ngày diễn ra Đại hội XIII của Đảng, các thế lực thù địch càng gia tăng các hoạt động tuyên truyền chống phá với nhiều thủ đoạn tinh vi.
Hoạt động của chúng không còn được thực hiện đơn lẻ mà được tiến hành ồ ạt theo kiểu “chiến dịch”, với việc huy động cùng lúc nhiều lực lượng, phương tiện, tuyên truyền tập trung về một chủ đề thống nhất trong một khoảng thời gian nhất định. Vì vậy, cần nhận diện để chủ động đề ra các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn.
Lợi dụng sự phát triển của công nghệ thông tin, đặc biệt là các ứng dụng, dịch vụ tiện ích trên không gian mạng, thời gian gần đây, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội, chính trị không ngừng gia tăng các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng; xuyên tạc nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; xuyên tạc vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng và công tác nhân sự Đại hội XIII… Tất cả sự chống phá trên đều nhằm tới mục tiêu: Phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng; hạ thấp uy tín và thành quả cách mạng; phá hoại Đại hội XIII của Đảng.
Để gia tăng hiệu quả, quy mô, mức độ tác động, ảnh hưởng của hoạt động tuyên truyền, chúng huy động cùng lúc nhiều lực lượng, phương tiện, tuyên truyền về một chủ đề thống nhất trong một khoảng thời gian nhất định. Tiêu biểu là: “Chiến dịch tuyên truyền xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp 2013”; “Chiến dịch tẩy chay Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam”, “Chiến dịch bàn luận nhân sự Đại hội XIII”, “Chiến dịch xuống đường vì dân chủ”, “Chiến dịch bất tuân dân sự”, “Chiến dịch khai dân trí”…
Có thể thấy, các “chiến dịch” này có những dấu hiệu đặc trưng sau đây:
Thứ nhất, chủ thể khởi xướng các “chiến dịch tuyên truyền” chủ yếu là các trung tâm, tổ chức thù địch Việt Nam ở nước ngoài như: Các tổ chức khủng bố, phản động lưu vong (“Việt Tân”, “Đảng Dân chủ nhân dân”, “Đảng Vì dân”, “Tập hợp dân chủ đa nguyên”, “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời”…); các trung tâm truyền thông nước ngoài (Đài BBC tiếng Việt, VOA tiếng Việt, RFA tiếng Việt…); các tổ chức quốc tế, NGO nước ngoài (“Theo dõi Nhân quyền thế giới - HRW”, “Ân xá quốc tế - AI”, “Phóng viên không biên giới - RSF”…). Bên cạnh đó, các “chiến dịch tuyên truyền” chống phá Đại hội XIII của Đảng còn được tiến hành mạnh mẽ, quyết liệt với sự phối kết hợp của nhiều lực lượng thù địch cả trong và ngoài nước, nhất là số dân biểu cực hữu trong chính giới các nước Mỹ, phương Tây; số đối tượng chống đối chính trị trong nước.
Thứ hai, nội dung tuyên truyền trong các “chiến dịch” được hướng theo một chủ đề thống nhất, như: Tuyên truyền chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng; tuyên truyền chống phá vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp 2013; tuyên truyền chống phá cương lĩnh, dự thảo các văn kiện Đại hội; tuyên truyền xuyên tạc nguyên tắc tổ chức, vấn đề nhân sự Đại hội XIII… Chẳng hạn như, thực hiện chiến dịch chống phá cương lĩnh, dự thảo các văn kiện Đại hội XIII, nhiều trang mạng của các tổ chức phản động lưu vong và số đối tượng chống đối trong nước đã đồng loạt tán phát các bài viết có nội dung xuyên tạc cương lĩnh, đường lối của Đảng. Đồng thời, kêu gọi sửa đổi “toàn diện” văn kiện, đường lối chính trị theo hướng đa nguyên, đa đảng, xóa bỏ vai trò “độc tôn” của Đảng; thay đổi hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước; xây dựng nền kinh tế đa sở hữu bắt đầu từ năm 2021. Có thể thấy rõ ý đồ này qua các bài viết: “Vài suy nghĩ trước thềm Đại hội XIII”, “Việt Nam: Liệu Đại hội Đảng XIII sẽ có khác biệt?”, “Các nhóm thân hữu và tắc nghẽn thể chế đang gây hại cho Việt Nam”, “Góp ý chuẩn bị Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam”, “Về Đảng cầm quyền”, “Bản kiến nghị về Đại hội XIII”… Cá biệt, có bài viết, đối tượng còn đưa ra “lộ trình” cải cách thể chế ở Việt Nam theo 2 giai đoạn: Giai đoạn 1: Chuyển đổi Đảng Cộng sản Việt Nam từ Đảng nắm quyền thành Đảng cầm quyền, với cương lĩnh, điều lệ mới theo hướng hòa giải, hòa hợp dân tộc và dân chủ hóa đất nước. Giai đoạn 2: Thực hiện cải cách hệ thống chính trị - nhà nước hiện tại thành nhà nước pháp quyền với Hiến pháp mới và thể chế chính trị dân chủ đa nguyên.
Để thực hiện các chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc công tác nhân sự Đại hội XIII, các trang mạng của các tổ chức phản động lưu vong, đài phát thanh nước ngoài đã đồng loạt tán phát hàng chục bài viết có nội dung xuyên tạc về công tác nhân sự Đại hội XIII, bịa đặt nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đang hình thành “phe cánh” để “tranh giành, đấu đá quyền lực; có “lợi ích nhóm”, “thanh trừng phe phái” trong công tác nhân sự; thậm chí chúng còn xuyên tạc rằng vấn đề nhân sự Đại hội Đảng XIII bị một số thế lực bên ngoài can thiệp, chỉ đạo.
Đó là các bài viết: “Những ai sẽ vào tứ trụ tại Đại hội Đảng 2021”, “Chân dung anh hùng - đại biểu Quốc hội; “Trao đổi về Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam”, “Thế lực thù địch ngay trong lòng Đảng”, “Trước thềm Đại hội Đảng, tổ chức lại sanh chuyện”, “Ai sẽ lãnh đạo Việt Nam sau 2 năm nữa?”, “Tín hiệu định hướng cho tứ trụ/tam trụ”…
Thứ ba, các “chiến dịch tuyên truyền” được tiến hành trong một khoảng thời gian nhất định, với nhiều lực lượng, phương tiện tham gia. Các “chiến dịch tuyên truyền” chống phá Đại hội Đảng XIII chủ yếu được tiến hành vào thời điểm trước và trong khi diễn ra Đại hội XIII của Đảng. Đặc biệt, ngay trước thời điểm diễn ra Đại hội, các “chiến dịch” này sẽ được gia tăng về cấp độ, tính chất và quy mô, sau đó sẽ giảm dần và kết thúc khi Đại hội Đảng XIII của Đảng kết thúc. Trong khoảng thời gian này, các thế lực thù địch, phản động sẽ tập trung huy động cùng lúc nhiều lực lượng, phương tiện tham gia nhằm làm gia tăng mức độ, tính chất, phạm vi tác động, ảnh hưởng của hoạt động tuyên truyền.
Thứ tư, các chiến dịch tuyên truyền chống phá Đại hội XIII của Đảng thường trải qua 3 giai đoạn là “giai đoạn chuẩn bị”, “giai đoạn tiến hành” và “giai đoạn kết thúc” chiến dịch. Trong giai đoạn chuẩn bị, các đối tượng thường tìm cách thu thập các tin tức liên quan phục vụ cho hoạt động tuyên truyền; chuẩn bị về lực lượng, phương tiện tuyên truyền.
Trong giai đoạn tiến hành chiến dịch tuyên truyền thường xuất hiện sự câu kết, móc nối, chuyển giao tin tức, tài liệu theo chủ đề tuyên truyền giữa các đối tượng ở trong nước với các cá nhân, tổ chức chống đối ở bên ngoài; xuất hiện hoạt động đưa tin, bài tuyên truyền chống phá theo một chủ đề thống nhất của các trung tâm, tổ chức chống Việt Nam ở bên ngoài; các hoạt động tuyên truyền được tiến hành đồng loạt, rầm rộ trên một phạm vi rộng với nhiều hình thức ở cả trong và ngoài nước.
Ở giai đoạn kết thúc “chiến dịch tuyên truyền”, hoạt động tuyên truyền của đối phương giảm dần và có sự chuyển hướng trong các hoạt động tuyên truyền chống Việt Nam sang những chủ đề, nội dung khác.
Thứ năm, mục đích trực tiếp của các “chiến dịch tuyên truyền” chống phá Đại hội XIII của Đảng là nhằm phá hoại công tác chuẩn bị Đại hội, phá hoại công tác nhân sự; phá hoại các dự thảo văn kiện; gây mâu thuẫn, chia rẽ, nghi kỵ, mất đoàn kết nội bộ Đảng; làm suy giảm niềm tin của các tầng lớp nhân dân, cán bộ, đảng viên với Đảng, Nhà nước và chế độ; làm cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII không diễn ra theo kế hoạch hoặc không đạt được các mục đích, yêu cầu đề ra.
Bên cạnh đó, chúng còn hướng tới những mục tiêu khác như: Xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ trương, đường lối của Đảng; hạ thấp uy tín và thành quả cách mạng; gây nhiễu loạn thông tin; gây mâu thuẫn, chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ; kích động các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước.
Các “chiến dịch tuyên truyền” chống phá Đại hội Đảng XIII của các thế lực thù địch thời gian qua không chỉ tạo ra sự nhiễu loạn thông tin, gây ra những hoài nghi, hoang mang, mất niềm tin trong một bộ phận quần chúng, cán bộ, đảng viên mà còn tác động, ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh, trật tự và quá trình chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng. Từ nay đến khi diễn ra Đại hội XIII của Đảng, các thế lực thù địch, đối tượng phản động, cơ hội chính trị, bất mãn sẽ càng đẩy mạnh thực hiện các “chiến dịch tuyên truyền” chống phá. Đặc biệt, chúng sẽ triệt để khai thác các ứng dụng, dịch vụ, tiện ích trên không gian mạng để tán phát “đơn thư”, “kiến nghị”, “thư ngỏ”, “bản lên tiếng”, “đơn tố cáo”, qua đó gây áp lực hoặc hạ uy tín, tạo luồng dư luận xấu về lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Bởi vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta cần nâng cao cảnh giác, kịp thời phát hiện và chủ động đấu tranh, ngăn chặn các “chiến dịch tuyên truyền” này.

Hãy cảnh giác và làm thất bại thủ đoạn của các thế lực thù địch


Xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, lật đổ chế độ XHCN mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang XD là mục tiêu không bao giờ thay đổi của các thế lực thù địch. Dù không mới nhưng âm mưu, thủ đoạn để thực hiện M của chúng thì ngày càng tinh vi hơn. Lợi dụng phản biện xã hội (PBXH), xem PBXH là "chiêu bài" để chống phá Đảng, Nhà nước là một trong những thủ đoạn như thế.

NHẬN THỨC ĐÚNG HIỆU QUẢ TÍCH CỰC TỪ PHẢN BIỆN XÃ HỘI


Theo cách hiểu phổ quát, phản biện xã hội (PBXH) là sự tương tác, giao thoa qua lại về quan điểm, tư duy của các lực lượng, thành phần trong xã hội trước những vấn đề thuộc chủ trương, chính sách, thể chế... có liên quan trực tiếp đến quyền lợi của các thành viên trong XH. Thông qua việc lắng nghe, tiếp thu những ý kiến phản biện xác đáng, có cơ sở KH mà các chủ trương, chính sách, thể chế... của cộng đồng ngày càng phù hợp, đáp ứng tốt hơn với những đòi hỏi của thực tiễn.