Nhân loại đang sống trong những năm
cuối thập niên thứ hai, thế kỷ 21, trong thời đại toàn cầu hóa và cuộc Cách
mạng công nghiệp lần thứ 4. Khác với quá trình toàn cầu hóa trước đây, toàn cầu
hóa ngày nay dựa trên cuộc cách mạng khoa học hiện đại, đặc biệt là có vai trò
của công nghệ thông tin.
Nếu như trước đây người ta chỉ có
thể nhận được thông tin từ hệ thống tuyến tính thì ngày nay, với sự phát triển
của internet, mạng xã hội, con người có thể tiếp cận với các nguồn thông tin đa
dạng về hình thức, phong phú về nội dung. Qua các công cụ lưu trữ, tìm kiếm dữ
liệu, như: Google, Yahoo, mạng xã hội lớn như facebook, YouTube… con người có
thể tiếp cận thông tin hoàn toàn chủ động, có lựa chọn… Điều này làm cho thế
giới ngày càng “thu nhỏ” và trở thành “thế giới phẳng” (theo Thomas
L.Friedman). Tuy nhiên, sự khác biệt giữa các chế độ xã hội, nhà nước dân tộc
vẫn không mất đi mà còn được khẳng định, duy trì sự tồn tại của mình một cách
vững chắc hơn.
Trong thời đại ngày nay, các giá trị
dân chủ và quyền con người (QCN) được chia sẻ giữa các quốc gia, dân tộc thông
qua cơ chế gia nhập, ký kết các công ước của Liên hợp quốc. Thế nhưng một số kẻ
kỳ thị với chế độ xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo vẫn cố tình lợi
dụng internet, mạng xã hội để xuyên tạc, bôi nhọ chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa
(XHCN) Việt Nam.
Gần đây, nhất là từ khi Quốc hội
Việt Nam xem xét, thảo luận dự án Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân
Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc và thảo luận, thông qua Luật An ninh mạng... trước
đó là những vụ án xét xử một số kẻ lợi dụng tự do báo chí, internet… vi phạm
pháp luật, các thế lực thù địch trong và ngoài nước ráo riết tuyên truyền rằng
Việt Nam vi phạm dân chủ và QCN. “Chứng cứ” mà họ đưa ra thường là “pháp luật
Việt Nam lạc hậu”, nhiều điều luật của Việt Nam vi phạm chuẩn mực QCN. Chẳng
hạn, Điều 258 (Bộ Luật Hình sự 2015 về “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ
xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công
dân”(1). Có kẻ còn nói: “Pháp luật Việt Nam vi phạm chuẩn mực pháp luật quốc tế
về quyền con người”, “lạc hậu” so với pháp luật các nước...
Vậy chế độ dân chủ và QCN là gì?
Trên thế giới có mô hình “chuẩn” về dân chủ và QCN không? Và vì sao có thể
khẳng định không thể có một nền dân chủ “hòa tan” ở Việt Nam?
Chế độ dân chủ là một giá trị xã hội
được hình thành từ khi xuất hiện giai cấp và nhà nước. Chế độ dân chủ sở dĩ
được xem là một giá trị xã hội vì ở đó nhà nước ra đời với sự thừa nhận của một
bộ phận dân cư dưới một hình thức nào đó. Mở đầu của chế độ dân chủ là chế độ
nô lệ. Trong chế độ nô lệ chỉ có người dân tự do và giới chủ nô mới có quyền
tham gia vào việc định ra bộ máy cầm quyền, còn người nô lệ chỉ như các “công
cụ lao động biết nói”.
Trải qua nhiều hình thái kinh tế, xã
hội, chế độ dân chủ đã có những bước phát triển nhất định, quyền của người dân được
mở rộng dần. Các cuộc cách mạng dân chủ tư sản tuyên bố quyền bình đẳng đối với
tất cả mọi người. Nền dân chủ ở các quốc gia tư bản chủ nghĩa (TBCN) là một
bước tiến lớn của lịch sử nhân loại. Hiến pháp của các nhà nước TBCN tuyên bố
tôn trọng, bảo đảm các quyền về tinh thần và vật chất của tất cả mọi người, nói
cách khác là bảo vệ các QCN. Hai bản tuyên ngôn: Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ
năm 1776 và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789, mà Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã trích lại trong bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam
Dân chủ cộng hòa năm 1945 là dấu mốc quan trọng thể hiện chế độ dân chủ và QCN
trong xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Tuy nhiên, xem xét trong nội bộ mỗi
quốc gia, chế độ dân chủ và QCN ở các nước TBCN vẫn hạn hẹp do tình trạng bất
bình đẳng về chế độ sở hữu, về sự phân hóa giàu-nghèo và về sự kỳ thị chủng
tộc, màu da, giới tính, tôn giáo... Thực tế cho thấy, hiện nay, các cuộc bầu cử
ở nhiều nước phát triển, số cử tri đi bầu cử thường thấp. Cuộc bầu cử gần đây
nhất của Hoa Kỳ (2016) chỉ “ở mức dưới 70%. Số cử tri tham gia bầu vào những
năm 1980 còn thấp hơn, dao động từ 48% đến 57%”(2).
Mặt khác, sự phân biệt chủng tộc
đang tác động đến nhiều mặt của cuộc sống. Hoa Kỳ có mức thu nhập bình quân đầu
người cao hơn nhiều quốc gia nhưng vẫn còn không ít người nghèo (theo tiêu
chuẩn quốc gia). Điều đáng nói là sự phân hóa giàu-nghèo lại gắn với tình trạng
phân biệt chủng tộc. Theo một thống kê (vào năm 2014), “tỷ lệ người nghèo của
dân da đen là 26%, so với dân gốc người Tây Ban Nha (Hispanics) là 24%, dân Á
châu 12% và dân da trắng là 10%”(3).
Xem xét trên phạm vi thế giới thì
chủ nghĩa tư bản (CNTB), bao gồm cả sản phẩm của chế độ đó là chủ nghĩa thực
dân và chủ nghĩa đế quốc đã đi ngược lại các giá trị dân chủ và QCN. Các quốc
gia thuộc địa (của CNTB) là những chế độ áp bức, bóc lột, độc tài hà khắc. Bởi
vì đó là sự câu kết giữa các quan cai trị thực dân với quan lại phong kiến. Sự
thống trị của thực dân Pháp đối với Việt Nam hơn 80 năm (từ năm 1858 đến 1945) là
một ví dụ.
Dân tộc Việt Nam không bao giờ quên
được nạn đói khủng khiếp xảy ra vào năm 1945. Chính sách vơ vét thóc gạo của
phát xít Nhật và thực dân Pháp lúc bấy giờ cùng với thiên tai, mất mùa ở nhiều
tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thảm cảnh trên. “Nạn đói
đã diễn ra ở 32 tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ, từ Quảng Trị trở ra. Nghiêm
trọng nhất là ở các tỉnh đồng bằng, nơi dân số tập trung đông, có nhiều ruộng,
như Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Thanh Hóa. Nhiều làng xã chết 50% đến 80%
dân số, nhiều gia đình, dòng họ chết không còn ai…”(4).
Ở Việt Nam, đi theo con đường của
Chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh
đạo, tổ chức nhân dân thực hiện cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945, giải phóng dân
tộc và giải phóng xã hội. Lần đầu tiên chế độ dân chủ với các quyền công dân và
QCN không những được tuyên bố mà còn được bảo đảm về mặt pháp luật, cũng như
trong cuộc sống. Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 và bản Hiến pháp 1946 đã ghi
nhận điều này.
Hiện nay, trên thế giới đang tồn tại
nhiều mô hình về chế độ dân chủ với những tên gọi khác nhau, như: Cộng hòa dân
chủ nhân dân; chế độ cộng hòa; chế độ cộng hòa nhân dân. Ngoài một số ít quốc
gia vẫn theo chế độ quân chủ, các nhà nước có chế độ nghị viện; cộng hòa đại
nghị... đều là những chế độ dân chủ TBCN. Trong những nước dân chủ này lại có
nhiều mô hình dân chủ khác nhau; chẳng hạn: Chế độ dân chủ đa nguyên chính trị,
đa đảng đối lập; chế độ dân chủ một đảng cầm quyền…
Tương tự như chế độ dân chủ, QCN ở
các quốc gia cũng không giống nhau, cho dù những quy định pháp luật ở đó đều
mang những giá trị phổ biến. Trong tính hiện thực của nó, QCN là các quy định
của pháp luật (quốc gia) nhằm tôn trọng, bảo vệ những nhu cầu, lợi ích về vật
chất và tinh thần của tất cả mọi người không phân biệt già-trẻ, gái-trai, dân
tộc, quốc tịch, vị thế chính trị, tài sản và những vị thế khác…
Trong mỗi chế độ xã hội nói chung,
chế độ dân chủ nói riêng, đều có những quy định về quyền công dân và QCN khác
nhau. Điều này bắt nguồn từ sự khác biệt về truyền thống lịch sử, bản chất
chính trị và bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc.
Ví dụ, ở nhiều quốc gia phương Tây,
quyền tự do ngôn luận không loại trừ việc xúc phạm niềm tin tôn giáo. Chẳng
hạn, vụ xả súng ngày 7-1-2015 tại tòa soạn Tạp chí Charlie Hebdo ở Paris (Pháp)
khiến 12 người thiệt mạng. Thủ phạm là những người theo đạo Hồi. Họ phẫn nộ vì
tạp chí này đăng tải bức biếm họa xúc phạm thánh A-la. Hoặc ở Hoa Kỳ thì người
dân có quyền sở hữu và sử dụng súng. Gần đây, người dân ở quốc gia này còn có
cả “quyền” được sử dụng máy in 3D tự sản xuất súng (tại gia đình)(5).
Như vậy có thể nói, trên thế giới
hoàn toàn không có mô hình dân chủ, QCN “chuẩn” nào cả. Các chế độ dân chủ đều
do các cơ quan lập pháp quốc gia quyết định. Thường thì những đảng chính trị
chiếm đa số trong các cơ quan quyền lực chi phối các tiêu chí, cơ chế, chính
sách, pháp luật của chế độ dân chủ và QCN ở đó. Ở Hoa Kỳ thì hai đảng-đảng Dân
chủ và đảng Cộng hòa thay nhau cầm quyền. Ở Trung Quốc tuy có nhiều đảng chính
trị nhưng các đảng đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Bởi vậy, việc người ta lấy một mô hình chế độ dân chủ nào đó, chẳng hạn như mô
hình dân chủ Hoa Kỳ với chế độ “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” và thể
chế “tam quyền phân lập” làm “chuẩn” để phủ nhận chế độ dân chủ XHCN do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, cầm quyền là một cách nhìn hạn hẹp, nếu không nói
là vì động cơ chính trị, muốn xóa bỏ chế độ hiện hữu và thành quả cách mạng hơn
70 năm của dân tộc Việt Nam.
Nền dân chủ XHCN của Việt Nam bắt
nguồn từ lịch sử, bản chất chính trị và từ những quy định về pháp lý. Thực tiễn
cách mạng Việt Nam minh chứng: Chế độ dân chủ XHCN ở Việt Nam ra đời sau thắng
lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945-cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam
và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Chế độ xã hội và nền dân chủ XHCN ở Việt Nam
đã phải chống chọi với các thế lực xâm lược hùng hậu trong các cuộc kháng chiến
anh dũng bảo vệ Tổ quốc kéo dài hơn 30 năm (1945-1975) với không biết bao nhiêu
hy sinh xương máu của đồng bào và chiến sĩ. Đó là thành quả đấu tranh của cả
dân tộc, là nguyện vọng của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam.
Với thực tiễn nêu trên, khẳng định
không thể có một nền dân chủ “hòa tan” ở Việt Nam.
__________
Chú thích:
(1)- Điều 258, Luật Hình sự 2015
“Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi
ích hợp pháp của tổ chức, công dân”.
(2)- “Tại sao tỷ lệ cử tri đi bầu cử
tại Mỹ lại thấp?”, BBC News ngày 31-10-2016.
(3) -“Tại sao chưa thể chấm dứt tình
trạng nghèo khổ tại Hoa Kỳ?”-VOA ngày 21-9-2016
(4)- "Nạn đói lịch sử năm Ất
Dậu", VnExpress, ngày 12-1-2015.
(5)- Mỹ: “Nhiều bang kiện chính
quyền liên bang cho phép sản xuất súng in 3D”, VietnamPlus ngày 31-7-2018.
Nguồn: Báo điện tử Quân đội nhân dân.


