Thứ Năm, 17 tháng 9, 2020

NGUYỄN VĂN THANH CÓ XỨNG LÀM QUẢN XỨ

 

Được biết đến là một xứ đạo bình yên có tiếng thuộc xã Diễn Tân, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; bà con nơi đây cũng có tiếng về đức tin, đức vâng với bề trên. Chính khung cảnh thanh bình, cách mục vụ ôn hoà của các cha tiền nhiệm đã làm cho Phú Linh có được dáng vẻ như cái tên đầy kiêu hãnh của mình...

Nhưng rồi, về Phú Linh nay, cảm nhận dễ thấy ở bất cứ ai khi đến với xứ đạo này là sự xô bồ, tính vụ lợi đang được nhân lên trong đời sống cộng đoàn, mối quan hệ với người lương cũng như chính quyền các cấp đã phai nhạt đi nhiều; thay vào đó là những chuyện xung đột xung quanh đất cát và những nguồn lợi khác mà trong đó vai trò của cha Quản xứ Anton Nguyễn Văn Thanh là lớn hơn cả...

Từ tháng 2/2017 đến nay, sau khi về làm quản xứ Phú Linh, Cha Antôn Nguyễn Văn Thanh đã kéo giáo dân giáo xứ Phú Linh vào hàng loạt hành vi vi phạm. Cha chính là người đã gây mất đoàn kết trong nội bộ giáo dân giáo xứ Phú Linh.

Trong thánh lễ đứng trên bục giảng lẽ ra lời Cha phải là lời Chúa, giảng tin mừng của Chúa, dẫn dắt chúng con sống “phúc âm” đó cũng là hoạt động mục vụ mà giáo luật Thiên chúa chúng ta đặt ra hàng ngàn năm nay. Thế nhưng, sau những sự việc đó xảy ra trên, đứng trước thánh đường Thiên chúa, Cha Antôn không tập trung rao giảng lời Chúa mà chỉ chăm chăm chửi bới con chiên, chỉ đạo giáo dân chuyển nhượng đất đai nông nghiệp đang sản xuất của các hộ giáo dân giáo họ Hậu Hòa, giáo họ Phú Linh để phục vụ cho lợi ích cá nhân

Nhiều giáo dân không đồng tình với cách hành xử của Cha Antôn nhưng không dám lên tiếng vì họ sợ bị cô lập hoặc bị Cha khủng bố tinh thần.

Với bản tính tham lam, quyền thế của mình và cậy thế là nghĩa tử của Đức Cha già Phaolo Maria Cao Đình Thuyên nên Cha đã vô pháp vô thiên, xem chúng con chẳng ra gì.

Thiết nghĩ, với những gì được phản ánh và đặt ra những nghi hoặc, đã đến lúc Đức cha Anphong chủ chăn địa phận cùng các quý cha cần có sự kiểm tra và có những biện pháp chặn đứng những việc làm không đúng của Anton Nguyễn Văn Thanh. Đó cũng là cách trả lại cho xứ đạo này sự yên bình vốn có lâu nay.




Thượng tôn pháp luật để ngăn chặn âm mưu “bẻ cong” pháp luật

 

Sự gia tăng các hoạt động phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông từ đầu năm đến nay làm tình hình khu vực hết sức căng thẳng, các nước ASEAN hết sức lo ngại. Trung Quốc hết cho tàu Hải cảnh đâm chìm tàu cá Việt Nam, Philippines, lại liên tiếp có các hành động khiêu khích như hướng radar điều khiển vũ khí vào tàu chiến của Philippines, cản trở hoạt động tàu khảo sát địa chấn của Malaysia, đơn phương áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông, điều tàu đánh cá có tàu Hải cảnh đi cùng vào vùng biển Natuna của Indonesia… Những hành động trên của Trung Quốc đã tạo ra sự nghi ngờ ngày càng lớn của các nước trong khu vực, đặc biệt là Philippines, Malaysia và Indonesia đối với ý đồ của Trung Quốc, buộc các nước này phải điều chỉnh thái độ.

Philippines đã rút lại quyết định hủy bỏ Thỏa thuận thăm viếng quân sự (VFA) với Mỹ bởi lo ngại trước những hành động gây căng thẳng của Trung Quốc. Điều này cho thấy Philippines có sự điều chỉnh trong mối quan hệ với Mỹ và Trung Quốc, theo hướng duy trì liên minh với Mỹ trong khi làm chậm lại xu hướng thân thiện với Trung Quốc. Indonesia thì đã lên tiếng một cách rõ ràng trong vấn đề vùng biển Naruta.

Với ASEAN, dù không phải không còn những khác biệt, nhưng điểm nổi lên là các nước đều chủ trương tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1982. Điều này thể hiện rõ trong bản Tuyên bố của Chủ tịch Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 36 nhân hội nghị kết thúc hồi tháng 6-2020. Các lãnh đạo ASEAN đã khẳng định các bên phải “giải quyết hoà bình các tranh chấp phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982”.

Trước đây, các tuyên bố chung của ASEAN chỉ đề cập chung chung là phải “phù hợp với luật pháp quốc tế”, nhưng nay vai trò của UNCLOS 1982 được đề cao và bất cứ chỗ nào trong văn bản có nhắc đến luật pháp quốc tế thì đều đi kèm với Công ước này. Điều này có ý nghĩa quan trọng bởi lâu nay, các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông là không phù hợp với UNCLOS.

Bằng việc gắn luật pháp quốc tế với UNCLOS 1982, ASEAN đã gián tiếp bác bỏ những yêu sách của Trung Quốc, cũng như thể hiện thái độ ủng hộ phán quyết của Tòa Trọng tài trong vụ Philippines kiện Trung Quốc. Các nước ASEAN cũng thống nhất trong quan điểm về sự cần thiết đẩy nhanh việc xây dựng Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), đồng thời cho rằng đây sẽ là khuôn khổ quy phạm chuẩn mực cho cách ứng xử giữa các quốc gia trên vùng biển này, giúp ngăn ngừa sự cố và xây dựng niềm tin giữa các bên về vấn đề Biển Đông.

Dù các tranh chấp lãnh thổ diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới, nhưng vấn đề chính ở Biển Đông là trật tự quốc tế dựa trên luật pháp đã bị vi phạm nghiêm trọng. Việc ASEAN chọn thượng tôn pháp luật khác với lập trường “bẻ cong” pháp luật của Trung Quốc đang tạo ưu thế cho ASEAN về dư luận quốc tế, mở đường cho sự ủng hộ từ các nước như Mỹ, EU, Australia, Nhật Bản, Ấn Độ... đối với việc giải quyết tranh chấp chủ quyền bằng biện pháp hòa bình, dựa trên luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982.

 

Chiến thuật “chia rẽ và chinh phục” của Trung Quốc tại Biển Đông

 

Theo ông Aan Kurnia - Giám đốc cơ quan an ninh hàng hải Indonesia, nước này sẽ tăng cường các hoạt động tuần tra đảm bảo an ninh hàng hải quanh quần đảo Natuna (ở Biển Đông) sau khi tàu Hải cảnh Trung Quốc xâm phạm vùng biển này. Động thái trên của Indonesia là diễn biến mới nhất cho thấy thái độ cứng rắn trong thời gian gần đây, kiên quyết không đàm phán với Trung Quốc về Biển Đông.

Quan điểm của Indonesia là nước này và Trung Quốc không có tuyên bố chủ quyền chồng chéo nào trong vùng đặc quyền kinh tế của Indonesia. Thái độ kiên quyết của Indonesia cũng khẳng định xu hướng là nhiều nước ASEAN ngày càng mạnh mẽ công khai quan điểm phản đối các hành động phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông. Không những thế, các nước ASEAN còn bác bỏ đề nghị đàm phán song phương mà Trung Quốc đưa ra, đồng thời coi tranh chấp Biển Đông là vấn đề đa phương.

Lâu nay, để giảm bớt bất lợi khi phải đương đầu với các nước có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông hoặc với toàn khối ASEAN, Bắc Kinh luôn tìm cách tiếp cận theo công thức “1-1” với các bên, thay vì đối thoại với cả nhóm hay toàn bộ khối. Trong các cuộc tiếp xúc về tình hình Biển Đông, Trung Quốc thường đề nghị thúc đẩy các cuộc gặp với Việt Nam, Malaysia và Philippines theo thể thức song phương. Mục tiêu của Bắc Kinh là khi ASEAN bị chia rẽ, không coi Biển Đông là vấn đề chung của Hiệp hội mà chỉ là vấn đề giữa Trung Quốc với từng nước, thì Trung Quốc có thể dễ đạt được các thỏa hiệp có lợi nhất. Bắc Kinh hy vọng có thể “đục nước béo cò” nếu như tình đoàn kết và thống nhất giữa các nước ASEAN về vấn đề Biển Đông bị chia rẽ.

Để làm được việc đó, Trung Quốc tìm cách khai thác một số quan điểm khác nhau trong lập trường của một số nước ASEAN để tạo ra sự chia rẽ nội khối. Bắc Kinh cũng luôn thổi phồng các vụ va chạm do tình trạng đánh bắt hải sản trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế của các nước để khoét sâu mâu thuẫn trong ASEAN. Chiến thuật “chia rẽ và chinh phục” này đã từng có lúc khiến ASEAN thiếu thống nhất. Với từng nước ASEAN, Philippines dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte hầu như không nhắc đến phán quyết của Tòa Trọng tài, mặc dù phán quyết này có lợi cho Philippines. Có thời điểm, Philippines còn nhắc đến chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác” mà Trung Quốc gợi ý với các nước ASEAN. Indonesia trước đây cũng thường im lặng, hầu như không nhắc đến tranh chấp Biển Đông.

Năm 2012, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 45 đã không ra được Tuyên bố chung sau khi nước chủ nhà Campuchia không chấp nhận đưa vấn đề tranh chấp lãnh hải giữa Việt Nam, Philippines với Trung Quốc vào văn bản này. Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 49 năm 2016 cũng không ra được Tuyên bố chung của ASEAN về vấn đề tranh chấp trên Biển Đông vì Campuchia phủ quyết dự thảo nhắc đến đến việc Tòa Trọng tài trong vụ Philippines kiện Trung Quốc, bác bỏ các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông./.


Xâm thực về văn hóa, dẫn tới thay đổi về nền tảng tinh thần xã hội

 

Năm 1991, Liên bang Xô viết chính thức sụp đổ. Đó là mất mát vô cùng lớn lao đối với phong trào cộng sản trên toàn thế giới. Tuy nhiên, đó cũng là bài học kinh nghiệm rất có giá trị đối với những đất nước tiếp tục vững bước tiến lên theo con đường CNXH. Một trong những bài học kinh nghiệm rút ra từ việc Liên bang Xô viết sụp đổ là sự xâm thực về văn hóa, dẫn tới thay đổi về nền tảng tinh thần xã hội.

Năm 1958, Liên Xô và Hoa Kỳ thống nhất việc tổ chức hai cuộc triển lãm tại thành phố New York và thủ đô Moscow nhằm thúc đẩy giao lưu văn hóa và sự hiểu biết lẫn nhau. Đây được coi là một sự kiện gây chấn động thế giới, bởi hai quốc gia siêu cường Liên Xô và Hoa Kỳ đối nghịch về nền tảng chính trị và có những khác biệt rất lớn về văn hóa. Sau này, triển lãm của Liên Xô tại thành phố New York không được đề cập nhiều nhưng triển lãm của Hoa Kỳ lại gây tiếng vang đáng kể.

Tại công viên Sokolniki ở thủ đô Moscow, Hoa Kỳ đã quảng bá văn hóa, công nghệ cũng như các sản phẩm tiêu dùng, từ ô tô, đồ uống đến nghệ thuật, thời trang và kiến trúc. Nhiều nhà tài trợ và doanh nghiệp lớn nổi tiếng của xứ cờ hoa, như: Disney, Dixie Cup Inc, IBM, Pepsi… đều có gian hàng trưng bày sản phẩm. Ngày 24-7-1959, trước khi triển lãm Moscow chính thức khai mạc, Phó tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon đã mời nhà lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev tham quan các gian hàng. Họ dừng lại trước một căn bếp-nơi trở thành “hiện trường” cho cuộc tranh luận nổi tiếng trong chiến tranh Lạnh. Căn bếp này do các nhà thiết kế Hoa Kỳ dựng lên với đầy đủ tiện nghi, như: Máy rửa bát, lò nướng bánh mì, máy xay sinh tố… dường như là để “khoe” mọi người dân Mỹ đều có thể sở hữu căn bếp như thế. Lãnh đạo Liên Xô tỏ ý không vừa lòng, nói rằng các gia đình Liên Xô cũng có những thứ này. Cuộc tranh luận bắt đầu, chủ đề được mở rộng đến các vấn đề chính trị như chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa tư bản (CNTB), chiến tranh hạt nhân... Ngày hôm sau, "Cuộc tranh luận trong bếp" là tin tức xuất hiện trên trang nhất của các tờ báo ở Hoa Kỳ. Và điều thú vị nhất của “Cuộc tranh luận trong bếp” là sau khi nó kết thúc, Nixon và Khrushchev cùng uống Pepsi. Một nhiếp ảnh gia đã bắt được khoảnh khắc Nixon và Khrushchev đứng cạnh nhau trong khi nhà lãnh đạo Liên Xô thưởng thức nước ngọt có ga của một thương hiệu… phương Tây.

Cùng các cuộc chiến về chính trị, ngoại giao, văn hóa là mũi nhọn được các thế lực thù địch phương Tây sử dụng nhằm tiêu diệt nhà nước Nga Xô Viết. Dưới thời nhà lãnh đạo Khrushchev, các thế lực chống cộng và chính quyền phương Tây căn cứ vào tình hình đã tăng cường thực thi “diễn biến hòa bình”, âm mưu phương Tây hóa, phân hóa Liên Xô. Đến thời Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan (hai nhiệm kỳ-1981-1989), Chính phủ Hoa Kỳ càng đẩy mạnh chủ trương ngoại giao cân bằng, thẩm thấu tư tưởng, văn hóa với Liên Xô và các nước Đông Âu qua truyền bá quan điểm phương Tây về tự do, nhân quyền với hạt nhân là lợi ích cá nhân. Reagan cho rằng, trong cuộc đấu tranh giữa CNTB và CNXH, nhân tố quyết định cuối cùng không phải là đọ sức đạn hạt nhân và tên lửa mà là cuộc đọ sức của ý chí và tư tưởng.          

Ở chiều ngược lại, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô khi đó là Mikhail Gorbachev lại ra sức cổ súy cho cái gọi là tư duy mới chính trị quốc tế. Lợi dụng thời cơ đó, các thế lực chống cộng ở phương Tây tài trợ cho một số cơ quan nghiên cứu lập phương án đánh vào những tình cảm nhân dân Liên Xô dành cho Lênin và Stalin. Các tác phẩm chống Lênin, Stalin xuất hiện đầy rẫy trên báo, đài phát thanh, đài truyền hình, phim ảnh... Họ kích động nhân dân Liên Xô đề nghị mai táng thi hài Lênin. Phương Tây còn ca tụng tư duy cải tổ của Gorbachev, nhằm làm suy yếu và hủy bỏ uy tín của Đảng Cộng sản Liên Xô, của chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN), tuyên truyền cho cái gọi là cuộc sống tươi đẹp ở phương Tây và tính ưu việt của chế độ tư bản. Phương Tây rất chú trọng dùng lối sống tiêu dùng để tác động và ảnh hưởng đến đông đảo người dân Liên Xô, đặc biệt là lứa tuổi thanh niên.

Sau này, tổng kết về “thắng lợi” của chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Liên Xô và Đông Âu, năm 1988, cựu Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon đã xuất bản cuốn sách “1999-Chiến thắng không cần chiến tranh”. Trong đó, R.Nixon xác định: “Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất, toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu, nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng!"./.

Nguy cơ “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa - tư tưởng

 

Từ năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra, cùng với âm mưu xâm lăng nước ta bằng quân sự, các nước đế quốc còn thực hiện âm mưu xóa bỏ những giá trị truyền thống, tinh hoa văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta. Cuộc đấu tranh này ở nước ta, theo thời gian, theo sự phát triển của xã hội ngày càng diễn ra rất phức tạp, gay go và quyết liệt.

Nguy cơ “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa-tư tưởng diễn ra từ hai góc độ: Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và xu hướng “tự chuyển hóa” của những đối tượng yếu kém bản lĩnh chính trị trước sự biến động của xã hội.

Ở góc độ chống phá của các thế lực thù địch, biểu hiện rõ nét nhất là hoạt động xuyên tạc, bôi đen giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống XHCN, ra sức du nhập văn hóa, đạo đức, lối sống tư sản thực dụng, trụy lạc, tôn thờ đồng tiền là trên hết, sống ích kỷ, phi đạo đức. Cùng đó, các thế lực thù địch luôn khuyến khích khuynh hướng đòi văn hóa, văn nghệ hoạt động độc lập với chính trị, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, phủ nhận sự quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực này.

Trong nhiều năm qua, đã có không ít văn nghệ sĩ lạc đường, từ bỏ lợi ích của quốc gia, dân tộc, chuyển sang sáng tác theo khuynh hướng văn hóa, nghệ thuật phương Tây, hạ thấp, coi rẻ truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, khuyến khích các giá trị văn hóa cá nhân cực đoan, đề cao giá trị dân chủ, tự do tư sản. Thậm chí, đã xuất hiện những sáng tác miêu tả cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc ta mang một màu đen tối, chết chóc, bi kịch, vô nghĩa; phủ định những sáng tạo văn hóa, văn nghệ trong thời kỳ chiến tranh, coi đó là “minh họa”, là tô hồng, là cao hơn, là đứng trên hiện thực. Chúng ta không phủ nhận những hạn chế lịch sử của mảng văn học, nghệ thuật trong chiến tranh nhưng không thể nhân danh đổi mới để bôi nhọ cuộc chiến đấu chính nghĩa của dân tộc bằng việc chỉ miêu tả mặt đen tối, sự chết chóc và tha hóa con người trong chiến tranh. Khuynh hướng này chỉ là phiến diện, chưa trung thực với lịch sử. Với vai trò văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, những sản phẩm đội danh văn hóa này đặc biệt nguy hiểm, có nguy cơ làm tha hóa thế hệ trẻ, tạo ra một thế hệ “mất gốc”, phủ nhận các giá trị truyền thống dân tộc, thích đua đòi, ăn chơi hưởng lạc, kích thích các tệ nạn xã hội phát triển.

Ở góc độ chủ quan những người “tự chuyển hóa”, khi đất nước mở cửa sâu rộng với thế giới, những yếu tố có khả năng tác động tới sự biến đổi về xã hội ùa vào theo là vấn đề tất yếu. Đó bao gồm hai sản phẩm cơ bản: Văn hóa và tiêu dùng. Cả hai sản phẩm này, dù được nhập khẩu chính ngạch nhưng đều mang tính hai mặt, đặc biệt với sản phẩm văn hóa. Những sản phẩm văn hóa được phép lưu hành đều mang những giá trị nhất định về chân-thiện-mỹ, cổ vũ lối sống lành mạnh, tốt đẹp. Tuy nhiên, đi kèm theo đó là việc phổ biến những giá trị văn hóa, hình ảnh xã hội khác biệt, thậm chí đi ngược với những giá trị văn hóa truyền thống của người Việt. Dưới góc độ hội nhập, chúng ta không thể không tiếp thu những tinh hoa của văn hóa thế giới nhằm bổ sung, làm giàu thêm nền văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, nếu việc tiếp thu thiếu chủ động, không đủ bản lĩnh, năng lực để chỉ lựa chọn cái tốt, cái có ích cho đời sống văn hóa thì quá trình hội nhập về văn hóa sẽ trở thành nguy cơ làm “biến màu” nền văn hóa bản địa.

Những tác động của văn hóa lên nền tảng tư tưởng xã hội thường không mang tính chất tức thời mà là một quá trình “mưa dầm thấm lâu”. Tuy nhiên, sự chuyển biến chậm rãi đó lại có khả năng thay đổi bền vững tư duy, tình cảm của mỗi người. Vì thế, nếu thiếu cảnh giác, để những tác động tiêu cực của văn hóa ngoại lai du nhập, thẩm thấu sâu vào đời sống xã hội Việt Nam, chúng ta sẽ phải trả cái giá rất đắt. Thậm chí, có thể là cả việc lạc mất con đường tiến lên CNXH mà Đảng, Bác Hồ, nhân dân đã lựa chọn./.


Cán bộ, đảng viên tăng cường Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 


Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân, trong đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên là lực lượng tiên phong. Để đấu tranh, bảo vệ thành công nền tảng tư tưởng của Đảng, trước hết phải bảo vệ vững chắc nội bộ. Nội bộ đoàn kết, không dao động, không "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì thế lực thù địch dù có nhiều âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt đến mấy cũng khó bề làm lung lạc ý chí, niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Vì thế, việc đầu tiên là cần có biện pháp đấu tranh, khắc phục thực trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý không chỉ phai nhạt lý tưởng mà còn thiếu niềm tin vào con đường xã hội chủ nghĩa.

Quá trình "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong mỗi cá nhân, tổ chức thường bắt đầu từ mất niềm tin, mất phương hướng, từ bỏ lý tưởng, mục tiêu cách mạng, tiến tới du nhập tư tưởng, lý luận phi mác-xít, sẵn sàng "trở cờ" phản bội, đưa đất nước đi theo hướng khác, con đường khác phi xã hội chủ nghĩa. Thực tế là nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa vẫn tồn tại trong cả nhận thức và hành động của một số người. Nhận thức đó có thể bắt nguồn từ những vấn đề còn chưa tỏ tường về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, kết hợp với sự xuất hiện những thế mạnh của chủ nghĩa tư bản hiện đại trong quá trình toàn cầu hóa. Những điều đó đã tác động mạnh tới nhận thức của một số người, trong đó có một số văn nghệ sĩ, trí thức, làm cho nhận thức của họ trở nên mông lung, như người "đứng giữa ngã ba đường".

Để bảo vệ hiệu quả nền tảng tư tưởng của Đảng, thì toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần kiên trì tiến hành cuộc đấu tranh phê phán triệt để hệ tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội dân chủ, chủ nghĩa thực dụng tồn tại trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Tiếp tục khẳng định chế độ và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là con đường duy nhất đúng, bởi nó vừa thể hiện tính cách mạng triệt để, vừa phù hợp với quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội. Bên cạnh đó, cần có biện pháp thiết thực củng cố và phát triển mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với các tổ chức trong hệ thống chính trị, hệ thống chính trị xã hội và nhân dân. Phê phán, bác bỏ các quan điểm, tư tưởng và ý đồ thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Phát hiện, xử lý kịp thời những âm mưu phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng từ các thế lực thù địch, vạch mặt những phần tử cơ hội chính trị, ngăn chặn những hành vi xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, ngăn chặn sự chia rẽ mối đoàn kết gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân và lực lượng vũ trang. Phải tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của Nhà nước, cụ thể là của bộ máy chính quyền các cấp; xử lý đúng đắn những mâu thuẫn nội bộ trong các tầng lớp nhân dân, không để tích tụ, tạo tâm lý bất bình và các "điểm nóng" về an ninh trật tự trong xã hội. Đồng thời đẩy mạnh việc đấu tranh, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, chủ nghĩa cơ hội, thực dụng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Quyết tâm làm trong sạch từ nhận thức đến hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên - đội ngũ vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", để tạo cơ sở nền tảng đấu tranh hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn hoạt động "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch.

Trung Dũng

Tự do mạng xã hội phải đi kèm trách nhiệm xã hội

 


Trước hết chúng ta cần khẳng định rằng, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán chủ trương, chính sách tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tiếp cận thông tin, tự do internet nói chung và MXH nói riêng. Điều này đã được hiến định trong Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013, được cụ thể hóa trong nhiều luật, nghị định cùng nhiều văn bản pháp luật khác và được biểu hiện sinh động trên thực tế.

Ngoài các báo điện tử, các trang tin, thông qua MXH (Facebook, YouTube, Lotus, Viber, Zalo, Twitter, Instagram...), người dân Việt Nam có thể tự do chia sẻ thông tin, hình ảnh, clip, bày tỏ quan điểm, ý kiến cá nhân của mình về mọi vấn đề của đời sống xã hội. Trong hệ thống chính trị, bộ máy hành chính từ Trung ương đến địa phương ở Việt Nam ngày càng nhiều cơ quan, tổ chức sử dụng MXH để làm việc, giải quyết các thủ tục hành chính, giữ mối liên hệ với người dân, nắm bắt và giải quyết kịp thời những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân… Hệ thống pháp luật của Việt Nam về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tiếp cận thông tin của công dân là cơ bản đầy đủ, đồng bộ và tương thích với luật quốc tế về quyền con người. Đặc biệt, Luật An ninh mạng (ANM), sau một năm có hiệu lực đã dần đi vào cuộc sống, mang lại những hiệu quả rất rõ nét, thiết thực trong đời sống xã hội. Trước, trong và sau khi luật ra đời, không ít thông tin xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động cho rằng việc Việt Nam ban hành Luật ANM là "vi phạm quyền con người, bóp nghẹt tự do dân chủ, tự do ngôn luận...". Thực tế, sau một năm thực thi đã chứng minh Luật ANM hoàn toàn không vi phạm quyền con người, không bóp nghẹt tự do ngôn luận, mà ngược lại đã tạo nên nền tảng pháp lý vững chắc, phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hoạt động vi phạm pháp luật trên không gian mạng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân... Mọi cá nhân vẫn được bày tỏ chính kiến trên không gian mạng, tự do ngôn luận hoàn toàn không bị hạn chế nếu chấp hành các quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, luật đã giúp tạo môi trường lành mạnh, an toàn. Nhiều thông tin, bài viết, video clip ảnh hưởng tiêu cực đến chuẩn mực, đạo đức xã hội đã được ngăn chặn, xử lý; đời tư cá nhân được bảo vệ; hoạt động kinh doanh trên môi trường mạng được bảo đảm; các đối tượng tung tin sai lệch, nhất là về dịch Covid-19 gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng đến công tác phòng, chống dịch đã bị xử lý.

 

 KHÔNG ĐƯỢC CHỦ QUAN KHI DỊCH COVID -19 ĐÃ ĐƯỢC KIỂM SOÁT CÓ THỂ BÙNG PHÁT TRỞ LẠI BẤT CỨ LÚC NÀO

Trên thế giới tính tới thời điểm này đã có 30 triệu người mắc bệnh COVIDD-19 , Việt Nam chúng ta đã hoàn toàn kiểm soát được và đã gần hai mươi ngày không có ca mắc mới trong cộng đồng Chính phủ đã có những biện pháp để vừa chống dịch, vừa phát triển kinh tế và nới rộng các biện pháp và mở một số đường bay thương mại với một số nước, đối tác quan trọng, những có những bước đi thận trọng, chắc chắn. Hiện nay người dân cả nước đã khá thoải mái đi lại, lao động, làm ăn, giải trí, nhưng suốt dọc chiều dài biên giới từ Bắc chí Nam, cán bộ và chiến sĩ vẫn ngày đêm chốt chặn, quyết không để tình trạng trốn lậu mang bệnh dịch vào nước ta.
- Chính vì không còn ca nhiễm lây qua cộng đồng đã gần hai mươi ngày qua nên dẫn tới tâm lý chủ quan của người dân.
- Ngoài thế giới dịch Covid-19 đang lây lan một cách chóng mặt, số người nhiễm và tử vong vẫn tăng lên từng ngày.
- Nhà nước đã mở các đường bay quốc thế thương mại ở một số nước nên nguy cơ dịch có thể bùng phát trở lại khi mà lượng người Việt Nam đã, đang và sẽ trở về tại các cảng hàng không và biên giới.
- Vì vậy chúng ta tuyệt đối không chủ quan, những đồng bào trở về nước tuyệt đối tuân thủ các khuyến cáo, cách ly y tế theo đúng quy định của Chính phủ.
- Hãy vì một Việt Nam ổn định, bình yên... Vì sức khỏe của toàn thể người dân Việt Nam, vì một đất nước hùng cường, mỗi một người dân là một chiến sỹ trong phòng chống dịch, mỗi một làng bản, thôn, ấp, khu phố là một pháo đài trong phòng chống dịch./.

LM

ĐỨC TÍNH KHIÊM NHƯỜNG CAO QUÝ VÀ TÌNH THƯƠNG BAO LA CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH THỂ HIỆN TRONG DI CHÚC



Hồ Chí Minh, “Nhân vật kiệt xuất”, “Anh hùng giải phóng dân tộc và là nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”. Những đóng góp của Hồ Chí Minh mang tầm vóc dân tộc và quốc tế, cuộc đời và sự nghiệp Hồ Chí Minh đã để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong quá trình phát triển của dân tộc Việt Nam và quá trình phát triển văn minh tiến bộ của nhân loại. Một con người toàn vẹn, đã cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và nhân dân thế giới. Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam nhấn mạnh: “Cả cuộc đời vĩ đại của HỒ CHỦ TỊCH là tấm gương mãi mãi sáng ngời chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng yêu nhân dân thắm thiết, đạo đức chí công vô tư, tác phong khiêm tốn, giản dị”[1].

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2020

CHIẾN DỊCH ĐÃ BẮT ĐẦU!

 


Đúng như dự đoán, chiến dịch chạy tội cho những kẻ thủ ác khủng bố, giết người, chống người thi hành công vụ tại Đồng Tâm kèm tuyên truyền chống Nhà nước Việt Nam đã được làng rận nội ngoại chính thức triển khai. Việt Tân là một trong những kẻ xung kích!

Bất chấp hành vi chống đối của nhóm thảo khấu tại Đồng Tâm mấy năm trời nay.

Bất chấp sự thật khách quan về việc nhóm thảo khấu chuẩn bị hàng chục chai bom xăng, lựu đạn, dao phóng.... để chống đối lực lượng thực thi công vụ.

Bất chấp sự hy sinh của 3 cán bộ Công an đến giờ mộ chưa còn xanh cỏ, nước mắt chưa ngừng rơi trên mặt những người vợ và người mẹ.

Chúng vẫn rú lên rằng, những kẻ như Lê Kình, Lê Công, Lê Chức, Lê Doanh, Nguyễn Tuyển... vô tội.

Chúng còn vu ngược rằng đây là tội ác của chính quyền???

Hãy chờ xem khi cáo trạng được xướng lên, khi bản án được tuyên ra bởi cơ quan xét xử, chúng còn rú lên được những tiếng nói xuyên tạc này không?

Thật ghê sợ cho những kẻ mất hết tính người, cả kẻ thủ ác và kẻ bênh vực kẻ giết người!

 

 “YÊU NƯỚC THÌ VIỆC GÌ CÓ LỢI CHO NHÂN DÂN, DÙ KHÓ MẤY CŨNG PHẢI RA SỨC LÀM CHO ĐƯỢC. ĐIỀU GÌ CÓ HẠI CHO NHÂN DÂN, DÙ KHÓ MẤY CŨNG PHẢI RA SỨC TRỪ CHO HẾT”


             
Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài:“Vệ sinh yêu nước” (Phong trào diệt ruồi, muỗi), đăng trên Báo Nhân dân, số 1572, ngày 02 tháng 7 năm 1958. Đây là năm đầu tiên thực hiện kế hoạch 3 năm cải tạo và bước đầu phát triển kinh tế, văn hóa sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, miền Bắc bắt đầu bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội. Theo Hồ Chí Minh, yêu nước không thể tách rời thương yêu nhân dân, yêu nước không phải là cái gì chung chung, trừu tượng, mà nó được bắt đầu từ những việc nhỏ nhất và thể hiện ở việc làm cụ thể của mỗi người trong đời sống hằng ngày. Người có tinh thần yêu nước sẽ luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên, lên trước lợi ích cá nhân và dù khó khăn, gian khổ thế nào cũng ra sức làm cho kỳ được, còn việc gì có hại cho nhân dân phải ra sức trừ cho hết. Người cho rằng, ruồi muỗi là bạn đồng minh của giai cấp bóc lột. Nó gây ra nhiều tật bệnh, làm cho nhân dân ta ốm đau. Người ốm đau thì sức lao động bị giảm sút, công cuộc phát triển kinh tế và văn hóa bị hạn chế. Vì vậy, chúng ta phải ra sức tiêu diệt những kẻ địch độc ác bảo vệ sức khỏe, tính mạng và tài sản của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân mẫu mực của một người chiến sĩ cách mạng đã hiến dâng trọn vẹn cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang và cuộc sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Quán triệt và thực hiện lời dạy trên của Người, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam đã luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hi sinh để bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, chấp hành nghiêm 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân, được nhân dân tin yêu, ghi nhận và trao tặng danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. Tích cực làm công tác dân vận, tham gia xây dựng hệ thống chính trị, tăng cường quốc phòng - an ninh, phát triển kinh tế - xã hội; giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo trên các địa bàn, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo,…. Các binh đoàn, đoàn kinh tế - quốc phòng đã gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng - an ninh, giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, chuyển đổi vật nuôi, cây trồng, bao tiêu sản phẩm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, xây dựng đời sống văn hóa mới, làm thay đổi bộ mặt nông thôn trên địa bàn đóng quân. Đồng thời, chủ động tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác cho các tầng lớp nhân dân, đấu tranh có hiệu quả với mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, góp phần xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh; củng cố, phát huy tinh thần đoàn kết các dân tộc anh em, xây dựng quê hương giàu mạnh, văn minh.

VH.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Những việc làm cần thiết để giữ gìn kỷ cương, phép nước

 

Những ngày vừa qua, việc hàng loạt cán bộ bị khởi tố, bắt giam (trong đó có cả cán bộ cấp cao) được dư luận hết sức quan tâm; lợi dụng những sự việc này, nhiều đối tượng cơ hội chính trị, phản động lại “chọc gậy bánh xe”, “đục nước béo cò”, đưa ra những quan điểm lệch lạc. Mục đích của chúng là tạo dựng mâu thuẫn trong Đảng và nhân dân.

Ngay sau khi báo chí, truyền thông trong nước đưa tin về việc khởi tố, bắt tạm giam các ông: Đinh La Thăng, Nguyễn Quốc Khánh, Đinh Mạnh Thắng... hàng loạt tờ báo và trang mạng nước ngoài đã có thêm những bài viết với một số lập luận hết sức cực đoan, theo kiểu “chọc gậy bánh xe”.

Đài Á châu Tự do, như thường lệ lại tiếp tục tung ra luận điệu, sự việc “chưa phải hồi kết”. Họ cho rằng không có chống tham nhũng thực sự mà đây chỉ là cuộc đấu đá nội bộ rồi từ đó đồn đoán sẽ có những nhân vật nào tiếp tục bị bắt. Thậm chí, lợi dụng sự việc này, họ dựng lên cái gọi là “cuộc chiến sinh tử” của cá nhân lãnh đạo Đảng, Nhà nước để “giữ thể diện” mà thôi.

Trong nước, có người sau thời gian dài không bàn luận gì nay lại “chém gió” là “không hề ngạc nhiên” vì bản chất là “cuộc đấu đá phe phái”. Từ đó kêu gọi phải "tam quyền phân lập", "xã hội dân sự".

Từ câu chuyện chống tham nhũng, họ lái vấn đề sang chuyện thay đổi chế độ. Họ đồn đoán đây là cuộc chiến không khoan nhượng nhưng không phải là cuộc chiến chống tham nhũng vì gốc rễ của tham nhũng là “thể chế”. Khi thể chế chưa thay đổi thì đánh tham nhũng chỉ là “tranh giành phe phái”. Họ còn đơm đặt rằng, công luận cũng sẽ chỉ một hướng tấn công những người vi phạm pháp luật bị bắt; còn Đảng không có tính nhân văn, sẽ tìm mọi cách quy kết thật nhanh. Từ đó, họ cố tình xuyên tạc cho rằng Việt Nam không có tự do ngôn luận, rằng có một “bi kịch” tiềm ẩn rủi ro chung cho tất cả mọi người là “đều có thể là nạn nhân của một nền pháp quyền què quặt”... Họ kêu gọi mọi người hãy sớm đến với dân chủ nhân quyền,  đừng “đợi tới lúc trở thành nạn nhân mới bắt đầu nghĩ tới quyền của mình”.

Đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, cho rằng đó là những việc làm cần thiết để giữ gìn kỷ cương, phép nước, tiếp tục chỉnh đốn, làm trong sạch bộ máy của Đảng và Nhà nước, cho dù, như nhiều cán bộ lão thành phát biểu, đây cũng là nỗi đau xót trong Đảng, không ai có thể vui mừng khi thấy đồng chí của mình bị xử lý như vậy.

Đảng ta luôn khẳng định, mọi cán bộ, đảng viên đều bình đẳng trước pháp luật. Hơn thế, đảng viên vi phạm ngoài bị xử lý theo đúng pháp luật còn phải bị xử lý theo đúng kỷ luật Đảng một cách tự giác, nghiêm minh. Thậm chí, ở một khía cạnh nào đó phải được xử lý nghiêm minh hơn, có như vậy, mới xây dựng được xã hội pháp quyền, thượng tôn pháp luật, mới tạo được sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và niềm tin trong nhân dân về một Đảng “mạnh dạn, tiến bộ, chân chính”. Nguyên tắc xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm được ghi rõ trong Quy định số 102-QĐ/TW của Bộ Chính trị mới ban hành gần đây đã nêu rõ: “Tất cả đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Đảng viên ở bất cứ cương vị nào, nếu vi phạm kỷ luật của Đảng đều phải được xem xét, xử lý kỷ luật nghiêm minh, kịp thời”./.

TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH NƯỚC CHỦ TRÌ CUỘC HỌP VỚI BAN THƯỜNG VỤ QUÂN ỦY TRUNG ƯƠNG

 

Sáng ngày (12/9), tại trụ sở Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đã làm việc với Thường vụ Quân ủy Trung ương, cho ý kiến về dự thảo văn kiện và công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội đại biểu Quân đội lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020-2025.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chủ trì cuộc làm việc.

Trong buổi làm việc khi kết luận, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhất trí với ý kiến đánh giá của các Ủy viên Bộ Chính trị về kết quả, thành tựu đạt được trong nhiệm kỳ qua; phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ giải pháp trong nhiệm kỳ tới đề ra trong dự thảo báo cáo Chính trị; đồng thời nhấn mạnh thêm một số vấn đề cần tập trung thực hiện tốt trong thời gian tới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn nữa những đặc điểm, thuận lợi, ưu thế của Đảng bộ Quân đội. Đảng bộ Quân đội là Đảng bộ lớn, một tổ chức bao gồm tập hợp đội ngũ những người có sức khỏe tốt, được chọn lọc, đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện thường xuyên…,điều kiện sống tập trung, kỷ luật chặt chẽ, truyền thống vẻ vang; được Đảng, Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi. Quân đội cần tiếp tục gìn giữ, phát huy truyền thống, bản chất Bộ đội cụ Hồ; khơi dậy niềm tin, niềm tự hào và thấy rõ trách nhiệm của mình; luôn là tấm gương, hình ảnh đẹp trong lòng nhân dân... Tuy nhiên, cần nhìn thẳng vào sự thật, những việc làm chưa tốt, nhất là trong quản lý sử dụng đất đai, vừa qua một số vụ việc tiêu cực đã xảy ra, phải làm sao quản lý cho tốt. Bên cạnh đó, việc sắp xếp hệ thống tổ chức bộ máy chưa được chú ý đúng mức. Quan hệ phối hợp giữa Quân đội với các lực lượng khác, đặc biệt với Công an cần chặt chẽ hơn nữa từ trong chiến lược, xây dựng và triển khai thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc.

Về dự báo tình hình sắp tới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý, cần thường xuyên nghiên cứu kỹ để có các phương án đối phó kịp thời, tuyệt đối không để bị động bất ngờ, đánh địch từ sớm, từ xa, chủ động xây dựng phương án chiến lược, chú ý toàn diện trên tất cả mặt trận. Trong thời gian tới, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, tuyệt đối không được chủ quan, tự mãn, thường xuyên cảnh giác, đặc biệt chú ý xây dựng lực lượng thật sự vững mạnh. Làm tốt công tác quản lý sử dụng đất đai, công tác dân vận, tăng cường đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân - dân, tăng cường phối hợp giữa Quân đội và Công an, trong đó quân đội phải là lực lượng nòng cốt, đi đầu. Tiếp tục xây dựng lực lượng, xây dựng Đảng bộ Quân đội thực sự trong sạch vững mạnh, mẫu mực nêu gương, không để xảy ra tiêu cực, một số hiện tượng đáng tiếc như thời gian vừa qua; nơi nào khó khăn gian khổ nhất thì bộ đội phải có mặt.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước mong muốn, Quân đội tham gia đóng góp nhiều hơn nữa trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, xung phong, tình nguyện đến những địa bàn phức tạp, miền núi khó khăn…

 

 

 

 

 

 

 

Tự do mạng xã hội phải đi kèm trách nhiệm xã hội

 


Trước hết chúng ta cần khẳng định rằng, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán chủ trương, chính sách tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tiếp cận thông tin, tự do internet nói chung và MXH nói riêng. Điều này đã được hiến định trong Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013, được cụ thể hóa trong nhiều luật, nghị định cùng nhiều văn bản pháp luật khác và được biểu hiện sinh động trên thực tế.

Ngoài các báo điện tử, các trang tin, thông qua MXH (Facebook, YouTube, Lotus, Viber, Zalo, Twitter, Instagram...), người dân Việt Nam có thể tự do chia sẻ thông tin, hình ảnh, clip, bày tỏ quan điểm, ý kiến cá nhân của mình về mọi vấn đề của đời sống xã hội. Trong hệ thống chính trị, bộ máy hành chính từ Trung ương đến địa phương ở Việt Nam ngày càng nhiều cơ quan, tổ chức sử dụng MXH để làm việc, giải quyết các thủ tục hành chính, giữ mối liên hệ với người dân, nắm bắt và giải quyết kịp thời những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân… Hệ thống pháp luật của Việt Nam về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tiếp cận thông tin của công dân là cơ bản đầy đủ, đồng bộ và tương thích với luật quốc tế về quyền con người. Đặc biệt, Luật An ninh mạng (ANM), sau một năm có hiệu lực đã dần đi vào cuộc sống, mang lại những hiệu quả rất rõ nét, thiết thực trong đời sống xã hội. Trước, trong và sau khi luật ra đời, không ít thông tin xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động cho rằng việc Việt Nam ban hành Luật ANM là "vi phạm quyền con người, bóp nghẹt tự do dân chủ, tự do ngôn luận...". Thực tế, sau một năm thực thi đã chứng minh Luật ANM hoàn toàn không vi phạm quyền con người, không bóp nghẹt tự do ngôn luận, mà ngược lại đã tạo nên nền tảng pháp lý vững chắc, phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hoạt động vi phạm pháp luật trên không gian mạng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân... Mọi cá nhân vẫn được bày tỏ chính kiến trên không gian mạng, tự do ngôn luận hoàn toàn không bị hạn chế nếu chấp hành các quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, luật đã giúp tạo môi trường lành mạnh, an toàn. Nhiều thông tin, bài viết, video clip ảnh hưởng tiêu cực đến chuẩn mực, đạo đức xã hội đã được ngăn chặn, xử lý; đời tư cá nhân được bảo vệ; hoạt động kinh doanh trên môi trường mạng được bảo đảm; các đối tượng tung tin sai lệch, nhất là về dịch Covid-19 gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng đến công tác phòng, chống dịch đã bị xử lý.

 

TIẾP TỤC LÀM CHO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LAN TỎA, THẤM SÂU TRONG ĐẢNG VÀ TRONG XÃ HỘI

 


Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta đã đi xa hơn nửa thế kỷ, song tư tưởng và cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian truân song rất đỗi vĩ đại của Người đã là một tấm gương sáng cổ vũ các dân tộc yêu chuộng hòa bình, tự do, công lý trên thế giới tham gia cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, hòa bình và tiến bộ xã hội. Thực tiễn những thành tựu đạt được trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước, nhất là trong hơn 30 năm đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam đã chứng minh sự kiên định, nắm vững và vận dụng sáng tạo, đúng đắn chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển bức thiết của cách mạng Việt Nam và phù hợp với quy luật phát triển của thời đại của Đảng Cộng sản Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn. Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng con đường phát triển của dân tộc Việt Nam, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Ý nghĩa lịch sử và giá trị lý luận, thực tiễn của tư tưởng đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia và trở thành một phần giá trị của văn hóa nhân loại. Việt Nam đang đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế trong bối cảnh thuận lợi và thách thức đan xen, nhất là khi tình hình thế giới, khu vực và trong nước đang diễn biến khó lường cùng những khó khăn, phức tạp trong đời sống xã hội. Thực tế, hệ thống quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu, con đường, phương pháp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ xã hội mới ở Việt Nam là cơ sở cho đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hơn 90 năm xây dựng và phát triển; đồng thời, những thành tựu đã đạt được về mọi mặt ở Việt Nam là không thể phủ nhận; không chỉ phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp đấu tranh giải phóng trong thời đại cách mạng vô sản mà còn phản ánh mối quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi trường tồn cùng dân tộc và thời đại vì đã thấm sâu vào quần chúng nhân dân, được minh chứng qua thực tiễn cách mạng Việt Nam và ngày càng tỏa sáng, in sâu trong trái tim, khối óc của hàng triệu triệu con người. Vì thế, việc tiếp tục giương cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh; việc kiên định mục tiêu, con đường phát triển độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là yêu cầu tất yếu khách quan của Đảng, soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam giành thắng lợi mà còn góp phần giữ vững bản chất của một Đảng chân chính, cách mạng. Theo đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao tính tự giác trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp tục nỗ lực học tập và nghiên cứu toàn diện, sâu sắc, có hệ thống di sản tư tưởng tư tưởng Hồ Chí Minh để vận dụng trong thực tiễn và chủ động tuyên truyền, bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho tư tưởng của Người lan tỏa, thấm sâu trong Đảng và trong xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

Tinh vi với thủ đoạn bóp méo sự thật công tác hỗ trợ chống dịch COVID-19 của các thế lực phản động

 


Dịch COVID-19 bùng phát trở lại vào cuối tháng 7 vừa qua đang diễn biến hết sức phức tạp, khó lường, gây trở ngại cho sự phát triển các mặt đời sống xã hội. Đảng, hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, các cấp, các ngành cùng nhân dân đã và đang đồng sức, đồng lòng, quyết tâm đẩy lùi dịch bệnh. Vậy mà, các đối tượng phản động, cơ hội chính trị lại đặt điều xuyên tạc, phát tán những thông tin sai lệch về tình hình dịch bệnh, trong đó có công tác hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả do dịch gây ra nhằm chống phá Đảng và Nhà nước ta. Trong đợt dịch COVID-19 bùng phát trở lại, các thế lực thù địch đã tăng cường đăng tải, tán phát nhiều thông tin xuyên tạc, bóp méo sự thật về tình hình dịch bệnh tại Việt Nam; họ vin vào những khó khăn, bất cập trong thực hiện việc hỗ trợ do dịch gây ra ở một số địa phương để quy kết, bôi nhọ Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương, tác động xấu đến tâm lý nhân dân, gây hại tới an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

Những nỗ lực, cố gắng không biết mệt mỏi cùng với sự vào cuộc mạnh mẽ, đồng bộ, toàn diện của cả hệ thống chính trị; sự đoàn kết, quyết tâm của mỗi người dân Việt Nam đã làm cho truyền thống dân tộc luôn tỏa sáng, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, tạo nền tảng, cơ sở vững chắc để Việt Nam chiến thắng dịch. Đó là những nghĩa cử cao đẹp được nhân lên từng ngày, từng giờ bằng những đóng góp cả về vật chất lẫn tinh thần. 

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc

 

Đoàn kết là một nhân tố quan trọng, đem lại thắng lợi cho cách mạng Việt Nam. Đoàn kết đó vừa bắt nguồn từ truyền thống đoàn kết dựng nước, giữ nước của dân tộc, vừa từ khoa học đoàn kết cách mạng của giai cấp công nhân. Tư tưởng và hành động của Hồ Chí Minh luôn hướng tới xây dựng khối đại đoàn kết để tạo thành sức mạnh vô địch, giành độc lập dân tộc, giữ vững tự do dân chủ, kiến thiết nước nhà. Người còn chỉ ra phương châm là đoàn kết phải chân thành, chặt chẽ, thống nhất và để đi đến đoàn kết yêu cầu phải thực hành dân chủ rộng rãi, nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình.


Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc đã kế thừa được truyền thống đoàn kết của ông cha trên cơ sở lý luận khoa học của giai cấp công nhân-lý luận Mác - Lê-nin nhằm đoàn kết giai cấp, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến thắng kẻ thù. Tư tưởng đoàn kết của Người phát huy tác dụng tích cực trong suốt chiều dài lịch sử hơn nửa thế kỷ qua, từ khi Đảng ra đời đến nay, góp phần đem lại những thành công to lớn cho cách mạng.

Trong Diễn văn nhân kỷ niệm lần thứ 109 Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và 30 năm thực hiện Di chúc của Người, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, đã nêu cao hiệu quả của tư tưởng đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cách mạng dân tộc và trong quan hệ quốc tế: Người đã xây dựng nên "Một mặt trận dân tộc thống nhất tiêu biểu cho đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh công nhân-nông dân-trí thức làm nền tảng, không ngừng củng cố và mở rộng. Một tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong tâm trí các giai cấp cần lao bị áp bức và nhân loại tiến bộ "Việt Nam, Hồ Chí Minh" đã trở thành biểu tượng của niềm tin, ý chí, lương tâm và phẩm giá".

Tư tưởng "Đoàn kết" của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi sâu vào tâm trí đảng viên và đại chúng nhân dân bởi vì nó là biểu hiện "cái tâm trong sáng và nhiệt thành" của một chiến sĩ yêu nước và cách mạng, luôn lấy đoàn kết làm chiến lược hàng đầu của sự nghiệp dựng nước và giữ nước".

 Đoàn kết vì sự nghiệp yêu nước và cách mạng

Trong Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh nói là nhờ đoàn kết chặt chẽ mà từ ngày thành lập đến nay Đảng đã "tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác".

Trong thời kỳ Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã "Kêu gọi đồng bào đoàn kết. Vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được độc lập, tự do". Ngày Quốc tế Lao động 1-5-1946, Người nói: Đây chẳng những là ngày tết lao động mà còn là ngày nhân dân đoàn kết: Đoàn kết để giữ vững tự do dân chủ. Đoàn kết để kiến thiết nước nhà. Đoàn kết để xây dựng một đời sống mới. Trong sản xuất, Người cổ vũ đoàn kết để chinh phục thiên nhiên: Toàn dân đoàn kết một lòng. Đập đá thì núi vỡ, đào sông thì nước về. Trong đấu tranh thống nhất Người nêu cao ý nghĩa của đoàn kết và tin tưởng ở tương lai tất thắng: Đoàn kết là một lực lượng vô địch: Lực lượng đoàn kết đã giúp Cách mạng Tháng Tám thành công. Lực lượng đoàn kết đã giúp kháng chiến thắng lợi. Lực lượng đoàn kết sẽ động viên nhân dân từ bắc chí nam đấu tranh để thực hiện hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước.

Đoàn kết theo đường lối giai cấp - Lấy đoàn kết trong Đảng là hạt nhân cho đoàn kết dân tộc

Từ khi ra đi tìm đường cứu nước, đến khi gặp được chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Người đã thấy đoàn kết giai cấp, đoàn kết quốc tế vô sản và đoàn kết với các dân tộc bị áp bức trên thế giới luôn đóng vai trò chiến lược. Tư tưởng đó được biểu hiện ở khẩu hiệu của C.Mác và Ph.Ăng-ghen là: "Vô sản toàn thế giới đoàn kết lại!". Lê-nin đã phát triển lý luận Mác trong thời đại đế quốc chủ nghĩa thành: "Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!". Đoàn kết của các Đảng vô sản, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam là xuất phát từ thực tiễn đấu tranh của giai cấp vô sản - một giai cấp lấy sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc làm hàng đầu - sự nghiệp của những người tay không tấc sắt, không có gì khác ngoài sức lao động để bán, lại bị rên xiết trong xiềng gông nô lệ, cho nên đã đứng lên chiến đấu để: Được thì thế giới vui chung. Mất thì chỉ mất cái gông trên đầu. Do vậy mà đoàn kết đã trở thành sức mạnh vô địch.

Tư tưởng đoàn kết quốc tế của lý luận Mác - Lê-nin đã củng cố và làm phong phú thêm nội dung tư tưởng đoàn kết dân tộc vốn đã có trong tư duy của Người, cho nên trong xây dựng Đảng, Người đã có những cống hiến lớn lao:

Người đã sáng tạo trong xây dựng Đảng: Chủ nghĩa Mác - Lê-nin kết hợp phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương... Trên tinh thần Đoàn kết giai cấp - Đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh đã triệu tập Hội nghị hợp nhất ba đảng (từ 3 đến 7-2-1930) thành một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Người đặt nền móng cho tư tưởng đoàn kết của Đảng ngay từ ngày đầu thành lập, tạo tiền đề cho mọi thành công "đoàn kết chiến đấu" của Đảng sau này... Trong xây dựng Đảng, Người đã từng huấn thị: Các đồng chí ta, tuy có khi khác nhau về chủng tộc hay khác nhau về nguồn gốc giai cấp, nhưng là người cùng chủ nghĩa, cùng mục đích, cùng sống, cùng chết, chung sướng, chung khổ, cho nên phải thật thà đoàn kết.

Trong cuộc chỉnh Đảng thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Người nói: Ngày nay nhiệm vụ của Đảng ta là đoàn kết và lãnh đạo giai cấp cùng nhân dân kháng chiến, kiến quốc... là một đảng lãnh đạo, Đảng ta cần phải mạnh mẽ, trong sạch, kiểu mẫu. Toàn Đảng phải tư tưởng nhất trí, hành động nhất trí, đoàn kết nhất trí mới làm tròn được nhiệm vụ của Đảng... Chỉnh Đảng thành công thì nó sẽ khuếch trương những thắng lợi về quân sự, chính trị, kinh tế, v.v.

Tháng 3-1955, trước nhiệm vụ mới rất nặng nề ở cả hai miền nam bắc, Hồ Chủ tịch đã quan tâm đến đoàn kết trong Đảng để khắc phục khó khăn giành thắng lợi mới. Người nói: Ngày nay, sự đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là sự đoàn kết chặt chẽ giữa các cán bộ lãnh đạo. Và nhấn mạnh: Đảng ta đoàn kết và vững chắc, dân ta đoàn kết và hăng hái, quân đội ta hùng mạnh, chính sách ta đúng đắn... chúng ta nhất định thành công. Trong Di chúc, Người còn nhấn mạnh: Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Và nhắc nhở: Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Sức mạnh đoàn kết của Đảng được nhân lên gấp bội khi Đảng ta đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo được tốt khối đoàn kết toàn dân. Mặt trận dân tộc thống nhất được Đảng xây dựng qua các thời kỳ ngày càng hoàn thiện và có hiệu lực: Từ: Đồng minh phản đế Đông Dương năm 1930-1931; Mặt trận Dân chủ thời kỳ 1936-1939; Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) thời kỳ vận động Cách mạng Tháng Tám (1941-1945), Mặt trận Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Liên Việt) thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp; đến Mặt trận giải phóng miền nam, Mặt trận Tổ quốc của cả nước thời kỳ 1954-1975 và Mặt trận Tổ quốc hiện nay. Đảng có đoàn kết nhất trí mới có thể là lực lượng lãnh đạo đáng tin cậy, là chỗ dựa của Mặt trận dân tộc thống nhất, nhờ vậy mà Mặt trận do Đảng xây dựng mới phát huy được tác dụng.

Góp phần tích cực vào đoàn kết quốc tế vô sản

Từ Đại hội V của Quốc tế cộng sản đến các đại hội quốc tế khác, Người đã góp phần tích cực vào đoàn kết quốc tế vô sản. Khi phong trào cộng sản thế giới xảy ra sự bất hòa, Người tự thấy đau lòng và bộc lộ: Về phong trào cộng sản thế giới - Là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hòa hiện nay giữa các đảng anh em! Người nêu cao trách nhiệm của Đảng trong sự nghiệp cao cả này: Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặt một niềm tin vào sự khôi phục lại được tình đoàn kết đó: Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại.

Phương châm và biện pháp, hiệu quả của đoàn kết

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đưa ra tư tưởng đoàn kết, mà còn chỉ ra phương châm, đề ra biện pháp để xây dựng và củng cố đoàn kết;

Phương châm là đoàn kết phải chân thành, như năm 1945 Người nêu ra khái niệm "chân thành Đoàn kết". Trong Di chúc, Người nhấn mạnh phải Đoàn kết chặt chẽ, Đoàn kết nhất trí, Đoàn kết và thống nhất. Muốn đoàn kết phải khắc phục chủ nghĩa cá nhân, chia rẽ bè phái, địa phương, cục bộ, chống tham ô, lãng phí, quan liêu, phải cùng nhau thực hiện "Cần kiệm liêm chính chí công vô tư" như Người dạy.

Về biện pháp - Để đi đến đoàn kết, Người đặt lên hàng đầu yêu cầu: thực hành dân chủ rộng rãi, nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình.

Trong Di chúc Người viết: Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Đoàn kết phải với tinh thần thương yêu, khoan dung, độ lượng cho nên về phương châm tự phê bình và phê bình, Người nhắc nhở: Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

Hiệu quả của đoàn kết: Nhờ đoàn kết theo tư tưởng của Người mà nhân dân liên tục giành được thắng lợi như Người đã đúc kết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công. Câu nói đó đã trở thành Chân lý. Nếu các anh hùng dân tộc, các danh nhân văn hóa thế giới thường để lại các danh ngôn có giá trị sâu sắc muôn đời thì Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới cũng để lại nhiều danh ngôn. Trong đó, đi đôi với danh ngôn: "Không có gì quý hơn độc lập tự do" là danh ngôn:

"Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết".

"Thành công, thành công, đại thành công".

Hai danh ngôn này đã đi vào lịch sử như một cống hiến vào văn hóa và văn minh nhân loại, được nhiều nhà văn hóa, chính trị thế giới đánh giá cao./.

VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM

 

“Đổi mới” ở Việt Nam là sự lựa chọn tất yếu, là một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước. Sau gần 35 năm vượt qua các thử thách và khó khăn to lớn, tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện trên mọi mặt: chính trị, kinh tế, xã hội, đối ngoại,... đến nay, Việt Nam có đầy đủ cơ sở để khẳng định rằng đổi mới là sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với xu thế của thời đại và ý nguyện của nhân dân.

Khi tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng ta đã chủ trương kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị. Xác định nhiệm vụ đổi mới, phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Từ thành tựu đổi mới kinh tế mà từng bước đổi mới hệ thống chính trị. Đó chính là bài học thành công trong đổi mới chính trị ở Việt Nam, bảo đảm giữ vững sự ổn định chính trị trong mọi hoàn cảnh.

Đảng không ngừng được đổi mới, nhất là tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng không những được nhân dân, toàn xã hội khẳng định mà còn được cộng đồng thế giới và khu vực, các đối tác thừa nhận, củng cố mối quan hệ giữa các đảng cầm quyền trên thế giới. Thước đo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là kinh tế phát triển, chính trị, xã hội ổn định, văn hóa, giáo dục, khoa học phát triển, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, nâng cao về mọi mặt, quốc phòng - an ninh được giữ vững, ngoại giao rộng mở, vị thế uy tín Việt Nam ngày càng nâng cao trên trường quốc tế.

Trong bối cảnh chuẩn bị tổ chức Đại hội XIII của Đảng, đã là người Việt Nam đều phải chung vai gánh vác cùng với Đảng, Nhà nước và nhân dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước tiếp tục đi lên. Đại hội XII của Đảng đã nhận định: “Những thành tựu đó tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới; khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo: con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử”.

Chắc chắn chúng ta sẽ có một Ðại hội thành công, lãnh đạo đưa đất nước tiếp tục tiến lên trên con đường giàu mạnh, phồn vinh, nhân dân được ấm no, hạnh phúc.

CÁC PHƯƠNG THỨC CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI VIỆT NAM

 

Cùng với những âm mưu và luận điệu xuyên tạc, các lực lượng thù địch tiến hành thực hiện các phương thức mới để chống phá ta theo hướng ngày càng tinh vi và phức tạp:

Chúng tận dụng các phương tiện thông tin hiện đại bằng cách lập những trang mạng xã hội, có bộ máy chuyên nghiệp, tuyên truyền xuyên tạc, chống phá ta dưới nhiều hình thức để lừa bịp nhân dân.

Chúngchống phá một cách kiên trì, bền bỉ, luôn kiên trì bám sát mục tiêu, đối tượng mà chúng nhằm vào để nhằm tác động thường xuyên đưa đến sự chuyển hóa trong tư tưởng, nhận thức của nhân dân về sự nghiệp đổi mới do Đảng ta lãnh đạo.

Chúngtiến hành cách thức chống phá tinh vi kết hợp với những luận điệu, lời lẽ bịa đặt trắng trợn. Chúng tung ra những thông tin lập lờ giữa đúng và sai, giữa thật và giả, kể cả bịa đặt trắng trợn để gây hoài nghi trong nhân dân.

Chúng chống phá với những phương thức đa dạng, nhiều chiều. Chúng tận dụng tối đa từ các hình thức tuyên truyền miệng, đến các phương tiện truyền thông hiện đại, mạng xã hội, các loại hình văn hóa, nghệ thuật, xuất bản, báo chí...

Do đó, để vạch trần bộ mặt thật của chúng không phải một sớm, một chiều, mà cần phải bền bỉ, lâu dài; đồng thời với đó phải nâng cao nhận thức, đề cao cảnh giác cách mạngcủa toàn dân đấu tranh trên mọi lĩnh vực.

 

NHẬN DIỆN MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CHỐNG PHÁ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAMCỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Dưới sự lãnh đạo của Đảng đất nước ta, dân tộc ta đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực. Điều đó cũng khẳng định con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta, Nhân dân ta đã lựa chọn là hoàn toàn đúng đắn.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch đã và đang ra sức xuyên tạc, phủ nhận những thành quả mà dưới sự lãnh đạo của Đảng mang lại:

Chúng lợi dụng internet, mạng xã hội và những mặt tiêu cực trong xã hội chưa được khắc phục, để phát tán, xuyên tạc bản chất của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Chúng tuyên truyền những luận điệu xuyên tạc trái với quan điểm, nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta. Chúng kết hợp chống phá đường lối chính trị với chống phá trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Cố tình xuyên tạc lịch sử, phủ nhận và đòi xóa bỏ sự lãnh lãnh đạo của Đảng đòi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”, xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp về quyền lãnh đạo của Đảng. 

Như vậy, mục đích của chúng rất rõ ràngnhằm làm suy giảm vai trò và uy tín của Đảng, làm cho quần chúng nhân dân hoài nghi, dao động, đi đến mất niềm tin vào khả năng lãnh đạo của Đảng trong xây dựng kinh tế, phát triển đất nước, làm suy yếu sức mạnh của chúng ta trong sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.