Thứ Hai, 28 tháng 9, 2020

Hãy cảnh giác“ma trận” xuyên tạc về chủ quyền lãnh thổ


Có thể nói rằng, lợi dụng vấn đề chủ quyền lãnh thổ, trong đó có chủ quyền về biển, đảo để xuyên tạc sự thật, kích động dư luận và gây rối vốn là “nghề” của các thế lực thù địch muốn chống phá Việt Nam. Và như một thói xấu cố hữu, thường thì cứ mỗi khi nước ta đứng trước những sự kiện trọng đại, ngón nghề này lại được chúng tung ra để phá bĩnh, làm đảo lộn tình hình.

Trong những ngày toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang phấn khởi chào mừng sự thành công của đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng, dư luận tiến bộ trong nước và quốc tế không khỏi bức xúc khi trên mạng xã hội xuất hiện những thông tin xuyên tạc vấn đề chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam. Chỉ cần bớt chút thời gian suy ngẫm, đối chiếu và nhìn nhận một cách thấu đáo, có thể kết luận đây là luận điệu của các phần tử cơ hội, phản động, thường xuyên rình rập cơ hội để chống Đảng, chống Nhà nước và gây xáo trộn cuộc sống ổn định, hòa bình hiện nay của nhân dân Việt Nam. Ở đâu đó, trên các trang mạng xã hội hay các diễn đàn quy tập nhiều phần tử bất mãn, rêu rao rằng: “Đảng, Nhà nước Việt Nam coi trọng việc tổ chức đại hội Đảng hơn vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo”; hoặc cố tình xuyên tạc quan điểm, đường lối, chủ trương đấu tranh giữ vững chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc thông qua những “thuyết âm mưu” nhuốm màu kích động như: Việt Nam lôi bè kéo cánh, đi với nước này, chống nước kia; và rằng, không đánh nhau thì mất biển, mất đảo, thế nước lâm nguy...

Vạch trần chân tướng và đường đi của những chiêu trò này là việc nhất thiết phải bàn, phải làm. Chúng ta tự hào khẳng định, lịch sử quá trình dựng nước, giữ nước, xây dựng và phát triển đất nước đã chứng minh, trong mỗi người dân Việt Nam là một trái tim yêu nước. Khi chủ quyền lãnh thổ quốc gia đứng trước những thách thức hoặc bị xâm phạm, lòng yêu nước được người dân thể hiện bằng cách dồn tối đa sự quan tâm, thường xuyên dõi theo những thông tin liên quan. Lợi dụng tâm lý này, các đối tượng thù địch đưa ra những thông tin sai sự thật hòng bẻ lái dư luận, kích động người dân nhằm mục đích cuối cùng là xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, chia rẽ mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước và quân đội. Cùng với việc phê phán các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế, xâm phạm chủ quyền Việt Nam, các đối tượng này cũng đồng thời quy chụp lãnh đạo cấp cao Đảng và Nhà nước ta "phản ứng chậm" hoặc "né tránh, không dám đối đầu, đang tâm để chủ quyền lãnh thổ quốc gia bị đe dọa” (!). Mưu đồ cốt lõi của những luận điệu này là khiến lòng dân mất yên, dần mất niềm tin vào lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Càng nguy hiểm hơn khi nhiều đối tượng lợi dụng vấn đề chủ quyền lãnh thổ, trong đó có chủ quyền biển, đảo để kích động, kêu gọi người dân “xuống đường” thể hiện lòng yêu nước, từ đó gây mất an ninh, trật tự xã hội và kiếm cớ để tiếp tục chống phá.

Một thực tế khác cần nhìn nhận, đó là trong khi đa số người dân nhận thức đúng đắn về quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, gần như “miễn nhiễm” với những luận điệu xuyên tạc, hồ đồ và cũ rích ấy, thì vẫn còn khá nhiều người "sập bẫy", trong đó chủ yếu là những người mới hoặc ít tiếp xúc với internet, mạng xã hội. Sự thiếu nhận thức đúng đắn về chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước khiến họ chưa kịp chắt lọc thông tin đúng-sai, dễ bị cuốn vào “ma trận phản động” trên internet.

Cùng với việc nhận diện âm mưu của các thế lực thù địch chống phá sự ổn định của Việt Nam thông qua chiêu bài về chủ quyền lãnh thổ, việc nắm vững chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, tỉnh táo để hấp thụ đầy đủ bản chất của vấn đề là nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi chúng ta.

Quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta là kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước. Điều này đã được nêu rõ trong Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và được chứng minh trong cách thức Việt Nam giải quyết vấn đề Biển Đông, với tinh thần thượng tôn pháp luật, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); kiềm chế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC).

Hiện nay Việt Nam là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021. Kinh tế đối ngoại cũng không ngừng được mở rộng. Tuy nhiên, một số khu vực, địa bàn còn tiềm ẩn sự phức tạp về an ninh-trật tự, nhất là về vấn đề lãnh thổ, biên giới, biển đảo. Hơn bao giờ hết hãy cảnh giác với những quan điểm cực đoan về vấn đề Biển Đông và khẳng định cần phải giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, đồng thời kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, không bao giờ nhân nhượng trước những vấn đề thuộc về chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. 

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam hàng năm nhấn mạnh chính sách quốc phòng mang tính chất hòa bình và tự vệ của Việt Nam, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng khẳng định: “Chúng ta mong muốn hòa bình, chủ trương giải quyết mọi tranh chấp bằng biện pháp hòa bình. Chúng ta xây dựng quốc phòng cũng vì mục đích hòa bình. Nếu một khi đất nước chúng ta bị chiến tranh, chúng ta buộc lòng phải cầm súng thì chúng ta cũng phải cầm súng vì hòa bình. Chúng ta chỉ sử dụng sức mạnh quốc phòng trong tình huống tự vệ khi đất nước bị xâm hại, trước hết là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia-dân tộc, sự ổn định của chế độ”.

Ngoài ra, Sách trắng Quốc phòng cũng khẳng định quan điểm nhất quán của Việt Nam là "không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế", "không tham gia liên minh quân sự", và bởi vậy, quan điểm cho rằng Việt Nam “bài nước này, thân nước kia” hay “đi theo nước này, chống nước kia”, suy cho cùng chỉ là dối trá, lừa phỉnh dư luận.

Những bài học đắt giá từ các cuộc chiến tranh trong quá khứ đã khiến nhiều nước, trong đó có cả những quốc gia có tiềm lực quân sự mạnh, đang đi theo hướng lấy đối thoại, luật pháp quốc tế làm “kim chỉ nam” cho mọi hành động liên quan đến vấn đề chủ quyền lãnh thổ, thay vì cổ xúy cho xung đột và đối đầu. Điều đó càng chứng minh rằng quan điểm, chủ trương, đường lối, đối sách của Việt Nam trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia và giải quyết các vấn đề liên quan là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế chung của thế giới.

Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia cũng như cuộc sống hòa bình, ổn định hiện có, là vấn đề chiến lược, việc đại sự, đòi hỏi phải có chủ trương, đường lối, đối sách đúng đắn, phù hợp, hiệu quả và bền vững. Do đó, chúng ta cần hết sức tỉnh táo, cảnh giác trước các chiêu trò, luận điệu kêu gào, xuyên tạc, kích động để không mắc mưu những phần tử xấu và thế lực thù địch để rồi ngập chân trong thứ “ma trận” quái gở mà chúng cố tình giăng ở khắp nơi.

 

“Bất thình lình ngã ngựa”?


Có phải những người cha mẫu mực trong gia đình, người cán bộ có “uy” trong cơ quan, đơn vị có quá trình vi phạm kỷ luật tinh vi chưa lộ ra, mắc sai lầm và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật là cú bất thình lình ngã ngựa!

Tâm tư cuối phiên xét xử nói: “Trong suốt quá trình công tác, tôi chưa bao giờ bị kỷ luật, nhưng đến cuối đời tôi lại vướng vào vòng lao lý. Đây là cú sốc tâm lý hết sức nặng nề, là trải nghiệm vô cùng cay đắng, nghiệt ngã” hay “Sau nhiều năm công tác, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình lại phải có ngày, có kết cay đắng như hôm nay, phải đứng trước tòa nói lời sau cùng tại phiên tòa với bản án sẽ dành cho sắp tới” hoặc “Tôi chưa được học kinh tế”….

Đứng ở góc độ con người, “cú sốc” này là dễ hiểu. Có lẽ, rất nhiều, rất nhiều quan chức từ cấp đia phương đến trung ương cũng có cảm xúc tương tự khi “bất thình lình ngã ngựa”. Càng là người “đức cao vọng trọng”, càng là người có chức tước và vai vế, có tiếng nói trong cơ quan, tổ chức… thì lại càng dễ sốc. Trước khi bị khởi tố, bị tuyên án trước toà, bọn họ hầu hết đều là người cha mẫu mực trong gia đình, người cán bộ có “uy” trong cơ quan, đơn vị và xã hội. Họ hẳn rằng cũng đã nói và chỉ đạo “làm điều hay lẽ phải”, từng được coi là “tấm gương sáng” để cấp dưới noi theo.

Hình ảnh ông Nguyễn Thành Tài, ông Đinh La Thăng, ông Trương Minh Tuấn và nhiều cựu lãnh đạo cấp cao khác, phải trả giá vì những sai lầm khác nhau mà phải chua chát giãi bày: “Sau 35 năm công tác, trải qua nhiều cương vị khác nhau, bị cáo luôn cố gắng phấn đấu để hoàn thành nhiệm vụ được giao… Hôm nay, bị cáo không bao giờ nghĩ mình phải đứng trước phiên tòa để nói lời sau cùng như thế này. Đây thực sự là sự đau xót và bất hạnh đối với bị cáo và gia đình.” và mong mỏi xin được ăn cái Tết cuối cùng với gia đình, bạn bè, người thân rồi sau đó sẽ chấp hành án phạt tù mà chưa biết bao giờ mới được ra.

Đó quả thực là những “trải nghiệm vô cùng cay đắng, nghiệt ngã” mà họ - những cựu quan chức cấp cao, đều “không bao giờ”, “chưa bao giờ”… nghĩ đến.

Cú rơi thẳng đứng từ đỉnh cao quyền lực xuống vực sâu, hỏi sao không “đau”, không “chua xót”, bẽ bàng…?! Những “lời nói sau cùng” của các bị cáo tại toà sở dĩ thường khiến người ta chú ý là bởi ở vào thời điểm đó, họ (thông thường) sẽ bộc lộ những tâm tư, cảm xúc sâu kín, nói ra những lời gan ruột của bản thân, giãi bày không chỉ với toà mà với người thân, gia đình, đồng nghiệp… Ở vào thời điểm đó, họ thể hiện rất rõ con người họ. Đáng tiếc là, ngay cả khi đã bị truy tố, nghe Viện Kiểm sát luận tội… nhiều vị vẫn “ngây thơ” không biết rằng mình đã làm sai, đã vi phạm pháp luật. Không biết có bao nhiêu phần trăm chân thật trong lời “thú nhận”, nhưng dù là gì thì cũng đều gây thất vọng. Là những người đứng đầu một địa phương, một ngành mà không nắm được, không hiểu biết về pháp luật của lĩnh vực mình phụ trách… vậy có xứng đáng với niềm tin của người dân hay không?

Hoá ra (công tác nhân sự) những người giới thiệu các vị ấy đã nhầm? Hay bản thân các bị cáo cũng tự nhầm lẫn về năng lực của bản thân? Vai trò của cơ quan tham mưu ở đâu? Hay cấp trên nói, cấp dưới cũng chỉ “dạ, thưa” và “tuân thủ, làm theo chỉ đạo”? “Công thì phải thưởng, tội thì phải xử lý” các vị này khi con đương chức nói rất chính xác.

Đã bước sai thì không thể quay lại và phải đối diện với thực tế, dù trong số họ có những người đã cống hiến lớn, nhưng với sai phạm mà họ gây ra, đất nước tổn thất hàng nghìn tỷ đồng, con số thất thoát không biết bao giờ mới thu hồi đủ, những hệ lụy của nó gây ra vô cùng lớn. Những bản án được tuyên, mỗi người đều phải trả giá cho sai lầm của họ. Chỉ có điều, từ những bản án đó, từ những lời sau cuối, hối lỗi muộn mằn đó… liệu có khiến những người “chưa lộ” thấy sợ mà chùn tay, những người “thiếu hiểu biết” kịp bổ túc kiến thức hay không?

 

Một thị trường “ngầm” rất nguy hiểm


Vụ việc Công an TP Hải Phòng vừa phá đường dây mua bán trái phép hoá đơn GTGT do Ngô Văn Phát cầm đầu cho thấy “mảng tối” của kinh tế đằng sau sự hào nhoáng của những người mang mác “đại gia”, “doanh nhân lớn” không chỉ gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước, bóp méo môi trường kinh doanh, mua bán hoá đơn trái phép còn được cho là để hợp thức hoá tiền bôi trơn, hối lộ và để rửa tiền…

Nếu như trước đây công chúng trầm trồ, ngưỡng mộ những tòa biệt thự nguy nga tựa lâu đài của đại gia này bao nhiêu thì khi vỡ lở việc buôn bán hoá đơn, người ta lại ngán ngẩm bấy nhiêu, chép miệng: “Tưởng thế nào!”.

Vụ việc lần này chúng ta không phải bình luận về một trường hợp đại gia “ngã ngựa”, hay vị đại gia “khét tiếng” trong lĩnh vực nào đó sa lưới pháp luật có thể sẽ khiến dư luận hiếu kỳ, mà là đằng sau câu chuyện này hé lộ một “thị trường” mua bán hoá đơn rầm rộ làm méo mó nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Nhìn lại những vụ án mua bán hoá đơn trái phép bị triệt phá ít năm trở lại đây chúng ta dễ hiểu “hấp lực” của những chiêu trò này, trong đó có cả những trường hợp… khó ngờ, và chỉ đọc con số thôi cũng đã choáng váng, “xây xẩm mặt mày”. Theo đó, số lợi mà các đối tượng thu về không hề nhỏ.

Chẳng hạn năm 2018 dư luận cũng từng xôn xao về đường dây mua bán hoá đơn hàng nghìn tỷ đồng đầy tinh vi do “Hoa hậu Doanh nhân Thế giới người Việt” Nguyễn Thị Nhung cầm đầu. Vỏ bọc “doanh nhân thành đạt” này thật khiến ta ngỡ ngàng bởi sự xảo quyệt trong “tài” kiếm tiền của họ.

Hay như trong năm 2015, một nữ doanh nhân khác là Nguyễn Thị Thảo Quyên - Tổng giám đốc Công ty Năng Lượng Xanh và Chủ tịch HĐQT Công ty Xăng dầu Năng Lượng Xanh cũng bị phát hiện đã cùng đồng phạm xuất 3.966 hoá đơn GTGT mặt hàng xăng dầu D.O và F.O cho 101 doanh nghiệp với trị giá ghi trên hoá đơn hơn 5.000 tỷ đồng. Còn trên địa bàn Hải Phòng, trong thời gian ngắn trở lại đây, cơ quan công an thành phố này đã triệt phá 3 vụ mua bán trái phép hoá đơn GTGT với giá trị khoảng 8.000 tỷ đồng.

Thị trường mua bán hoá đơn trái phép nở rộ, hậu quả nhãn tiền đương nhiên là gây nên thiệt hại lớn cho ngân sách nhà nước nhưng nguy hiểm còn bóp méo môi trường kinh doanh, tạo nên bất công lớn các các doanh nghiệp làm ăn chân chính. Phương thức mua bán hoá đơn trái phép này còn được cho là để hợp thức hoá tiền bôi trơn, hối lộ, và để rửa tiền… Thế nên, loại hình phạm tội này cần phải bị xử lý triệt để và nghiêm khắc thì mới có tác dụng răn đe cũng như phòng ngừa được các hậu hoạ khôn lường khác.

Trong bối cảnh việc đăng ký thành lập doanh nghiệp trở nên đơn giản hơn thì công tác giám sát hoạt động “hậu thành lập” càng cần phải sát sao và chặt chẽ hơn nữa, không thể vì nó mà méo mó thị trường, giảm uy tín với cộng đồng.

 

Đấu tranh làm thất bại âm mưu đòi thay quốc hiệu của các nhà "dân chủ cuội"

Như chúng ta đã biết, quốc hiệu của một quốc gia ở bất cứ đâu trên thế giới cũng mang giá trị lịch sử, văn hóa và chính trị. Những cuộc cách mạng, thay đổi chế độ xã hội nói chung thường dẫn đến thay đổi quốc hiệu. Sự thay đổi quốc hiệu được xem như một phần của thành quả cách mạng. Quốc hiệu của một quốc gia trong các thời kỳ lịch sử khác nhau còn thể hiện tư duy chính trị của lực lượng cầm quyền (thường là đảng chính trị) giành thắng lợi.

Với nhà nước Việt Nam, quốc hiệu không phải chỉ phản ánh ý chí, nguyện vọng của Đảng Cộng sản Việt Nam mà còn thông qua một quy trình luật định của Hiến pháp, do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại diện cho toàn thể nhân dân quyết định. Thế nhưng trong làn sóng “dân chủ trên thế giới ảo-mạng (có tài khoản còn gọi là “dân chủ cuội”) có người đã đòi thay đổi tên nước, từ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam trở lại tên gọi trước đây-nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Loại trừ tính cách cá nhân (muốn thể hiện trí tuệ hơn người) cái gọi là “kiến nghị”, "yêu cầu" trên còn ẩn chứa âm mưu gì?

Trước hết xin được lược qua các quốc hiệu của Nhà nước Việt Nam từ khi nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng lên làm cuộc Cách mạng Tháng Tám, giành lại độc lập dân tộc, năm 1945 đến nay. Quốc hiệu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Quốc hội khóa I, nhiệm kỳ (1946-1960), quyết định. Tên gọi này kéo dài 31 năm (1945-1976). Thắng lợi của cuộc kháng chiến thống thực dân Pháp vào năm 1954, Hiệp định Geneve (Thụy Sĩ) quy định Việt Nam tạm thời chia làm hai miền: Miền Bắc và miền Nam. Ở miền Nam, đế quốc Mỹ thế chân thực dân Pháp cai trị dưới hình thức chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam kéo dài từ năm 1954 đến ngày 30-4-1975 cuối cùng đã giành được thắng lợi hoàn toàn.

Vào năm 1976, do còn có sự khác biệt nhất định về thể chế xã hội giữa hai miền, Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định thực hiện cuộc Tổng tuyển cử trên cả nước. Sau cuộc Tổng tuyển cử, Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất ra đời. Quốc hội nhiệm kỳ mới, mở đầu từ năm 1976 đã quyết định đổi tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Sự khác biệt giữa hai tên nước: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước Cộng hòa XHCN Việt Nam không chỉ về ngôn từ mà còn mang nội dung chính trị-pháp lý nhất định. Chính thể cộng hòa dân chủ nói chung là một chế độ xã hội trong đó nguyên thủ quốc gia và cơ quan lập pháp (Quốc hội) do nhân dân bầu ra theo thể thức bình đẳng và bỏ phiếu kín. Các quốc gia theo chính thể cộng hòa dân chủ đều xác lập nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân (hoặc xuất phát từ nhân dân). Mọi công dân đến tuổi (do pháp luật quy định) đều được tham gia bầu cử và ứng cử vào các cơ quan đại diện từ cơ sở đến Trung ương. Chính thể cộng hòa dân chủ là hình thức chính thể phổ biến của các nhà nước hiện đại.

Nhìn lại lịch sử nhân loại, chế độ cộng hòa dân chủ có nhiều mô hình. Chẳng hạn, các mô hình: Cộng hòa dân chủ chủ nô (Aten); cộng hòa dân chủ phong kiến (ở một số nước phương Tây); cộng hòa dân chủ tư sản... Công xã Pari là một sự kiện mở đầu cho chính thể cộng hòa dân chủ. Tiếp đó là chế độ cộng hòa Xô viết (ra đời từ nước Nga sau Cách mạng Tháng Mười năm 1917). Mô hình cộng hòa dân chủ còn ra đời từ cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thoát khỏi chế độ thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc-đó là mô hình “cộng hòa dân chủ”. Mô hình này có thể chế cộng hòa dân chủ ở ta sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Ở Việt Nam, việc Quốc hội quyết định chuyển quốc hiệu từ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là sự khẳng định thể chế chính trị nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; khẳng định vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời gắn với mục tiêu bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc Việt Nam.

Nói như thế không có nghĩa quốc hiệu là bất biến. Khi nào có thể và cần thay đổi thì vẫn có thể thay đổi. Quốc hiệu mới như thế nào thì câu trả lời dành cho đảng cầm quyền và cho cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội. Ở Việt Nam, quốc hiệu nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là sự kế thừa quốc hiệu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhưng mô hình xã hội thì đã thay đổi. Về chính trị, đó là Nhà nước pháp quyền, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo với những quy định chặt chẽ. Điều 4, Hiến pháp 2013 quy định: “1. Đảng Cộng sản Việt Nam-Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; 2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình; 3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Vậy, những người đòi thay quốc hiệu nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, trở về với quốc hiệu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để nhằm mục đích gì? Có "trong sáng" như họ vẫn nói hay không? Sẽ tác động đến tư tưởng-chính trị và văn hóa của đất nước ra sao? Và cuối cùng, thực chất của giọng điệu đề nghị thay đổi tên nước?

Trước hết, về hệ quả lý luận, sự thay đổi tên nước như có người nêu sẽ dẫn đến “vênh” giữa nền tảng tư tưởng của Đảng ta (đó là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh) với mục tiêu đi lên xã hội XHCN. Cần lưu ý rằng mô hình kinh tế của xã hội Việt Nam hiện nay là mô hình “quá độ” lên xã hội XHCN. Nói cách khác về mặt logic, mô hình này chưa phải là mô hình XHCN.

Thứ hai, về tư tưởng, chính trị, sự thay đổi tên nước như có người nêu sẽ dẫn đến nhận thức chung của xã hội là Đảng Cộng sản Việt Nam đã thay đổi nền tảng tư tưởng, đã từ bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự thay đổi này bao gồm cả nhận thức về quyền làm chủ của nhân dân. Từ đó, theo logic sẽ dẫn đến những hình thức đấu tranh đòi xóa bỏ thể chế kinh tế hiện nay. 

Thứ ba, về khách quan, đó sẽ là sự phủ định vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Người ta có thể lập luận rằng, mô hình kinh tế xã hội hiện hữu do Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng và điều hành bấy lâu nay là sai lầm... nên phải thay đổi “tận gốc”, phải thay đổi đảng chính trị cầm quyền, đây là cái gốc của mô hình cũ.

Trong thời đại công nghệ thông tin dựa trên nền tảng internet, mạng xã hội... hệ lụy của những sai lầm về chính trị tư tưởng, từ nhỏ có thể trở thành những vấn đề tư tưởng chính trị phức tạp, khó lường. Âm mưu đòi đổi quốc hiệu núp dưới vỏ bọc "chân thành", mong muốn trở về với "tên nước do Bác Hồ đặt" thực ra là âm mưu tạo cớ để đòi thay đổi nền tảng tư tưởng của đảng cầm quyền, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thay đổi mục tiêu và con đường xây dựng, phát triển đất nước mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn và đã thu được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Thiết nghĩ, vấn đề này các cơ quan truyền thông và các đơn vị chức năng cần thông tin rộng rãi để cộng đồng, xã hội và nhân dân hiểu rõ bản chất của các nhà “dân chủ mạng”, “dân chủ ảo”, “dân chủ cuội”.