Thứ Ba, 6 tháng 10, 2020

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ VÀ YÊU CẦU CỦNG CỐ MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là một trong những di sản tư tưởng bao trùm và xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Đồng thời, đây cũng là tư tưởng có ý nghĩa chỉ đạo đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước hiện nay.

Nông dân xã Ái Quốc, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương báo cáo kết quả sản xuất với Chủ tịch Hồ Chí Minh (ngày 31-5-1957)_Nguồn: hochiminh.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

Tư tưởng dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ phản ánh tầm nhìn bao quát, sâu rộng về giá trị phổ quát này, mà còn là tư tưởng để thực hành trong thực tiễn nhằm xây dựng chế độ dân chủ trên một đất nước vừa được giải phóng khỏi sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc cách đây 75 năm. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ được phản ánh một cách chắt lọc, cô đọng, cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hành, biểu hiện ở ba vấn đề cốt lõi sau:

Thứ nhấtkhẳng định vai trò, địa vị của nhân dân trong chế độ chính trị dân chủ.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân. Nó được hình thành trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đồng thời, nó phản ánh mối quan hệ cơ bản giữa Nhà nước và nhân dân trong chế độ chính trị - xã hội nhất định. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định xây dựng một Nhà nước Việt Nam kiểu mới, đó là nước “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”. Người tuyên bố dứt khoát: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ”(1).

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”(2). Theo Người, ở nước ta, mọi quyền hành và lực lượng đều là của nhân dân, từ nhân dân mà ra. Người nhấn mạnh rằng: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân(3). Như vậy, nội dung cơ bản và cốt lõi nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ là: Nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị  - xã hội, thể chế chính trị dân chủ phải bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, nhân dân là người có quyền quyết định vận mệnh của quốc gia - dân tộc; nhân dân phải có trách nhiệm và nghĩa vụ xây dựng, củng cố và thực hành quyền lực của mình thông qua hệ thống chính trị và thể chế chính trị dân chủ, xây dựng và củng cố bộ máy quản lý nhà nước nhằm hướng tới phục vụ lợi ích của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân... Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”(4).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ mối quan hệ giữa nhân dân và Nhà nước: “Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có Chính phủ, thì nhân dân không ai dẫn đường. Vậy nên Chính phủ với nhân dân phải đoàn kết thành một khối. Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(5).

Thứ hai, xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Ngay từ năm 1927, trong cuốn “Đường Kách mệnh”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”(6). Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước cách mạng được thành lập, Người nhấn mạnh: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân... Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Đây là điểm khác biệt về bản chất giữa nhà nước dân chủ nhân dân với các nhà nước của giai cấp bóc lột từng tồn tại trong lịch sử.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà nước của dân là nhà nước mà ở đó tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước. Nhân dân là gốc, là chủ của quyền lực nhà nước, bao nhiêu quyền hạn của Nhà nước đều là của nhân dân. Do đó, đội ngũ cán bộ của chính quyền các cấp là đầy tớ trung thành của nhân dân, là công bộc của nhân dân, chứ không phải là cha mẹ dân, cai trị dân như nhà nước của chế độ bóc lột trước đây. Nhân dân là người có quyền quyết định các vấn đề hệ trọng liên quan đến vận mệnh quốc gia dân tộc. Ngay trong Điều 32 Hiến pháp năm 1946 đã nêu rõ: “Những việc liên quan đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra cho nhân dân phúc quyết”. Thực chất ở đây là trưng cầu ý dân, một hình thức dân chủ trực tiếp được đề ra ở nước ta khá sớm. Nhân dân bầu ra Quốc hội và chính quyền các cấp, có quyền kiểm soát nhà nước, giám sát và có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp. Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước cho nên nhân dân có quyền kiểm soát quyền lực nhà nước.

Nhà nước do dân là nhà nước do nhân dân lựa chọn, bầu ra những đại biểu của mình, những đại biểu này thay mặt nhân dân tổ chức, điều hành các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương thông qua chế độ tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu. Đồng thời, Nhà nước do dân cũng là nhà nước mà nhân dân tham gia vào công việc của Nhà nước, ủng hộ, giúp đỡ cả về vật chất và tinh thần cho hoạt động của bộ máy nhà nước, thực hiện các nghĩa vụ và quyền hạn đối với Nhà nước trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Mặt khác, nhân dân tham gia góp ý xây dựng Nhà nước, kiểm soát và giám sát quyền lực của Nhà nước. “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”, nghĩa là Nhà nước không đáp ứng được nhu cầu và lợi ích chính đáng của nhân dân thì nhân dân có quyền bãi miễn Chính phủ.

Nhà nước vì dân là nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Nhà nước không có đặc quyền, đặc lợi, đứng trên nhân dân mà phải thực sự trong sạch, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc nhở: Việc gì có lợi cho dân thì dù nhỏ cũng cố gắng làm. Việc gì có hại cho dân thì dù nhỏ cũng cố gắng tránh. Nhà nước vì dân là Nhà nước luôn đề cao ý thức trách nhiệm chính trị trước nhân dân. Người cho rằng: Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt, Đảng và Chính phủ có lỗi.

Thứ ba, giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân trên tinh thần dân chủ.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ với nhau. Nhân dân cần Nhà nước để lãnh đạo và tổ chức lực lượng xây dựng, phát triển đất nước. Mặt khác, Nhà nước phải dựa vào mọi nguồn lực của nhân dân để phục vụ nhân dân. Trong tư tưởng của Người, nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của Nhà nước là nguyên tắc tập trung dân chủ. Nhà nước phát huy dân chủ đến cao độ mới động viên được tất cả các lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên. Đồng thời, phải tập trung cao độ để thống nhất lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Bên cạnh việc đề cao dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nêu rõ vai trò của chuyên chính: Chế độ nào cũng có chuyên chính. Vấn đề là chuyên chính với ai? Dân chủ là của quý báu của nhân dân, chuyên chính là cái khóa, cái cửa để đề phòng kẻ phá hoại... Có dân chủ thì cũng cần phải có chuyên chính để giữ gìn dân chủ. Chính vì lẽ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến xây dựng một Nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào cả nước và toàn thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khẳng định tính hợp pháp của Chính phủ lâm thời. Sau đó, Người tiến hành xây dựng Hiến pháp dân chủ, tổ chức Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu, thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 2-3-1946, Quốc hội họp phiên đầu tiên và bầu Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Chính phủ Liên hiệp kháng chiến. Đây là Chính phủ hợp hiến đầu tiên do nhân dân bầu ra, có đầy đủ tư cách và hiệu lực trong việc giải quyết mọi vấn đề đối nội và đối ngoại của đất nước. Cũng vào năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng đến việc xây dựng luật pháp, quản lý đất nước bằng luật pháp và làm cho luật pháp có hiệu lực trong thực tế. Theo Người, trong Nhà nước dân chủ nhân dân, dân chủ và pháp luật phải đi đôi với nhau, bảo đảm cho chính quyền hoạt động có hiệu lực, hiệu quả.

Một nội dung rất quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là tập trung xây dựng một nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện quyền lực của nhân dân. Để xây dựng một nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phải được đào tạo chính quy, am hiểu pháp luật, thành thạo nghiệp vụ quản lý hành chính ở tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 197 thành lập Ban Pháp lý học tại Trường Đại học Việt Nam; năm 1950, ký Sắc lệnh số 76 ban hành “Quy chế công chức” để bảo đảm công bằng trong thi tuyển, bổ nhiệm vào ngạch bậc hành chính. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng nền móng cho pháp quyền Việt Nam.

Bên cạnh việc tập trung xây dựng thể chế quản lý đất nước thông qua pháp luật, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chú ý đến công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao trình độ giác ngộ và chấp hành pháp luật của nhân dân, nhấn mạnh sự nêu gương của đội ngũ thực thi pháp luật. Trong thư gửi Hội nghị tư pháp toàn quốc (tháng 1 -1946), Người căn dặn: Các bạn là những người thi hành pháp luật, lẽ tất nhiên các bạn phải nêu cao tấm gương “Phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư!”.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đến thăm, tặng quà một số gia đình chính sách, hộ nghèo và nói chuyện với cán bộ, nhân dân thôn Thượng Hải, xã Thạch Hải (tỉnh Hà Tĩnh)_Ảnh: Tư liệu

Thực tiễn vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong việc củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân ở Việt Nam

Trong gần 35 năm đổi mới, tư tưởng dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục được vận dụng sáng tạo để củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Vấn đề thực hành dân chủ, tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân trong thời kỳ đổi mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã đạt được một số kết quả quan trọng.

Thứ nhất, thể chế hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, bảo đảm sự gắn bó mật thiết giữa Nhà nước với nhân dân từng bước được tiến hành một cách đồng bộ, toàn diện.

Điều 69 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước”(7). Theo đó, nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan khác của Nhà nước. Hiến pháp năm 2013 đã chế định hóa đầy đủ về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đồng thời chế định thêm một số quyền mới như: Quyền sống (Điều 19); các quyền về nghiên cứu khoa học và công nghệ; sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ hoạt động đó (Điều 40); quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41); quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42); quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43); quyền không bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác (Khoản 2, Điều 17). Với tư cách là một bộ phận cấu thành nên bộ máy quyền lực nhà nước, Quốc hội, đại biểu Quốc hội trở thành cầu nối gắn kết chặt chẽ mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân. Do đó, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của Nhân dân cả nước” (Khoản 1, Điều 79)(8). Bảo đảm sự tham gia của nhân dân vào công việc quản lý của Nhà nước không chỉ được khẳng định trong Hiến pháp mà còn được cụ thể hóa trong các luật(9).

Chính phủ với tư cách là cơ quan “thực hiện quyền hành pháp”, cơ quan hành chính cao nhất và là cơ quan chấp hành của Quốc hội đã chú trọng đề cao tính dân chủ và tính pháp quyền trong điều hành, hướng đến xây dựng nền hành chính thống nhất, thông suốt, trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực và hiệu quả. Trong gần 35 năm đổi mới, Chính phủ tập trung đổi mới, cải cách thể chế, bộ máy, công chức và tài chính công theo hướng dân chủ, khoa học, hiện đại, chuyên nghiệp. Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 và giai đoạn 2011 - 2020 đã được tiến hành nhằm xây dựng một nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, văn minh. Theo đó, một loạt các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành(10); đồng thời, Chính phủ từng bước đổi mới phương thức hoạt động, chuyển từ cơ chế quản lý bằng mệnh lệnh, cơ chế xin  - cho sang quản lý bằng pháp luật, đề cao trách nhiệm phục vụ nhân dân.

Thứ hai, sự tham gia của nhân dân vào đời sống chính trị và quản lý nhà nước ngày càng gia tăng.

Trên cơ sở triển khai thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đã tổ chức vận động nhân dân tham gia tích cực vào việc thực hiện Hiến pháp và pháp luật; đồng thời, không ngừng đổi mới phương thức, nội dung giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước. Các luật về tổ chức chính trị - xã hội, như Luật Công đoàn, Luật Thanh niên, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam... đã cụ thể hóa vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội được quy định trong Hiến pháp đối với công việc quản lý nhà nước, giám sát và phản biện xã hội, góp phần quan trọng vào xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thông qua Nghị định số 29/1998/NĐ-CP, ngày 11-5-1998, của Chính phủ “Về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã”; Nghị định số 71/1998/NĐ-CP, ngày 08-9-1998, của Chính phủ, về “Ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan”, Chính phủ đã bổ sung thêm cơ sở pháp lý để phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đi vào cuộc sống. Như vậy, thông qua các thể chế pháp luật và các hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân ngày càng tích cực, chủ động tham gia vào công việc của Nhà nước, đóng góp trí tuệ, nhân tài, vật lực để xây dựng Nhà nước vững mạnh, bảo đảm sự gắn bó mật thiết giữa Nhà nước với nhân dân.

Thứ ba, việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có sự phát triển đồng bộ cả về năng lực và phẩm chất, góp phần quan trọng vào xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Vì vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ năng lực và phẩm chất tham gia vào bộ máy quản lý nhà nước trong thời kỳ đổi mới đã được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm. Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 18-6-1997, về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Tiếp đó, Hội nghị Trung ương 9 khóa X ban hành Kết luận “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020”. Gần đây nhất, Hội nghị Trung ương 7 khóa XII ban hành Nghị quyết “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức gần đây đã bổ sung, làm rõ trách nhiệm của cán bộ, công chức và viên chức trong việc thực hành công vụ, đưa ra những quy định tăng cường kỷ luật đối với công chức, viên chức, xóa bỏ quan niệm “hạ cánh an toàn” của cán bộ, công chức về hưu mắc sai lầm, khuyết điểm trước đó, cán bộ, công chức tham nhũng bị buộc thôi việc; xóa bỏ chế độ “biên chế suốt đời” với viên chức; công khai kết quả đánh giá cán bộ, công chức tại nơi làm việc...

Những vấn đề đặt ra:

Bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta có thể nhận thấy một số vấn đề đặt ra cần được tiếp tục giải quyết như:

Một là, nhận thức về vai trò, địa vị của nhân dân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vẫn còn chưa đầy đủ và toàn diện. Quyền tiếp cận thông tin của nhân dân được luật hóa; tuy nhiên, trong nhiều lĩnh vực hoạt động cũng như ở một số cơ quan nhà nước, kể cả ở Trung ương và địa phương, vấn đề minh bạch hóa thông tin, nhất là trong công tác tổ chức cán bộ, thi tuyển, bổ nhiệm cán bộ, công khai hóa các dự án để đấu thầu, minh bạch hóa tài sản và thu nhập cá nhân, quản lý tài nguyên, môi trường, quản lý tài chính công vẫn còn hạn chế. Trách nhiệm giải trình và xử lý sau giải trình thông qua các kỳ họp Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp cho thấy hiệu quả chưa cao, chưa đồng bộ. Vai trò kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp và vai trò phản biện, giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Các phương thức thực hiện quyền làm chủ trực tiếp còn hạn chế. Vấn đề “bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân” còn bất cập. Hơn nữa, vấn đề quan tâm đến việc hưởng thụ các thành quả lao động sáng tạo của nhân dân còn bộc lộ nhiều thiếu sót, dẫn đến tình trạng phân hóa xã hội, lợi ích nhóm gia tăng, nguy cơ nghèo và tái nghèo tiềm ẩn cao.

Hai làkhoảng cách giữa việc ban hành luật pháp và thực hiện luật pháp chưa được rút ngắn. Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vừa qua, độ chênh giữa việc ban hành và thực hiện pháp luật còn có khoảng cách khá rõ. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do người dân chưa nhận thức rõ được vai trò của từng văn bản quy phạm pháp luật mà Nhà nước ban hành liên quan trực tiếp đến cuộc sống của họ.

Ba là, thực hành dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương, kỷ luật còn nhiều bất cập. Trên thực tế, tình trạng “vừa thiếu dân chủ”, “vừa thiếu kỷ cương” chậm được khắc phục. Trong hoạt động của cơ quan nhà nước, còn không ít các biểu hiện mất dân chủ hoặc dân chủ cực đoan; việc thực hành dân chủ ở nhiều nơi, nhiều lúc còn mang tính hình thức, thực hiện pháp luật, kỷ cương không nghiêm. Quyền hạn và trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan công quyền chưa được quy định rõ ràng, thực hiện chưa nghiêm. Còn thiếu các chế tài bảo đảm thực thi dân chủ, giữ vững kỷ cương, kỷ luật.

Bộ đội giúp dân chống lũ ở đồng bằng sông Cửu Long_Ảnh: Tư liệu 

Tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong việc củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân trong thời gian tới

Thứ nhất, tiếp tục nghiên cứu và quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đây là một tài sản có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn cần được học tập, vận dụng và triển khai nghiêm túc trong toàn bộ hoạt động của cơ quan nhà nước và xã hội, tạo động lực tinh thần mạnh mẽ để xây dựng, phát triển bền vững đất nước.

Thứ hai, tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013. Thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả trong thực tế dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, dân chủ ở cơ sở theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Quán triệt quan điểm của Đảng trong xử lý các vi phạm pháp luật theo nguyên tắc mọi công dân bình đẳng trước pháp luật, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Thực hiện nhất quán chủ trương thực hành dân chủ một cách đồng bộ và toàn diện; phát huy tinh thần tích cực, chủ động của nhân dân trong việc tham gia thực hành dân chủ, tham gia xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, liêm chính, hiệu lực, hiệu quả.

Thứ ba, tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp, nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác lập pháp, giám sát tối cao và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Tăng cường sự gắn kết của các hoạt động giám sát của Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp với kiểm tra, giám sát của Đảng, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và giám sát của nhân dân. Tăng cường các hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát trong các hoạt động của Chính phủ. Tập trung xây dựng chính quyền điện tử, cắt bỏ những thủ tục hành chính rườm rà, khắc phục tối đa các khoảng trống dẫn đến tham nhũng, hối lộ. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, hoạt động luật sư và hỗ trợ tư pháp.

Thứ tư, đẩy mạnh xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức liêm chính, có bản lĩnh chính trị, có phẩm chất đạo đức, năng lực, uy tín, tính chuyên nghiệp cao, sức khỏe tốt, tận tụy phục vụ nhân dân. Chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, trách nhiệm, phát huy dân chủ gắn liền với siết chặt kỷ cương, kỷ luật, khuyến khích đổi mới, sáng tạo, có khát vọng vì lợi ích chung của nhân dân, của đất nước. Cải thiện môi trường làm việc, chính sách tiền lương, nhà ở, công vụ. Kiên quyết loại bỏ những phần tử thoái hóa, biến chất ra khỏi bộ máy nhà nước. Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh./.

Theo: tapchicongsan.org.vn



Facebook mạnh tay thanh trừng các nhóm lan truyền thông tin xấu độc

Hôm thứ Ba 06/10/2020, gã khổng lồ công nghệ Mỹ Facebook ra thông báo sẽ gỡ bỏ và cấm các tài khoản, thông tin trên mạng xã hội của các nhóm công khai ủng hộ nhóm Qanon – nhóm hoạt động theo học thuyết âm mưu phổ biến đã dẫn đến việc lan truyền thông tin sai lệch trên khắp Hoa Kỳ và các quốc gia khác.

"Bắt đầu từ hôm nay, chúng tôi sẽ xóa mọi trang Facebook, Nhóm và tài khoản Instagram đại diện cho QAnon, ngay cả khi chúng không chứa nội dung bạo lực", Facebook cho biết trong một bài đăng trên blog. Điều này đánh dấu sự khác biệt so với chính sách trước đó của Facebook, vốn nói rằng các nhóm QAnon sẽ chỉ bị xóa nếu họ kích động bạo lực.

Theo quy định mới, Facebook sẽ xem xét một loạt các yếu tố để xác định liệu nhóm có nên bị cấm hay không. Chúng bao gồm tên của nhóm, tiểu sử của nhóm, "phần giới thiệu", nội dung được đăng trong nhóm hoặc bởi tài khoản Instagram.

Facebook cũng sẽ vô hiệu hóa tài khoản cá nhân của quản trị viên các nhóm này.

QAnon là gì?

QAnon là các nhóm hoạt động trên không gian mạng internet, do những người bí ẩn tạo ra, chuyên phát tán về các thuyết âm mưu. QAnon phục vụ cho mục đích chính trị, nổi lên hồi năm 2017, đến nay đã thu hút rất nhiều người tham gia, hoạt động mạnh mẽ trên các nền tảng truyền thông lớn hơn như Facebook, Twitter…

Lý do khiến QAnon trở nên lan truyền rộng rãi nhờ có những thành viên dùng lời lẽ, lối lập luận dễ gây lòng tin, đã làm nhiều người nếu như trước đó còn lung lay trong suy nghĩ, thì sau đã quay ra tin tưởng tuyệt đối vào các câu chuyện mà họ đưa ra. Các thuyết âm mưu mà nhóm QAnon phát tán có thể kể đến như: họ cho rằng nước Mỹ đang bị cai trị bởi một “tổ chức tội phạm” bao gồm các cựu tổng thống Bill Clinton và Barack Obama, tỷ phú George Soros và nhiều ngôi sao Hollywood khác nhau. Nhiều thông điệp của QAnon mang tính chất bài Do Thái và cực đoan cánh hữu. Trong số những người ủng hộ và tin theo nhóm QAnon, có khá nhiều người thuộc cánh hữu ủng hộ Tổng thống Mỹ đương nhiệm Donald Trump. Bởi vậy, họ đã tin vào những thuyết âm mưu vô căn cứ rằng trong nhiều thập kỷ qua, một “tổ chức tội phạm” đã thâu tóm và lãnh đạo nước Mỹ. Theo họ, Tổng thống Trump đang là mục tiêu chống phá của một âm mưu bí mật, song chính ông Trump là người được giới quân đội Mỹ cử ra làm tổng thống để điều tra, bắt giam và trừng trị “tổ chức tội phạm” trên. Xuất phát từ thuyết âm mưu này, các thành viên QAnon đã biến các mạng truyền thông xã hội trở thành "chiến trường" đả phá các đối thủ chính trị của Tổng thống Trump. Các hành động quá khích của các chủ tài khoản là thành viên của QAnon hiện không còn dừng ở phạm vi không gian mạng, mà đã trở thành một vấn nạn gây ảnh hưởng đến đời sống thực tế của nhiều người.
          Một dẫn chứng khác về sự nguy hiểm của việc lan truyền các thuyết âm mưu của nhóm QAnon là về nguồn gốc virus corona gây bệnh COVID-19 thời gian vừa qua. Những loại thuyết âm mưu và thông tin giả mạo liên quan đến dịch COVID-19 này đã gây ra những hệ lụy nghiêm trọng và tồi tệ không kém gì mức độ hủy diệt của con virus gây chết người này. Kể từ khi dịch bệnh này xuất hiện, QAnon tung tin lan tràn lan các thông tin sai sự thật về nguồn gốc của virus corona và cách để bảo vệ bản thân khỏi loại virus này. Những thuyết âm mưu liên quan đến virus corona được lan truyền trên mạng có thể kể đến như: virus corona thuộc sở hữu của Bill Gates và được phát tán vì những mục đích đáng ghê tởm; hay khuyên mọi người uống chất tẩy trắng để diệt virus corona; hay thuốc trị sốt rét hydroxychloroquine là "thuốc chữa" COVID-19 và khẩu trang hoàn toàn không cần thiết; hoặc cho rằng virus corona là một vũ khí sinh học…

Facebook thẳng tay thanh trừng

Đến ngày 19/8, Facebook cho biết mạng xã hội này đã xóa 790 nhóm QAnon, hạn chế 1/950 nhóm, 440 trang và hơn 10.000 tài khoản liên quan tới các thuyết cực hữu. Đây là hành động mạnh mẽ nhất của Facebook đối với các nhóm cực đoan trên mạng.

Tuy nhiên, có thể thấy, với nền tảng “dễ dãi”, Facebook vô hình chung đã “nuôi dưỡng” QAnon phát triển một cách nhanh chóng, dẫn đến những hệ lụy nguy hiểm vô cùng trong thực tế xã hội. Việc Facebook gỡ bỏ và cấm tuyệt đối các nhóm QAnon có thể nói là hơi muộn màng, nhưng ít ra Facebook cũng đã biết nhận ra tác hại của các nguồn tin giả, tin thất thiệt trên mạng xã hội gây ra.

Hơn nữa, các nhóm tung tin, lan truyền tin giả trên mạng xã hội không chỉ có QAnon, đặc biệt hiện nay có rất nhiều nhóm phản động, cực đoan thường xuyên phát tán thông tin sai lệch nhằm phá hoạt an ninh chính trị xã hội của các nước, Facebook cần phải có chiến lược hoạt động mạnh tay hơn nữa, loại bỏ tất cả các nhóm, tài khoản, trang… hoạt động núp bóng trên nền tảng Facebook kiểu này, để tạo ra một mạng xã hội sạch, góp phần vào việc duy trì sự ổn định xã hội của toàn thế giới.

KIẾN TẠO CHÍNH SÁCH NHẰM CHỦ ĐỘNG THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

 Đồng bằng sông Cửu Long đã và đang phải đối mặt với nhiều thách thức rất lớn, trong đó có biến đổi khí hậu. Biến đổi khí hậu tác động đến tất cả các ngành, lĩnh vực, thành phần kinh tế, đặc biệt là sinh kế của cộng đồng dân cư nông thôn. Việc xây dựng hệ giải pháp nhằm kiến tạo tầm nhìn dài hạn, bền vững, phù hợp để thích ứng với những biến đổi khí hậu là vô cùng quan trọng và cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.

TS. HÀ HUY NGỌC - TS. TRẦN THỊ TUYẾT

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc thị sát điểm sạt lở tại xã Tân Thành, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang, tháng 9-2019_Ảnh: TTXVN

Chính sách thích ứng với biến đổi khí hậu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn từ cuối năm 2015 đến tháng 2-2020, các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long đã hứng chịu các đợt hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng. Đợt hạn hán, xâm nhập mặn niên vụ năm 2015 - 2016, tính đến tháng 6-2016, có 13/13 địa phương trong vùng đã ban hành quyết định công bố bị thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn trên địa bàn. Hạn hán, xâm nhập mặn đã làm cho khoảng 139.000 ha lúa của vùng bị thiệt hại; hơn 50% diện tích bị mất trắng, trong đó các tỉnh có diện tích lúa bị thiệt hại nhiều nhất là Cà Mau, Kiên Giang, Bến Tre, Bạc Liêu... Hạn hán, xâm nhập mặn cũng làm cho khoảng 400.000 hộ với khoảng 1,5 triệu nhân khẩu bị thiếu nước sinh hoạt... Ước tính tổng thiệt hại của toàn vùng trong đợt hạn hán, xâm nhập mặn 2015 - 2016 khoảng 7.520 tỷ đồng.

Cũng theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài nguyên và Môi trường, hạn hán, xâm nhập mặn niên vụ 2019 - 2020 còn khốc liệt hơn vì đến sớm hơn thường lệ, bắt đầu xuất hiện từ cuối tháng 11-2019 (trong điều kiện bình thường là vào tháng 1-2020). Tính đến tháng 3-2020, có những địa phương đã bị xâm nhập mặn vào sâu tới 70km - 90km, như ở các tỉnh Bến Tre, Long An, Tiền Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, Trà Vinh, Hậu Giang... Hạn hán, xâm nhập mặn niên vụ 2019 - 2020 làm khoảng 100.000ha lúa, 130.000ha cây ăn trái trong vùng bị ảnh hưởng. Ngoài ra, có khoảng 100.000 hộ dân bị thiếu nước sinh hoạt, ước tính thiệt hại về kinh tế sẽ còn vượt qua đợt hạn hán, xâm nhập mặn 2015 - 2016 (ước tính khoảng gần 8.000 tỷ đồng)(1).

Mặt khác, báo cáo của Tổng cục Thủy lợi còn cho thấy, trong giai đoạn 2016 - 2020 khu vực đồng bằng sông Cửu Long còn tiếp tục phải hứng chịu những đợt sạt lở bờ sông, bờ biển với tần suất và quy mô lớn chưa từng có trong lịch sử phát triển của khu vực. Sạt lở đã uy hiếp trực tiếp đến tính mạng, tài sản của nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự an toàn của các công trình thủy lợi và kết cấu hạ tầng vùng ven biển, làm suy thoái nguồn vốn tự nhiên. Tổng thiệt hại do sạt lở bờ sông, bờ biển ở các địa phương tính đến hết tháng 2-2020 vào khoảng gần 3.000 tỷ đồng. Mức độ thiệt hại do thiên tai, biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng trong giai đoạn 2010 - 2020, với tổng thiệt hại lên đến hơn 22.000 tỷ đồng.

Trước tình hình cấp bách đó, nhiều chính sách trực tiếp và gián tiếp được ban hành:

Một là, nhóm chính sách liên quan đến quy hoạch, kế hoạch phát triển vùng và hạ tầng có lồng ghép thích ứng với biến đổi khí hậu.

Tính đến tháng 12-2018, khoảng hơn 2.500 quy hoạch được lập cho vùng đồng bằng sông Cửu Long có lồng ghép trực tiếp và gián tiếp vấn đề ứng phó với biến đổi khí hậu. Trong đó, riêng cấp vùng có 22 quy hoạch. Quyết định số 1397/QĐ-TTg, ngày 25-9-2012, của Thủ tướng Chính phủ, Phê duyệt Quy hoạch thủy lợi đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2012 - 2020 và định hướng đến năm 2050 trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng đặc biệt nhấn mạnh quan điểm kết hợp hài hòa giữa giải pháp công trình và phi công trình, hạn chế lũ lụt và xâm nhập mặn trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng và đã đưa ra các giải pháp, như kiểm soát mặn, giải quyết mâu thuẫn giữa vùng nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng sản xuất nông nghiệp của các tỉnh Kiên Giang, Hậu Giang và Bạc Liêu thuộc lưu vực sông Cái Lớn - Cái Bé; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tạo nguồn nước ngọt cho vùng ven biển để giải quyết tình trạng thiếu nước ngọt vào mùa khô; tăng cường khả năng thoát lũ, tiêu úng, tiêu chua cải tạo đất phèn. Để triển khai Quyết định này, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 498/QĐ/TTg, ngày 17-4-2017, về Phê duyệt chủ trương đầu tư dự án Hệ thống Thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé giai đoạn 1. Bên cạnh đó, Chính phủ phê duyệt Dự án Phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2013 - 2020, theo đó, vùng đồng bằng sông Cửu Long có 12 đô thị được Chính phủ hỗ trợ xây dựng kịch bản đánh giá tác động, nâng cao năng lực ứng phó và xây dựng quy hoạch đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Tiếp đó, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 68/QĐ-TTg, ngày 15-1-2018, về Phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, với mục tiêu phát triển không gian của hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long theo hướng tăng trưởng xanh, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Chuẩn bị mạ trong mô hình canh tác lúa thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu tại tỉnh Trà Vinh_Ảnh: TTXVN

Hai là, nhóm chính sách liên quan đến liên kết vùng, tiểu vùng sinh thái xã hội trong thích ứng với biến đổi khí hậu.

Quyết định số 639/QĐ-BNN-KH, ngày 2-4-2014, của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, về Phê duyệt Quy hoạch nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trong điều kiện biến đổi khí hậu đã nhấn mạnh quy hoạch nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long trên cơ sở đổi mới tư duy, cách tiếp cận thị trường; khai thác, phát huy lợi thế của vùng và địa phương để phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; tạo sự liên kết sản xuất, xây dựng các vùng sản xuất chuyên canh, cánh đồng lớn; ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học - công nghệ trong sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, trong bối cảnh ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu.

Để cụ thể hóa cơ chế pháp lý cho liên kết vùng ở đồng bằng sông Cửu Long, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 593/QĐ-TTg, ngày 6-4-2016, về việc Ban hành Quy chế thí điểm liên kết phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2016 - 2020, trong đó chú trọng đến nội dung liên kết vùng trong ứng phó với biến đổi khí hậu, như đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống thủy lợi phục vụ tưới tiêu, phòng, chống lũ, kiểm soát xâm nhập mặn; quản lý, khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước, nâng cao hiệu quả sử dụng nước cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản trong mùa khô; xây dựng, nâng cấp hệ thống đê biển, đê bao, cống, đập, vành đai rừng ngập mặn và các dự án bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu... Nhằm triển khai Quyết định trên, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định số 2220/QĐ-TTg, ngày 17-11-2016, về việc ban hành Kế hoạch triển khai Quyết định 593/QĐ-TTg, đưa ra kế hoạch hành động liên kết vùng nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, gồm kế hoạch quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước nhằm mục tiêu kiểm soát lũ, kiểm soát mặn, tăng cường khả năng lưu chứa nước ngọt của vùng; kế hoạch trồng rừng ngập mặn, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, kế hoạch bảo vệ, chăm sóc rừng. Tiếp tục thúc đẩy thực hiện Quyết định 593/QĐ-TTg, tại các địa phương, Chính phủ đã thành lập Tổ chỉ đạo liên ngành về liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long. Kể từ khi Quyết định số 593/QĐ-TTg được ban hành, một số địa phương trong vùng đã tích cực xây dựng các đề án liên kết phát triển bền vững dựa trên các tiểu vùng sinh thái - xã hội, điển hình là tiểu vùng Đồng Tháp Mười, tiểu vùng duyên hải phía Đông, tiểu vùng tứ giác Long Xuyên, tiểu vùng bán đảo Cà Mau; đề xuất các tuyến lĩnh vực mà các địa phương có thể liên kết, như liên kết về quy hoạch, không gian phát triển; liên kết về sản xuất, xúc tiến thương mại nông nghiệp, thủy sản; liên kết về phát triển du lịch; liên kết về quản lý nguồn nước, bảo vệ môi trường, đáp ứng đa mục tiêu và thích ứng với biến đổi khí hậu; liên kết thiết lập hệ thống thông tin vùng; liên kết xây dựng thể chế chính sách cho tiểu vùng.

Nhờ chủ động đẩy sớm lịch xuống giống, vụ lúa đông xuân 2019 - 2020, vùng đồng bằng sông Cửu Long thắng lợi toàn diện dù hạn mặn khốc liệt hơn kỷ lục năm 2015 - 2016 (Trong ảnh: Thu hoạch vụ lúa đông xuân 2019 - 2020 ở huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang)_Ảnh: TTXVN

Ba là, nhóm chính sách mang tính tổng hợp, liên ngành nhằm phát triển bền vững.

Để phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh biến đổi khí hậu và ứng phó với các thách thức từ sự phát triển nội tại của vùng và khu vực thượng nguồn, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 120/NQ-CP, ngày 17-11-2017, về Phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu. Nghị quyết đề ra các chủ trương mang tính chiến lược, như mô hình phát triển phải lấy con người làm trung tâm; xác định biến đổi khí hậu và nước biển dâng là xu hướng tất yếu, phải sống chung và thích nghi, lấy tài nguyên nước là cốt lõi, cơ sở cho việc hoạch định chiến lược phát triển vùng; việc chuyển đổi mô hình phải dựa trên hệ sinh thái, tôn trọng các quy luật tự nhiên; tiếp cận tổng hợp, theo hướng tích hợp tổng thể kinh tế - xã hội toàn vùng, tăng cường liên kết giữa các địa phương trong vùng; mọi hoạt động đầu tư phải được điều phối thống nhất, bảo đảm tính liên vùng, liên ngành, có trọng tâm, trọng điểm. Sự ra đời của Nghị quyết số 120/NQ-CP đã góp phần kiến tạo một tầm nhìn phát triển dài hạn, bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long, dựa trên nguyên tắc tôn trọng các giá trị sinh thái tự nhiên, con người của vùng. Đồng thời, để hiện thực hóa Nghị quyết, một số bộ cũng ban hành kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết này, điển hình là Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Tiếp đến, để thực hiện Chương trình hành động tổng thể thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP, tính đến tháng 2-2020 đã có 13/13 tỉnh, thành phố của vùng xây dựng các kế hoạch, đề xuất danh mục nhiệm vụ của các địa phương gửi cho Bộ Tài nguyên và Môi trường để tổng hợp, đưa vào Chương trình hành động tổng thể, ban hành Kế hoạch hành động của địa phương thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP. Trên cơ sở danh mục các nhiệm vụ do các bộ và địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long đề xuất, Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động tổng thể thực hiện Nghị quyết 120/NQ-CP, với 55 đề án, chương trình, dự án, nhiệm vụ ưu tiên, cấp bách cần thực hiện ở 13 địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Bốn là, hoạt động triển khai chính sách thích ứng với biến đổi khí hậu.

Theo báo cáo của Cục Biến đổi khí hậu, trong giai đoạn 2011 - 2020, Chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu đã có 18 dự án do bộ/ngành chủ trì được thực hiện trên địa bàn vùng đồng bằng sông Cửu Long với kinh phí hơn 3.476 tỷ đồng; có 37 dự án do địa phương chủ trì với tổng kinh phí thực hiện hơn 2.560 tỷ đồng. Bên cạnh đó, Chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu đã có 7/16 dự án được thực hiện với kinh phí được cấp hơn 2.301 tỷ đồng; Chương trình Biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh giai đoạn 2016 - 2020 hỗ trợ 1.500 tỷ đồng cho các địa phương ứng phó với sạt lở bờ sông, bờ biển... Trong giai đoạn 2011 - 2020, vùng đã huy động được tổng số khoảng hơn 13.000 tỷ đồng cho các chương trình, dự án, nhiệm vụ ứng phó với biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) từ các tổ chức, như Ngân hàng Thế giới (WB), Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Tổ chức Phát triển quốc tế Đức, Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ, Cơ quan Phát triển quốc tế Ô-xtrây-li-a,... hỗ trợ các dự án liên quan đến ứng phó với biến đổi khí hậu cho vùng đồng bằng sông Cửu Long khoảng hơn 764 triệu USD.

Những bất cập, hạn chế của chính sách thích ứng với biến đổi khí hậu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long

Các chính sách nêu trên được triển khai ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đã góp phần tăng thu nhập, tạo sinh kế bền vững và thích ứng tốt với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, vẫn còn những bất cập, hạn chế như sau:

Thứ nhất, các chính sách liên quan đến thích ứng với biến đổi khí hậu hiện hành có nhiều mục tiêu chính sách chồng chéo, thiếu đồng bộ. Ví dụ, hiện các Chương trình Mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu, Chương trình Giảm nhẹ và phòng chống thiên tai, Chiến lược tăng trưởng xanh, Chiến lược Bảo vệ môi trường, Chiến lược Phát triển bền vững,... có nhiều điểm chưa thống nhất, mục tiêu trùng nhau, làm địa phương gặp khó khăn trong thực hiện và báo cáo.

Thứ hai, tư duy ưu tiên chọn giải pháp công trình ở các bộ, ngành và địa phương của vùng vẫn nặng hơn các chọn lựa giải pháp phi công trình. Dù Nghị quyết số 120/NQ-CP đã xác định 3 trụ cột ưu tiên trong sản xuất nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long là thủy sản; trái cây; lúa, gạo, thì nguồn lực tài chính vẫn tập trung nhiều cho hệ thống công trình thủy lợi phục vụ mục tiêu thoát lũ, ngăn mặn, duy trì canh tác lúa.

Thứ ba, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể khái niệm “chủ động thích ứng”, do đó, phải có công trình thì mới chủ động thích ứng được. Các chương trình, dự án về ứng phó với biến đổi khí hậu ở vùng trong thời gian qua hầu hết được thiết kế tập trung vào lĩnh vực giải pháp công trình hạ tầng thủy lợi. Chưa chú trọng dành nguồn lực cho giải pháp phi công trình, giải pháp công nghệ; năng lượng tái tạo; thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào hệ sinh thái, bảo vệ rừng ngập mặn; mô hình sinh kế bền vững cho cộng đồng...

Thứ tư, hiện nay, việc phân bổ ngân sách của các dự án biến đổi khí hậu cho các địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long vẫn theo hình thức kế hoạch hóa, địa phương lập kế hoạch nhu cầu dự án và ngân sách gửi Chính phủ tổng hợp, cân đối nguồn và trình Quốc hội phê chuẩn kế hoạch đầu tư công trung hạn của địa phương. Hình thức phân bổ như vậy khiến cho một số dự án biến đổi khí hậu cấp bách đang cần vốn đầu tư để thực hiện nhưng phải tuân thủ quy trình lập kế hoạch đầu tư công mất rất nhiều thời gian; làm cho dự án thiếu tính kịp thời, địa phương thiếu chủ động trong ứng phó với tình hình.

Thứ năm, biến đổi khí hậu có ảnh hưởng trên diện rộng, tác động mang tính liên tỉnh, liên vùng. Tuy nhiên, các chương trình, dự án thích ứng trong thời gian qua chủ yếu được xây dựng và thực hiện cục bộ, manh mún theo ranh giới hành chính, thiếu liên kết, chia sẻ về mặt thông tin giữa các địa phương trong quá trình lập dự án đầu tư công, cơ chế giải quyết các vấn đề liên ngành, liên vùng còn bất cập nên nguồn lực bị phân tán, dàn trải và hiệu quả không cao.

Thứ sáu, chưa thu hút được sự tham gia của khu vực tư nhân trong ứng phó với biến đổi khí hậu. Hiện các văn bản pháp lý đã đề cập đến vai trò của khu vực tư nhân và thúc đẩy sự tham gia của giới doanh nghiệp trong nhiệm vụ thích ứng với biến đổi khí hậu, song lại thiếu cơ chế hỗ trợ để khuyến khích họ tham gia từ việc xây dựng chính sách đến triển khai thực hiện.

Một số kiến nghị nhằm kiến tạo chính sách chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long

Một là, kiến nghị Ban Kinh tế Trung ương nghiên cứu, tham mưu cho Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, xây dựng ban hành nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long phù hợp với bối cảnh phát triển mới. Về dài hạn, cần  nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới đã ban hành Luật Đồng bằng để xây dựng Luật về đồng bằng sông Cửu Long, nhằm tăng cường cơ sở pháp lý cho sự phát triển bền vững.

Hai là, Chính phủ đã đưa ra chiến lược xoay trục phát triển nông nghiệp của vùng từ “lúa gạo - trái cây - thủy sản” sang “thủy sản  - trái cây - lúa gạo”. Do vậy, các chính sách phát triển cho vùng giai đoạn 2021 - 2030 cần được thiết kế để chủ trương xoay trục diễn ra thành công và góp phần chuyển các thách thức, nguy cơ thành cơ hội để phát triển bền vững. Trong giai đoạn 2021 - 2030 và xa hơn, Nhà nước vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc kiến tạo các chính sách cụ thể, phù hợp, tăng cường sử dụng các công cụ dựa vào nguyên tắc của thị trường, và mang tính linh hoạt, hướng nhiều hơn đến nhóm cộng đồng dân cư, doanh nghiệp để tăng cường năng lực chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Mô hình sản xuất tôm - lúa thích ứng với biến đổi khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long_Nguồn: sggp.org.vn

Ba là, cần sớm xây dựng và ban hành quy hoạch tổng thể phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo phương pháp tích hợp, đa ngành. Trên cơ sở quy hoạch chung, sẽ rà soát, điều chỉnh, xây dựng mới các quy hoạch vùng, quy hoạch ngành, các chương trình, dự án mang tính tổng thể, liên ngành, liên vùng.

Bốn là, hoàn thiện thể chế điều phối vùng trong thích ứng với biến đổi khí hậu. Cần sớm nghiên cứu thành lập hội đồng điều phối vùng nhằm tạo sức mạnh tổng hợp, liên kết chuỗi chặt chẽ trong sự phát triển bền vững của vùng. Mô hình quản lý này sẽ có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, kinh phí để nắm vai trò ra quyết định cho quá trình phát triển của khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu đề xuất thành lập hội đồng ủy ban để xét duyệt các dự án thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống biến đổi khí hậu dựa trên tiêu chí tổng hợp, liên ngành, liên vùng. Xây dựng các tiêu chí ưu tiên để lựa chọn các dự án thuộc Chương trình thích ứng với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh giai đoạn 2016 - 2020, Chương trình thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP; đồng thời, ban hành quy chế tài chính giải ngân vốn của dự án thuộc Chương trình biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh, Chương trình thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP ở đồng bằng sông Cửu Long để các địa phương chủ động và đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn cho các dự án cấp bách thực hiện.

Năm là, xem xét thành lập quỹ phát triển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long, có cơ chế quản lý hoạt động rõ ràng, để huy động nguồn vốn cấp bách, dành riêng cho phát triển bền vững gắn với  biến đổi khí hậu, phù hợp với các nguyên tắc chung về quản lý tài chính.

Sáu là, tăng cường vai trò tham gia của khu vực tư nhân trong thích ứng với biến đổi khí hậu. Nghiên cứu xây dựng cơ chế thí điểm phương thức phí dịch vụ thủy lợi ở một số vùng chuyên canh lúa, thủy sản có quy mô lớn phục vụ xuất khẩu tại một số tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long. Ở các vùng tập trung sản xuất có quy mô lớn, ủy ban nhân dân tỉnh cần lựa chọn danh mục các công trình hồ chứa thủy lợi quy mô lớn, hồ chứa đa mục tiêu, tuyến đê biển, đê sông xung yếu, để thí điểm mô hình đầu tư theo phương thức hợp tác công - tư./.


Theo: tapchicongsan.org.vn/

SỰ THẬT VỀ GÓP Ý KIẾN VÀO VĂN KIỆN ĐẠI HỘI LẦN THỨ XIII CỦA ĐẢNG CỦA NHỮNG KẺ “NHÀN VI CƯ BẤT THIỆN”

 

SỰ THẬT VỀ GÓP Ý VÀO VĂN KIỆN ĐẠI HỘI LẦN THỨ XIII CỦA ĐẢNG

CỦA NHỮNG KẺ “NHÀN VI CƯ BẤT THIỆN”

Chẳng biết trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, câu thành ngữ “Nhàn vi cư bất thiện” xuất hiện từ khi nào, song mỗi khi nhắc đến câu này thì ai cũng hiểu. Cụ thể, câu này có nghĩa là với bất kỳ ai, nếu cứ ăn rồi ngồi chơi ở nhà sẽ gây ra những điều không tốt đẹp. Nói cách khác là nếu một khi bạn không có việc gì làm sẽ dễ sinh ra những hành động xấu, hoặc có thể hiểu là bạn đã sống nhàn hạ lâu ngày không có việc gì để làm sẽ dễ sinh ra những thói quen xấu, hành động không đúng chuẩn mực… Và từ những hành động sai trái đó sẽ dẫn đến những hệ lụy không thể tưởng tượng được cho xã hội. Với ai thì chưa biết như thế nào, song với Nguyễn Đình Cống thì câu thành ngữ trên chẳng hề sai một chút nào. Bởi gần đây, trên mạng xã hội đã có không ít người gọi ông ta là lão già “nhàn cư vi bất thiện”. Vậy Nguyễn Đình Cống là ai mà để thiên hạ khinh khi đến vậy?

Nguyễn Đình Cống sinh năm 1937, nghỉ hưu năm 1999. Năm 1985, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đảng bộ Trường đại học Xây dựng. Ông là một trong những kỹ sư đầu tiên ở Việt Nam chuyên nghiên cứu về bê tông và các lĩnh vực khác trong xây dựng. Được sinh ra và lớn lên dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, những năm đất nước còn khó khăn, trong khi lớp lớp thanh niên đều ra chiến trường, với biết bao hy sinh xương máu, không tiếc thân mình vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, thì Nguyễn Đình Cống được Đảng, Nhà nước ưu ái tạo điều kiện cho đi ăn học ở Liên Xô. Trong suốt những năm công tác trong ngành xây dựng, ông ta đã có nhiều đóng góp cho việc nghiên cứu, giảng dạy, đào tạo trong lĩnh vực xây dựng tại Trường đại học Xây dựng. Thế nhưng sau khi về hưu, ông đã có những bài viết trên trang cá nhân núp dưới cái bóng là phản biện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để chỉ trích những điều mà ông cho là sai lầm của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Chưa hết, thời gian gần đây, ông ta còn ngông cuồng viết bài kêu gọi thực hiện đa nguyên, đa đảng và dân chủ kiểu phương Tây. Thậm chí, ông ta còn ngang nhiên công khai đưa ra những quan điểm sai trái, xuyên tạc, phản động, chống đối Đảng và Nhà nước. 

Lý do vì đâu mà ông ta không an phận với những gì Đảng, Nhà nước đã ưu ái mà quay ra phản bội lại lý tưởng một thời mình theo đuổi, phản bội lại chính tổ chức đã nuôi dưỡng và trao cho ông ta tất cả vinh quang trong cuộc đời. Câu trả lời là chính sự suy thoái về nhận thức đã dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong chính con người ông ta. Bên cạnh đó, vì những ích kỷ cá nhân và cả sự xúi giục của những kẻ xấu đã dẫn ông ta tới chỗ làm những điều hại nước, hại dân;… phản bội lại chính bản thân mình. Việc ông ta cố tình “công khai tuyên bố” rời bỏ lý tưởng mà mấy chục năm phấn đấu là việc riêng của cá nhân và rất nhiều người, trong đó có không ít học trò cũ không cần quan tâm. Nhưng việc ông ta ngang nhiên công khai đưa ra những quan điểm sai trái, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước thì đó là một tội lỗi còn trên cả sự tha hóa, suy thoái của cá nhân. Bởi đó là thái độ, là hành vi vong ơn, bội nghĩa đối với đất nước, dân tộc, với chế độ xã hội chủ nghĩa và hoàn toàn trái với đạo lý, truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta “ăn quả nhớ người trồng cây”. Điều đáng giận hơn là Nguyễn Đình Cống đã nối giáo cho những kẻ phản động để chống phá Tổ quốc.

Bằng chứng là mới đây, trên facebook của mình, ông ta khoe rằng: “Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đến nay còn là tài liệu mật, nhưng vô tình tôi có được một bộ và thế là tôi viết bài phản biện”. Trong khi đó, các tiểu ban phục vụ đại hội vẫn đang họp, thảo luận để tham gia xây dựng từng phần nội dung dự thảo, không hiểu ở đâu mà ông ta lại có được bản hoàn chỉnh “Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam” để đem ra khoe rồi nói nhăng, nói cuội? Không những lố bịch và khôi hài như thế, mà ông ta còn thể hiện rõ sự thiếu hiểu biết về công tác đảng. Bằng chứng là ông ta đã thể hiện trên facebook của mình rằng: phần mở đầu báo cáo viết: “Đại hội XIII có ý nghĩa đặc biệt quan trọng”. Và ông ta đã lộng ngôn đưa ra nhận định: “Ý này thừa. Thừa vì ai chẳng biết Đại hội Đảng lần nào mà chẳng quan trọng. Lần này “đặc biệt quan trọng”, nó đặc biệt ở chỗ nào? Có cái gì động trời sắp xảy ra chăng”? Chưa hết, ông ta còn cho rằng: Trong Báo cáo viết… “Đại hội có nhiệm vụ kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XII”. Và ông ta cho rằng ý này hoặc thừa hoặc thiếu, thừa vì đại hội nào mà chẳng kiểm điểm... việc này mọi người đều biết rõ”…

Sau khi phản bác tất cả phần chủ đề, phương châm của đại hội trong cái gọi là “Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam”, ông ta xoay sang phân tích chữ nghĩa theo kiểu dạy ngữ pháp cho học trò phổ thông. Bằng chứng là về nội dung “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị”, ông ta đã lý sự cùn như sau: “Xây dựng là làm ra cái gì đó trước chưa có. Chỉnh đốn là sửa sang, sắp đặt lại thứ đã có. Mấy từ “trong sạch, vững mạnh” đóng vai trò ngữ pháp như thế nào? Phải chăng nó là tính từ bổ nghĩa cho hệ thống chính trị? Vấn đề ở đây là không phải xây dựng hệ thống từ đầu mà hệ thống có sẵn nhưng chưa được trong sạch, chưa được vững mạnh… có thể hiểu là một hệ thống khác với hệ thống đang tồn tại”… Về ý “đẩy mạnh đổi mới, sáng tạo”, từ sáng tạo ở đây đóng vai trò ngữ pháp nào? Nó làm danh từ bổ ngữ cho động từ đổi mới hay làm trạng từ? Ý này chứng tỏ tư duy mơ hồ. Người ta nghiện từ đổi mới, nên dùng nó bừa bãi…”.

Lịch sử 90 năm của Đảng đã chứng minh: Sau mỗi kỳ đại hội, cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến lên, giành thắng lợi mới, đất nước tiếp tục phát triển, đời sống nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc. Và trong bối cảnh cả thế giới đang lao đao vì đại dịch Covid-19, nhưng Ngân hàng Thế giới (WB) vẫn cho rằng: Việt Nam sẽ là một trong những nền kinh tế sôi động nhất thế giới. Cũng theo WB, Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng GDP trung bình nhanh nhất thế giới và sẽ là nền kinh tế lớn thứ 30 toàn cầu vào năm 2030. Việt Nam cũng là quốc gia có tốc độ tăng tài sản nhanh nhất 210% và xóa đói giảm nghèo thành công nhất, từ 57% năm 1990 đến năm 2019 chỉ còn dưới 4%. Việt Nam cũng được đánh giá là quốc gia an toàn nhất thế giới 5 năm liên tục, là đất nước không có khủng bố thứ 1 thế giới, xếp thứ 5 trong số các quốc gia hạnh phúc nhất thế giới.

Nếu văn kiện đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ là “tư duy mơ hồ, sự dối trá, bịa đặt, ảo tưởng, giáo điều”… như ông ta nói thì đất nước có đạt được những thành tựu như ngày hôm nay không? Đến đây đã rõ động cơ thật sự của cái gọi là “phản biện”, “góp ý” của ông ta chỉ là bức màn che đậy cho âm mưu thâm độc là chọc ngoáy, chống phá rồi đi đến bác bỏ các chủ trương, đường lối, vai trò và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

 

THỐNG NHẤT NHẬN THỨC VÀ QUYẾT TÂM CHÍNH TRỊ ĐỂ TỔ CHỨC THÀNH CÔNG ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP TRONG QUÂN ĐỘI

 

THỐNG NHẤT NHẬN THỨC VÀ QUYẾT TÂM CHÍNH TRỊ ĐỂ TỔ CHỨC THÀNH CÔNG ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP TRONG QUÂN ĐỘI

Tính đến ngày 14-9-2020, tất cả các đảng bộ trực thuộc Quân ủy Trung ương đã tổ chức thành công đại hội nhiệm kỳ 2020-2025; Thành công đó có thể hiện rõ công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Thường vụ Quân ủy Trung ương và Quân ủy Trung ương đối với công tác chuẩn bị, tiến hành đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI.

Để Đại hội Đảng bộ các cấp trong Quân đội nhất là Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI thành công tốt đẹp thì trước đó phải tiến hành làm tốt công tác chuẩn bị với rất nhiều nội dung, công việc; trong đó, chuẩn bị về tư tưởng được Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng xác định là nội dung quan trọng hàng đầu của các cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị. Việc sớm thống nhất nhận thức, đồng thuận về ý chí và quyết tâm hành động được xem là những thành công có tính chất nền tảng để tiến hành các bước tiếp theo của công tác chuẩn bị đại hội. Nhận thức rõ vấn đề đó, nên ngay trong công tác chuẩn bị đại hội các cấp đã lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác này. Công tác chuẩn bị đại hội các cấp nhiệm kỳ 2020-2025 trong đảng bộ quân đội không chỉ được “khởi xướng” khi có những chủ trương, giải pháp của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương được ban hành bằng văn bản, mà công tác này được định hướng ngay trong hệ thống các quan điểm, chủ trương lãnh đạo, thể hiện rõ nét và được cụ thể hóa ở các hội nghị của Thường vụ Quân ủy Trung ương, Quân ủy Trung ương từ giữa nhiệm kỳ 2015-2020. Trên cơ sở nhận thức đầy đủ về vị trí, ý nghĩa của đại hội đảng, ngay từ cuối năm 2018 các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị đã nhiều lần chỉ đạo, nhắc nhở phải làm sao thực hiện tốt nhất ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương, là: Đại hội đảng các cấp trong quân đội, nhất là Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI phải là đại hội tiêu biểu, mẫu mực nhất của cấp trực thuộc Trung ương về tổ chức và tiến hành đại hội. Đó chính là một cách mà lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị tiến hành công tác tư tưởng, đả thông nhận thức, khơi mở tư duy cho cán bộ, đảng viên và mọi đối tượng về vai trò, vị trí của công tác chuẩn bị đại hội đảng các cấp.

Với những bước triển khai chủ động từ sớm, từ trước, nên khi có Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Hướng dẫn số 26-HD/BTCTW ngày 18-10-2019 của Ban Tổ chức Trung ương về một số nội dung Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị, cùng nhiều văn bản chỉ đạo khác của Trung ương, tập thể Quân ủy Trung ương và các đảng bộ trực thuộc Quân ủy Trung ương, đảng bộ trên cơ sở, thậm chí cả tổ chức đảng cơ sở, đều tổ chức hội nghị quán triệt, học tập tập trung ở cấp mình. Cán bộ chủ trì các cấp tích cực học tập, nghiên cứu, trực tiếp thực hiện sứ mệnh là “giảng viên” quán triệt tư tưởng, nội dung, mục đích, yêu cầu... chuẩn bị và tiến hành đại hội đảng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong toàn đảng bộ, cũng như cán bộ, chiến sĩ ở cơ quan, đơn vị trực thuộc.

Chính nhờ đó, đến khoảng giữa tháng 1-2020, các tổ chức đảng cơ sở trong toàn Đảng bộ Quân đội về cơ bản đã hoàn thành công tác chuẩn bị, sẵn sàng tổ chức đại hội đảng theo kế hoạch. Dù dịch Covid-19 ảnh hưởng lớn đến mọi mặt đời sống xã hội và hoạt động quân sự, nhưng các khâu, các bước chuẩn bị cho đại hội; nhất là công tác nhân sự các cấp vẫn được tiến hành chặt chẽ, đảm bảo quy trình; các vấn đề, nội dung chuẩn bị cho dự thảo văn kiện đại hội ở mỗi cấp được phân công đến mọi tổ chức, đơn vị, đầu mối ngành, lĩnh vực ở mỗi cấp để tiến hành. Nhờ cách làm đó, 100% cán bộ, đảng viên, quần chúng đều tích cực tham gia vào công tác chuẩn bị đại hội theo cương vị, chức trách; đồng thời, bày tỏ tin tưởng vào thành công của đại hội đảng nhiệm kỳ mới ở tất cả các cấp./.

KỶ NIỆM 66 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG THỦ ĐÔ – NHÌN LẠI HÀNH TRÌNH GIAN KHÓ NHƯNG RẤT ĐÁNG TỰ HÀO

 

Mùa thu Hà Nội có lẽ là mùa đẹp nhất trong năm đối với người dân thủ đô với những nét sắc thu rực rỡ đã đi vào những tác phẩm thơ văn và những ca khúc bất hủ. Những ngày thu Hà Nội cũng là những ngày cả nước hân hoan chào mừng những ngày kỉ niệm trọng đại của dân tộc: ngày Cách mạng tháng Tám, ngày Quốc khánh 2/9... và không thể nào quên một ngày vô cùng trọng đại đối với mỗi người Hà Nội - ngày giải phóng Thủ đô 10/10/1954, ngày đã đem lại một bước ngoặt lớn cho nhân dân Hà Nội nói riêng cũng như toàn dân tộc Việt Nam nói chung.

Hội nghị Giơ-ne-vơ kết thúc ngày 20/7/1954 cùng với việc thực dân Pháp chấp nhận phải rút hết quân khỏi Đông Dương. Tuy nhiên, trên thực tế, trong vòng 80 ngày sau đó, quân đội Pháp vẫn tiếp tục trụ lại trong thủ đô Hà Nội và vẫn ráo riết tổ chức các hoạt động phá hoại Thủ đô về mọi mặt. Trước tình hình đó, Đảng bộ và chính quyền Hà Nội đã lãnh đạo nhân dân Thủ đô đoàn kết đấu tranh đòi thi hành Hiệp định, bảo vệ Thành phố, bảo vệ xí nghiệp, công sở, tính mạng, tài sản của nhân dân, bảo vệ quyền lợi của công nhân, viên chức, chống địch phá hoại; đồng thời, đẩy mạnh phát triển lực lượng cách mạng trong Thành phố, phối hợp với các lực lượng từ chiến khu trở về tiếp quản Thủ đô.

Cuộc đấu tranh mạnh mẽ của quân và dân Hà Nội đã buộc Bộ Chỉ huy quân chiếm đóng Pháp chấp nhận rút khỏi Thành phố vào cuối tháng 9/1954. Ngày 08/10/1954, Ban Tiếp nhận Quân sự của ta triển khai ở 06 khu vực nội thành và huyện Gia Lâm, tiếp nhận bàn giao cơ quan và các vị trí quân sự. Bộ đội ta tiến vào Đê La Thành, Vĩnh Tuy, Ngã Tư Sở, Cầu Giấy, Nhật Tân và bố trí canh gác ở những vị trí cần thiết. Lực lượng tự vệ nhà máy cùng nhiều công nhân đến canh gác bảo vệ các nhà máy, xí nghiệp của mình. Trên các đường phố, cờ đỏ sao vàng, cổng chào và khẩu hiệu xuất hiện, hoan nghênh bộ đội và chính quyền cách mạng trở về Thủ đô. Địch rút đến đâu, ta tiếp quản đến đó. Đến 16 giờ ngày 09/10/1954, tốp lính Pháp cuối cùng rút khỏi cầu Long Biên sang Gia Lâm. Sáng ngày 10/10/1954, Đại đoàn 308, dẫn đầu là Trung đoàn Thủ đô tiến vào nội thành Hà Nội. Từ sáng sớm nhân dân Thủ đô đã tưng bừng mang theo cờ, hoa, ảnh Bác Hồ ra khắp các ngả đường chào đón bộ đội hành quân vào tiếp quản Thủ đô. Đúng 08 giờ sáng, cánh quân phía Tây xuất phát từ Quần Ngựa là những chiến sĩ của Trung đoàn Thủ đô, mang trên ngực huy hiệu “Chiến sĩ Điện Biên Phủ”, trở về với thành phố quê hương - nơi sinh ra Trung đoàn - đi qua Kim Mã, Nguyễn Thái Học, Cửa Nam, Hàng Bông, Hàng Đào, Hàng Ngang… đến 09 giờ 45 phút tiến vào Cửa Đông. Khoảng 08 giờ 45 phút, cánh quân phía Nam thuộc hai trung đoàn 88 và 36 xuất phát từ Việt Nam Học xá (nay thuộc Trường Đại học Bách khoa) đi qua Bạch Mai, phố Huế, vòng quanh Hồ Gươm rồi vòng lại vào đóng ở khu vực Đồn Thủy (nay là Bệnh viện Quân y 108) và khu Đấu Xảo (nay là Cung Văn hóa Hữu nghị). Riêng Đoàn Chỉ huy tiếp quản, gồm các lực lượng cơ giới, pháo binh do Chủ tịch Ủy ban Quân chính Vương Thừa Vũ và Phó Chủ tịch Trần Duy Hưng dẫn đầu, lúc 09 giờ 30 phút từ sân bay Bạch Mai đến Ngã Tư Vọng sang Ngã tư Trung Hiền rồi theo đường Bạch Mai lên phố Huế, Hàng Bài, Đồng Xuân, vào Cửa Bắc. Vào lúc 15 giờ, còi Nhà hát Lớn thành phố nổi một hồi dài, hàng chục vạn nhân dân Hà Nội và các đơn vị quân đội trang nghiêm dự Lễ chào cờ do Ủy ban Quân chính tổ chức tại Sân vận động Cột Cờ. Sau Lễ chào cờ, Thiếu tướng Vương Thừa Vũ trân trọng đọc Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào Thủ đô nhân ngày giải phóng.

Kể từ ngày Toàn quốc kháng chiến đến Ngày trở về giải phóng Thủ đô, quân và dân Hà Nội đã trải qua biết bao gian khổ, hy sinh, trải qua những chặng đường hành quân lịch sử, đã lập nên mốc son chói lọi làm nức lòng quân và dân cả nước. Ngày giải phóng Thủ đô mang một ý nghĩa lịch sử vô cùng đặc biệt đối với sự nghiệp kháng chiến của toàn dân tộc, không chỉ mang ý nghĩa giải phóng một thành phố thoát khỏi chế độ thực dân Pháp mà còn là giải phóng một cơ quan đầu não của dân tộc Việt Nam, giải phóng một lực lượng hậu phương hùng mạnh và vững chắc, tạo động lực mạnh mẽ để tiến tới giải phóng toàn bộ các thành phố khác, quét sạch hoàn toàn giặc Pháp ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Trong công cuộc kháng chiến lịch sử, Hà Nội luôn đi đầu với tinh thần tự lực, tự cường, luôn nêu cao tinh thần vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, cùng cả nước tích cực chiến đấu, sản xuất, thực hành tiết kiệm, trở thành hậu phương vững chắc cho tiền tuyến, luôn tích cực phối hợp với chiến trường cả nước để đi đến thắng lợi cuối cùng.

66 năm đã đi qua nhưng ngày giải phóng Thủ đô vẫn là một mốc son luôn rạng ngời trong trái tim mỗi người dân Hà Nội, để rồi đến ngày 10/10 hàng năm, Thủ đô Hà Nội lại ngập tràn cờ hoa, gợi nhắc lại những kỉ niệm tự hào về những ngày tháng hào hùng của dân tộc đã viết nên những trang sử vàng cho non song đất nước. 

 

 

TĐC

Mạo danh nhân quyền để chống phá Việt Nam

 

Thời gian gần đây, một số tổ chức phản động người Việt ở nước ngoài, nhất là “Ủy ban cứu người vượt biển” (BPSOS) gia tăng các hoạt động lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để chống phá Việt Nam. Trong đó, BPSOS liên kết 23 tổ chức nhân quyền tìm cách vận động Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính Mỹ áp dụng Luật Magnitsky toàn cầu đối với Việt Nam với cái cớ Việt Nam “leo thang vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo”, đồng thời kích động các hoạt động xuyên tạc, vu cáo chống phá trong nước, bất chấp việc Chính phủ và nhân dân Việt Nam đang chung sức đồng lòng chống dịch COVID-19 với những kết quả bước đầu được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Vậy đâu là mục đích thật sự của một tổ chức đội lốt nhân quyền để chống phá Đảng, Nhà nước do Nguyễn Đình Thắng cầm đầu?

“Ủy ban cứu người vượt biển - BPSOS” được thành lập vào năm 1980, có trụ sở chính tại Falls Church, Virginia, Mỹ. Dưới hình thức một tổ chức phi chính phủ chuyên thực hiện các hoạt động “đấu tranh” cho nền dân chủ ở Việt Nam, song hoạt động của BPSOS thể hiện rõ bản chất một tổ chức phản động lưu vong, thường xuyên cấu kết với tổ chức khủng bố “Việt Tân” của Đỗ Hoàng Điềm để thực hiện các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, cổ vũ, khích lệ số chống đối, cực đoan trong nước. BPSOS thường sử dụng hình thức hỗ trợ tài chính cho số bất mãn, vi phạm pháp luật trong nước để kích động tụ tập gây rối, phá hoại an ninh trật tự an toàn; lôi kéo các đối tượng tù tha có tư tưởng cực đoan chính trị; móc nối với số trong nước để cung cấp thông tin, hình ảnh vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền Việt Nam và vận động người Việt Nam ở nước ngoài, nghị sỹ Mỹ thiếu thiện chí tổ chức điều trần, hội luận vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, từ đó tạo cớ để vận động chính giới Mỹ và các nước phương Tây gây sức ép, can thiệp với Việt Nam.

Cầm đầu BPSOS là Nguyễn Đình Thắng. Trước năm 1975, Thắng từng học tại Trường Quốc gia hành chánh và làm Phó Quận trưởng hành chánh của chính quyền Sài Gòn. Tự gắn cho mình cái mác “tiến sỹ” nhằm lừa bịp cộng đồng người Việt ở nước ngoài nhưng thực chất Thắng không có thành tích gì nổi trội trong bất kỳ lĩnh vực nào mà chỉ nhờ vào “tiểu sử hoạt động” chống Cộng điên cuồng của mình. Vượt biên sang Mỹ vào năm 1979, Thắng tham gia một số tổ chức phản động như “Ủy ban Tự do tôn giáo cho Việt Nam” (CRFV), “Liên minh bài trừ nô lệ mới tại châu Á” (CAMSA) với vai trò cầm đầu các tổ chức này. Để đánh bóng tên tuổi của mình, Thắng rêu rao với cộng đồng người Việt ở Mỹ rằng bản thân “đau đáu” về Tổ quốc, luôn “bênh vực”, “bảo vệ” quyền lợi của người dân Việt Nam khỏi sự “đàn áp” của Đảng Cộng sản độc đoán. Ngoài Nguyễn Đình Thắng, Ban Lãnh đạo của BPSOS gồm: Đinh Ngọc Tuyết, Julia Phạm, Trọng Phạm, An Nguyễn. Đây đều là những nhân vật “có tiếng” trong cộng đồng người Việt ở Mỹ có tư tưởng hận thù “Cộng sản Việt Nam”, có lai lịch là con em của gia đình binh lính Việt Nam Cộng hòa nặng tư tưởng chống Cộng. Trong số này có thể kể đến Đinh Ngọc Tuyết, thành viên cốt cán của BPSOS đồng thời kiêm nhiệm vai trò đại diện ở hải ngoại của “Hội Phụ nữ nhân quyền Việt Nam” - một tổ chức đội lốt “xã hội dân sự” để tiến hành hoạt động chống phá tại Việt Nam. Đinh Ngọc Tuyết đã từng tổ chức đoàn làm việc với một số nghị sỹ Quốc hội Mỹ tại Capital Hill nhân dịp cái gọi là “sự kiện” do BPSOS khởi xướng mang tên “Ngày vận động cho nhân quyền Việt Nam”. Với một ban bệ như thế, việc tổ chức này thường xuyên tiến hành các hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam không có gì là lạ!

Núp bóng danh nghĩa một tổ chức NGO hoạt động “vì mục đích từ thiện, trợ giúp người tị nạn”, Nguyễn Đình Thắng và đồng bọn luôn tìm cách lợi dụng chính sách và quan tâm của Mỹ đối với Việt Nam trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, khai thác triệt để các vấn đề được dư luận quan tâm ở trong nước để thực hiện các hoạt động chống phá Việt Nam cả ở trong và ngoài nước, xuyên tạc chính sách đoàn kết dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước Việt Nam. Mục tiêu tập trung tiếp cận của Nguyễn Đình Thắng là sinh viên, trí thức trẻ người Việt tại Mỹ. Lợi dụng việc người trẻ có tâm lý thích tự khẳng định mình trong khi thiếu thông tin về tình hình thực tế tại Việt Nam, Nguyễn Đình Thắng cố tình khoét sâu một số vụ việc tiêu cực trong nước để lôi kéo người tham gia, đồng thời tổ chức các loại hội thảo, tập huấn, đào tạo… để gây khuếch trương thanh thế, tạo dựng niềm tin đối với số đang được lôi kéo. Thông qua “Viện nghiên cứu người Mỹ gốc Việt - VARI” do y thành lập, Nguyễn Đình Thắng rêu rao kế hoạch đào tạo “500 lãnh đạo trong 5 năm”, hỗ trợ các công trình nghiên cứu và hiện đang thử nghiệm giáo trình đào tạo tại Alabama và Missisipi, Mỹ.

Bên cạnh đó, BPSOS câu kết chặt chẽ với tổ chức khủng bố “Việt Tân” (do Đỗ Hoàng Điềm cầm đầu) cung cấp tài chính cho số đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam để thực hiện các hoạt động chống phá trong nước; câu kết với “Quỹ người Thượng” (do Ksor Kok cầm đầu) kích động đồng bào các dân tộc Tây Nguyên vượt biên sang Căm-pu-chia, xin tị nạn tại Mỹ; âm mưu thành lập cái gọi là “Nhà nước Đề-ga” để lừa gạt đồng bào gốc Tây Nguyên ở Mỹ biểu tình chống Việt Nam, lôi kéo số họ tham gia các cuộc hội thảo do BPSOS và Việt Tân tổ chức để tập huấn cách thức “đấu tranh bất bạo động”.

Ngoài ra, chúng còn tổ chức gây quỹ nhằm “bảo trợ” cho một số luật sư sang Thái Lan hỗ trợ số người Việt vượt biên trái phép, lập hồ sơ “tị nạn chính trị” theo tiêu chuẩn của Liên hiệp quốc (LHQ) để tránh bị cơ quan chức năng Thái Lan trục xuất. BPSOS luôn tìm mọi cách móc nối với số chống đối, cực đoan tôn giáo trong nước để đưa ra nước ngoài hoặc lợi dụng mạng xã hội để lôi kéo, đào tạo online nhằm mục đích huấn luyện cho các đối tượng thu thập tài liệu xuyên tạc tình hình nhân quyền Việt Nam, gửi báo cáo lên các cơ chế nhân quyền của LHQ.

 Trước bước phát triển trong quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ thời gian qua, Nguyễn Đình Thắng lại “sôi sục” tìm cách phá hoại. Bằng nhiều thủ đoạn, Thắng cung cấp thông tin sai sự thật, thiếu khách quan về tình hình nhân quyền, nhất là vấn đề tự do tôn giáo ở Việt Nam để vận động một số nghị sỹ Quốc hội Mỹ như Loretta Sanchez, Christ Smith... Gây sức ép với Việt Nam, cản trợ nỗ lực nâng tầm quan hệ song phương. Gần đây, BPSOS vận động số nghị sỹ cực đoan trên ủng hộ “Dự luật nhân quyền - HR.1383”, đồng thời  phối hợp với nhóm “Bàn tròn đa tôn giáo Việt Nam” gửi “Kiến nghị thư” tới Chính phủ Việt Nam xuyên tạc vấn đề người h’mông và người Tây Nguyên theo đạo Tin lành ở Việt Nam và đưa ra nhiều yêu sách ngang ngược. Bên cạnh đó, BPSOS tích cực tổ chức một loạt các cuộc hội luận trực tuyến, lôi kéo sự tham gia của một số chuyên gia nhân quyền nước ngoài để xuyên tạc tình hình nhân quyền trong nước.

Tận dụng thời điểm Việt Nam diễn ra các sự kiện chính trị, kinh tế lớn như ký kết hiệp định thương mại song phương, đa phương, tham gia các công ước quốc tế, Thắng cùng các thành viên của BPSOS tăng cường liên hệ, móc nối với các cá nhân, tổ chức nước ngoài có vị thế nhằm hạ thấp vai trò, ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế. Lợi dụng sự kiện Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) ký kết Hiệp định thương mại tự do (EVFTA) và Hiệp định bảo hộ đầu tư (EVIPA) tháng 2-2020, BPSOS cùng một số tổ chức phản động lưu vong như “Mạng lưới người bảo vệ nhân quyền -  VETO”, “Quê mẹ”, “Ủy ban tự do tôn giáo cho Việt Nam - CRFV”, “Việt tân” và “Sáng kiến thể hiện lương tâm người Việt Hải ngoại - VOICE” đã câu kết ký tên vào cái gọi là “Thư gửi Nghị viện châu Âu” phản đối Ủy ban Thương mại quốc tế (INTA) cho phép Việt Nam tham gia Hiệp định EVFTA và EVIPA.

Mặc dù có trình độ học vấn “hữu danh vô thực” nhưng Thắng rất biết nắm thời cơ, mượn cớ tiến hành các hoạt động “nhân đạo” mà thực chất là chống phá Việt Nam để trục lợi. Ngay từ những năm 1980, Thắng câu kết cùng một số đối tượng lưu vong khác thành lập BPSOS để lôi kéo người dân rời bỏ Việt Nam trốn đi nước ngoài. Thông qua trang web “Mạch sống” - “Cơ quan ngôn luận” của BPSOS, Thắng vận động cộng đồng người Việt quyên góp tiền và xin tài trợ của NED (“Quỹ quốc gia hỗ trợ dân chủ” – một tổ chức phi chính phủ Mỹ), đồng thời lập ra 15 văn phòng, chi nhánh ở một số bang trên đất Mỹ để “kinh doanh”dịch vụ nhập quốc tịch, thuê luật sư, xin “thẻ xanh” (thẻ chứng nhận được thường trú) và giấy phép làm việc. Từ năm 1999 đến năm 2005, Nguyễn Đình Thắng và Ngô Thị Hiền cùng một số đối tượng khác kêu gọi cộng đồng người Việt ở hải ngoại “quyên góp” tiền với lý do “gây quỹ ủng hộ đồng bào bão lụt trong nước” nhưng thực chất là trục lợi, gây bức xúc vàkhiếu kiện trong cộng đồng người Việt ở Mỹ. Núp bóng dưới cái mác vì nhân quyền cũng chỉ là các thủ đoạn, mánh lới kiếm tiền bất lương, càng nhiều chiêu trò chống phá Việt Nam thì số tiền nhận được càng nhiều.

 

Âm mưu, ý đồ của Nguyễn Đình Thắng đã bị cộng đồng người Việt ở nước ngoài từng bước nhận diện. Trên một số trang mạng của người Việt tại nước ngoài như “tinparis”, “saigontimes” có nhiều bài viết vạch trần bộ mặt giả dối của Nguyễn Đình Thắng, khẳng định Thắng đã vẽ ra các dự án và kế hoạch chi tiêu để cơ quan cấp quỹ tài chính của Chính phủ Mỹ xem xét, cấp tiền hoạt động, nhất là tranh thủ gói ngân sách 50 triệu USD của Mỹ để thúc đẩy tự do tôn giáo quốc tế. Toàn bộ hoạt động trục lợi của y bị bóc mẽ qua trang blog của người Việt ở nước ngoài Suthatnguyendinhthang. Nhiều bài viết khẳng định, trong nội bộ tổ chức BPSOS không có dân chủ như thường tung hô, không có bầu cử rõ ràng, Thắng hành xử rất độc tài, nắm toàn quyền thu, chi không cần hỏi ai. Một minh chứng rõ ràng về việc này là vụ Nguyễn Đình Thắng bị chính thành viên trong BPSOS (Holly Ngô - phụ tá kiểm toán trong tổ chức) tố cáo là “đại bịp”, buộc người khác quyên tiền một cách miễn cưỡng, không minh bạch trong việc sử dụng quỹ hoạt động của tổ chức, phỉ báng người có ý kiến trái chiều.

Núp bóng danh nghĩa một tổ chức phi chính phủ hoạt động với mục đích “từ thiện, trợ giúp người tị nạn”, song thực chất BPSOS là một tổ chức phản động lưu vong luôn tìm cách phá hoại sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam. Trong khi Chính phủ và nhân dân Việt Nam đang chung sức, đồng lòng chống dịch COVID-19, thì Nguyễn Đình Thắng cùng một số tổ chức đã gửi thư chung đề nghị Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính Mỹ áp dụng chế tài theo Luật Magnitsky toàn cầu đối với Việt Nam với luận điệu Việt Nam “leo thang vi phạm nhân quyền”, “đàn áp tôn giáo”, “tham nhũng tiền viện trợ cho phòng, chống dịch”… Nhưng, những thông tin bịa đặt ấy không thể che lấp sự thật về những nỗ lực và kết quả của Việt Nam trong công tác phòng, chống dịch, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Những lời xuyên tạc, vu cáo nhằm vận động các nước gây sức ép với Việt Nam, tạo thêm những khó khăn trong bối cảnh cả nước đang bước vào giai đoạn thứ ba của trận chiến COVID-19 với nhiều thách thức phía trước đã thể hiện rõ ý đồ không mấy tốt đẹp của Nguyễn Đình Thắng cũng như số đối tượng núp bóng đấu tranh cho “nhân quyền”, “dân chủ”.

Trong cuộc chiến chống COVID-19, hơn lúc nào hết Tổ quốc và Nhân dân Việt Nam cần sự đồng lòng, chung tay hỗ trợ của tất cả những người con Việt Nam ở khắp mọi nơi và thực tế không ít những Việt kiều ở nhiều nước trên thế giới đã luôn hướng về Tổ quốc, ủng hộ cả vật chất và tinh thần đối với Chính phủ và Nhân dân Việt Nam. Trong xu thế ấy, hành động của Nguyễn Đình Thắng cùng tổ chức BPSOS thật lạc lõng và đáng lên án./.

QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM MÃI MÃI XỨNG ĐÁNG LÀ ĐIỂM TỰA, NIỀM TIN CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ NHÂN DÂN


Với mục tiêu vấy bẩn, hòng bôi nhọ hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ, thời gian gần đây các thế lực thù địch, chống phá cố tình lấy cớ một số sự vụ, sự việc vi phạm đơn lẻ (mà bất cứ tổ chức rộng lớn nào trên thế giới cũng không thể tránh khỏi) để thổi phồng và quy chụp rằng: Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam đang dần bị biến chất, không còn kiên định mục tiêu tối thượng là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân...

1. Thực chất, các chiêu trò nêu trên không nằm ngoài mưu đồ cố tình bóp méo, hạ bệ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ và bản chất tốt đẹp của QĐND Việt Nam. Đây cũng chính là một chiêu trò “tung hỏa mù”, hướng vào chống phá Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI. Thế nhưng, sự vụng về khi ngụy biện, cộng với chiêu thức chống phá cũ kỹ sẽ không khó để chúng ta nhận diện, lật tẩy thông qua việc nêu lên một vài ví dụ về đời sống thường nhật và hoạt động quân sự của bộ đội, để “ánh sáng sự thật” sẽ tự thân đẩy lùi “bóng tối bịa đặt xấu xa” theo đúng quy luật khách quan.

Còn nhớ, khi bắt đầu xuất hiện dịch Covid-19, xã hội Việt Nam xuất hiện “tâm trạng phản vệ” và có một bộ phận người dân hoang mang, lo sợ. Cũng vì đó, tình trạng qua lại biên giới, nhất là các đường mòn, lối mở diễn ra rất nhiều. Thực hiện mệnh lệnh “chống dịch như chống giặc” để bảo vệ nhân dân với lực lượng y tế làm nòng cốt, Quân đội ta đã chỉ đạo các đơn vị quân y tích cực tham gia phòng, chống dịch và đặc biệt là chỉ đạo Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tăng cường tuần tra, chốt chặn, kiểm soát chặt chẽ xuất nhập cảnh, nhằm ngăn chặn dịch xâm nhập vào nội địa qua đường biên giới... Theo chủ trương đó, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ BĐBP đã tình nguyện lên đường nhận nhiệm vụ; tham gia ứng trực 24/24 giờ tại các khu vực cửa khẩu, đường mòn, lối mở, bờ sông suối... nơi con người có thể qua lại trên khắp dải biên cương, kết thành “bức tường ngăn dịch” vững chắc, suốt từ đầu năm 2020 đến nay.

Làm nhiệm vụ tại miền biên viễn ấy, BĐBP không chỉ đối diện với nguy cơ dịch bệnh mà còn đương đầu với rất nhiều khó khăn, thiếu thốn; đối diện cả với những khoảng lặng tình cảm và sự hy sinh cao độ về mặt tinh thần mà chỉ những con người mang trong mình phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ mới đủ khả năng chịu đựng và mạnh mẽ vươn lên. Ấy là trong khoảng 300 ngày qua, khi đất nước có những thời điểm thực hiện trạng thái "bình thường mới" (sau hai đợt cao điểm bùng phát dịch), thì 100% cán bộ, chiến sĩ BĐBP trên các tuyến biên giới vẫn bám trụ, căng mình bám chốt làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát. Cũng trong quãng thời gian ấy, gần 20 đồng chí đã không thể nghỉ phép về quê để đưa tiễn người thân đến nơi an nghỉ cuối cùng; hơn 50 đồng chí hoãn cưới vợ, hoãn cưới con; 50 đồng chí không thể ở nhà lúc vợ trở dạ, sinh con;...

Cũng bắt đầu từ khi xuất hiện dịch Covid-19 ở Việt Nam, hàng loạt đơn vị quân đội đã cơ động lực lượng, dồn dịch nơi ăn ở, nhường hệ thống doanh trại phục vụ công tác cách ly công dân có nguy cơ nhiễm dịch Covid-19. Đồng thời, cán bộ, chiến sĩ ở những đơn vị này lại trực tiếp thực hiện nhiệm vụ phục vụ, chăm sóc sức khỏe cho người dân. Sau khi hoàn thành thời gian cách ly y tế ở các đơn vị quân đội, rất nhiều công dân đã bày tỏ lòng biết ơn, xúc động và thán phục về sự chịu đựng gian khó, mẫn cán, hết lòng phục vụ nhân dân của bộ đội. Người dân cảm kích, khâm phục, bởi công dân bị cách ly vốn mang nhiều nguy cơ dịch bệnh, nhưng cán bộ, chiến sĩ quân đội vẫn trực tiếp, tận tình phục vụ và hướng dẫn từng người thực hiện các biện pháp y tế theo đúng quy định; trực tiếp an ủi, động viên họ yên tâm cách ly, lạc quan vươn lên trong thời điểm khó khăn nhất. Đặc biệt, khi dịch Covid-19 xuất hiện ở bất cứ nơi đâu, bộ đội hóa học và các lực lượng chức năng đều có mặt sớm nhất, tiến hành phun khử trùng phục vụ dập dịch, bảo vệ người dân...

Tất cả những chi tiết ấy cho thấy sự hy sinh quên mình của Bộ đội Cụ Hồ. Họ lặng lẽ công tác, thầm lặng cống hiến vô điều kiện để bảo vệ, phục vụ nhân dân. Đó chính là sự kế tục truyền thống của QĐND Việt Nam anh hùng-đội quân “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”; minh chứng rõ rành về sự giác ngộ cao độ và tinh thần sẵn sàng xả thân vì nước, vì dân của Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.

2. Tất nhiên, phẩm chất vì nhân dân phục vụ của Bộ đội Cụ Hồ không chỉ thể hiện, minh chứng sinh động thông qua cuộc chiến phòng, chống dịch Covid-19 mà luôn được hiện hữu trong suốt gần 76 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành; trở thành giá trị truyền thống quý báu của QĐND Việt Nam. Đặc biệt trong 5 năm qua, dưới sự lãnh đạo của QUTƯ, Bộ Quốc phòng, cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn hoàn thành tốt sứ mệnh bảo vệ, chăm lo và gắn bó máu thịt với nhân dân; viết thêm những giá trị mới trong hệ chuẩn mực nhân cách của quân nhân cách mạng. Đó là hình ảnh về những sĩ quan QĐND Việt Nam tự tin, trách nhiệm trong đội quân Gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, tham gia bảo vệ sự bình yên, hạnh phúc cho nhân loại tiến bộ và thực hiện nghĩa cử quốc tế cao đẹp. Đó là những quân nhân cách mạng giàu trí tuệ, làm chủ khoa học kỹ thuật tân tiến, điều khiển, sử dụng thuần thục phương tiện, vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại canh giữ vùng đất, vùng trời, vùng biển, đảo Tổ quốc, bảo vệ sự bình yên và nền hòa bình bền vững cho nhân dân. Và còn nữa là những đoàn quân đến với vùng sâu, vùng xa, nơi gian khó... để giúp dân xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng. Đặc biệt, khi bất cứ nơi đâu xảy ra thiên tai, địch họa thì ở đó luôn có Bộ đội Cụ Hồ sẵn sàng xả thân bảo vệ tính mạng, tài sản nhân dân. Quân đội luôn là lực lượng có mặt trước tiên, gắn bó mật thiết và là "tấm chắn" bảo vệ nhân dân trước mọi hiểm nguy do thiên tai gây ra... Trong quá trình đó, nhiều cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, trở thành biểu trưng sáng đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong điều kiện mới.

Nghĩ cho dân, lo cho dân, hướng dẫn và đồng hành cùng nhân dân, trong 5 năm qua, toàn quân đã sáng tạo và duy trì hoạt động hiệu quả hơn 7.000 tổ công tác dân vận, hơn 14.000 điển hình “Dân vận khéo”, “Đơn vị dân vận tốt” hoạt động hiệu quả. Ở tất cả các quân chủng, binh chủng, lực lượng trong quân đội đều có phong trào, cách thức giúp dân hiệu quả, thiết thực, được nhân rộng ra toàn quân và các cấp trong hệ thống chính trị.

Nói về những kết quả trong công tác giúp dân, bảo vệ dân, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Bí thư QUTƯ từng ghi nhận sâu sắc: QĐND Việt Nam đã, đang, sẽ và mãi xứng đáng là điểm tựa niềm tin của Đảng, Nhà nước và nhân dân! Bởi lẽ, thành quả lớn nhất của quân đội là làm cho dân tin, dân yêu, dân kính trọng và tự nguyện giúp đỡ quân đội, tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đắp bồi thế trận lòng dân ngày càng vững chắc.

Trong nhiệm kỳ qua, trước nhiều tác động đa chiều của đời sống xã hội hiện tại, nhưng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ ở cán bộ, chiến sĩ quân đội và truyền thống QĐND Việt Nam anh hùng luôn được giữ vững, phát huy, tỏa sáng. Trước mọi diễn biến tình hình, toàn quân luôn thống nhất ý chí và hành động, kiên định mục tiêu: Vì nhân dân phục vụ! Trước sự mời gọi của lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm do tác động, ảnh hưởng của mặt trái xã hội, cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn mạnh mẽ đấu tranh, quyết liệt tẩy trừ các biểu hiện xuống cấp về đạo đức lối sống, vi phạm kỷ luật; giải quyết hài hòa lợi ích cá nhân-tập thể, cống hiến hết mình cho đất nước, cơ quan, đơn vị... Đó là cơ sở tạo nên niềm tin vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với QĐND Việt Nam.

3. Có một câu hỏi đặt ra là: Tại sao cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam lại có thể nêu cao ý thức trách nhiệm, tự giác hành động vì dân mà không hề quản ngại gian khổ, hy sinh? Câu hỏi thật khó lý giải theo cách ngắn gọn, bởi nội hàm đặt ra khá rộng lớn. Thế nhưng, có một điều mà ai cũng nhận thấy, là mỗi sĩ quan, cán bộ quân đội cũng chính là một đảng viên và tất cả quân nhân trong QĐND Việt Nam đều thấm nhuần mục tiêu, lý tưởng cách mạng cao cả của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì thế mà tuyệt đại đa số quân nhân đều tự giác cao độ, luôn trân quý nhân dân, yêu quý công việc và sẵn sàng cống hiến, hy sinh vì nước, vì dân. Đó cũng chính là bản chất, truyền thống của Bộ đội Cụ Hồ.

Với đặc thù hoạt động quân sự, nhiều đơn vị đóng quân phân tán, hoạt động nhỏ lẻ, bởi thế vai trò của tổ chức đảng cơ sở, nhất là của chi bộ càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Chi bộ đảng được thành lập và “có mặt” ở tất cả các loại hình đơn vị, lĩnh vực công tác, địa bàn đóng quân. Chi bộ trực tiếp lãnh đạo hoạt động của bộ đội ở mọi điểm chốt biên cương, về từng điểm đảo, cụm đảo, nhà giàn DK; “đồng hành” và “dẫn dắt” những chiến hạm, con tàu vươn khơi trên biển, cáng đáng hải trình tuần tra, thực hiện nhiệm vụ hộ tống, cứu hộ, cứu nạn...; “chỉ dẫn” cho nhiệm vụ học tập, nghiên cứu khoa học, làm chủ công nghệ ở các môi trường học viện, nhà trường, viện nghiên cứu trong quân đội... Dù thực hiện chức năng lãnh đạo ở bất cứ đâu, bất cứ khi nào, thì nền nếp chế độ sinh hoạt Đảng của tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội cũng đều được duy trì chặt chẽ, hiệu quả, tính chiến đấu, năng lực lãnh đạo và tinh thần tự phê bình, phê bình luôn được nêu cao. Bởi thế mà mạch chảy của công tác lãnh đạo luôn được thông suốt, kết nối một cách hệ thống, chặt chẽ, liên hoàn.

Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt của Đảng đến với mọi cấp trong quân đội chính là nguyên nhân mấu chốt, là nguyên nhân của mọi nguyên nhân để đưa đến thành công trong thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao, cũng như hoàn thành sứ mệnh “Vì nhân dân phục vụ” của cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Chính những quân nhân cách mạng, với tình yêu Tổ quốc mãnh liệt phấn đấu theo lý tưởng cao đẹp của Đảng, kiên định mục tiêu cao nhất của QĐND Việt Nam đã tạo nên những mạch ngầm nhiệt huyết không ngơi nghỉ cho những nỗ lực cống hiến, hy sinh quên mình vì Tổ quốc, vì nhân dân của cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam. Sự thật ấy, dẫu những kẻ xấu và các thể lực thù địch có trăm nghìn “mưu hèn, kế bẩn”, dẫu thủ đoạn chống phá có tinh vi, xảo quyệt đến đâu thì cũng không thể phủ nhận, không thể bôi xấu hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ!

Hải Đăng st