Bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, nền tảng tư tưởng của Đảng
Cộng sản Việt Nam trong tình hình mới
Trong những năm qua, các thế lực thù
địch vin vào sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu, vào sự phát triển
nhanh chóng của khoa học, công nghệ, của sản xuất hiện nay... để phủ nhận chủ
nghĩa Mác - Lênin. Tuy nhiên, từ giá trị của chủ nghĩa Mác và thực tiễn công
cuộc đổi mới của Việt Nam, có thể khẳng định rằng, những nguyên lý cơ bản của
chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn có giá trị bền vững; chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là học
thuyết khoa học, cách mạng và nhân văn duy nhất đáp ứng được nhiệm vụ lịch sử
mà không một học thuyết nào có thể thay thế được.
Chủ nghĩa Mác do C.Mác và Ph.Ăngghen
sáng lập vào giữa thế kỷ XIX, đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã được
V.I.Lênin phát triển thành chủ nghĩa Mác - Lênin. Từ thời C.Mác cho đến thời
V.I.Lênin và cho đến ngày nay, khi nhân loại đã bước vào hai thập niên đầu thế
kỷ XXI, thế giới đã trải qua biết bao biến cố thăng trầm, quanh co, phức tạp,
song đời sống xã hội vẫn không nằm ngoài những quy luật phổ biến đã được C.Mác
tổng kết. Khẳng định giá trị, sức sống của chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời phải
đấu tranh phê phán các quan điểm xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin,
nhằm bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trong tình hình mới.
Trong quá trình xây dựng và phát
triển học thuyết của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phải đấu tranh chống lại các
quan điểm duy tâm, siêu hình, các quan điểm giáo điều, xét lại. Các ông đã từng
phê phán quan điểm của phái Hêghen trẻ, của Pruđông, của Đuyrinh, của Látxan và
nhiều quan điểm tư sản khác. Thông qua sự phê phán quan điểm phản diện, các ông
đã trình bày quan điểm chính diện của mình, đã phát triển, hoàn thiện học
thuyết của mình. C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng khẳng định rằng, học thuyết của
các ông có tính phê phán và cách mạng, nó không đội trời chung với chủ nghĩa
giáo điều, bảo thủ, với quan điểm duy tâm, siêu hình, cơ hội, xét lại. Có thể
nói, thông qua đấu tranh tư tưởng - lý luận để bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác
là tính quy luật trong sự tồn tại của chủ nghĩa Mác.
Để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác
trong điều kiện lịch sử mới, V.I.Lênin đã kiên quyết đấu tranh, kịch liệt phê
phán những quan điểm cơ hội, xét lại của các nhà lãnh đạo Quốc tế II như
Becxtanh, Cauxki..., đã đấu tranh với những quan điểm sai lầm của Plêkhanốp,
Bukharin, Tơrốtxki, đã phê phán chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán với các đại biểu
như E.Makhơ, Avênariut... Vận dụng chủ nghĩa Mác một cách sáng tạo vào thực
tiễn nước Nga, V.I.Lênin và Đảng Bônsêvích đã lãnh đạo giai cấp công nhân và
nhân dân Nga tiến hành cuộc cách mạng tháng Mười vĩ đại, mở ra thời đại mới
trong sự phát triển của loài người - thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm
vi toàn thế giới. Vận dụng phép biện chứng Mác xít vào xây dựng CNXH ở nước
Nga, V.I.Lênin đã đề ra Chính sách Kinh tế mới, với chủ trương thực hiện nhiều
bước quá độ nhỏ về kinh tế - xã hội, thay thế chế độ trưng thu lương thực bằng
thuế lương thực, áp dụng quan hệ hàng hóa - tiền tệ, phát triển thương mại, sử
dụng chuyên gia tư sản, áp dụng CNTB nhà nước, học tập kinh nghiệm của CNTB...
Chính sách Kinh tế mới của V.I.Lênin đã đưa nước Nga thoát khỏi cuộc khủng
hoảng kinh tế - xã hội mùa xuân năm 1921, bước sang một giai đoạn phát triển
mới.
Trong thời đại ngày nay, chủ nghĩa
Mác - Lênin vẫn là học thuyết khoa học và cách mạng duy nhất đáp ứng được nhiệm
vụ lịch sử mà không một học thuyết nào có thể thay thế được. Sức sống của chủ
nghĩa Mác - Lênin được thể hiện ở chỗ, nó soi sáng các nhiệm vụ lịch sử đã chín
muồi của nhân loại, nhiệm vụ giải phóng con người khỏi mọi hình thức áp bức,
bóc lột, bất công, tha hóa. Thời đại ngày nay có nhiều nội dung, đặc điểm rất
mới so với thời C.Mác và V.I.Lênin sống và hoạt động. Song các giá trị bền vững
trong tư tưởng, quan điểm và phương pháp của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã và
đang là lý luận và phương pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới,
còn những hạn chế lịch sử trong một số luận điểm cụ thể nào đó của các ông thì
lại đặt ra yêu cầu phải bổ sung, phát triển cho phù hợp với điều kiện lịch sử
mới. Chính bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin đòi hỏi phải
như vậy. Giá trị, sức sống của học thuyết Mác - Lênin không phải ở chỗ mọi câu
nói của các ông là những chân lý vĩnh cửu, những người cách mạng cứ thế mà áp
dụng không cần xem xét điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Chính C.Mác và Ph.Ăngghen
đã nhiều lần tuyên bố: Học thuyết của chúng tôi không phải là giáo điều mà là
kim chỉ nam cho hành động.
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
cho đến nay, chủ nghĩa Mác - Lênin đã được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp
thu, vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam
và thời đại. Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền
tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho cách mạng.
Thắng lợi của hai cuộc kháng chiến
chống ngoại xâm, giải phóng đất nước, thống nhất Tổ quốc, những thành tựu trong
công cuộc đổi mới, xây dựng CNXH hơn 30 năm qua đã khẳng định sức sống, ý nghĩa
thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với cách mạng Việt Nam.
Trong công cuộc đổi mới, Việt Nam đã
đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử cả về nhận thức lý luận và
thực tiễn. Nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam ngày càng sáng
tỏ hơn, ngày càng được bổ sung, phát triển qua các kỳ Đại hội Đảng. Trên cơ sở
lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn biến đổi của tình hình thế giới,
Đảng Cộng sản Việt Nam đã có cách tiếp cận tình hình quốc tế và thời đại ngày
càng phù hợp hơn và sâu sắc hơn; nhận thức đầy đủ hơn tính chất lâu dài, quanh
co phức tạp của thời đại quá độ lên CNXH và đánh giá đúng hơn những mâu thuẫn
cũng như tiềm năng phát triển của CNTB hiện đại, thấy rõ hơn các xu hướng biến
đổi của tình hình thế giới và khu vực, từ đó đề ra đường lối, chủ trương, chính
sách phù hợp.
Những thành tựu về lý luận và thực
tiễn của Việt Nam qua 35 năm đổi mới đã khẳng định đường lối đổi mới của Đảng
là đúng đắn, hợp lòng dân, con đường đi lên CNXH là phù hợp với thực tiễn Việt
Nam và xu thế phát triển của thời đại, phù hợp với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy Đại hội XII của Đảng yêu cầu toàn Đảng và mỗi cán bộ,
đảng viên phải “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng
sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam”.
Từ sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và
Đông Âu sụp đổ, tình hình thế giới diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường,
nhất là trong những năm gần đây. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế
lớn, song đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp, chiến tranh cục bộ, xung đột
vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, khủng bố, chủ nghĩa ly khai, chiến tranh
mạng, xâm phạm chủ quyền quốc gia tiếp tục diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực trên
thế giới.
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp
tục được đẩy mạnh, từ đó thúc đẩy các nước tham gia ngày càng sâu vào mạng sản
xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, xu thế toàn cầu hóa đang vấp phải
nhiều rào cản do tác động của những nhân tố phản toàn cầu hóa như sự gia tăng
của chủ nghĩa bảo hộ thương mại, sự nổi lên của chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa
dân tộc cực đoan, nhất là của một số nước lớn.
Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ,
đặc biệt cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cách mạng công nghiệp 4.0) phát
triển mạnh mẽ, tạo ra nhiều đột phá trong các lĩnh vực, tác động sâu sắc và
nhiều chiều đến kinh tế, chính trị, xã hội của thế giới.
Cục diện thế giới từ chỗ tồn tại hai
phe, hai siêu cường là Mỹ và Liên Xô, giờ đây lại theo xu hướng đa cực, đa
trung tâm diễn ra nhanh chóng. Hợp tác, cạnh tranh, đấu tranh và sự tùy thuộc
lẫn nhau giữa các nước, nhất là giữa các nước lớn ngày càng tăng.
Cùng với những diễn biến trên đây,
những vấn đề toàn cầu, như an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninh lương
thực, an ninh nguồn nước, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh... có nhiều
diễn biến phức tạp. Cộng đồng quốc tế phải tăng cường đối phó với những thách
thức an ninh truyền thống, phi truyền thống, đặc biệt là an ninh mạng và các
hình thái chiến tranh kiểu mới...
Có thể nói, tình hình thế giới hai
thập niên đầu thế kỷ XXI với những xu thế và đặc điểm nổi bật trên đây rất khác
so với thời kỳ C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin sống và hoạt động. Tình hình đó
tác động đến các Đảng Cộng sản, các cán bộ, đảng viên của các đảng, trong đó có
Đảng Cộng sản Việt Nam, nó đặt ra nhiều vấn đề mới trong việc nhận thức, nghiên
cứu để vận dụng, bảo vệ và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin.
Vì vậy, phải giải quyết đúng đắn mối
quan hệ biện chứng giữa kiên định và sáng tạo, giữa bảo vệ và phát triển. Kiên
định chủ nghĩa Mác - Lênin không có nghĩa là khư khư nắm giữ những câu chữ của
C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin mà phải nắm vững bản chất khoa học và cách mạng
của nó, phải vận dụng và phát triển sáng tạo nó. Kiên định và sáng tạo đối với
chủ nghĩa Mác - Lênin là hai mặt của một vấn đề thống nhất với nhau, kiên định
phải trên cơ sở sáng tạo, còn sáng tạo phải trên cơ sở kiên định. Cũng với tinh
thần đó, có thể coi bảo vệ và phát triển là hai mặt của một vấn đề. Cách tốt
nhất để bảo vệ một học thuyết khoa học và cách mạng là phải phát triển sáng tạo
nó cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới. Bảo vệ bằng cách phát triển và thông
qua sự phát triển là cách tốt nhất để bảo vệ một học thuyết khoa học. Ngày nay,
sự biến đổi của tình hình thế giới cũng đặt ra nhiều thách thức cho việc bảo vệ
và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin mà những người mácxít phải nỗ lực vượt qua
bằng bản lĩnh chính trị, bằng năng lực tư duy lý luận sáng tạo, bằng việc tăng
cường tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, khắc phục cả bệnh giáo điều, bảo
thủ cũng như chủ nghĩa cơ hội, xét lại lẫn phương pháp tư duy siêu hình, cực
đoan.
Như trên đã nói, sự sụp đổ chế độ
XHCN ở Liên Xô và Đông Âu, sự tiếp tục tồn tại và phát triển, nhất là về kinh
tế của CNTB, sự xuyên tạc tấn công của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị
vào ý thức hệ XHCN đã làm cho một số cán bộ, đảng viên thiếu bản lĩnh chính trị
vững vàng, giảm sút niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin và CNXH. Có quan điểm
vin vào sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu để phủ nhận chủ nghĩa
Mác - Lênin. Chúng ta thấy rằng, sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô là sự sụp
đổ của một mô hình CNXH - mô hình CNXH tập trung quan liêu, bao cấp chứ không
phải là sự sụp đổ của CNXH nói chung, đó là mô hình cũ của CNXH. Sự sụp đổ của
nó có nguyên nhân khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài, nguyên nhân
sâu xa và nguyên nhân trực tiếp. Chính những khuyết tật của mô hình CNXH đó
không được phát hiện và khắc phục kịp thời, tồn tại kéo dài, tích tụ lại, đã
đẩy xã hội Xô viết đến nguy cơ sụp đổ. Sự sai lầm về đường lối cải tổ của lãnh
đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô - cả đường lối kinh tế, chính trị, tư tưởng, tổ
chức, đối ngoại, sự phản bội lý tưởng XHCN của những người lãnh đạo cao nhất
trong Đảng và Nhà nước cộng với sự chống phá, âm mưu và hoạt động “diễn biến
hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc. Không thể quy sự sụp đổ của Liên Xô vào chủ
nghĩa Mác - Lênin. Chính sự nhận thức sai, vận dụng sai, sự phản bội lại chủ
nghĩa Mác - Lênin của lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô là một nguyên nhân trực
tiếp quan trọng. Kinh nghiệm cải cách, mở cửa của Trung Quốc, đổi mới của Việt
Nam là minh chứng cho điều đó. Cải tổ là tất yếu, nhưng sự thất bại của cải tổ
không phải là tất yếu, nếu Đảng Cộng sản có đường lối cải tổ đúng đắn, trung
thành và sáng tạo trong vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, trung thành với lý
tưởng XHCN, có bản lĩnh chính trị vững vàng, cảnh giác với âm mưu và hoạt động
chống phá CNXH của các thế lực thù địch, xây dựng Đảng và Nhà nước vững mạnh,
chống được quan liêu, tham nhũng, huy động được sức mạnh của toàn dân để bảo vệ
chế độ XHCN. Bài học về sự sụp đổ của Liên Xô tuy đã trôi qua gần 30 năm, song
vẫn là lời cảnh báo thường xuyên đối với các Đảng Cộng sản đang cầm quyền ở các
nước XHCN để phòng, tránh đi vào “vết xe đổ” của Liên Xô.
Có quan điểm dựa vào yếu tố thời đại
để phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin. Quan điểm đó cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin
chỉ phù hợp với thế kỷ XIX hoặc cùng lắm là đầu thế kỷ XX - thời đại văn minh
cơ khí, còn bây giờ là thế kỷ XXI - thời đại của cách mạng khoa học - công
nghệ, cách mạng công nghiệp 4.0, văn minh tin học, kinh tế tri thức, kinh tế
số, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế nên không còn thích hợp nữa, nó đã bị lỗi thời
(!). Cũng có quan điểm dựa vào yếu tố địa lý, vào trình độ phát triển của quốc
gia để phủ nhận tính phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin. Quan điểm đó cho rằng,
chủ nghĩa Mác được xây dựng trên cơ sở thực tiễn các nước tư bản phát
triển nên không phù hợp với các nước lạc hậu, kém phát triển như Việt Nam, đó
không phải là sản phẩm của Việt Nam mà du nhập từ phương Tây nên không phù hợp
với điều kiện Việt Nam. Quan điểm đó đã không thấy sức mạnh của sự trừu tượng
hóa, khái quát hóa lý luận của chủ nghĩa Mác, những quy luật của chủ nghĩa Mác
vạch ra không chỉ đúng với các nước phát triển mà đúng cả với các nước kém phát
triển. Về mặt phương pháp luận, C.Mác đã từng chỉ ra rằng trong cái phát triển
cao chứa đựng cái phát triển ở trình độ thấp hơn dưới dạng lọc bỏ.
Những ý kiến trên đây không thấy rằng
đứng trên quan điểm khách quan mà xem xét có một số luận điểm cụ thể của C.Mác,
Ph.Ăngghen, V.I.Lênin không còn phù hợp với điều kiện lịch sử mới hiện nay, đã
bị thực tiễn lịch sử vượt qua hoặc bị nhận thức sai mà bây giờ phải nhận thức
lại cho đúng, song những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong bản
chất khoa học và cách mạng của nó, vẫn giữ nguyên giá trị cần phải bảo vệ.
Chẳng hạn các quy luật của phép biện chứng duy vật, của lý luận nhận thức mácxít,
của học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội, học thuyết giá trị thặng dư, học
thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, những tư tưởng khoa học về
nhà nước, cách mạng xã hội, về CNXH... Hoàn cảnh lịch sử - cụ thể luôn luôn
thay đổi, song những quy luật phát triển cơ bản, phổ biến của lịch sử loài
người mà chủ nghĩa Mác - Lênin nêu lên là không thay đổi, có giá trị bền vững
lâu dài...
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã có nhiều đổi mới về tư duy lý luận, đã nhận thức lại chủ nghĩa Mác
- Lênin theo tinh thần khẳng định sức sống, giá trị bền vững của những nguyên
lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời loại bỏ những nhận thức không
đúng, ấu trĩ, giáo điều, duy ý chí về chủ nghĩa Mác - Lênin, về CNXH, phân biệt
những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin với những luận điểm cụ thể của
các nhà kinh điển gắn liền với những hoàn cảnh cụ thể lúc đó mà sau này đã bị
lịch sử vượt qua. Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lênin cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới của Việt Nam và thời
đại trên một loạt vấn đề như mục tiêu, đặc trưng và phương hướng cơ bản của xây
dựng CNXH, vấn đề phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, vấn đề xây
dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân..., đó là
những vấn đề không có sẵn trong di sản kinh điển mácxít. Không có sự vận dụng,
phát triển sáng tạo đó thì không có những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử
mà nhân dân Việt Nam đạt được qua hơn 30 năm đổi mới.
Có một thực tế là trong khi có những
người xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác thì cũng tại các nước tư bản phát
triển, nhiều học giả tư sản như Giắc cơ Đêriđa, Tery Igơletơn, Diđiê Êribông...
vẫn thừa nhận chủ nghĩa Mác, đề cao C.Mác, kêu gọi nhân loại hãy “trở về với
Mác”, “nhân loại không thể thiếu Mác”, “không có tương lai nếu không có Mác,
nếu không có các di sản của Mác”. Trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế - tài chính
những năm 2008 - 2009 ở các nước tư bản phát triển, bộ “Tư bản” của C.Mác đã
được in và tái bản với số lượng tăng vọt, trở thành sách bán chạy ở các nước tư
bản như Anh, Đức, Pháp, Italia, Nhật Bản... Sở dĩ có hiện tượng đó vì người ta
muốn tìm câu trả lời từ trong tác phẩm vĩ đại của C.Mác về những vấn đề của xã
hội tư bản hiện đại. Nhà sử học người Anh Êrích Hôxbon nhận xét rằng “việc quay
trở lại đọc Mác có nghĩa là thế giới cần phải nghiên cứu học thuyết của ông về
CNTB và về vị trí của học thuyết đó trong sự phát triển của xã hội loài người”.
Những ý kiến phủ nhận chủ nghĩa Mác -
Lênin đã không nhận thức đúng bản chất, nội dung của chủ nghĩa Mác - Lênin, có
ý kiến đem quy chủ nghĩa Mác - Lênin về đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô
sản, bạo lực trấn áp; hoặc đem đối lập chủ nghĩa Mác - Lênin với lợi ích của
dân tộc, hoặc đối lập với tư tưởng Hồ Chí Minh... để phủ nhận, bác bỏ chủ nghĩa
Mác - Lênin.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
coi chủ nghĩa Mác - Lênin là “Chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách
mạng nhất”. Người coi chủ nghĩa Mác - Lênin là “cái cẩm nang thần kỳ”, “mặt
trời chói lọi” soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Vì vậy, Đảng Cộng sản
Việt Nam luôn yêu cầu phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới.