Thứ Hai, 8 tháng 3, 2021

Việt Nam thực hiện tốt vấn đề dân chủ, nhân quyền

 


- Trên lĩnh vực chính trị

+ Quyền dân tộc tự quyết được thực hiện trong thực tiễn

Việt Nam quan niệm rằng, tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết. Việt Nam là một nước độc lập có chủ quyền, với quyền đó, nhân dân Việt Nam có quyền lựa chọn quyết định thể chế chính trị của mình.  Quyền tự quyết cao nhất của cả dân tộc Việt Nam trên lĩnh vực chính trị là quyền lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo đó, nhân dân Việt Nam kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên định và tin tưởng vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước.

+ Mọi người dân Việt Nam không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, lứa tuổi đều bình đẳng với nhau trước pháp luật

+ Công dân Việt Nam đủ điều kiện đều được tham gia bầu cử, ứng cử vào các cơ quan quyền lực Nhà nước; tham gia quản lý nhà nước và xã hội.

+ Nhân dân có quyền tham gia các tổ chức xã hội, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tư tưởng và có chính kiến khác nhau (trừ việc chống đối chế độ), tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo, quyền được sống và các quyền cá nhân khác được bảo đảm.

- Trên lĩnh vực kinh tế

+ Nhà nước bảo đảm quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh của cá nhân và các đơn vị kinh tế, nhằm phát huy mọi tiềm năng của đất nước.

+ Mọi công dân, mọi thành phần kinh tế đều được khuyến khích sản xuất, kinh doanh, làm giầu chính đáng, tạo ra nhiều việc làm nhằm khắc phục tình trạng thất nghiệp, nâng cao đời sống của người lao động, góp phần bảo đảm công bằng và an sinh xã hội

+ Đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt. Từ năm 1986 đến nay, cứ sau 10 năm, mức sống trung bình của người dân Việt Nam tăng lên khoảng 2 lần. GDP tăng nhanh, giai đoạn 1986 - 2000 tăng bình quân 6,8%/năm; Giai đoạn 2001-2010, tăng bình quân 7.26%/năm; Từ 2011 đến 2015 tăng trưởng GDP thấp nhất là 5,25% (2012), cao nhất là 6,68% (2015); GDP bình quân đầu người năm 2016 đạt 2215 USD, tăng 106 USD so với năm 2015, năm 2018 đạt 2590 USD

- Trên lĩnh vực văn hoá, xã hội

+ Nhà nước bảo đảm cho nhân dân được học hành, phát triển, được chăm sóc y tế, được tự do sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa. Đời sống vật chất, văn hóa - tinh thần của các tầng lớp nhân dân từng bước được cải thiện rõ rệt. Các hoạt động văn hóa, thông tin, báo chí, thể thao đã đạt được những tiến bộ quan trọng.

Hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục trung học cơ sở, phấn đấu đến 2020 80% người trong độ tuổi tốt nghiệp trung học phổ thông.

+ Nhà nước Việt Nam bảo đảm về pháp luật và tạo mọi điều kiện để bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, góp phần xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Hiện cả nước có 19.000 thư viện, trên 5500 nhà văn hóa các cấp; 3200 di tích văn hóa cấp quốc gia, 48 di tích văn hóa quốc gia đặc biệt; 8 di sản văn hóa và thiên nhiên được UNESCO  vinh danh là di sản thế giới.

+ Nhà nước thường xuyên quan tâm đến các chính sách an sinh xã hội. Hệ thống giáo dục, y tế ngày càng phát triển góp phần chăm sóc sức khỏe cho nhân dân ngày càng tốt hơn.

- Về quốc phòng - an ninh

Quốc phòng - an ninh Việt Nam là sự nghiệp của toàn dân (quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân). Mọi công dân Việt Nam bình đẳng về quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Do đó, quốc phòng được giữ vững, an ninh chính trị, trật tự xã hội ổn định, an ninh con người được bảo đảm tốt.

 

LUẬN ĐIỆU CỦA MỘT SỐ KẺ THÙ ĐỊCH CHO RẰNG “KHÔNG CÓ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI”


Hiểu biết sâu sắc về thời đại giúp chúng ta tìm thấy xu hướng tất yếu trong vô vàn những hiện tượng phức tạp, mang tính ngẫu nhiên của đời sống xã hội. Đó cũng là cách giúp chúng ta nhìn xa trông rộng, nắm bắt khuynh hướng và quy luật phát triển của nhân loại để vừa có thể lựa chọn được hướng đi phù hợp với sự phát triển của lịch sử; lường trước được những thách đố phức tạp, tránh được những vấp váp sai lệch; từ đó không bị chao đảo hoặc bị cuốn trôi trước phong ba bão táp của đời sống chính trị quốc tế.

Chính vì lẽ đó, khi bàn về những vấn đề lớn của cách mạng, trước đây cũng như hiện nay, Đảng ta bao giờ cũng bắt đầu bằng việc phân tích đặc điểm, nội dung, xu thế phát triển của thời đại; nhận định các mặt của tình hình thế giới để xác định đúng con đường đi của cách mạng Việt Nam và đề ra đường lối đối nội, đối ngoại đúng đắn, sáng tạo. Tuy nhiên, hiện nay một số luận điệu sai trái cho rằng: Thật không tưởng khi nói thời đại ngày nay là quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Các phần tử phản động, cơ hội chính trị cho rằng: Từ nay trở đi Đảng Cộng sản Việt Nam, không nên nói đến CNXH nữa. Họ cho rằng làm gì có thời đại quá độ; nội hàm, đặc điểm, xu thế của thời đại là sự mơ hồ; hai nội dung cốt yếu của thời đại đã bị lịch sử phủ định. Bởi thế, khi không còn Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa (XHCN) nữa thì nước ta làm sao có thể đi lên CNXH được? Luận điệu của họ không có gì mới nhưng cách diễn đạt khác đi.

Lập luận của luận điệu sai trái là, nếu nói thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản (CNTB) lên CNXH, thì nay CNXH sụp đổ rồi, thời đại này đương nhiên là của CNTB; rằng CNXH và chủ nghĩa cộng sản đã tàn lụi thì dù có trăm năm sau cũng không thể gượng dậy được nữa.

Cách nhìn nhận của họ rõ ràng là thiếu kiến thức lịch sử và rất thiển cận. Quá trình chuyển biến và thay thế một thời đại này bằng thời đại khác không thể diễn ra nhanh chóng được, mà phải qua một chặng đường dài. Quá trình đó là một xu thế tất yếu của xã hội loài người, nhưng diễn ra quanh co, phức tạp chứa đựng nhiều biến cố, có cả bước tiến mạnh mẽ và cũng có cả những bước tụt lùi. Sự đổ vỡ của mô hình XHCN ở Đông Âu và Liên Xô đương nhiên là tổn thất nặng nề đối với phong trào cộng sản trên thế giới. Ai cũng biết rằng, sự sụp đổ ấy có nhiều nguyên nhân, nhưng nó không thuộc về bản chất của chế độ XHCN, càng không phải vì thế mà làm mất đi nội dung thời đại. Lịch sử đã cho thấy thời đại tư bản chủ nghĩa (TBCN) thay thế thời đại phong kiến đâu phải dễ dàng. Quá trình chuyển biến đó diễn ra hàng mấy trăm năm, trải qua biết bao phức tạp, bởi sự chống trả quyết liệt của các thế lực phong kiến. Tình hình hiện nay cũng tương tự như vậy. Thế lực đế quốc không từ thủ đoạn nào để mưu toan chặn đứng phong trào cộng sản. Điều đó càng thể hiện tính chất phức tạp của thời đại ngày nay.

  

Đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một thủ đoạn thâm hiểm của các thế lực thù địch, nhằm xóa bỏ thành quả cách mạng và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta. Tuy nhiên, thực tiễn 90 năm qua đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là không thể bác bỏ!

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, đó là nhận định không chỉ của Đảng, Nhân dân ta mà còn là của bạn bè quốc tế. Thực tiễn lịch sử cho thấy, quá trình ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu khách quan. Sự ra đời đó không chỉ là ý chí đơn thuần của các nhà hoạt động cách mạng mà là sản phẩm của lịch sử. Từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là đội tiên phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam, là người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Qua sự “sàng lọc” khắc nghiệt của lịch sử những thập niên đầu thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là người duy nhất dẫn dắt mình đi đến tương lai hạnh phúc. Như vậy, cần khẳng định rằng, Việt Nam đã từng có thời kỳ lịch sử nhiều đảng cùng tham gia lãnh đạo cách mạng, nhưng chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là cách mạng nhất, chân chính nhất, đủ bản lĩnh lãnh đạo cách mạng nước ta. Chế độ chính trị một đảng lãnh đạo là do nhân dân ta lựa chọn từ chính những trải nghiệm trong quá trình lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến chống xâm lược và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự nghiệp cách mạng nước ta đã đem lại những quyền cơ bản nhất cho quốc gia, dân tộc và toàn thể nhân dân Việt Nam thực sự được làm chủ cuộc sống của mình, được sống trong tự do, hạnh phúc.

Trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, mục tiêu nhất quán của các thế lực thù địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hướng lái Việt Nam phát triển đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Để thực hiện âm mưu trên, các thế lực thù địch xác định phá hoại tư tưởng là đột phá khẩu, là con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất, trong đó hướng trọng điểm là tập trung công kích, phủ nhận, làm mất uy tín tiến tới lật đổ và loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hệ thống chính trị và xã hội, đồng thời từng bước tạo dựng cơ sở tư tưởng và xã hội nhằm xác lập chế độ chính trị đa nguyên, đa đảng theo mô hình dân chủ tư sản ở Việt Nam. Hệ thống quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tập trung vào vấn đề sau:
Ở góc độ lịch sử, các thế lực thù địch và cơ hội chính trị tập trung xuyên tạc, phủ nhận lịch sử và thành quả đấu tranh cách mạng vẻ vang của Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Chúng quy chụp Đảng có nhiều sai lầm trong quá khứ và dù quá khứ có làm được một số việc thì bây giờ chuyển sang thời kỳ mới, Đảng đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để độc quyền lãnh đạo đất nước. Chúng viện dẫn phiến diện và xuyên tạc thực tiễn lịch sử để cố chứng minh chế độ một đảng lãnh đạo là “sai lầm”, rằng nếu không có Đảng Cộng sản Việt Nam trên chính trường thì dân tộc ta không phải tiến hành mấy cuộc chiến tranh lâu dài và đau thương như thế; và rằng, nếu Đảng Cộng sản Việt Nam không “tiếm quyền” thì Việt Nam đã đứng trong hàng ngũ các nước phát triển từ lâu.

Bên cạnh đó, ở góc độ thực tiễn, chúng cường điệu một số hạn chế, khuyết điểm trong công tác lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, nhất là một số hiện tượng đơn lẻ, biến nó thành phổ biến, tất yếu của chế độ một đảng lãnh đạo, rồi quy kết vào cái gọi là “lỗi hệ thống” - ám chỉ hệ thống chính trị do một đảng lãnh đạo; đổ lỗi cho Đảng ta về sự tụt hậu kinh tế so với những nước láng giềng như “tập trung nỗ lực vào vấn đề chính trị, thay vì vấn đề kinh tế”, “sợ hao mòn quyền kiểm soát về chính trị và kinh tế của Đảng”.

Sử dụng triệt để những chiêu bài “dân chủ”, “đa nguyên” để cổ vũ sự bất đồng ý kiến về quan điểm trong Đảng, rồi lợi dụng sự bất đồng đó để chia rẽ Đảng thành những phe phái đối lập; các thế lực chống cộng tập trung đánh vào các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, đặc biệt là vào nguyên tắc tập trung dân chủ; mà theo chúng “hầu hết các đảng cộng sản trên thế giới đã từ bỏ, vì thế thực chất, sự tập trung quyền lực bao giờ cũng đưa tới chỗ triệt tiêu dân chủ. Dân chủ nhiều nhất, chỉ trở thành đồ rởm, chỉ có tác dụng trang trí cho sự tập trung quyền lực”. Chúng xuyên tạc rằng nguyên tắc tập trung dân chủ đến nay đã lỗi thời, thực hiện tập trung dân chủ sẽ dẫn tới mất dân chủ trong Đảng, làm cho Đảng rơi vào quân phiệt, độc đoán, độc tài; ra sức tán dương và khuyến khích thực hiện dân chủ, tự do, dân chủ cực đoan, trong đảng nên có nhiều phe nhóm đối lập, để bàn bạc, tranh luận, đấu tranh.

Chúng tập trung ve vãn, tâng bốc, lôi kéo, mời chào, tặng cho đủ thứ danh hiệu mỹ miều những kẻ phản bội lý tưởng xã hội chủ nghĩa, cơ hội, hữu khuynh, xét lại, những hành động chống Đảng, chống chế độ. Còn những người đảng viên chân chính thì bị nhạo báng, chế giễu là bảo thủ, cứng nhắc, là giáo điều, nịnh hót. Từ đó, chúng đối lập những người lãnh đạo Đảng với đông đảo đảng viên, chia rẽ lớp đảng viên này với lớp đảng viên khác, mưu toan gây ra mâu thuẫn nội bộ. Chúng tung ra luận điệu trong Đảng có phe phái khác nhau, dựng chuyện “đấu đá cung đình” trong các dịp diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng nhằm kích động gây chia rẽ lãnh đạo cấp cao của Đảng...

Các thế lực thù địch đưa ra luận điệu độc đảng là độc tài, độc đoán, là thủ tiêu dân chủ, thủ tiêu động lực phát triển đất nước; là một Đảng được tổ chức theo mô hình phát xít, mắc bệnh sùng bái với quá khứ. Chúng kêu gọi: “Từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản vì đó là then chốt của chế độ dân chủ. Đảng Cộng sản Việt Nam cho mình cái quyền đứng trên dân tộc, cái đó không ai chịu chấp nhận”; rằng “độc tài, đảng trị là cái gốc sai lầm của nhà cầm quyền Việt Nam hiện đại”; rằng “Đảng chỉ nên giữ vai trò lãnh đạo chính trị, không nên và không thể lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối”...

Từ đó, chúng tung ra luận thuyết “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập tốt hơn chế độ một đảng lãnh đạo”, cố chứng minh “chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo là đối lập với dân chủ, đồng nhất với độc tài, cản trở sự phát triển”, còn “đa nguyên, đa đảng sẽ khơi dậy sự sáng tạo của toàn dân, tốt hơn cho sự phát triển của xã hội”. Chúng yêu cầu Đảng tự nguyện rời bỏ vai trò lãnh đạo, vì theo chúng: “Đảng chỉ giỏi lãnh đạo trong chiến tranh, còn trong xây dựng kinh tế thì nên trao quyền cho lực lượng chính trị khác”.

Gần đây, các loại đối tượng chống đối chính trị còn triệt để lợi dụng các sự kiện pháp lý quan trọng như sửa đổi, bổ sung Hiến pháp; thảo luận, sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng trên các lĩnh vực để tập trung tuyên truyền các luận điệu chính trị phản động nhằm bác bỏ “tính chính danh”, “tính hợp pháp, hợp hiến” và “tính chính đáng” về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và xã hội. Chúng tập trung phê phán, đả kích hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa của Nhà nước ta, so sánh khập khiễng, vô căn cứ, không có thực tiễn đặc thù lịch sử của Việt Nam với hệ thống chính trị các nước khác. Thông qua đó, chúng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp và các điều khoản khác liên quan; hướng lái hệ thống pháp luật rập khuôn, máy móc với mô hình chính trị nước ngoài, xa lạ với thực tiễn Việt Nam, chủ yếu là mô hình tam quyền phân lập. Khi không đạt được mục đích, chúng lại quay sang luận điệu cũ rích và lạc hậu “con đường thứ ba” để tác động chuyển hóa mô hình chính trị và pháp luật nước ta.

Hoạt động tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hệ thống chính trị và xã hội được các thế lực chống cộng và cơ hội chính trị ráo riết tiến hành và ngày càng trở nên nguy hiểm, hậu quả khó lường. Đây là một trong những nhân tố có thể tạo ra nguy cơ dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở Việt Nam, nếu không kiên quyết đấu tranh ngăn chặn. Vì vậy, để bảo vệ vững chắc vai trò lãnh đạo của Đảng cần làm tốt những nội dung sau:

Một là, về quan điểm, cần kiên trì khẳng định, đồng thời giữ vững và củng cố vững chắc vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội trong bất kỳ hoàn cảnh nào; không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập và kiên quyết đấu tranh với những quan điểm tư tưởng chính trị đòi đa nguyên, đa đảng.

Hai là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh nhằm giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và xã hội; bảo đảm cho chủ trương, đường lối của Đảng đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, thể hiện được bản chất cách mạng và khoa học của giai cấp công nhân; phù hợp với quy luật khách quan và thực tiễn của đất nước trong từng thời kỳ của cách mạng; phản ánh được ý chí, tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân.

Ba là, phát hiện kịp thời những tư tưởng đối lập do các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội trong bộ máy lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang; xử lý kịp thời và nghiêm minh theo pháp luật đối với các hoạt động phá hoại, không để các thế lực thù địch tạo dựng ngọn cờ tập hợp được lực lượng. Tăng cường lãnh đạo và quản lý các hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, internet, các cuộc hội thảo, việc hợp tác nghiên cứu khoa học xã hội về những vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền... Không xảy ra sơ hở để bên ngoài có thể lợi dụng thu thập bí mật, xuyên tạc, truyền bá quan điểm tư tưởng thù địch và kích động phá hoại. Đồng thời, đẩy mạnh đấu tranh, vô hiệu hóa các trang mạng xã hội có nội dung xấu; tăng cường giáo dục, đối thoại với những người có quan điểm sai trái, ngăn chặn sự tác động của bọn phản động bên ngoài, không đẩy họ vào thế đối địch, đồng thời kiên quyết xử lý những trường hợp đã “diễn biến” từ ta sang địch.

Bốn là, kiên quyết phê phán, bác bỏ các quan điểm tư tưởng và ý đồ thực hiện "đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập"; kiên trì và tăng cường đấu tranh phê phán hệ tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội - dân chủ, chủ nghĩa thực dụng. Kiên quyết bảo vệ Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng, đặc biệt là mục tiêu, lý tưởng, con đường mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn; phát triển đường lối đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đấu tranh bảo vệ nguyên tắc tổ chức và hoạt động, mối quan hệ giữa các thiết chế quyền lực của nhà nước xã hội chủ nghĩa; có biện pháp thiết thực củng cố và phát triển mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với các thành tố trong hệ thống chính trị và Nhân dân.

Năm là, tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống những luận điểm sai trái, thù địch phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng để luận chứng bác bỏ có sức thuyết phục từng luận điểm. Trên cơ sở đó, huy động và phát huy sức mạnh tổng hợp của các binh chủng hợp thành trên mặt trận tư tưởng - văn hóa tiến hành phản bác kịp thời, có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch, với các luận điệu phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vạch trần thủ đoạn thổi phồng những sơ hở, yếu kém của Đảng, Nhà nước ta trong công tác xây dựng Đảng, trong quản lý kinh tế - xã hội nhằm kích động tâm lý bất mãn, chống đối, chia rẽ nội bộ, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. 

Lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm của một số chính quyền ở cơ sở trong thực hiện chủ trương, chính sách để nói xấu, công kích Đảng và Nhà nước, không phải là hành động “vì dân”, “vì nước”, mà là hành động “đục nước béo cò”, làm tổn hại đến sự ổn định chính trị - xã hội, đến nguyện vọng và lợi ích chính đáng của Nhân dân. Không phải vì những khuyết điểm, hạn chế nào đó; không phải vì sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; cũng không phải vì việc giải quyết chưa tốt một vụ việc nào đó mà có thể bất mãn chế độ, chống đối lại Đảng và Nhà nước.

Đại hội XIII của Đảng thành công rất tốt đẹp tạo nên bầu không khí phấn khởi, lạc quan, tin tưởng bao trùm lên đời sống xã hội của toàn dân và kiều bào yêu nước khắp nơi trên thế giới, tạo nên xung lực mới cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững bước trên con đường xây dựng một nước Việt Nam hùng cường.

Mai Năm Mới (ST)


Bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tình hình mới

 

Bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tình hình mới

Trong những năm qua, các thế lực thù địch vin vào sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu, vào sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ, của sản xuất hiện nay... để phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin. Tuy nhiên, từ giá trị của chủ nghĩa Mác và thực tiễn công cuộc đổi mới của Việt Nam, có thể khẳng định rằng, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn có giá trị bền vững; chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là học thuyết khoa học, cách mạng và nhân văn duy nhất đáp ứng được nhiệm vụ lịch sử mà không một học thuyết nào có thể thay thế được.

Chủ nghĩa Mác do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập vào giữa thế kỷ XIX, đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã được V.I.Lênin phát triển thành chủ nghĩa Mác - Lênin. Từ thời C.Mác cho đến thời V.I.Lênin và cho đến ngày nay, khi nhân loại đã bước vào hai thập niên đầu thế kỷ XXI, thế giới đã trải qua biết bao biến cố thăng trầm, quanh co, phức tạp, song đời sống xã hội vẫn không nằm ngoài những quy luật phổ biến đã được C.Mác tổng kết. Khẳng định giá trị, sức sống của chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời phải đấu tranh phê phán các quan điểm xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, nhằm bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trong tình hình mới.

Trong quá trình xây dựng và phát triển học thuyết của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phải đấu tranh chống lại các quan điểm duy tâm, siêu hình, các quan điểm giáo điều, xét lại. Các ông đã từng phê phán quan điểm của phái Hêghen trẻ, của Pruđông, của Đuyrinh, của Látxan và nhiều quan điểm tư sản khác. Thông qua sự phê phán quan điểm phản diện, các ông đã trình bày quan điểm chính diện của mình, đã phát triển, hoàn thiện học thuyết của mình. C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng khẳng định rằng, học thuyết của các ông có tính phê phán và cách mạng, nó không đội trời chung với chủ nghĩa giáo điều, bảo thủ, với quan điểm duy tâm, siêu hình, cơ hội, xét lại. Có thể nói, thông qua đấu tranh tư tưởng - lý luận để bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác là tính quy luật trong sự tồn tại của chủ nghĩa Mác.

Để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện lịch sử mới, V.I.Lênin đã kiên quyết đấu tranh, kịch liệt phê phán những quan điểm cơ hội, xét lại của các nhà lãnh đạo Quốc tế II như Becxtanh, Cauxki..., đã đấu tranh với những quan điểm sai lầm của Plêkhanốp, Bukharin, Tơrốtxki, đã phê phán chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán với các đại biểu như E.Makhơ, Avênariut... Vận dụng chủ nghĩa Mác một cách sáng tạo vào thực tiễn nước Nga, V.I.Lênin và Đảng Bônsêvích đã lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân Nga tiến hành cuộc cách mạng tháng Mười vĩ đại, mở ra thời đại mới trong sự phát triển của loài người - thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Vận dụng phép biện chứng Mác xít vào xây dựng CNXH ở nước Nga, V.I.Lênin đã đề ra Chính sách Kinh tế mới, với chủ trương thực hiện nhiều bước quá độ nhỏ về kinh tế - xã hội, thay thế chế độ trưng thu lương thực bằng thuế lương thực, áp dụng quan hệ hàng hóa - tiền tệ, phát triển thương mại, sử dụng chuyên gia tư sản, áp dụng CNTB nhà nước, học tập kinh nghiệm của CNTB... Chính sách Kinh tế mới của V.I.Lênin đã đưa nước Nga thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội mùa xuân năm 1921, bước sang một giai đoạn phát triển mới.

Trong thời đại ngày nay, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là học thuyết khoa học và cách mạng duy nhất đáp ứng được nhiệm vụ lịch sử mà không một học thuyết nào có thể thay thế được. Sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin được thể hiện ở chỗ, nó soi sáng các nhiệm vụ lịch sử đã chín muồi của nhân loại, nhiệm vụ giải phóng con người khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột, bất công, tha hóa. Thời đại ngày nay có nhiều nội dung, đặc điểm rất mới so với thời C.Mác và V.I.Lênin sống và hoạt động. Song các giá trị bền vững trong tư tưởng, quan điểm và phương pháp của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã và đang là lý luận và phương pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới, còn những hạn chế lịch sử trong một số luận điểm cụ thể nào đó của các ông thì lại đặt ra yêu cầu phải bổ sung, phát triển cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới. Chính bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin đòi hỏi phải như vậy. Giá trị, sức sống của học thuyết Mác - Lênin không phải ở chỗ mọi câu nói của các ông là những chân lý vĩnh cửu, những người cách mạng cứ thế mà áp dụng không cần xem xét điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Chính C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhiều lần tuyên bố: Học thuyết của chúng tôi không phải là giáo điều mà là kim chỉ nam cho hành động.

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời cho đến nay, chủ nghĩa Mác - Lênin đã được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam và thời đại. Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho cách mạng.

Thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giải phóng đất nước, thống nhất Tổ quốc, những thành tựu trong công cuộc đổi mới, xây dựng CNXH hơn 30 năm qua đã khẳng định sức sống, ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với cách mạng Việt Nam.

Trong công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử cả về nhận thức lý luận và thực tiễn. Nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ hơn, ngày càng được bổ sung, phát triển qua các kỳ Đại hội Đảng. Trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn biến đổi của tình hình thế giới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có cách tiếp cận tình hình quốc tế và thời đại ngày càng phù hợp hơn và sâu sắc hơn; nhận thức đầy đủ hơn tính chất lâu dài, quanh co phức tạp của thời đại quá độ lên CNXH và đánh giá đúng hơn những mâu thuẫn cũng như tiềm năng phát triển của CNTB hiện đại, thấy rõ hơn các xu hướng biến đổi của tình hình thế giới và khu vực, từ đó đề ra đường lối, chủ trương, chính sách phù hợp.

Những thành tựu về lý luận và thực tiễn của Việt Nam qua 35 năm đổi mới đã khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, hợp lòng dân, con đường đi lên CNXH là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại, phù hợp với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy Đại hội XII của Đảng yêu cầu toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam”.

Từ sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, tình hình thế giới diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, nhất là trong những năm gần đây. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, khủng bố, chủ nghĩa ly khai, chiến tranh mạng, xâm phạm chủ quyền quốc gia tiếp tục diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực trên thế giới.

Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh, từ đó thúc đẩy các nước tham gia ngày càng sâu vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, xu thế toàn cầu hóa đang vấp phải nhiều rào cản do tác động của những nhân tố phản toàn cầu hóa như sự gia tăng của chủ nghĩa bảo hộ thương mại, sự nổi lên của chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, nhất là của một số nước lớn.

Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, đặc biệt cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cách mạng công nghiệp 4.0) phát triển mạnh mẽ, tạo ra nhiều đột phá trong các lĩnh vực, tác động sâu sắc và nhiều chiều đến kinh tế, chính trị, xã hội của thế giới.

Cục diện thế giới từ chỗ tồn tại hai phe, hai siêu cường là Mỹ và Liên Xô, giờ đây lại theo xu hướng đa cực, đa trung tâm diễn ra nhanh chóng. Hợp tác, cạnh tranh, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, nhất là giữa các nước lớn ngày càng tăng.

Cùng với những diễn biến trên đây, những vấn đề toàn cầu, như an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh... có nhiều diễn biến phức tạp. Cộng đồng quốc tế phải tăng cường đối phó với những thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống, đặc biệt là an ninh mạng và các hình thái chiến tranh kiểu mới...

Có thể nói, tình hình thế giới hai thập niên đầu thế kỷ XXI với những xu thế và đặc điểm nổi bật trên đây rất khác so với thời kỳ C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin sống và hoạt động. Tình hình đó tác động đến các Đảng Cộng sản, các cán bộ, đảng viên của các đảng, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam, nó đặt ra nhiều vấn đề mới trong việc nhận thức, nghiên cứu để vận dụng, bảo vệ và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin.

Vì vậy, phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa kiên định và sáng tạo, giữa bảo vệ và phát triển. Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin không có nghĩa là khư khư nắm giữ những câu chữ của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin mà phải nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của nó, phải vận dụng và phát triển sáng tạo nó. Kiên định và sáng tạo đối với chủ nghĩa Mác - Lênin là hai mặt của một vấn đề thống nhất với nhau, kiên định phải trên cơ sở sáng tạo, còn sáng tạo phải trên cơ sở kiên định. Cũng với tinh thần đó, có thể coi bảo vệ và phát triển là hai mặt của một vấn đề. Cách tốt nhất để bảo vệ một học thuyết khoa học và cách mạng là phải phát triển sáng tạo nó cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới. Bảo vệ bằng cách phát triển và thông qua sự phát triển là cách tốt nhất để bảo vệ một học thuyết khoa học. Ngày nay, sự biến đổi của tình hình thế giới cũng đặt ra nhiều thách thức cho việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin mà những người mácxít phải nỗ lực vượt qua bằng bản lĩnh chính trị, bằng năng lực tư duy lý luận sáng tạo, bằng việc tăng cường tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, khắc phục cả bệnh giáo điều, bảo thủ cũng như chủ nghĩa cơ hội, xét lại lẫn phương pháp tư duy siêu hình, cực đoan.

Như trên đã nói, sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu, sự tiếp tục tồn tại và phát triển, nhất là về kinh tế của CNTB, sự xuyên tạc tấn công của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị vào ý thức hệ XHCN đã làm cho một số cán bộ, đảng viên thiếu bản lĩnh chính trị vững vàng, giảm sút niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin và CNXH. Có quan điểm vin vào sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu để phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin. Chúng ta thấy rằng, sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô là sự sụp đổ của một mô hình CNXH - mô hình CNXH tập trung quan liêu, bao cấp chứ không phải là sự sụp đổ của CNXH nói chung, đó là mô hình cũ của CNXH. Sự sụp đổ của nó có nguyên nhân khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài, nguyên nhân sâu xa và nguyên nhân trực tiếp. Chính những khuyết tật của mô hình CNXH đó không được phát hiện và khắc phục kịp thời, tồn tại kéo dài, tích tụ lại, đã đẩy xã hội Xô viết đến nguy cơ sụp đổ. Sự sai lầm về đường lối cải tổ của lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô - cả đường lối kinh tế, chính trị, tư tưởng, tổ chức, đối ngoại, sự phản bội lý tưởng XHCN của những người lãnh đạo cao nhất trong Đảng và Nhà nước cộng với sự chống phá, âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc. Không thể quy sự sụp đổ của Liên Xô vào chủ nghĩa Mác - Lênin. Chính sự nhận thức sai, vận dụng sai, sự phản bội lại chủ nghĩa Mác - Lênin của lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô là một nguyên nhân trực tiếp quan trọng. Kinh nghiệm cải cách, mở cửa của Trung Quốc, đổi mới của Việt Nam là minh chứng cho điều đó. Cải tổ là tất yếu, nhưng sự thất bại của cải tổ không phải là tất yếu, nếu Đảng Cộng sản có đường lối cải tổ đúng đắn, trung thành và sáng tạo trong vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, trung thành với lý tưởng XHCN, có bản lĩnh chính trị vững vàng, cảnh giác với âm mưu và hoạt động chống phá CNXH của các thế lực thù địch, xây dựng Đảng và Nhà nước vững mạnh, chống được quan liêu, tham nhũng, huy động được sức mạnh của toàn dân để bảo vệ chế độ XHCN. Bài học về sự sụp đổ của Liên Xô tuy đã trôi qua gần 30 năm, song vẫn là lời cảnh báo thường xuyên đối với các Đảng Cộng sản đang cầm quyền ở các nước XHCN để phòng, tránh đi vào “vết xe đổ” của Liên Xô.

Có quan điểm dựa vào yếu tố thời đại để phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin. Quan điểm đó cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX hoặc cùng lắm là đầu thế kỷ XX - thời đại văn minh cơ khí, còn bây giờ là thế kỷ XXI - thời đại của cách mạng khoa học - công nghệ, cách mạng công nghiệp 4.0, văn minh tin học, kinh tế tri thức, kinh tế số, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế nên không còn thích hợp nữa, nó đã bị lỗi thời (!). Cũng có quan điểm dựa vào yếu tố địa lý, vào trình độ phát triển của quốc gia để phủ nhận tính phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin. Quan điểm đó cho rằng, chủ nghĩa Mác  được xây dựng trên cơ sở thực tiễn các nước tư bản phát triển nên không phù hợp với các nước lạc hậu, kém phát triển như Việt Nam, đó không phải là sản phẩm của Việt Nam mà du nhập từ phương Tây nên không phù hợp với điều kiện Việt Nam. Quan điểm đó đã không thấy sức mạnh của sự trừu tượng hóa, khái quát hóa lý luận của chủ nghĩa Mác, những quy luật của chủ nghĩa Mác vạch ra không chỉ đúng với các nước phát triển mà đúng cả với các nước kém phát triển. Về mặt phương pháp luận, C.Mác đã từng chỉ ra rằng trong cái phát triển cao chứa đựng cái phát triển ở trình độ thấp hơn dưới dạng lọc bỏ.  

Những ý kiến trên đây không thấy rằng đứng trên quan điểm khách quan mà xem xét có một số luận điểm cụ thể của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin không còn phù hợp với điều kiện lịch sử mới hiện nay, đã bị thực tiễn lịch sử vượt qua hoặc bị nhận thức sai mà bây giờ phải nhận thức lại cho đúng, song những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong bản chất khoa học và cách mạng của nó, vẫn giữ nguyên giá trị cần phải bảo vệ. Chẳng hạn các quy luật của phép biện chứng duy vật, của lý luận nhận thức mácxít, của học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội, học thuyết giá trị thặng dư, học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, những tư tưởng khoa học về nhà nước, cách mạng xã hội, về CNXH... Hoàn cảnh lịch sử - cụ thể luôn luôn thay đổi, song những quy luật phát triển cơ bản, phổ biến của lịch sử loài người mà chủ nghĩa Mác - Lênin nêu lên là không thay đổi, có giá trị bền vững lâu dài...

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có nhiều đổi mới về tư duy lý luận, đã nhận thức lại chủ nghĩa Mác - Lênin theo tinh thần khẳng định sức sống, giá trị bền vững của những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời loại bỏ những nhận thức không đúng, ấu trĩ, giáo điều, duy ý chí về chủ nghĩa Mác - Lênin, về CNXH, phân biệt những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin với những luận điểm cụ thể của các nhà kinh điển gắn liền với những hoàn cảnh cụ thể lúc đó mà sau này đã bị lịch sử vượt qua. Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới của Việt Nam và thời đại trên một loạt vấn đề như mục tiêu, đặc trưng và phương hướng cơ bản của xây dựng CNXH, vấn đề phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân..., đó là những vấn đề không có sẵn trong di sản kinh điển mácxít. Không có sự vận dụng, phát triển sáng tạo đó thì không có những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà nhân dân Việt Nam đạt được qua hơn 30 năm đổi mới.

Có một thực tế là trong khi có những người xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác thì cũng tại các nước tư bản phát triển, nhiều học giả tư sản như Giắc cơ Đêriđa, Tery Igơletơn, Diđiê Êribông... vẫn thừa nhận chủ nghĩa Mác, đề cao C.Mác, kêu gọi nhân loại hãy “trở về với Mác”, “nhân loại không thể thiếu Mác”, “không có tương lai nếu không có Mác, nếu không có các di sản của Mác”. Trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế - tài chính những năm 2008 - 2009 ở các nước tư bản phát triển, bộ “Tư bản” của C.Mác đã được in và tái bản với số lượng tăng vọt, trở thành sách bán chạy ở các nước tư bản như Anh, Đức, Pháp, Italia, Nhật Bản... Sở dĩ có hiện tượng đó vì người ta muốn tìm câu trả lời từ trong tác phẩm vĩ đại của C.Mác về những vấn đề của xã hội tư bản hiện đại. Nhà sử học người Anh Êrích Hôxbon nhận xét rằng “việc quay trở lại đọc Mác có nghĩa là thế giới cần phải nghiên cứu học thuyết của ông về CNTB và về vị trí của học thuyết đó trong sự phát triển của xã hội loài người”.

Những ý kiến phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin đã không nhận thức đúng bản chất, nội dung của chủ nghĩa Mác - Lênin, có ý kiến đem quy chủ nghĩa Mác - Lênin về đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản, bạo lực trấn áp; hoặc đem đối lập chủ nghĩa Mác - Lênin với lợi ích của dân tộc, hoặc đối lập với tư tưởng Hồ Chí Minh... để phủ nhận, bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi chủ nghĩa Mác - Lênin là “Chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất”. Người coi chủ nghĩa Mác - Lênin là “cái cẩm nang thần kỳ”, “mặt trời chói lọi” soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn yêu cầu phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới.

 

Phê phán quan điểm “không có thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội”

 

Nhận thức rõ đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là công việc rất cần thiết. Mỗi quốc gia, dân tộc cần biết mình đang sống trong thời đại gì và bối cảnh thế giới nào, với những tính chất, đặc điểm, nội dung và xu thế phát triển ra sao.

Hiểu biết sâu sắc về thời đại giúp chúng ta tìm thấy xu hướng tất yếu trong vô vàn những hiện tượng phức tạp, mang tính ngẫu nhiên của đời sống xã hội. Đó cũng là cách giúp chúng ta nhìn xa trông rộng, nắm bắt khuynh hướng và quy luật phát triển của nhân loại để vừa có thể lựa chọn được hướng đi phù hợp với sự phát triển của lịch sử; lường trước được những thách đố phức tạp, tránh được những vấp váp sai lệch; từ đó không bị chao đảo hoặc bị cuốn trôi trước phong ba bão táp của đời sống chính trị quốc tế.

Chính vì lẽ đó, khi bàn về những vấn đề lớn của cách mạng, trước đây cũng như bây giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta bao giờ cũng bắt đầu bằng việc phân tích đặc điểm, nội dung, xu thế phát triển của thời đại; nhận định các mặt của tình hình thế giới để xác định đúng con đường đi của cách mạng Việt Nam và đề ra đường lối đối nội, đối ngoại đúng đắn, sáng tạo. Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn là như vậy nhưng hiện nay một số luận điệu sai trái cho rằng: Thật không tưởng khi nói thời đại ngày nay là quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Vì vậy, các phần tử phản động, cơ hội chính trị cho rằng: Từ Đại hội XIII trở đi, không nên nói đến CNXH nữa. Họ cho rằng làm gì có thời đại quá độ; nội hàm, đặc điểm, xu thế của thời đại là sự mơ hồ; hai nội dung cốt yếu của thời đại đã bị lịch sử phủ định. Bởi thế, khi không còn Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa (XHCN) nữa thì nước ta làm sao có thể đi lên CNXH được? Luận điệu của họ không có gì mới nhưng cách diễn đạt khác đi. Những luận cứ đấu tranh chống các luận điệu này cần được làm rõ.


Sự thay thế một thời đại này bằng thời đại khác không thể diễn ra nhanh chóng được

Lập luận của luận điệu sai trái là, nếu nói thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản (CNTB) lên CNXH, thì nay CNXH sụp đổ rồi, thời đại này đương nhiên là của CNTB; rằng CNXH và chủ nghĩa cộng sản đã tàn lụi thì dù có trăm năm sau cũng không thể gượng dậy được nữa.

Cách nhìn nhận của họ rõ ràng là thiếu kiến thức lịch sử và rất thiển cận. Quá trình chuyển biến và thay thế một thời đại này bằng thời đại khác không thể diễn ra nhanh chóng được, mà phải qua một chặng đường dài. Quá trình đó là một xu thế tất yếu của xã hội loài người, nhưng diễn ra quanh co, phức tạp chứa đựng nhiều biến cố, có cả bước tiến mạnh mẽ và cũng có cả những bước tụt lùi. Sự đổ vỡ của mô hình XHCN ở Đông Âu và Liên Xô đương nhiên là tổn thất nặng nề đối với phong trào cộng sản trên thế giới. Ai cũng biết rằng, sự sụp đổ ấy có nhiều nguyên nhân, nhưng nó không thuộc về bản chất của chế độ XHCN, càng không phải vì thế mà làm mất đi nội dung thời đại. Lịch sử đã cho thấy thời đại tư bản chủ nghĩa (TBCN) thay thế thời đại phong kiến đâu phải dễ dàng. Quá trình chuyển biến đó diễn ra hàng mấy trăm năm, trải qua biết bao phức tạp, bởi sự chống trả quyết liệt của các thế lực phong kiến. Tình hình hiện nay cũng tương tự như vậy. Thế lực đế quốc không từ thủ đoạn nào để mưu toan chặn đứng phong trào cộng sản. Điều đó càng thể hiện tính chất phức tạp của thời đại ngày nay.

Thế giới thay đổi khôn lường, nội dung thời đại không thay đổi

Kẻ thù tư tưởng của chúng ta công khai tuyên bố rằng, CNXH ở Liên Xô đã sụp đổ thì giá trị của Cách mạng Tháng Mười cũng chấm hết.

Đây đúng là kết luận vội vã và hồ đồ. Đành rằng, thành quả mà Cách mạng Tháng Mười đem lại đã bị đổ vỡ tại ngay quê hương của nó, nhưng đó quyết không phải là sự chấm dứt lý tưởng cao đẹp của Cách mạng Tháng Mười. Lịch sử đã tỏ rõ, không có một cuộc cách mạng nào, kể cả các cuộc cách mạng vĩ đại nhất, lại đủ khả năng kết thúc ngay công việc xóa bỏ xã hội cũ và xây dựng xong ngay xã hội mới. Quá trình chuyển từ xã hội phong kiến lên xã hội TBCN đã phải trải qua hàng trăm năm với nhiều cuộc cách mạng tư sản nổ ra ở Hà Lan, Anh, Pháp... thì hình thái kinh tế-xã hội TBCN mới thực sự thắng thế trước hình thái kinh tế-xã hội phong kiến.

Sự phát triển của xã hội loài người từ sau Cách mạng Tháng Mười đã chứng tỏ rằng, lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười không chỉ là ngọn đèn pha tỏa sáng dẫn đường, mà còn có những đóng góp thực tế to lớn. Cách mạng Tháng Mười là tiếng chuông đánh thức lịch sử, báo hiệu một trang sử mới của thế giới. Thế giới trước Cách mạng Tháng Mười là một thời kỳ u mê, an phận, là thời đại của CNTB. Sự đột phá của Cách mạng Tháng Mười làm cho CNTB bị đổ vỡ một mảnh lớn. Thế giới bừng tỉnh, bung ra với sức mạnh mới với sự hình thành và phát triển của CNXH làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Thành quả của Cách mạng Tháng Mười tạo cho loài người có khả năng kìm giữ sự lộng hành của CNTB, làm thay đổi cả những yếu tố bên trong của CNTB. CNTB không thể sống tự nó nữa mà đã phải cố gắng vì sự tồn tại của nó. Những thay đổi trong chiến lược kinh tế, chính trị để thích nghi, những thay đổi trong các chính sách phúc lợi xã hội, bảo đảm xã hội... ở các nước tư bản phát triển hiện nay đều do kết quả đấu tranh của những người lao động để giành quyền sống, quyền tự do, bình đẳng và sâu xa hơn là được ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười.

Từ những phân tích trên đây, chúng ta càng thống nhất với nhận định rằng, mặc dù tình hình thế giới trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới có nhiều thay đổi, có khi là thay đổi khôn lường, nhưng bản chất của thời đại không thay đổi. Tình hình cụ thể trong từng thời kỳ của thế giới có những biến động, nhưng điều đó không làm thay đổi nội dung của thời đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại, có mặt sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu hiện có nhiều nét mới. Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp vẫn diễn ra dưới nhiều hình thức.

Niềm tin vững chắc về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Nước ta quá độ lên CNXH tuy không còn có sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước XHCN như trước, nhưng trong giai đoạn mới của thời đại, khi cách mạng khoa học-công nghệ và toàn cầu hóa đời sống thế giới, tất cả các nước đều ở trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, không một nước nào sống biệt lập mà có thể phát triển được. Sự hợp tác kinh tế với các nước bằng nhiều hình thức sinh động trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau dưới bất kỳ hình thức nào, sẽ tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý, phục vụ cho việc phát triển kinh tế đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của CNXH. Đó cũng là một khả năng thực tế mà chúng ta đã và đang cố gắng tận dụng, đưa nước ta hòa nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Mặt khác, không chỉ có thời cơ mà còn có cả những thách thức, những nguy cơ. Trong hợp tác kinh tế với các nước, nhất là với các nước tư bản phát triển, là những trung tâm kinh tế, kỹ thuật hùng mạnh, họ có thể lợi dụng ưu thế về vốn, kỹ thuật và công nghệ hiện đại để gây sức ép đối với chúng ta, nhất là trong những lúc chúng ta gặp khó khăn, buộc chúng ta phải chấp nhận những điều kiện có lợi cho họ, hòng lái chúng ta đi chệch khỏi định hướng XHCN. Mặc dù hòa bình, hợp tác, phát triển là xu hướng của thời đại nhưng còn một xu hướng khác đối lập là xu hướng cường quyền, áp đặt. Mưu toan của các thế lực cường quyền, hiếu chiến đang thể hiện trong các điểm nóng trên nhiều khu vực của thế giới, đang là những mưu toan độc chiếm các vùng biển đảo, xâm phạm độc lập, chủ quyền của nước khác.

Đó là những thách thức, những nguy cơ mà chúng ta cần có sự nhận thức sâu sắc và tỉnh táo, không một chút mơ hồ, mất cảnh giác, để có những chủ trương, biện pháp ngăn ngừa, đối phó hữu hiệu. Chúng ta thực hiện phương châm vừa hợp tác, vừa đấu tranh trên cơ sở giữ vững những vấn đề có tính nguyên tắc về mục tiêu chiến lược và mềm dẻo linh hoạt về sách lược. Đấu tranh không phải để phá vỡ hợp tác mà để phát triển sự hợp tác. Phải biết khéo tận dụng thời cơ, tranh thủ quan hệ với các nước lớn trong xu hướng đa cực hóa để mở rộng sự hợp tác vừa có lợi, vừa bảo vệ được mình và chuẩn bị sẵn sàng đối phó với những tình huống xấu nhất, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc.

Một vấn đề nữa cũng không kém phần quan trọng là khi nước ta hội nhập vào kinh tế khu vực và kinh tế thế giới, chúng ta cũng chịu sự tác động hai chiều tích cực và tiêu cực đến kinh tế của nước ta. Tác động tích cực khi kinh tế khu vực và kinh tế thế giới ổn định phát triển, tác động tiêu cực khi kinh tế thế giới và kinh tế khu vực rơi vào trì trệ khủng hoảng. Chúng ta cần có chính sách sử dụng tốt mặt tích cực và ngăn ngừa, hạn chế mặt tiêu cực, giữ cho nền kinh tế nước ta ổn định và phát triển. Đây là bài học thực tế đã xử lý trước những tác động tiêu cực của cơn khủng hoảng tài chính-tiền tệ và khủng hoảng kinh tế trong khu vực và thế giới trong thời gian qua.

Như vậy, từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, những thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, những nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên XHCN bỏ qua chế độ TBCN theo quan điểm của V.I.Lênin, người đã có đóng góp to lớn vào lý luận về sự “phát triển rút ngắn” và Chính sách kinh tế mới (NEP). Nó đã được thực tiễn khảo nghiệm mà ngày nay Đảng ta đang vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta.

Xuất phát từ tình hình như thế, chúng ta có thể tin tưởng vững chắc rằng Việt Nam đang trong tư thế vươn tầm, kiên định con đường đã lựa chọn, đã có đủ sức lực và trí tuệ để tiến bước cùng thế giới, tiến cùng thời đại; nhất định thực hiện được mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Mai Năm Mới (ST)

Kiên định mục tiêu kép trong điều kiện dịch Covid19

Đại hội XIII của Đảng thành công rất tốt đẹp tạo nên bầu không khí phấn khởi, lạc quan, tin tưởng bao trùm lên đời sống xã hội của toàn dân và kiều bào yêu nước khắp nơi trên thế giới. Dịch Covid-19 tái bùng phát ở một số địa phương thời điểm giáp Tết Nguyên đán Tân Sửu 2021 đến nay chính là cái cớ để các thế lực thù địch tung tin thất thiệt về dịch bệnh nhằm gây tâm lý hoang mang, lo ngại trong cộng đồng. nhiều đối tượng và nhóm đối tượng ra sức thực hiện các sản phẩm truyền thông xuyên tạc. Những clip được thực hiện với cái gọi là “sự thật”, “khách quan”... thực chất chỉ là trò đánh tráo khái niệm, bóng gió, ám chỉ, lấy các sự việc, sự kiện liên quan đến dịch bệnh và những khó khăn của một số lĩnh vực trong nền kinh tế để công kích, xuyên tạc nghị quyết của Chính phủ, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta. Để tăng độ "nóng" cho các luận điệu xuyên tạc, một bộ phận truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại tiếp tục lôi kéo, sử dụng các đối tượng bất mãn, có tư tưởng chống đối trong nước và tâng bốc họ bằng các loại danh xưng tự phong, như: “Nhà nghiên cứu”, “nhà dân chủ”, “nhà bất đồng chính kiến”, “nhà đấu tranh dân chủ, nhân quyền”, “nhà hoạt động môi trường”, “chuyên gia của dân oan”... Thông qua miệng lưỡi của các loại “nhà” này, họ cố tạo ra uy tín giả để xuyên tạc luận điểm, ngụy tạo luận chứng, bịa đặt luận cứ... vẽ ra bức tranh đen tối, tiêu cực về đời sống KT-XH để lèo lái dư luận. Nghị quyết số 01/NQ-CP và Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ vừa ban hành đầu năm 2021 thể hiện quyết tâm cao, hành động quyết liệt, nhất quán thực hiện hiệu quả mục tiêu kép, vừa PCD bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân, vừa phục hồi và phát triển KT-XH. Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả các chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách khác để kích thích tổng cầu phù hợp, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng; đồng thời giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn. Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Theo dõi sát diễn biến tình hình trong nước và quốc tế, kịp thời dự báo và chuẩn bị phương án, kịch bản, biện pháp, đối sách ứng phó hiệu quả với những biến động, vấn đề mới phát sinh. Tiếp tục chú trọng hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất, kinh doanh, khắc phục các tác động tiêu cực của dịch Covid-19. Chính phủ đặt mục tiêu phấn đấu năm 2021 là: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) khoảng 6,5%; GDP bình quân đầu người khoảng 3.700USD; tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân khoảng 4%; tỷ trọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng khoảng 45-47%; tốc độ tăng năng suất lao động xã hội khoảng 4,8%... Từ kinh nghiệm và kết quả ứng phó, khống chế dịch Covid-19 trong năm 2020, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta luôn có niềm tin vững chắc vào sự thành công trong nhiệm vụ PCD Covid-19 từ đợt tái bùng phát này. Đến nay các ổ dịch đã được khống chế hiệu quả. Thực hiện mục tiêu kép, các hoạt động sản xuất, kinh doanh luôn được duy trì, phát triển trong trạng thái bình thường mới. Hiệu quả vượt bậc của chiến lược tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo 3 trục sản phẩm đã và đang tạo nên những bước đột phá vượt bậc, đưa hàng loạt sản phẩm và vùng sản phẩm nông nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường quốc tế, nâng cao năng suất, hiệu quả và đặc biệt là giá trị sản phẩm cao gấp hàng chục lần so với sản xuất truyền thống trước đây. Có thể thấy, bên cạnh những lĩnh vực chịu ảnh hưởng trực tiếp từ dịch Covid-19 như: Kinh doanh du lịch, dịch vụ giải trí... nhiều lĩnh vực khác trong nền kinh tế đã biến khó khăn thành cơ hội để bứt phá vượt lên. Hoàn toàn không có chuyện đời sống xã hội sẽ “toang”, nền kinh tế sẽ “sập” như những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các phần tử cực đoan, thế lực thù địch đã và đang rêu rao. Chúng ta tin tưởng dịch Covid-19 sẽ được khống chế và những mục tiêu về KT-XH Chính phủ đề ra trong năm 2021 sẽ trở thành hiện thực bằng sự kiên định, quyết liệt, đoàn kết, thống nhất thực hiện mục tiêu kép trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và kiều bào yêu nước trên toàn cầu (NTM).

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là trách nhiệm của Đảng viên

Theo thống kê của các cơ quan chức năng, 80% trong tổng số thông tin xấu độc tập trung chủ yếu vào việc xuyên tạc, bôi nhọ công tác cán bộ. Đáng lo ngại hơn cả là những thông tin bịa đặt, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm, hạ thấp uy tín cá nhân các đồng chí lãnh đạo chủ chốt, các đồng chí Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các đồng chí Trung ương và cả các đồng chí quy hoạch Trung ương. Theo Bộ Thông tin-Truyền thông, từ đầu năm 2020 đến nay, qua rà quét, giám sát, Bộ đã gỡ bỏ gần 400 trang giả mạo tên các đồng chí Trung ương, 4.500 tin bài xấu độc trên Facebook và 30.000 video xấu độc trên Youtube. Trung tâm giám sát xử lý an toàn thông tin mạng quốc gia có thể rà soát, phân tích, xử lý khoảng 300 triệu tin giả, tin xấu độc mỗi ngày; tỷ lệ tháo gỡ các video xấu, độc trên kênh Youtube hiện nay đã lên đến 90%; mỗi tháng gỡ bỏ hàng ngàn video xấu độc. Bộ đã phối hợp với các cơ quan chức năng xử lý hàng trăm trường hợp tin sai, tin giả. Cùng với biện pháp kỹ thuật, công tác đấu tranh thông tin, phản bác quan điểm sai trái trên không gian mạng được chú trọng, số tin, bài phản bác tăng về số lượng, nâng cao về chất lượng; đồng thời những thông tin tích cực được chia sẻ, lan tỏa sâu rộng, góp phần nâng cao tinh thần cảnh giác, sức đề kháng, nâng cao nhận thức của nhân dân trong việc chấp hành pháp luật, đấu tranh với luận điệu xuyên tạc, thông tin sai sự thật của các phần tử cơ hội chính trị, phản động. Vì vậy, cùng với ngành Tuyên giáo, các cơ quan báo chí của Đảng và trách nhiệm của mỗi Đảng viên chúng ta cần tiếp tục tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị, Kết luận số 53-KL/TW ngày 04/6/2019 của Ban Bí thư; tập trung lực lượng đấu tranh, gỡ bỏ, vô hiệu hóa các trang thông tin xấu độc chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ; phản bác các thông tin sai trái; đa dạng hóa các hình thức truyền thông, lan tỏa thông tin tích cực đến cán bộ, đảng viên và nhân dân. Giữ vững phẩn chất đạo đức của người cán bộ cách mạng, người đảng viên gương mẫu. Luôn kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng công sản thực hiện thắng lợi chức trách, nhiệm vụ được giao, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (NTM).

Vì sao Việt Nam chưa lên tiếng về tình hình tại đá Ba Đầuu?


Để trả lời câu hỏi bên trên thì phải nhìn vào vị trí của đá Ba Đầu và các điều luật quốc tế mà chúng ta luôn kêu gọi tuân thủ, cũng như tình hình thực tế trên thực địa, chứ không phải chỉ ngồi trong nhà ngoạc mồm lên chửi đổng là xong. 

Đá Ba Đầu là thực thể lớn nhất và nằm án ngữ phía đông bắc cụm Sinh Tồn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. 

Tuy nhiên, nó lại nằm cách đường cơ sở của Việt Nam tới 340 hải lý, trong khi chỉ cách đường cơ sở của Philippines (tại đảo Palawan) khoảng 173-175 hải lý. Điều này có nghĩa là đá Ba Đầu nằm trong vùng thềm lục địa kéo dài (350 hải lý) của Việt Nam và vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý của Philippines.

Xét theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1982, chúng ta chỉ có quyền với vùng đáy biển, còn vùng nước và không phận bên trên thì không có quyền. Chúng ta KHÔNG có cơ sở pháp lý để lên tiếng phản đối nếu tàu Trung Quốc chỉ neo đậu, không tiến hành khai thác đáy biển.

Còn Philippines lại có thể ý kiến vì lực lượng Trung Quốc đang hiện diện trong EEZ  của họ, tức là khu vực mà Manila có quyền tài phán.

Vì sao tàu Trung Quốc thả neo ngay gần đá Ba Đầu mà chúng ta cũng không ý kiến, dù có tuyên bố chủ quyền tại đây?

Các bãi san hô chìm ở Trường Sa cũng không được định nghĩa là đảo, tức là không có vùng lãnh hải 12 hải lý bao quanh mà chỉ có vùng an toàn rộng vài trăm mét, nên tàu bè có thể tự do qua lại mà không bị coi là xâm phạm chủ quyền. 

Đây chính là cơ sở để Mỹ và đồng minh thực hiện các chiến dịch tự do hàng hải (FONOP), trong đó tàu chiến di chuyển vào vùng 12 hải lý xung quanh các thực thể ở Hoàng Sa và Trường Sa để thể hiện quyền tự do đi lại.

Ba Đầu được gọi là "đá" hoặc "rạn san hô", chứ không phải đảo, nên những quy định phải áp dụng tương ứng. Chỉ khi nào Trung Quốc hoặc Philippines nhăm nhe cắm cột mốc trực tiếp trên rạn san hô thì chúng ta mới hành động. Điều này từng nhiều lần diễn ra ở khu vực Trường Sa chứ không chỉ ở đá Ba Đầu, chúng ta cũng hành động rất quyết liệt, nhưng truyền thông không được biết và chúng ta cũng không lên tiếng.

Có phải vì thế mà chúng ta không làm gì? Tất nhiên là không! 

Các tàu thực thi pháp luật trên biển của chúng ta luôn hiện diện tại khu vực, cùng với đó là đội tàu cá hùng hậu không kém Trung Quốc. Đây chính là những lực lượng đấu tranh trực tiếp và sẵn sàng ngăn cản (bằng biện pháp hòa bình) mọi nỗ lực tiếp cận đá Ba Đầu của Trung Quốc hay Philippines, thường xuyên phải hứng chịu những cú đâm hung hăng từ sườn và đuôi tàu Trung Quốc.

Đấu tranh trên Biển Đông là cuộc chiến không tiếng súng nhưng cực kỳ khốc liệt, rất lâu dài và đòi hỏi sự phối hợp tổng thể từ ngoại giao, pháp lý và quốc phòng.

Để có được những câu khẳng định chủ quyền hay bày tỏ quan ngại là cả một quá trình cân não, kèm theo đó là đổ cả mồ hôi và máu tại thực địa, chứ không như những kẻ chỉ biết đứng trong bờ chửi đổng là xong. 


Trò hề của bị cáo Bùi Thị Nối

Nghe một cháu phóng viên đưa tin phiên tòa phúc thẩm vụ Đồng Tâm ngày 8/3; trong các bị cáo tham gia phiên tòa, Bùi Thị Nối là bị cáo khiến cả chủ tọa phiên tòa, VKS và chính luật sư bào chữa cho bị cáo phải lắc đầu ngao ngán. 

Nhận diện: Lợi dụng vấn đề dân tộc trong chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch

Tây Nguyên của Việt Nam là nơi quy tụ đồng bào thuộc nhiều dân tộc khác nhau sinh sống. Các thế lực thù địch đang tập trung vào địa bàn này để chống phá. Được thế lực phản động nước ngoài hỗ trợ, chúng tìm mọi cách vô hiệu hoá vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng và hiệu lực của chính quyền các cấp, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện âm mưu thành lập cái gọi là "nhà nước Đê Ga tự trị", tạo cớ để nước ngoài nhảy vào can thiệp. Chúng đã gây nên các cuộc bạo loạn chính trị ở nhiều nơi trên địa bàn Tây Nguyên (năm 2001 và 2004). Một số nét cơ bản về âm mưu, thủ đoạn chống phá hiện nay cho thấy, lợi dụng vấn đề dân tộc đã thực sự trở thành một trọng điểm trong chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam. Qua công tác đấu tranh, chúng ta nhận diện âm mưu, thủ đoạn của địch trong "diễn biến hòa bình" về vấn đề dân tộc với một số nét cơ bản sau: - Vấn đề dân tộc là một trong những nội dung trọng tâm của "diễn biến hoà bình", được coi là vấn đề then chốt của địch nhằm phá vở khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, chia rẽ Nhân dân vvới Đảng, Nhà nước. - Trong vấn đề dân tộc, địch tập trung tuyên truyền nhằm "khoét sâu", "nới rộng" mâu thuẫn nội bộ dân tộc thông qua triệt để khai thác, nhào nặn thông tin, tuyên truyền tiêu cực về dân sinh, dân trí, dânchủ, môi trường tự nhiên và văn hóa, xã hội. - Kích động hình thành tâm lý kỳ thị, phân biệt trong một bộ phận Nhân dân; xây dựng 'ngọn cờ" nhằm tập hợp lực lượng trong đồng bào dân tộc thiểu số. - Tuyên truyền xuyên tạc về tình hình dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền ở các địa phương. Một mặt nhằm gây mất ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Mặt khác vừa tạo 'tiếng vang', kêu gọi tài trợ, vừa thúc đẩy sự can thiệp, gây sức ép của các tổ chức Quốc tế vào đời sống chính trị nước ta. Thứ nhất, lợi dụng vấn đề dân tộc với chiên lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch thống nhất với nhau về mục tiêu, nội dung, biện pháp chống phá cách mạng Việt Nam. Về mục tiêu, việc lợi dụng vấn đề dân tộc với chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đều là loại hoạt động tiến công chông phá cách mạng nước ta, đi đến loại trừ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc. Về nội dung tiến công, phá hoại, lợi dụng vấn đề dân tộc với chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ diễn ra trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại. Về biện pháp thực hiện, lợi dụng vấn đề dân tộc với chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ chủ yếu bằng các hoạt động phi vũ trang, bằng chính lực lượng từ bên trong có sự trợ lực, răn đe bằng sức mạnh toàn diện ở bên ngoài. Thứ hai, bắt nguồn từ đặc điểm Việt Nam là quốc gia đa dân tộc và tầm quan trọng đặc biệt của các dân tộc trong cách mạng Việt Nam hiện nay. Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh (chiếm trên 86% dân số cả nước) là dân tộc đa số, còn lại 53 dân tộc (chiếm gần 16% dân số cả nước). Tuy là các dân tộc thiểu số nhưng 53 dân tộc thiểu số có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định đến thành bại của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì thế, Đảng và Nhà nưởc ta luôn quan tâm sâu sắc đến vấn đề dân tộc, coi thực hiện tốt chính sách dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng. Thấy được tầm quan trọng của các dân tộc hợp thành quốc gia dân tộc Việt Nam, kế tục chính sách mà thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã thực hiện trước đây, ngày nay các thê lực thù địch càng ráo riết, triệt đề khai thác, tận dụng vấn đề dân tộc, coi đó là một trọng điểm trong chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ để chống phá cách mạng nưởc ta. Thứ ba, vùng các dân tộc thiểu số ở nước ta đang có những khó khăn mà kẻ địch có thể lợi dụng chống phá. Mặc dù, đã có sự quan tâm toàn diện và sâu sắc của Đảng, Nhà nước, toàn dân, toàn quân ta, song do nhiều nguyên nhân về lịch sử, địa lý... và cả những hạn chế, sai sót trong tổ chức thực hiện, cho đến nay vùng các dân tộc thiểu số của nưốc ta vẫn còn nhiều khó khăn cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh. Đời sống của đồng bào các dân tộc thiêu số nhiều nơi còn khó khăn, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế, văn hoá, đời sống và quốc phòng, an ninh còn nhiều bất cập. Các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng những hạn chế đó để chống phá cách mạng nước ta. Vì thế, đây là một lý do giải thích vì sao lợi dụng vấn đề dân tộc trở thành một trọng điểm của chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thê lực thù địch đối vối cách mạng Việt Nam hiện nay. Từ đó, ta cần nhận thức sâu sắc và nêu cao cảnh giác, đối phó./. XUAN THUY-3.2021

GIẢ PHÁP PHÒNG, CHỐNG ÂM MƯU THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH PHẢN ĐỘNG

Là một trong những nước XHCN còn lại đang tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới, cho nên, Việt Nam là một trong những trọng điểm chống phá của các thế lực thù địch. Chúng đang ra sức đẩy mạnh chiến lược DBHB và không loại trừ khả năng tiến hành CMM để chống phá cách mạng nước ta. Một trong những thách thức đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đã được Đảng ta chỉ ra là: “Hoạt động “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch sẽ gia tăng. Các thế lực phản động tiếp tục sử dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào nội bộ ta”. Đây là nguy cơ lớn đối với sự ổn định và phát triển của đất nước. Để phòng, chống DBHB và CMM của các thế lực thù địch, các cấp, các ngành, LLVT và toàn dân phải tỉnh táo trước những âm mưu thủ đoạn DBHB và CMM của các thế lực thù địch, phản động. Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn các hoạt động chống Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch, phản động; đảm bảo an ninh chính trị nội bộ; phòng ngừa, ngăn chặn không để xảy ra CMM trong mọi tình huống. Nâng cao ý thức cảnh giác của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trước âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, từ đó tham gia vào công tác phòng, ngừa, ngăn chặn làm thất bại ý đồ thực hiện CMM. Từng bước hạn chế, tiến tới loại bỏ các nguyên nhân, điều kiện có thể dẫn đến CMM ở nước ta. Trong đó tập trung giải quyết dứt điểm các “điểm nóng” về an sinh xã hội như khiếu kiện, đình công, chủ động triển khai các biện pháp bảo đảm an ninh trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội, kinh tế, tài chính, thông tin truyền thông, an ninh mạng, đẩy lùi tình trạng tham nhũng, lợi ích nhóm, không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để tập hợp lực lượng, hình thành, công khai hóa tổ chức chính trị đối lập ở trong nước, tiến hành các hoạt động biểu tình, bạo loạn trên quy mô lớn nhằm thực hiện CMM ở Việt Nam. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, củng cố bảo vệ vững chắc an ninh chính trị nội bộ; đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bất mãn, vi phạm pháp luật, nhất là trong hàng ngũ cán bộ các cấp. Kiên quyết loại trừ các điều kiện hình thành tổ chức chính trị đối lập, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Củng cố lòng tin của các tầng lớp nhân dân đối với Đảng và chế độ XHCN. Tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, mở rộng hợp tác quốc tế tạo nền tảng, sức mạnh chính trị, phục vụ phát triển kinh tế, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, đảm bảo giải quyết triệt để mầm mống, nguy cơ CMM ở Việt Nam. Phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc được định hướng và quy tụ bởi chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, do Đảng Cộng sản lãnh đạo và Nhà nước XHCN quản lý, điều hành; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để phòng, chống DBHB và CMM. Đây là một nguyên tắc chiến lược, quán triệt quan điểm tổng hợp trong lãnh đạo và tổ chức đấu tranh phòng, chống DBHB và CMM. Sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc được định hướng và quy tụ bởi chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là một đặc trưng bản chất và là một ưu thế vượt trội để giành chiến thắng trong suốt quá trình dựng nước, giữ nước của dân tộc ta. Nhờ đó, chúng ta có thể tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ to lớn của các lực lượng yêu chuộng hoà bình và tiến bộ trên thế giới, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để vượt qua mọi khó khăn, thách thức và giành chiến thắng./. XUAN THUY-3.2021

ĐẤU TRANH VỚI CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Trước tình hình trong nước, thế giới và khu vực, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng Internet, các trang mạng xã hội để đăng tải thông tin xấu độc, bịa đặt, sai sự thật, bóp méo, xuyên tạc, làm lẫn lộn đúng - sai, thật - giả; hoặc có một phần sự thật nhưng được đưa tin với dụng ý xấu, phân tích và định hướng dư luận bằng luận điệu sai trái, thù địch; bôi nhọ, vu khống lãnh tụ, kích động bạo lực, lừa đảo trên mạng, đánh cắp thông tin. Song do nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về âm mưu, hoạt động “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa cũng như tác hại của quan điểm sai trái, thù địch đối với xã hội còn hạn chế; sự phối hợp giữa các cơ quan ban, ngành trong tuyên truyền và đấu tranh, phản bác còn mang tính hình thức, thụ động, chưa đa dạng, phong phú về nội dung, có nơi, có lúc còn thiếu sắc bén, tính thuyết phục chưa cao; việc thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại một số địa phương còn sơ hở, thiếu sót; việc giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện ở một số nơi còn chậm, kéo dài, vượt cấp, gây bức xúc trong nhân dân… là những yếu tố để kẻ địch triệt để lợi dụng tuyên truyền các luận điệu sai trái, thù địch với nước ta. Thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng 2 trang mạng xã hội là Facebook và Youtube để đăng, chia sẻ những thông tin sai trái, cơ hội chính trị lên không gian mạng Internet. Thủ đoạn thường được chúng sử dụng đó là dùng những tin, bài, những hình ảnh trên các báo chí chính thống của ta ở trong nước, sau đó viết lại, chỉnh sửa thành những nội dung bịa đặt hoặc định hướng sai lệch để đăng tải. Điều này thu hút sự quan tâm của người xem, người đọc trước những thông tin có nội dung giống với các thông tin chính thống, tạo cảm giác nửa tin, nửa ngờ và nếu không tìm hiểu, nghiên cứu kỹ sẽ bị tác động xấu bởi những thông tin xuyên tạc này. Ngoài ra, các đối tượng sử dụng trang Blog để nói xấu, chống phá Đảng, Nhà nước, khi nó kết hợp với mạng xã hội, các bài viết trên Blog được chia sẻ lên mạng xã hội tạo sức lan tỏa lớn. Để đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội hiện nay cần phải đổi mới, nâng cao chất lượng nội dung thông tin chính thống, đảm bảo phong phú, đa dạng, nhiều cấp độ, tùy theo đối tượng để cung cấp, phổ biến, truyền tải. Đồng thời luôn xây dựng bản lĩnh vững vàng, có nhận thức đúng đắn, có sự suy xét khi tiếp cận những thông tin nhạy cảm, ở những thời điểm diễn ra các sự kiện mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để xuyên tạc, chống phá. Loại bỏ những thông tin xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch ra khỏi không gian mạng bằng cách tạo môi trường trong sạch về thông tin. Đặc biệt, các cơ quan báo chí, truyền thông, các tổ chức đoàn thể và toàn thể nhân dân cần phối hợp chặt chẽ, tạo nên sức mạnh tổng hợp chỉ rõ các quan điểm sai trái, vạch trần các âm mưu phản động thù địch, từng bước cô lập chúng trên mạng xã hội. Chủ động chia sẻ, lan tỏa những tin, bài, ảnh có nội dung tích cực, gương người tốt việc tốt trong học tập, công tác, lao động sản xuất, trong cuộc sống, sinh hoạt thường ngày... “lấy cái đẹp để dẹp cái xấu”. Nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không tin theo, không truy cập và tán phát, chia sẻ những thông tin xấu độc, cũng là góp phần đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. XUAN THUY-3.2021

Bệnh viện đầu tiên của Hà Nội triển khai tiêm vắc xin COVID-19 cho 30 người

 Sáng nay (9/3), Bệnh viện Thanh Nhàn là đơn vị đầu tiên của TP Hà Nội triển khai tiêm chủng vắc xin COVID-19. Dự kiến có 30 cán bộ, nhân viên y tế sẽ được tiêm, đây là những trường hợp thường xuyên phải tiếp xúc với nguồn bệnh.